Khoai mìcó tỉ lệ protein và chất béo thấp so với các loại cây lương thực khác, nếu sử dụngtrực tiếp để làm lương thực có giá trị không cao.. Trong bối cảnh đó, đối với các ngành sản xuất
Trang 1Khoai mì là cây lương thực dể trồng, cho năng suất cao khoảng 9 tấn/ha ỞViệt Nam sản lượng khoai mì khoảng 3 triệu tấn/năm, chỉ đứng sau lúa Khoai mì
có tỉ lệ protein và chất béo thấp so với các loại cây lương thực khác, nếu sử dụngtrực tiếp để làm lương thực có giá trị không cao Nếu dung khoai mì để sản xuấttinh bột khoai mì thì không những đáp ứng phục vụ cho các ngành công nghiệp màcòn là nguồn hang xuất khẩu quan trọng
Trong bối cảnh đó, đối với các ngành sản xuất, việc đầu tư sản xuất các loạitinh bột có chất lượng cao, tinh bột biến tính và các sản phẩm khác là một đòi hỏihết sức bức thiết, vừa giúp cải thiện một số tính chất của tinh bột khoai mì để cóthể ứng dụng rộng rãi hơn, vừa nâng cao hơn nữa giá trị của khoai mì, đa dạng hóasản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dung, tạo động lựccho sự nghiệp chất kết dính, dược phẩm, công nghệ thực phẩm cùng với xu thế hộinhập phát triển của từng công ty cũng như của toàn xã hội
Riêng đối với nước ta khoai mì khá nhiều, nếu ta tận dụng để chế biến tinhbột thì không những đáp ứng nhu cầu phục vụ cho các ngành công nghiệp mà còn
là một nguồn hang xuất khẩu quan trọng
Mong rằng các kết quả chúng tôi thu nhận được sẽ góp phần ít nhiều cho cácbạn hiểu về công nghể sản xuất tinh bột trong nước
Trang 2Chương 1: Tổng Quan Về Cây Khoai Mì
1.1/Lịch sử phát triển cây khoai mì.
1.1.1.Nguồn gốc :
Khoai mì có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La-Tinh(Crantz,1976)và được trồng cách đây khoảng 5.000 năm (CIAT,1993) Trung tâmphát sinh cây khoai mì được giả thiết tại vùng đông bắc của nước Brazil thuộc lưuvực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại cây khoai mì trồng và hoang dại (DeCandolle 1886;Rogers,1965) Bằng chứng về nguồn gốc cây khoai mì trồng lànhững di tích khảo cổ o53Venezuela niên đại 2.700 năm trước công nguyên, di vậtthể hiện củ khoai mì ở vùng ven biển Peru khoảng 2.000 năm trước công nguyên,những lò nướng bánh khoai mì trong phức hệ Malabo ở phía bắc Colombia niênđại khoảng 1.200 năm trước công nguyên, những hạt tinh bột trong phân hóa thạchđược phát triển ở Mexico có tuổi từ năm 900 đến năm 200 trước công nguyên(Rogers 1963, 1965).Cây khoai mì được người Bồ Đào Nha đưa đến Congo củaChâu Phi vào thế kỉ 16 Tài liệu nói đến cây khoai mì ở vùng này là Barre vàThevet viết năm 1558 Ở Châu Á, khoai mì được du nhập vào Ấn Độ khoảng thế
kỷ 17 (P.G.Rajendranetal,1995) và Srilanka đầu thế kỷ 18 (W.M.S.M Bandara và
M Sikurajapathy, 1992) Sau đó khoai mì được trồng ở Trung Quốc, Myanma vàcác nước Châu Á khác cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 (Fang Baibing 1992 U ThunThan 1992) Khoai mì được du nhập vào Việt Nam cuối thế kỷ 18, (Phạm VănBiên, Hoàng Kim, 1991)
Trang 3Hình : Cây khoai mì và củ khoai mì.
Trang 41.1.2.Sản lượng khoai mì ở nước ta và thế giới
Cây sắn –khoai mì (Manihotesculenta Crantz), tiếng anh là cassava hay còngọi là manioc Là loại cây sinh trưởng khỏe, cây sử dụng tốt đất cạn kiện, thíchhợp với vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, nhiệt độ thích hợp là 18- 300C, thời gian sinhtrưởng 8-9 tháng, trồng vào tháng 2-3 cho năng suất cao nhất, khoai mì được trồngchủ yếu để lấy củ để sản xuất tinh bột khoai mì
Khoai mì là cây lương thực đứng thứ 6 trên thế giới và một trong 15 câytrồng phổ biến chiếm diện tích lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp của loài người.Các nước sản xuất khoai mì đứng hang đầu thế giới là Nigeria, Brazil,Thailand Tổng sản lượng trên thế giới năm 1984 khảng 129.020 triệu tấn, trong
đó Việt Nam chiếm khảng 2,2% Năm 2001 tổng sản lượng củ khoai mì trên thếgiới là 2175,617389 triệu tấn, được phân bố theo bảng 1.1
Bảng 1.1 Sản lượng khoai mì trên thế giới năm 2001
Trang 5Ở Việt Nam trải dài từ Nam trí Bắc nơi nào cũng trồng được khoai mì, nhưngtập trung ở vủng Đông Nam Bộ, vùng núi phía Bắc, vùng ven biển miển Trung vàvùng khu 4 cũ Hiện khoai mì nước ta xấp xỉ 3 triệu tấn/năm, chủ yếu sản xuất trênquy mô hộ gia đình Sản lượng khoai mì nước ta trong thập niên 80 đến nay khôngtăng đáng kể, bảng 1.2 theo bảng tin ngày 19/11/2002 VnExpress Hiện nay nhànước ta đã có 24 nhà máy chế biến tinh bột khoai mì di vào hoạt động, chủ yếu ởphía Nam Các nhà máy ở miền Trung và phía Bắc đang trong giai đoạn hoànthiện.
Bảng 1.2: Diện tích, sản lượng khoai mì (củ tươi) ở Việt Nam 1988- 1992.
Trang 6Ở Việt Nam chủ yếu làm thức ăn gia súc (61%), dung cho sản xuất tinh bộtchỉ chiếm 16%, sản xuất chiếm 5% dưới dạng khoai mì lát khô, còn lại chủ yếudung cho người dạng củ Gần 50% tinh bột khoai mì ở nước ta dung sản xuất bộtngọt.
Trong khi ở Thailand hơn 50% tinh bột khoai mì dung để sản xuất tinh bộtbiến tính dung cho công nghiệp thực phẩm và công nghiệp khác, Việt Nam chỉ cókhoảng 15- 20% dung cho công nghiệp
1.2/ Phân loại khoai mì
Có nhiều cách phân loại khoai mì:
-Phân loại theo đặc điểm thực vật của cây: xanh, tía, lá 5 cánh, lá 7 cánh.-Phân loại theo đặc tính củ: Khoai mì trắng hay khoai mì vàng
-Phân loại theo hàm lượng độc tố có trong khoai mì: khoai đắng hay khoai
Trang 8Củ khoai mì có cấu tạo hình gậy, 2 đầu vút nhỏ lại (cuống và đuôi) Tùy vàogiống và điều kiện trồng trọt, củ khoai mì có kích thước khác nhau, thong thường
có chiều dài từ 300- 400mm Đường kính 40- 60mm Cá biệt có củ dài đến100mm, và có đường kính đến 100mm Củ khoai mì gồm 4 thành phần chính:
• Vỏ củ chiếm 0.5 -3% khối lượng củ
• Vỏ cùi chiếm 8 – 10% khối lượng củ
• Thịt khoai mì là thành phần chủ yếu của khoai mì, bao gồm các thành phầnnhu mô thành mỏng Thành phần vỏ tế bào nhu mô là xenlulozơ, pentozơ,bên trong là các hạt tinh bột và nguyên sinh chất
• Lượng tinh bột trong thịt khoai mì phân bố không đều, nhiều nhất ở lớpngoài rồi giảm dần vào trong
4.Thành Phần Hóa Học
Cũng như phần lớn các loại hạt và củ, thành phần chính của củ khoai mì làtinh bột Ngoài ra, trong khoai mì còn có các chất: đạm, muối khoáng, lipit, xơ vàmột số vitamin B1, B2
Như vậy, so với nhu cầu dinh dưỡng và sinh tố của cơ thể con người, khoai
mì là một loại lương thực, nếu được sử dụng mức độ hợp thì có thể thay thế hoàntoàn nhu cầu đường bột của cơ thể
Trang 94.5 Độc tố trong củ mì:
Ngoài những chất dinh dưỡng trên, trong khoai mì còn có độc tố Chất độc
có trong cây khoai mì ngày nay đã được nghiên cứu và xác định tương đối rõ Đóchính là HCN Trong củ khoai mì, HCN tồn tại dưới dạng phazeolunatin gồm haiglucozit Linamarin và Lotaustralin
4.6 Hệ enzim:
Trong khoai mì, các chất polyphenol và hệ enzim polyphenoloxydaza có ảnhnhiều tới chất lượng trong bảo quản và chế biến Khi chưa đào hoạt độ chất mentrong khoai mì yếu và ổn định nhưng sau khi đào thì chất men hoạt động mạnh Polyphenoloxydaza xúc tác quá trình oxy hoá polyphenol tạo thànhoctoquinon sau đó trùng hợp các chất không có bản chất phênol như axitamin đểhình thành sản phẩm có màu Trong nhóm polyphenoloxydaza có những enzimoxy hoá các monophenol mà điển hình là tirozinnaza xúc tác sự oxy hoá acid amintirozin tạo nên quinon tương ứng Sau một số chuyển hoá các quinon này sinh rasắc tố màu xám đen gọi là melanin Đây làmột trong những nguyên nhân làm chothịt khoai mì có màu đen mà thường gọi là khoai mì chạy nhựa.Vì enzim tập trungtrong mủ ở vỏ cùi cho nên các vết đen cũng xuất hiện trong thịt củ bắt đầu từ lớpngoại vi
Khi khoai mì đã chạy nhựa thì lúc mài xát khó mà phá vỡ tế bào để giảiphóng tinh bột do đó hiệu suất lấy tinh bột thấp, mặt khác tinh bột không trắng
Trang 10Ngoài tirozinaza các enzim oxy hoá khử cũng hoạt động mạnh làm tổn thấtchất khô của củ.
Hàm lượng tannin trong khoai mì ít nhưng sản phẩm oxy hoá tannin là chấtflobafen có màu sẫm đen khó tẩy Khi chế biến, tannin còn có tác dụng với Fe tạothành sắt tannat cũng có màu xám đen Cả hai chất này đều ảnh huởng đến màusắc của tinh bột nếu như trong chế biến không tách dịch bào nhanh và triệt để.Trong bảo quản khoai mì tươi thường nhiễm bệnh thối khô và thối ướt donấm và vi khuẩn gây nên đặc biệt đối với những củ bị tróc vỏ và dập nát Ngoài ranếu củ bị chảy nhựa nghiêm trọng cũng sẽ dẫn tới hiện tượng thối khô
Đisâu phân tíchvề phương diện tổ hợp thành các chất dinh dưỡng chủ yếu làđạm và tinh bột (vì đó là hai thành phần quan trọng của củ khoai mì có giá trị kinh
tế nhất)
Tỷ lệ tinh bột và đạm phân bố không đều trong nhưng bộ phận khác nhau của
củ khoai mì Quy luật chung: hàm lượng tinh bột tập trungnhiều nhất ở phần sát vỏbao, càng đi sâu vào lớp thịt sát lõi lượng tinh bột lại ít đi, nhưng lượng đạm lạităng lên một phần so với những lớp bên ngoài
5.Công dụng:
Củ Sắn được dùng làm thực phẩm, chế bột làm bánh, làm mạch nha, chếrượu Lá Sắn được dùng luộc kỹ làm rau ăn, có nơi dùng muối dưa Lá Sắn phơikhô được dùng làm nguyên liệu chiết protein, làm thực phẩm, chế bột, dùng thaycám để chăn nuôi lợn, gia cầm Người ta cũng dùng lá Sắn tươi để nuôi giống tằm
ăn lá Sắn, nuôi gia súc và nuôi cá nước ngọt Dân gian dùng lá Sắn giã đắp trị mụnnhọt Người ta còn dùng vỏ lụa của thân cây Sắn để đắp bó gãy xương
Trang 116.Địa lý phân bố
Sản xuất sắn(khoai mì) ở Việt Nam Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọngcủa các hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinhthái và điều kiện kinh tế nông hộ gia đình
+ Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có diện tích sắn năm 2011 ướcđạt 168.600 ha (chiếm 30,10 % diện tích sắn cả nước), năng suất đạt 17,66 tấn/ha
và sản lượng đạt 2.977.900 tấn củ tươi (chiếm 30,15 % sản lượng sắn cả nưc).Diện tích sắn nhiều nhất là các tỉnh Bình Thuận, Nghệ An, Quãng Ngãi, Phú Yên.+ Vùng Tây Nguyên có diện tích sắn năm 2011 đạt 154.600 ha (chiếm 27,60 %diện tích sắn cả nước), năng suất 16,70 tấn/ha, sản lượng 2.582.200 tấn củ tươi(chiếm 26,15 % sản lượng sắn toàn quốc) Sắn trồng nhiều ở các tỉnh Gia Lai, KonTum, Đắk Lắk và Đắk Nông
+ Vùng trung du miền núi phía Bắc diện tích sắn năm 2011 đạt 117.200 ha (chiếm20,92 % diện tích sắn toàn quốc), năng suất đạt 12,36 tấn/ha, sản lượng 1.448.900tấn củ tươi (chiếm 14,67 % sản lượng sắn toàn quốc) Sắn trồng nhiều nhất ở cáctỉnh Sơn La, Yên Bái và Hòa Bình
+ Vùng Đông Nam Bộ diện tích sắn năm 2011 đạt 99.000 ha (chiếm 17,68 % diệntích trồng sắn toàn quốc), năng suất sắn 25,34 tấn/ha cao nhất nước, sản lượng ướcđạt 2.536.500 tấn củ tươi (chiếm 25,68 % sản lượng sắn toàn quốc) Sắn trồngnhiều ở Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dương
Trang 12Hình : biểu đồ khái quát diện tích sắn tại các vùng sinh thái Việt Nam.
Trang 137.Sản lượng thế giới và tiêu thụ
Trên thế giới, sắn được trồng bởi những hộ nông dân sản xuất nhỏ để làmlương thực- thực phẩm, thức ăn gia súc và để bán Sắn chủ yếu trồng trên đấtnghèo và dùng kỹ thuật canh tác truyền thống.Sản lượng sắn thế giới năm 2006/07đạt 226,34 triệu tấn củ tươi so với 2005/06 là 211,26 triệu tấn và 1961 là 71,26triệu tấn Nước có sản lượng sắn nhiều nhất thế giới là Nigeria (45,72 triệu tấn), kếđến là Thái Lan (22,58 triệu tấn) và Indonesia (19,92 triệu tấn) Việt Nam đứngthứ mười trên thế giới về sản lượng sắn (7,71 triệu tấn) Nước có năng suất sắn caonhất hiện nay là Ấn Độ (31,43 tấn/ha), kế đến là Thái Lan (21,09 tấn/ha), so vớinăng suất sắn bình quân của thế giới là 12,16 tấn/ha (FAO, 2008)
Hình : Sản xuất sắn ở các nước trên thế giới năm 2008 (Nguồn FAO 2010, trích
dẫn bởi Hoàng Long)
Mười nước có sản lượng sắn hàng đầu thế giới năm 2011 bao gồm Nigeria52,4 triệu tấn Brazil 25,44 triệu tấn, Indonesia 24,00 triệu tấn, Thái Lan (21,91triệu tấn) Cộng hòa Công gô (15,56 triệu tấn) Angola (14,33 triệu tấn), Ghana(14,24 triệu tấn), Việt Nam (9,87 triệu tấn), Ấn Độ (8,00 triệu tấn), và Mozambic(6,26 triệu tấn)
Trang 14Hình : So sánh diện tích, sản lượng sắn Việt Nam với bốn nước dẫn đầu thếgiới (Hoàng Kim và ctv 2013b)
Mức tiêu thụ sắn bình quân toàn thế giới khoảng 18 kg/người/năm Sản lượng sắncủa thế giới được tiêu dùng trong nước khoảng 85% (lương thực 58%, thức ăn giasúc 28%, chế biến công nghiệp 3%, hao hụt 11 %), còn lại 15% (gần 30 triệu tấn)được xuất khẩu dưới dạng sắn lát khô, sắn viên và tinh bột (CIAT, 1993) Nhu cầusắn làm thức ăn gia súc trên toàn cầu đang giữ mức độ ổn định trong năm 2006(FAO, 2007)
8.Sản lượng việt nam và tiêu thụ
Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực, thức ăn gia súc quan trọng sau lúa vàngô Năm 2005, cây sắn có diện tích thu hoạch 432 nghìn ha, năng suất 15,35tấn/ha, sản lượng 6,6 triệu tấn, so với cây lúa có diện tích 7.326 ha, năng suất 4,88tấn/ha, sản lượng 35,8 triệu tấn, cây ngô có diện tích 995 ha, năng suất 3,51 tấn/ha,sản lượng gần một triệu tấn (FAO, 2007) Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọngcủa các hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinhthái và điều kiện kinh tế nông hộ Sắn chủ yếu dùng để bán (48,6%) kế đến dùnglàm thức ăn gia súc (22,4%), chế biến thủ công (16,8%), chỉ có 12,2% dùng tiêuthụ tươi
Trang 15Hình 5 Diễn biến diện tích, sản lượng sắn Việt Nam (giai đoạn 2001 – 2011)
Sắn cũng là cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu và tiêu thụ trong nước Sắn là nguyên liệu chính để chế biến bột ngọt, bio- ethanol, mì ăn liền, bánh kẹo, siro, nước giải khát, bao bì, ván ép, phụ gia dược phẩm, màng phủ sinh học và chất giữ
ẩm cho đất Toàn quốc hiện có trên 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn với tổng côngsuất khoảng 3,8 triệu tấn củ tươi/năm và nhiều cơ sở chế biến sắn thủ công rãi rác tại hầu hết các tỉnh trồng sắn Việt Nam hiện sản xuất mỗi năm khoảng 800.000 – 1.200.000 tấn tinh bột sắn, trong đó trên 70% xuất khẩu và gần 30% tiêu thụ trong nước Sản phẩm sắn xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là tinh bột, sắn lát và bột sắn Thị trường chính là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapo, Hàn Quốc Đầu tư nhà máy chế biến bio- etanol là một hướng lớn triển vọng
Trang 169.Tiềm Năng truyển vọng :
Xuất nhập khẩu sắn trên thế giới : Ba nước xuất khẩu sắn hàng đầu của thếgiới là Thái Lan, Việt Nam và Indonesia Thái Lan chiếm 60- 85% lượng xuấtkhẩu sắn toàn cầu ở những năm gần đây, kế đến là Indonesia và Việt Nam Gầnđây sắn Căm pu chia cũng trở thành một mặt hàng nông sản xuất khẩu triển vọng.Trung Quốc hiện là nước nhập khẩu sắn nhiều nhất thế giới để làm cồn sinh học,tinh bột biến tính, thức ăn gia súc và dùng trong công nghiệp thực phẩm dược liệu.Thị trường xuất khẩu sắn chủ yếu của Thái Lan là Trung Quốc, Đài Loan, NhậtBản và cộng đồng châu Âu với tỷ trọng xuất khẩu sắn khoảng 40% bột và tinh bộtsắn, 25% là sắn lát và sắn viên (Hoang Kim, Nguyen Van Bo et al 2010a) [14 ]
Dự báo thị trưởng sắn Theo nghiên cứu thị trường sắn toàn cầu của Tổ chức
Lương thực và Nông nghiệp Quốc tế (FAO) và Viện Nghiên cứu Chính sách lươngthực thế giới (IFPRI), với tầm nhìn đến năm 2020 thì đến năm 2020 sản lượng sắntoàn cầu ước đạt 275,10 triệu tấn, trong đó sản xuất sắn chủ yếu ở các nước đangphát triển là 274,7 triệu tấn, các nước đã phát triển khoảng 0,40 triệu tấn Mức tiêuthụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn so với các nước đãphát triển là 20,5 triệu tấn Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làm lươngthực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176,3 triệu tấn và thức ăn gia súc 53,4 triệu tấn.Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làm lương thực, thựcphẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1,98 % và 0,95 % Châu Phi vẫn là khuvực dẫn đầu sản lượng sắn toàn cầu với dự báo sản lượng năm 2020 sẽ đạt 168,6triệu tấn Trong đó, khối lượng sản phẩm sử dụng làm lương thực thực phẩm là77,2 %, làm thức ăn gia súc là 4,4 % Châu Mỹ La tinh giai đoạn 1993 - 2020, ướctốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn tăng hàng năm là 1,3 %, so với châu Phi là 2,44 % vàchâu Á là 0,84 - 0,96 % Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều nướcchâu Á, đặc biệt là các nước vùng Đông Nam Á nơi cây sắn có tổng diện tích đứngthứ ba sau lúa và ngô và tổng sản lượng đứng thứ ba sau lúa và mía Chiều hướng
Trang 17Phần 2: Kĩ Thuật Trồng Và Chăm Sóc
2.1 KỸ THUẬT TRỒNG
2.1.1 Chuẩn bị giống:
- Giống khoai mì có năng suất cao: KM 60, KM 95, SM 937-26; KM 98-1,
KM 98-5, KM 140, KM94 và các giống có năng suất trung bình từ 28 – 30 tấn,hàm lượng tinh bột từ 28% - 30%, dạng cây gọn
- Giống khoai mì trồng lấy từ ruộng sản xuất tốt hoặc ruộng nhân giốngriêng, cây khoai mì đạt 6 tháng tuổi Cây khoai mì dùng làm giống phải khoẻmạnh, không nhiễm sâu bệnh, nhặt mắt, loại bỏ những cây giống bị khô và trầyxước
- Thời gian bảo quản giống < 60 ngày, ở nơi khô ráo và có bóng mát: bó từng
bó để đứng hoặc nằm trong bóng râm, hoặc cắm từng cây xuống đất (500 – 1000cây/cụm), sử dụng các loại thuốc diệt côn trùng để phòng trừ
- Hom khoai mì lấy từ 1/3 ở đoạn giữa thân, chiều dài 15 – 20 cm, đạt 4 – 6mắt, không chặt hom quá ngắn hoặc quá dài, dùng dao sắc để chặt và tránh làmhom bị dập
- Xử lý hom trước khi trồng bằng cách nhúng vào các hỗn hợp diệt nấm
Đặc tính nông học của một số giống khoai mì:
Thời gian sinh trưởng (tháng) 10 – 12 9 – 11 8 – 10 8 – 10
Trang 18Bảo quản giống khoai mì
Xử lý hom trước khi trồng
Trang 191.2 Thời vụ trồng:
- Đất đỏ trồng vào mùa mưa (tháng 4 – tháng 5)
- Đối với đất xám, nên chia thành hai thời vụ trồng để rải vụ thu hoạch vàgiảm áp lực về công lao động
* Vụ 1: Trồng từ tháng 4 đến tháng 5 và thu hoạch vào tháng 1 đến tháng 3năm sau Ở vụ này nên tranh thủ sớm khi đất đủ độ ẩm, khô hạn làm giảm khảnăng mọc mầm của hom khoai mì
* Vụ 2 Trồng vào tháng 10 đến tháng 11; thu hoạch vào tháng 9 , 10 nămsau
1.3 Biện pháp canh tác:
1.3.1 Làm đất:
- Đất trồng khoai mì nhất thiết phải được chuẩn bị kỹ trước khi trồng, cáccông việc bao gồm: thu dọn rễ cây và tàn dư thực vật, san lấp mặt bằng; xử lý cỏdại
- Khoai mì cần đất tơi xốp, sâu để rễ, củ phát triển Cày sâu 20cm, cày 2 lần,mỗi lần cách nhau 10 – 15 ngày, bừa 2 lần (lần 1 sau khi cày lật đất lần 1 khoảng 7– 15 ngày và lần 2 sau khi cày lần 2, khoảng 5 – 7 ngày)