Vài nét về ngành đóng tàu thế giới hiện nay Tóm lược Câu hỏi Chương II: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA KHOA HỌC QUẢN TRỊ SẢN XUẤT 2.1.. Giáo trình này được biên soạn theo mục tiêu đào tạo của
Trang 1MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
Chương I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐÓNG
TẦU VIỆT NAM
7
I.1 Vài nét về điều kiện địa lý tự nhiên sông – biển việt nam
I.2 Ngành đóng tầu – thuyền và vận tải thủy việt nam qua tiến trình
kỹ thuật hiện
nhọn của đất nước
I.4 Vài nét về ngành đóng tàu thế giới hiện nay
Tóm lược
Câu hỏi
Chương II: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA KHOA HỌC QUẢN TRỊ SẢN
XUẤT
2.1 Quá trình hình thành và phát triển lý thuyết quản trị sản xuất
2.2 Khái niệm về sản xuất, quản trị sản xuất
2.3 Lựa chọn chiến lược trong quản trị sản xuất
2.4 Những quyết định quan trọng nhất trong nội dung quản trị sản
suất
Tóm lược
Câu hỏi
Chương III: CÔNG TÁC DỰ BÁO
3.1 Các loại dự báo
3.2 Các nhân tố tác động đến dự báo nhu cầu
3.3 Các phương pháp dự báo nhu cầu
3.4 Giám sát và kiểm soát dự báo
Tóm lược
Câu hỏi
Chương IV: XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ - ĐỊA ĐIỂM VÀ BỐ TRÍ MẶT BẰNG NHÀ
MÁY
4.1 Xác định địa điểm
4.2 Bố trí mặt bằng
4
555
11131414
19192126
30313233333436454747
4848545657
585860
Trang 2Tóm lược 55
Câu hỏi 55
Chương V: CÁC HƯ HỎNG CỦA TÀU, TỔ CHỨC VÀ LẬP KẾ HOẠCH
5.1 Hư hỏng của tàu và các hình thức tổ chức sửa chữa tàu
56
5.2 Các hệ thống và các dạng sửa chữa 58
5.3 Chu kỳ sửa chữa và thời hạn phục vụ của tàu 61
5.4 Tổ chức sửa chữa tàu ở công ty vận tải 64
5.5 Lập kế hoạch sửa chữa tàu và kinh phí sửa chữa 65
5.6 Hồ sơ sửa chữa tàu, mối liên hệ giữa chủ tàu và xí nghiệp sửa
6.1 Tổ chức bảo dưỡng kỹ thuật đội tàu thuỷ 69
6.2 Giám sát trạng thái kỹ thuật của tàu thuỷ 70
6.3 Đăng kiểm việt nam 70
6.4 Kiểm tra trạng thái kỹ thuật do chủ tàu tiến hành 73
Tóm lược 74
Câu hỏi 74
Chương VII: THÀNH PHẦN CỦA QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT, CƠ CẤU VÀ
CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CỦA CÁC XÍ NGHIỆP
75
7.1 Qúa trình sản xuất, chu kỳ sản xuất và thời hạn của quá trình
sản
xuất
7.2 Tập trung chuyêân môn hoá và hợp tác hoá sản xuất, cơ cấu sản
xuất của các xí nghiệp công nghiệp 77
7.3 Các giai đoạn sản xuất chính trong đóng và sửa chữa tàu
79
7.4 Cơ cấu sản xuất của các xí nghiệp đóng và sửa chữa tàu
84
7.5 Tối ưu hoá hoạt động của chu trình sản xuất 85
7.6 Các phương pháp tổ chức sửa chữa và đóng mới tàu thuỷ
90
Tóm lược 93
Câu hỏi 94
646667
68697070
717172727677777878
808387899497989999100106110112124125
126126126128
Trang 3Chương VIII: CHUẨN BỊ SẢN XUẤT
8.1 Các dạng chuẩn bị sản xuất
8.2 Chuẩn bị kỹ thuật cho đóng tàu
8.3 Chuẩn bị kỹ thuật cho sửa chữa tàu
8.4 Chuẩn bị về mặt tổ chức cho sản xuất
8.5 Lập kế hoạch tác nghiệp và quản lý theo sơ đồ mạng
Tóm lược
Câu hỏi
Chương IX: TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG CÁC KHU VỰC – BỘ PHẬN
CỦA NHÀ MÁY
120
A TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG BỘ PHẬN SẢN XUẤT CHÍNH
120
9.1 Phân xưởng vỏ
9.2 Phân xưởng cơ khí
9.3 Phân xưởng triền đà
9.4 Các phân xưởng chuẩn bị
B TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG PHÂN XƯỞNG PHỤ VÀ PHỤC
VỤ
9.5 Bộ phận dụng cụ
9.6 Bộ phận sửa chữa
9.7 Bộ phận năng lượng
Tóm lược
Câu hỏi
Chương X: QUẢN TRỊ TỒN KHO, HOẠCH ĐỊNH NHU CẦU VẬT TƯ
10.1 Những vấn đề về quản trị tồn kho
10.2 Hoạch định nhu cầu vật tư
Tóm lược
Câu hỏi
Chương XI: BẢO TRÌ CÔNG NGHIỆP
11.1 Chức năng và nhiệm vụ
11.2 Các loại bảo trì công nghiệp
11.3 Tổ chức bộ máy thực hiện công tác bảo trì
11.4 Kiểm tra bảo trì
Tóm lược
Câu hỏi
Chương XII: BỘ TIÊU CHUẨN ISO 9000, ISO 14000 TRONG CÔNG
NGHIỆP ĐÓNG TÀU
12.1 Quá trình hình thành bộ tiêu chuẩn ISO 9000
12.2 Những tiêu chuẩn của bộ ISO 9000
12.3 Vai trò của bộ ISO 9000 trong quản lý doanh nghiệp
130130
132133133135137137138138143145145147147147149150151151
152152153157
158161161162
Trang 4và trong hội nhập kinh tế thế giới 148
12.4 Aùp dụng ISO 9000 tại Việt Nam, trong đó có các doanh nghiệpđóng tàu 143
Tóm lược 152
Câu hỏi 152
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình “Quản trị sản xuất trong công nghiệp đóng tầu thuỷ” gồm 12
chương đề cập những nội dung chính sau đây:
Quá trình hình thành và phát triển ngành đóng tầu – thuyền Việt Nam.
Những vấn đề cơ bản của khoa học quản trị sản xuất.
Quản trị sản xuất, khoa học công nghệ trong công nghiệp đóng tầu.
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 và công nghiệp đóng tầu.
Giáo trình này được biên soạn theo mục tiêu đào tạo của Khoa Đóng tàu và Công trình nổi Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, trang bị những kiến thức cơ bản về quản trị sản xuất cho sinh viên.
Giáo trình do PGS – TSKH Đặng Hữu Phú (chủ biên), Th.S Vũ Ngọc Bích,
TS Nguyễn Đức Quý và KS Lê Văn Toàn biên soạn
Các chương 1, 2, 3, 4, 10, 11 12 do PGS – TSKH Đặng Hữu Phú và KS Lê Văn Toàn biên soạn.; các chương 5, 6, 7, 8, 9 do Th.S Vũ Ngọc Bích và TS Nguyễn Đức Quý biên soạn.
Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ giảng dạy của Khoa Đóng tàu và Công trình nổi – Trường Đại học Giao thông vận tải Tp Hồ Chí Minh, đặc biệt xin cảm ơn các phản biện: PGS – TS Trần Công Nghị, PGS – TS Nguyễn Đức Ân đã nhiệt tình đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho việc hoàn thiện bản thảo giáo trình này.
Mặc dầu đã có nhiều cố gắng, song do trình độ có hạn, những người viết chắc chắn còn nhiều sai sót Rất mong đồng nghiệp và bạn đọc đóng góp thêm nhiều ý kiến để giáo trình ngày càng hoàn chỉnh, phục vụ người đọc tốt hơn Mọi phê bình, đóng góp ý kiến xin gửi về Khoa đóng tàu và công trình nổi Đại học Giao Thông Vận Tải TP Hồ Chí Minh.
Các tácgiả
Trang 6CHƯƠNG I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐÓNG TẦU VIỆT NAM
I.1 Vài nét về điều kiện địa lý tự nhiên sông – biển Việt nam
Nước ta nằm ở Đông Nam Châu Á, trên đường giao thông hàng hải quốc tế.Bờ biển trải dài từ Bắc xuống Nam với 3.260 km, trên 4.000 đảo lớn nhỏ
Việt Nam có mạng lưới sông, kênh vô cùng phong phú và đầy tiềm năng vớitổng chiều dài hơn 41.900 km, trên 2360 sông, kênh, trên một trăm cửa sông, nhiều hồ,đầm, phá Các hồ chứa nước lớn là: Hòa Bình, Thác Bà, Trị An, Dầu Tiếng,… Hệ thốngsông ngòi tập trung ở 2 khu vực: vùng châu thổ sông Hồng ở phía Bắc và đồng bằngsông Cửu Long ở phía Nam, có mật độ 0,17 – 0,19 km đường sông / km2 diện tích, thuộcloại mật độ sông cao nhất thế giới
Nước ta có nguồn tài nguyên biển rất dồi dào (dầu mỏ, động thực vật,khoáng sản,…) và tiềm năng du lịch to lớn
Sơ lược vài nét về điều kiện tự nhiên như trên cho thấy các ngành: vận tảibiển, vận tải sông biển, vận tải thủy nội địa, khai thác dầu khí, đánh bắt thủy sản, dulịch sông nước… rất có điều kiện phát triển, đòi hỏi ngành đóng tàu và công trình nổiphải đáp ứng yêu cầu ngày một tăng
I.2 Ngành đóng tầu – thuyền và vận tải thủy Việt nam qua tiến trình lịch sử phát triển của đất nước.
Thời kỳ từ dựng nước đến cách mạng tháng Tám năm 1945
Gắn với lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam làsự hình thành và phát triển phương thức vận chuyển dưới nước Giữa một vùng sôngnước mênh mông từ thuở xa xưa tổ tiên ta đã sớm chế tạo những con thuyền độc mộc –bằng những thân cây lớn khoét ra – đi lại trên sông hồ, ven biển đánh bắt cá, gieo trồngvà thu hoạch lúa nước Trong các di chỉ khảo cổ nhất là trên hoa văn của trống đồngĐông Sơn, Ngọc Lũ, Tây Nguyên,… đã chứng minh cho nhận định này Hoa văn trênmặt, trên tang trống khắc hình thuyền, người đội mũ lông chim đang chèo thuyền Conthuyền thô sơ, mũi cong lên, lướt trên sóng nước biểu hiện cho sự gắn bó của người dânLạc Việt xưa với truyền thống sông nước
Khảo cổ học và dân tộc học thế giới xác nhận rằng: chiếc thuyền buồm ViệtNam xuất hiện từ thời kỳ đồ đá tại vùng châu thổ sông Hồng
Trong các sách “ Thái bình ngự lão ”, “ Tấn thư ”, “ Ngô thời ngoại quốc liệttruyện ” của Trung Quốc thời xưa đã kể đến “các thuyền rồng của người Việt chở nổihàng trăm người ”, “những con thuyền nhiều buồm với hệ thống chuyển gió phức tạp cóthể đi biển vào mọi lúc mọi hướng ” Từ thế kỷ thứ II cha ông ta đã đóng cả những conthuyền đi biển dài hơn 20 trượng (trên 40 m), cao hơn mặt nước từ 2 đến 3 trượng (4 đến
6 m)
Hệ thống giao thông thủy nước ta với Trung quốc và các nước phía Nam rấtphát triển Sách “ An nam đô hộ phủ ” của Đường hội yến còn ghi rõ “Năm 808 Trương
Trang 7Chân đã sai thợ đóng hơn 400 chiếc thuyền rất lớn, mỗi chiếc 32 người chèo và 25chiến binh ”
Sức sáng tạo vĩ đại, khai thác lợi thế sông nước của cha ông ta thể hiện trongchiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo.Chiến thắng này mở đầu thời kỳ phát triển độc lập và tự chủ của dân tộc Việt Nam.Những dòng sông, cửa biển, thuyền bè của người Việt lập nên chiến thắng bảo vệ tổquốc cũng bắt đầu từ thời kỳ đó
Trải qua nhiều năm phát triển kinh tế, các sông ngòi thường xuyên được đàovét, chỉnh tu Nhiều loại thuyền lớn đi sông, đi biển xuất hiện Sách “An nam tức sự”thời Trần còn chép lại: “… thuyền nhẹ và dài, ván mỏng, đuôi như cánh chim xuyênnắng, ba mươi người chèo, có khi đến hơn một trăm người, thuyền đi nhanh như bay”chứng tỏ kỹ thuật, mỹ thuật đóng thuyền thời đó khá cao
Chiến thắng vĩ đại của quân dân nhà Trần năm 1288 do Trần Hưng Đạo chỉhuy đánh tan quân Mông Cổ (lần thứ 3) trên sông Bạch Đằng ngày 9/4 Lịch sử còn ghilại : “ Cuộc chiến diễn ra từ mờ sáng đến chiều tối, quân ta tiêu diệt hoàn toàn đạo thủyquân của giặc, hơn 400 trong số 500 chiến thuyền của giặc bị vùi xuống lòng sông BạchĐằng Các tướng giặc Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp,… đều bị bắt sống” Sứ thần của nhàNguyên thời đó tên là Trần Phu tự thú: “ Mỗi khi nằm mơ thấy chuyện cũ (trận BạchĐằng) còn kinh hồn sợ hãi” Ta có thể thấy vào giai đoạn lịch sử đó ông cha ta đã cóđội chiến thuyền hùng mạnh như thế nào
Từ thế kỷ XVI, về mặt quản lý nhà nước, ở Đàng trong cũng như Đàngngoài đều thành lập các xuởng sản xuất nhiều mặt hàng, trong đó có công việc đóngthuyền bè Chúa Nguyễn lập xưởng đóng thuyền chiến giao cho một người Bồ Đào Nhalà G Cơ roa chỉ huy Ở các vùng ven biển có các xưởng đóng thuyền lớn trọng tải tới
300 – 400 tấn Các lái buôn đã dùng thuyền lớn đi biển từ Quảng Bình, Quảng Trị vàoGia Định rồi dọc sông Tiền, sông Hậu buôn bán trao đổi với những người mới vào khaikhẩn ở đồng bằng sông Cửu Long
Vận tải thủy đã góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển cáctrung tâm kinh tế sầm uất của đất nước như Kẻ Chợ (Hà Nội), phố Hiến (Hưng Yên)…
Về công nghệ đóng thuyền có thể trích dẫn một số nhận xét của ngườiphương Tây:
Năm 1717, trong “ Ký ức về An Nam ”, Tsaitinglay viết : “ Một chiếcthuyền lớn dưới bản thì làm bằng tre quét dầu dừa, chỉ có khoang thuyền là bằng vángỗ, có những chiếc nhỏ hơn nhưng cũng làm bằng các vật liệu đó…”
Poa vơ rơ (Poivre) trong một chuyến đi công cán cho công ty Ấn Độ từ năm
1748 có ghé qua Việt Nam đã viết về con thuyền của Đàng Trong “buộc chằng bằngmây, buồm bằng gióng tre lợp lá, hình thù như cái tai Nhưng thuyền đó chạy rất tốt vàchống được với gió”
Năm 1774, trong một chuyến đi Đàng Trong Poa vơ rơ và Đơ Giăng-xi-nhi tảlại: “Những loại thuyền đó được đóng theo cách cổ truyền hàng ngàn năm không thayđổi, về mặt chắc chắn được đảm bảo lại đi nhanh Những thuyền này có đặc điểm là
Trang 8dưới đáy chia làm nhiều ngăn, nhiều khoang, có những tấm ván rất kín ngăn cách Dođó đỡ bị đắm và còn có một khoang để xếp hàng riêng biệt, do đó người Anh cũng chú
ý thí nghiệm kiểu đóng đó”
Qua những lời viết đã trích dẫn ở trên cho chúng ta nhận xét về sự tiến triểncủa công nghiệp đóng thuyền và tài nghệ của cha ông ta thời đó được người nước ngoàikhâm phục
Thời Tây Sơn nước ta có hàng trăm chiến thuyền hiện đại, có lẽ vì lực lượngmạnh mẽ như vậy nên khi kéo quân ra Bắc “ thuyền chiến của vua Quang Trung để đầysông Vị Hoàng (Nam Định) ”, mà sách “ Hoàng Lê nhất thống chí” đã ghi lại
Vào đầu thời Gia Long đã có quy định về vận tải thủy của nhà nước phongkiến, lập cơ quan quản lý về tầu thuyền Các thuyền vận tải Nam – Bắc chia làm 9bang, mỗi bang trên dưới 20 chiếc Các tàu thuyền của dân phải trình báo và được cấpbài chí (Thẻ bài) để nhà nước quản lý và thu thuế Năm 1827 nhà Nguyễn quy định lệđại tu, tiểu tu cho các tàu thuyền
Đầu năm 1839 vua Minh Mạng ra sông Hương xem chạy thử thuyền máy hơinước đầu tiên Nhưng do sơ suất khi vận chuyển từ xưởng ra bến sông, máy hơi nướckhông hoạt động được nhà vua ra lệnh bắt giam các đốc công Ít lâu sau, nhà vua lại raxem chạy thử lại, kết quả “thấy máy móc linh động, chạy đi nhanh nhẹ” nhà vua banthưởng cho những người đóng thuyền này Tháng 10 năm ấy, thợ đóng tàu nước ta lại “chế tạo thêm một thuyền lớn chạy bằng máy hơi nước, tính tiền hết 11.000 quan có lẻ”,vua Minh Mạng nói “ Trẫm muốn những người thợ nước ta đều học tập máy móc đượctinh xảo nên không tính đến sự tổn phí tiền bạc”
Năm 1844 vua Thiệu Trị ra lệnh mua tàu nước ngoài – tàu hơi nước loại lớn,trị giá đến 280.000 quan, để cho thợ đóng thuyền nước ta học tập kỹ thuật của nướcngoài… White, đại tá hải quân Hoa Kỳ lúc đó đến Việt Nam đã viết “ Người Việt Namquả là những người đóng tàu thành thạo Họ hoàn thành công trình của mình với một kỹthuật rất mực chính xác”
Từ giữa thế kỉ 19 đến giữa thế kỉ 20 thực dân Pháp xâm lượt và thống trịnước ta Thấy rõ tầm quan trọng của giao thông đường thủy, Pháp đã tiến hành :
Năm 1864, xây dựng sở “Ba Son” có xưởng hàn, tiện,… để sửa chữa thuyềnmáy có gần một ngàn thợ
Cũng năm 1864, Pháp cho thầu khoán người Việt và người Hoa làm ở SàiGòn một bến tàu dài 1800 mét, tàu có mớn nước 4,2 mét có thể cập bến
Hai năm sau, 1866 làm ụ sửa chữa tàu lớn để sửa chữa chiến thuyền, thươngthuyền Pháp ở Viễn Đông
Sài Gòn trở thành một thương cảng, quân cảng quan trọng của Pháp
Năm 1875 Công ty đường sông Bắc kì thành lập Năm 1881, Bưu thuyềnđường sông Nam kì thành lập
Năm 1902 thành lập Công ty công trình nạo vét sông
Năm 1914 Công ty vận tải thủy của Hoa Kiều thành lập họat động Sài Gòn– Nông Pênh
Trang 9Năm 1927 một số tư bản bản xứ người Việt thành lập “ Công ty bảo hiểmđường biển và đường sông Nam kì”.
Sau cảng Sài Gòn, Pháp tiếp tục xây dựng các cảng mới : Hà Nội, HảiPhòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh, Qui Nhơn,…Nhiều xí nghiệp đóng, sửa chữatàu được xây đóng ở Hà Nội, Hải Phòng,…
Năm 1918 Sở đóng tàu Sài Gòn hạ thủy tàu trọng tải 4200 tấn
Hoạt động vận tải thủy của người Việt trong thời gian thực dân Pháp đô hộtiêu biểu như: Nguyễn Phú Toàn, Bạch Thái Bưởi, …
Nhìn chung, trong hoàn cảnh xã hội VN thuộc Pháp, giới tư bản và tiểu chủngười Việt vẫn có vị trí khá quan trọng trong kinh doanh vận tải thủy, trong nghệ thuậtđóng tàu thuyền của nước ta
Thời kì từ sau cách mạng tháng Tám 1945
Từ 1945 đến 1954
Ngày 2/9/1945, tại quãng trường Ba Đình, Hồ chủ tịch, thay mặt chính phủlâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản “ Tuyên ngôn độc lập” Trước đó,ngày 28/8/1945 Chính phủ lâm thời thành lập Bộ giao thông công chính Ngày13/11/1945 Bộ thành lập “ Ủy ban quản lý thương thuyền ” Nhiệm vụ của Ủy banđược nêu rõ trong nghị định : Phụ trách việc đi lại trên sông biển, xem xét kiểm tra tàuthuyền, thi hành luật pháp trên tàu,…Nhà nước bảo hộ quyền tự do kinh doanh, khuyếnkhích các nhà tư sản, tiểu chủ tiếp tục hoạt động vận tải thủy Điều đó giúp cho xã hộinhanh chóng ổn định hoạt động kinh tế
Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, chính phủ ra lệnh cho các nhàmáy, xí nghiệp (trong đó có đóng – sửa tàu) sơ tán lên các vùng căn cứ Nhiều đoàntàu, canô, sà lan ngược sông Hồng vào sông Đà, sông Lô chở vật liệu, thiết bị, máy móclên chiến khu
Thu Đông năm 1947 quân dân ta chiến thắng trên sông Lô, đánh bại 2 vạnquân Pháp Trên các sông, kênh ở miền Nam, tàu chiến giặc bị chặn đánh quyết liệt
Sở Hàng hải Nam Bộ tận dụng mọi phương tiện ghe, thuyền có trong tay,huy động thêm của nhân dân chuyển lương thực, vũ khí, bộ đội trong các căn cứ ĐồngTháp Mười, U Minh, Cà Mau để tăng cường nhịp độ tấn công giặc và đảm bảo cho đờisống vùng kháng chiến Các sở giao thông liên khu trong toàn quốc “ hết sức khuyếnkhích hoạt động của tư nhân về tiếp tế vận tải”, ngân hàng cho vay vốn để sửa chữa vàđóng mới thuyền bè, thành lập các đội vận tải chở hàng hóa, lương thực,… trong vùng tựdo
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, chúng ta đã huy động đến 11.800chiếc tàu, thuyền lớn nhỏ tham gia vận chuyển hậu cần cho chiến dịch Vận tải đườngsông kết hợp với ngành hậu cần quân đội đã “ vận chuyển 30 ngàn tấn lương thực, đạt 4triệu rưỡi TKM”
Trang 10Ơû miền Bắc trước 1975
Miền Bắc được giải phóng, chúng ta đã giành được chủ quyền và quản lý
937 km đường biển và 5442 km đường sông và cả đường biển bao la Ngành vận tảisông có khoảng 6 vạn tấn sức chở , 47 canô tàu kéo, 7600 thuyền các loại (hầu hết của
tư nhân, 24 canô chở khách với 1340 chỗ, tập trung chủ yếu ở Hải Phòng, Hà Nội, NamĐịnh Cảng sông duy nhất là cảng Phà đen (Hà Nội) Cơ sở sửa chữa đóng mới hầu nhưkhông có gì Tháng 8/55 Cục vận tải đường thủy được thành lập Tháng 3/1956 Công tyquốc doanh Sông – biển ra đời để quản lý các phương tiện vận tải thủy Trung Quốc đãtặng ta 2 tàu thủy “ Hòa Bình” và “ Hữu Nghị”, mỗi tàu có trọng tải 700 tấn Cảng HảiPhòng có 2 tàu cuốc hư hỏng đã được sửa chữa và được trang bị thêm 2 tàu kéo 180CVvà 300CV và 10 salan với tổng trọng tải 1045T Phòng Hàng hải Nam bộ giải tán, ta đãcất giấu được nhiều phương tiện và quản lý được phương tiện tham gia chuyển quân ởNam ra Bắc tập kết
Cục cơ khí được thành lập đảm nhận việc sửa chữa các loại phương tiện vậntải bốc xếp Ngành đóng tàu có các xưởng đóng tàu 1,2,3,4 ở Hải Phòng, xưởng cơ khíHải Phòng,… sau này có thêm các xưởng ở Quảng Ninh, Nam Định, Hà Nội,…
Giai đoạn 1955 – 1960 chúng ta đã nhập các phân đoạn, tổng đoạn của salan200T từ Rumani, Ba Lan về lắp ráp, nối lại
Cộng hòa dân chủ Đức giúp chúng ta 2 tàu “Đoàn Kết” và “Thống Nhất”trọng tải mỗi tầu 800 DWT ; Liên Xô giúp ta một đoàn tàu cuốc, tàu hút bùn để nạo vétcác tuyến luồng, cảng biển,… Các tàu vận tải của ta đã chở hàng đến Trung Quốc,Hồng Công,…
Một sự kiện quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của ngành đóng tàu ViệtNam non trẻ là việc hoàn thành xây dựng nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, cơ sở cơ khíđóng tàu hiện đại đầu tiên ở miền Bắc vào thời gian này và nhà máy đã đóng thànhcông tàu “20 tháng 7” trọng tải 1000T
Năm 1961, ngành đường thủy đã trục vớt và khôi phục thành công hai tàukhách “Đà Nẵng”, “Mỹ Tho” và đóng mới thêm 13 tàu khách
Do yêu cầu chi viện cho miền Nam, từ 10/1962 hình thành đường vậnchuyển Hồ Chí Minh trên biển Trên tuyến này chúng ta đã sử dụng loại tàu “Giảiphóng”, trọng tải 100T, công suất 900CV, tốc độ 13 hải lý/giờ do ta chế tạo
Năm 1964 thành lập Ty Đăng kiểm
Năm 1965, giải thể Cục vận tải thủy để hình thành 2 Cục chuyên ngành:Cục vận tải đường biển và Cục vận tải đường sông
Từ năm 1964 đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc màmục tiêu trước hết là đánh phá hệ thống giao thông vận tải 70 – 80% số bom đạn địchném xuống là nhằm các mục tiêu giao thông vận tải của chúng ta Chúng ta đã nhanhchóng sắp xếp lại tổ chức cho phù hợp với thời chiến
Trang 11Năm 1967 cục đường sông đã nghiên cứu và chế tạo thành công loại khí tàiphá bom đặt trên mũi canô sử dụng ngay nguồn điện trên canô để phóng từ gây nổ vớicác loại bom từ trường do Mỹ thả.
Năm 1970 – 1971 Cục đường sông thí điểm chế tạo thành công tàu đẩy(150CV) – đẩy 4 salan 120x4 thành công mở ra phương thức vận tải mới, tiên tiến ởnước ta
Sau khi hiệp định Paris (1/1973) được kí kết, lực lượng của công ty vận tảibiển VN đã có 290 tàu lớn nhỏ, tổng trọng tải 48.500 tấn và 4.000 cán bộ, thủy thủ,thuyền viên, … Tầu biển của ta đã vươn xa ra đại dương, sang đến tận Nhật Bản Trongnhững năm 1965 – 1975, ngành cơ khí đóng tàu của chúng ta đã:
Đóng mới, cải tạo trên 30 loại canô, tàu kéo, tàu đẩy (135CV, 150CV,225CV, 305CV)
Sản xuất 40 loại canô du lịch, tàu khách
5 loại tàu hàng
21 phương tiện vượt sông
Đã nghiên cứu áp dụng công nghệ xi măng lưới thép (XMLT) để đóng hàngvạn tàu thuyền xi măng lưới thép, trong đó có tàu đi biển 300T, 400CV, thuộc loại tàu lớntrên thế giới bấy giờ
Ơû miền Nam trước 1975
Tầu đi biển ( thuyền buồm) có trọng tải 100T trở lại, năm 1954 có 28.000chiếc, tổng trọng tải 112.461T Số tàu thuyền có gắn máy (hơi nước và máy dầu) năm
1954 có 206 chiếc / 7592 tấn Thuyền gỗ 4681 chiếc / 276.235T
Trong những năm 1954 – 1975, chính quyền Sài Gòn tập trung vào chiếntranh không quan tâm đến việc mở mang, khai thác đường thủy phục vụ kinh tế Đểphục vụ nhu cầu quân sự có kết hợp phục vụ dân sinh Chính quyền Sài Gòn đã xâydựng nhiều cảng: Sài Gòn, Cam Ranh, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Phan Thiết, QuiNhơn
Thời kỳ từ khi đất nước thống nhất – 1975
Sau ngày giải phóng miền Nam, đất nước thống nhất ngành đường thủy tậptrung khôi phục và phát triển
Từ năm 1976 đến 1978 ngành đường biển đã mua và đóng mới được hàngvạn tấn tầu
Các tàu Bến Hải, Chương Dương, Trà Khúc có trọng tải tới 11.850 DWT, tàuHậu Giang 12.800DWT Các tàu sông Đuống, Thái Bình, Tô Lịch, Lục Nam có trọng tải15000DWT Đội tàu Viễn Dương của ta ngày một trưởng thành vươn xa tầm hoạt độngđến Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ (Cuba)
Sau này thêm các tàu như Neptune Star 16.260 DWT, Jade Star 16.230DWT,
Năm 1979 thành lập Cục Đăng kiểm VN
Trang 12Năm 1982 đưa tàu Định An 20 thí điểm mở tuyến vận tải pha sông biển vàođồng bằng sông Cửu Long Trong thời gian này, nhà máy sửa chữa tàu biển Phà Rừng
ra đời, có khả năng sửa chữa tàu đến 15.000T Nhà máy Hạ Long đã đóng được tàu1500DTW
Ngành đường sông phía Nam đã tiếp quản và nâng cấp các nhà máy xínghiệp :
CK 76 (Thanh Quang), Hiệp ân, … đóng mới salan 250 tấn, tàu kéo 150CV.Các cảng Hải Phòng, Sài Gòn, … được nâng cấp, đầu tư thêm năng lực Cáccảng sông: Hà Nội, Nam Định cũng được đầu tư đáp ứng nhu cầu bốc xếp hàng hóa
I.3 Thành tựu của ngành đóng tàu trong thời kỳ đổi mới Cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện nay và định hướng phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
Thực hiện đường lối đổi mới “ Đổi mới” của Đảng, ngành đóng tàu VN đãcó những tiến bộ vượt bậc Chúng ta đã từng bước được sắp xếp, tổ chức, nâng cao hiệuquả SXKD của các doanh nghiệp đóng tàu Năm 1986, Liên hiệp đóng tàu VN đượcthành lập bao gồm những nhà máy đóng tàu chủ lực của ta lúc đó : Nhà máy đóng tàuBạch Đằng, Hạ Long, Sông Cấm, Sông Lô, Tam Bạc,… Năm 1996 Tổng công ty Côngnghiệp tàu thủy VN là tổng công ty quốc gia được thành lập theo Quyết định 91 / TTGcủa chính phủ Tổng công ty chịu sự chỉ đạo trực tiếp của chính phủ và các Bộ liên quantheo chức năng như bộ GTVT, Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ tài chính
Sơ đồ tổ chức của TCTCNTTVN lúc mới thành lập, 1996 thể hiện ở hình vẽ1.1
Mục tiêu của TCT đến năm 2010 là phải xây dựng và phát triển thành lực lượng nòngcốt của ngành công nghiệp đóng tàu VN đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội,quốc phòng và an ninh của đất nước ; từng bước trở thành tập đoàn kinh tế mạnh
Nâng cao năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật của các nhà máy, xí nghiệp, đầu
tư thêm ụ, triền đà lớn, máy móc, trang thiết bị hiện đại, xây dựng thêm một số nhàmáy mới, đào tạo nâng cao thêm tay nghề cho đội ngũ công nhân kỹ thuật, kể cả việcđào tạo ở ngoài nước Tăng cường liên doanh liên kết với nước ngoài, tranh thủ vốn vàcông nghệ của các nước tiên tiến Tiêu biểu là: nhà máy liên doanh tàu biển Hyundai –Vinashin xây dựng 1997 – 1999, có thể sửa chữa tàu đến 400.000DWT
Viện nghiên cứu thiết kế, sau này là công ty tư vấn thiết kế cũng có nhữngbước tiến vượt bậc, tự nghiên cứu được các loại tàu đặc chủng, tàu lớn, kỹ thuật phứctạp
Công tác Đăng kiểm có nhiều tiến bộ, Đăng kiểm VN bắt đầu có tiếng nóitrên diễn đàn đăng kiểm quốc tế
Nhà nước đã có chính sách phát triển đội tàu biển và công nghiệp đóng tàubiển Việt Nam Đây là vấn đề hết sức quan trọng cho việc phát triển ngành đóng tàu trởthành ngành kinh tế mũi nhọn
Sản phẩm đóng tàu
Trang 13Từ năm 1985 trở đi chúng ta đãø thiết kế và đóng mới hàng lọat tàu pha sôngbiển 400 – 1000 T, đóng tàu cá xuất khẩu cho Liên Xô, đóng tàu 3850T, phục hồi tàuhút bùn Long Châu xa và Trần Hưng Đạo công suất tới 11.000 m3/h, tàu cao tốc 32 hảilý/giờ, tàu dầu 3500T, cần cẩu nổi 600T Năm 1998 đóng thành công tàu 6500T, đếnnăm 2003 – 2004 đóng tàu 12.500T, tàu container 1016 TEU (dung tích 16.200m3 ), tàudầu 100.000 DWT, sửa chữa tàu 400.000 T Gần đây đóng tàu 53.000T xuất khẩu chovương quốc Anh.
Ngành đóng tàu Việt Nam đã cung cấp phương tiện cho ngành vận tải thủy,dầu khí, quốc phòng, đánh bắt thủy sản thực hiện nhiệm vụ của ngành mình
Theo thống kê của Cục Đăng Kiểm Việt Nam, tính đến 31/12/2002:
- Tổng số tàu sông đang họat động của cả nước là 77.988 chiếc, tổng côngsuất 2.798.552CV, tổng trọng tải 2.888.056T, tổng ghế khách 249.424 chổ
- Tổng số tàu biển (từ 100 GT trở lên) đang họat động của cả nước là 707chiếc, tổng dung tích 1.675.410m3 , tổng trọng tải 2.597.373 T
Số liệu cụ thể được ghi ở bảng 1.1 và bảng 1.2
Về tổ chức quản lý ngành đóng tàu hiện nay từ TW đến cơ sở
Phát huy truyền thống đóng tàu, thuyền hàng ngàn năm của tổ tiên , tậndụng lợi thế các điều kiện địa lý tự nhiên của đất nước, thực hiện chủ trương của Đảngvà Nhà nước, ngành đóng tàu (là một trong số ít ngành) đã đổi mới kịp thời triệt để ,sáng tạo, phát huy sức mạnh của tất cả các thành phần kinh tế trong và ngòai nước , tiếpnhận kịp thời thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến ngành đóng tàu đã có tiềm lựckhá lớn, thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước
Ngành đóng tàu đã hình thành tổ chức với mối quan hệ chặt chẽ, quản lý từchính phủ Trung ương đến các Bộ, ngành liên quan, đến các tổng công ty, nhà trường,viện nghiên cứu và cơ sở sản xuất
Khái quát sơ đồ tổ chức, quản lý ngành đóng tàu Việt nam hiện nay thể hiện
ở hình vẽ 1.2
Thành tích 50 năm qua của sự nghiệp đóng tàu Việt Nam là rất to lớn, đến nay chúng ta đã có cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực khá lớn:
- Đóng mới tàu hàng trọng tải 12.500T, tàu dầu 100.000DWT, tàu container
1016 TEU, các lọai tàu cao tốc, tàu khách, tàu đánh cá xa bờ Đặc biệt gần đây đónglọai 53.000T cho Vương Quốc Anh Có thể sửa chữa tàu đến 400.000 DWT
- Có đội ngũ cán bộ công nhân viên đông đảo, trên 3 vạn, có trình độ taynghề cao, trong đó trên 1000 người tốt nghiệp Đại học trở lên
- Có các cơ sở đào tạo kỹ sư và trên đại học cho ngành đóng tàu như Đại họchàng hải Hải Phòng, Đại học GTVT TPHCM, Đại học Thủy sản Nha Trang, Đại họcBách Khoa Hà Nội, Đại học Kỹ thuật TPHCM và hàng chục trường dạy nghề đóng tàu
- Có VINASHIN là tổng công ty nhà nước với 50 xí nghiệp thành viên là lựclượng nòng cốt của công nghiệp đóng tàu Việt nam Ngòai ra còn có nhiều nhà máy xí
Trang 14nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu thụôc các Bộ, các tổng công ty, các địa phương và tưnhân Gần đây nhà nước đã thành lập Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam vớikhoảng 100 đơn vị thành viên
- Có hai công ty nghiên cứu thiết kế tàu thủy, một công ty nghiên cứu thiếtkế tàu cá và hàng chục công ty thiết kế tàu thuỷ với quy mô nhỏ
- Có Cục Đăng kiểm Việt Nam (VR) với trên 600 cán bộ có trình độ cao, VRcó quan hệ với 16 tổ chức Đăng kiểm quốc tế
- Giá trị tài sản cố định của các ngành đóng tàu đến hàng chục ngàn tỷ đồng.Tháng 11/2005 Chính phủ đã chuyển 750 triệu USD từ phát hành trái phiếu quốc tế lầnđầu tiên cho VinaShin để triển khai kế hoặch đóng tàu giai đoạn 2006 – 2010
- Đã có đề án phát triển đến năm 2010, định hướng 2020, được nhà nước xácđịnh ngành đóng tàu là một trong năm ngành mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, tòanngành đang phấn đấu để tương lai không xa, Việt nam trở thành một trong những cườngquốc đóng tàu thế giới
I.4 Vài nét về ngành đóng tàu thế giới hiện nay.
Đội tàu vận tải thế giới.
Theo thống kê chưa đầy đủ, năm 1990 đội tàu vận tải thế giới có tổng trọngtải khoảng 600 triệu tấn (DWT) tính cho tàu có tấn đăng ký >100 GT, 1GT = 2,83 m3
dung tích của tàu
Năm 1993, tổng trọng tải khỏang 730 triệu tấn và đến nay khỏang 850 triệutấn
Nước có đội tàu có tổng trọng tải lớn nhất là Hy lạp, sau đó là Nhật, Mỹ,Trung Quốc …
Về trọng tải trung bình (TDW/ chiếc tàu) của các lọai tàu được thống kê nhưsau:
Tàu dầu : 41.000 DWT/chiếc
Tàu hàng rời : 45.000 DWT/chiếc
Tàu hàng bách hóa : 5.000 DWT/chiếc
Tàu tổng hợp : 113.000 DWT/chiếc
Tàu bốc xếp ngang : 7.000 DWT/chiếc
Các lọai tàu <100 GT, các lọai tàu sông, pha sông biển, tàu công trình, tàucá, tàu khách,… có rất nhiều chưa thống kê đựơc
Đội tàu dầu chiếm tỷ lệ rất lớn , khỏang 1/3 lọai tàu chở dầu thô cực lớn cótrọng tải đến 400.000 TĐW, thường chạy tuyến Trung đông – Singapore – Nhật Bản.Loại tàu dầu thường đến Việt Nam có trọng tải khỏang 70.000 DWT – 100.000 DWT
Lọai tàu container lớn nhất có sức chở đến 6.000 TEU
Công nghiệp đóng tàu thế giới
Trang 15Hàng năm thế giới đóng mới được khỏang 20 triệu GT, bằng 4 – 5% trọngtải đội tàu thế giới, sản lượng này mới chỉ đạt khỏang 50% công suất thiết kế của cácnhà máy trên tòan thế giới.
Nhật Bản và Hàn Quốc đóng trên 65% sản lượng tàu tòan thế giới và xuấtkhẩu là chủ yếu
Đối với lòai người thế kỷ 21 được dự báo là thế kỷ hải dương vì kinh tế hảidương (biển) rất phát triển với nhịp độ tăng trưởng 8 – 10% năm Đại dương là một khobáu
Chẳng hạn
- Tàng trữ khỏang 135 tỷ tấn dầu mỏ tức bằng khỏang 45% trữ lượng dầu cóthể khai thác trên tòan thế giới
- Khỏang 40 triệu tỷ tấn muối
- 300 tỷ tấn mỏ phân lân
- Trong nước biển có 1.8 tỷ tấn Mg, 95.000 tỷ tấn Br, 5 triệu tấn vàng, 4.5 tỷtấn Urani phóng xạ
- 32.5 tỉ tấn động vật
- 1.7 tỷ tấn thực vật
- Hàng năm có thể khai thác 3 tỷ tấn cá
Dự kiến đến năm 2050 kinh tế biển sẽ đạt giá trị khỏang 200.000 tỷ USD,gấp 70 lần so với giá trị đạt được của năm 2000
Tình hình trên có thể thấy, ngành công nghiệp đóng tàu của thế kỷ 21 sẽ rấtphát triển khi đó sản lượng chế tạo công trình nổi, công trình khai thác tài nguyên trênbiển sẽ chiếm tỷ lệ xu thế so với các lọai tàu vận tải
Tóm lược
Việt nam ở vị trí rất thuận lợi để phát triển vận tải thuỷ Từ xa xưa tổ tiên ta đã biết vận dụng sông biển, chế tạo những loại tàu thuyền thích hợp phục vụ xây dựng kinh tế, chiến đấu bảo vệ tổ quốc.
Sau 20 năm đổi mới đến nay chúng ta đã có lực lượng phương tiện vận tải thuỷ và cơ sở vật chất kỹ thuật đóng tàu khá phát triển Hiện tại ngành đóng tàu ở vị trí thứ 11, theo định hướng tới 2015 chúng ta sẽ giữ vị trí thứ 4 trên thế giới Chúng ta hy vọng trong tương lai gần ngành đóng tàu chúng ta sẽ là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
Có thể nói không phải quốc gia nào trên thế giới cũng có biển mà cũng có tiềm năng, có điều kiện như Việt Nam Là những người đang học tập, công tác trong ngành đóng tàu, chúng ta tự hào về quá khứ bao nhiêu, càng xác định trách nhiệm phải đóng góp nhiều nhất cho ngành trong những năm tới và cho tương lai.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho chúng ta là công tác quản trị sản xuất trong các doanh nghiệp đóng tàu nước ta phải được thực hiện như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất.
CÂU HỎI
Trang 161 Hệ thống tổ chức, qủn lý ngành đóng tàu nước ta hiện nay như thế nào?
2 Cơ sở vật chất – kỹ thuật ngành đóng tàu Việt nam hiện nay? Định hướng của ngành là gì?
Hội đồng Quản trị
Tổng giám đốc
Các Cty liên
TV&ĐT PT đóng tàu
Vận tải Biển đông
Phá dỡ tàu cũ
KCN phá dỡ tàu cũ
Ban Tài chính Kế tóan
Ban kế họach đầu tư
BTC Cán bộ & L.Động
XNK VT Thiết bị thủy
Trang 17Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức Tổng công ty CNTTVN năm 1996
TỔNG HỢP SỐ LIỆU TÀU SÔNG ĐANG HỌAT ĐỘNG TRONG CẢ NƯỚC
CỦA ĐĂNG KIỂM VIỆT NAM (Tính đến 31/12/2002) (Chưa tính đến đội tàu, thuyền dân gian vỏ gỗ, vỏ thép, XMLT, Composite)
Bảng 1.1
Máy (CV)
Khả năng Khai thác
Tuổi bình quân
1 Tổng số tàu đang hoạt
động
2 Tổng trọng tải
Tàu hàng (tấn)
3 Quốc doanh
Tàu hàng khô
Tàu hàng lỏng
Salan hàng khô
Salan hàng lỏng
Tàu kéo đây
Tàu khách
Tàu cần cẩu
Tàu hút bùn
Tàu khác
8201081188657506661201001102
59.90318.25800123.00569.2741.86618.78773.039
74.55220.484277.59722.7421.145.418 kg25.282 3.29242.059 m3/g188.606
15.0811.1815.7911.0919.737.6113.6738.0510.82
4 Ngòai quốc doanh
Tàu hàng khô
Tàu hàng lỏng
Sàlan hàng khô
Sàlan hàng lỏng
Tàu kéo đẩy
Tàu khách
Tàu cần cẩu
Tàu hút bùn
Tàu khác
52.0587894.4333652.5479.7376581292.353
1.439.212122.0340
0675.84422.45515.97913.37878.498
1.526.516125.377779.16461.6243.581.232 kg224.142 (NG)16.868
25.124 m3/g51.439
8.037.088.087.0811.378.316.259.437.00
Trang 18TỔNG HỢP SỐ LIỆU TÀU BIỂN ĐANG HOẠT ĐỘNG (Từ 100GT trở lên)
(Tính đến 31/12/2002)
Bảng 1.2
Số liệu chung cả nước Tàu mang cấp VR
Tàu mang cấp Đăng kiểu nứơc ngòai
Tàu treo cờ Việt Nam
1 Tổng số tàu đang hoạt động
- Số lượng tàu (Chiếc)
- Tổng dung tích (GT)
- Tổng trọng tải (DWT)
6491.156.0751.848.472
58519.335748.901
7071.675.4102.597.373
2 Tuổi bình quân (Năm)
- SL tàu từ 10 năm trở xuống
(Chiếc)
- SL tàu lớn hơn 20 năm (Chiếc)
14.78226143
13.17912
14.65235155
3 Theo công dụng
- Tàu hàng tổng hợp (Chiếc)
-Tàu chở dầu (Chiếc)
- Tàu container (Chiếc)
- Tàu khách biển (Chiếc)
- Các loại khác (Chiếc)
42344416162
1889023
441521316185
4 Theo tuyến hoạt động
- Tuyến quốc tế (Chiếc)
- Tuyến trong nước (Chiếc)
134515
553
189518
5 Theo lọai hình sở hữu
- Nhà nước (Chiếc)
Trang 19Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức, quản lý ngành đóng tàu Việt Nam hiện nay
Các địa phương
TẬP ĐOÀN
CN TT VNVINASHIN
Các đơn vịthành viêncủaVINASHIN
Các Trường
ĐH, Tr Học,Công nhânchuyênngành thuộccác Bộ
Các đơn
vị đóng và sửachữa tàu
Quốc doanhvà tư nhân
Bộ GDĐTBộ GTVTBộ
Trang 20CHƯƠNG II NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA KHOA HỌC QUẢN TRỊ SẢN XUẤT
2.1 Quá trình hình thành và phát triển lý thuyết quản trị sản xuất
Ngay từ năm 1776 Adam Smith và các nhà kinh tế khác đã quan tâm nghiêncứu và đặt nền móng cho các lý thuyết về quản trị sản xuất và dịch vụ
Có những sự kiện đáng quan tâm như sau:
Năm 1800 Eli Whitney đề xuất về lý luận và tiêu chuẩn hoá sản xuất vàkiểm soát chất lượng
Năm 1881 W Taylor là người khai sinh ra lý thuyết quản trị lao động khoahọc Ông đã xây dựng những tiêu chuẩn lựa chọn lao động, nghiên cứu việc hoạch địnhvà lập lịch tiến độ lao động, nghiên cứu các nguồn động lực thúc đẩy người lao độngtăng năng suất lao động, hợp lý hoá thao tác và định mức lao động Taylor và các đồngnghiệp của ông là những người đầu tiên nghiên cứu có hệ thống những phương pháp tốtnhất cho sản xuất Ông cũng nghiên cứu về chuyên môn hoá người lao động, ngườiquản lý, công nhân chính, công nhân phụ……
Năm 1913 H Ford và C Sorenso đã kết hợp những lý thuyết về sự chuyênmôn hoá lao động để thực hiện phương pháp dây chuyền trong việc đóng gói và phânphối thịt theo đơn đặt hàng Thế là hình thành khái niệm về dây chuyền sản xuất đã rađời
Năm 1924 W Schenhard đã nghiên cứu lý thuyết về kiểm tra chất lượng sảnphẩm Lý thuyết này được đề ra dựa vào sự kết hợp những kiến thức về toán thống kênhằm đáp ứng nhu cầu về kiểm soát và nó đã cung cấp những nền tảng cho việc chọnmẫu thống kê và kiểm tra chất lượng
Năm 1938 người ta bắt đầu ứng dụng Computer vào quản trị sản xuất vàđiều hành
Năm 1957 bắt đầu ứng dụng sơ đồ PERT( Program Evaluation and ReviewTechnique) và sau đó CPM (Critical Path Method) vào sản xuất và đã mang lại hiệuquả cao về tài chính và thời gian sản xuất
Năm 1970 người ta bắt đầu nghiên cứu nhu cầu vật tư bằng máy tính MRP(Material Requirement Planning)
Năm 1975 hệ thống nghiên cứu thiết kế bằng Computer đã hình thành(CAD)
Năm 1980 bắt đầu ứng dụng hệ thống sản xuất tự động (MAP –Implemented Manufacturing Automation Protocol)
Năm 1985 hệ thống sản xuất liên hợp bằng Computer (CIM: Computer Intergrated Manufacturing) được thực hiện.
Hiện nay ở các nước tiên tiến việc điều hành sản xuất đều sử dụng bằng hệthống máy tính
Sự phát triển trong tương lai dựa trên cơ sở:
+ Khoa học quản trị
Trang 21+ Khoa học tự nhiên.
+ Khoa học thông tin
Có thể biểu diễn những sự kiện nổi bật đánh dấu sự phát triển của khoa họcquản trị sản xuất theo sơ đồ hình 2.1 của GS Đồng Thị Thanh Phương
Sự phát triển trong tương lai dựa trên
cơ sở:
+ Khoa học quản trị.
+ Khoa học tự nhiên.
+ Khoa học thông tin.
1990 1985 1980 1975 1970 1965 1957 1938 1924 1913 1890 1886 1800 1776
CIM MAP CAD MRP CPM
Sơ đồ Pert Áp dụng Computer Kiểm soát chất lượng Dây chuyền
Sơ đồ Gantt Động cơ lao động Khoa học về quản trị Tiêu chuẩn hoá Phân công lao động
Trang 22Khách hàng
2.2 Khái niệm về sản xuất, quản trị sản xuất
Khái niệm về sản xuất
Hiện nay theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì sản xuất (Production)được hiểu là một quá trình(Process) tạo ra sản phẩm (Goods) hoặc dịch vụ (Services).Về thực chất sản xuất chính là quá trình chuyển hoá các đầu vào, biến chúng thành đầu
ra (Transforms Imputs to Outputs) dưới dạng sản phẩm hoặc dịch vụ
Có thể hình dung quá trình này như trong hình 2.2:
Cungcấp trở lại
Hình 2.2 Quá trình sản xuấtTrong hình vẽ trên, người ta thấy “Khoa học và nghệ thuật quản trị doanhnghiệp” giữ vai trò rất quan trọng, nó phụ thuộc chủ yếu vào người thực hiện và thườngxuyên phải được hoàn thiện, nâng cao
Có 2 loại hình doanh nghiệp là:
+ Doanh nghiệp tạo ra sản phẩm vật chất
+ Doanh nghiệp tạo ra các dịch vụ
Các nhà máy, công ty đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ của ngành ta thuộcloại hình doanh nghiệp 1
Các hoạt động quản trị quá trình tạo ra các sản phẩm vật chất được gọi làquản trị sản xuất
ĐẦU RA
Sản phẩm hoặc dịch vụ
Trang 23Các hoạt động quản trị quá trình tạo ra các dịch vụ gọi là quản trị điều hànhhoặc quản trị tác nghiệp (Operation)
Thuật ngữ chung cho hai loại trên là quản trị sản xuất và tác nghiệp
(Production and Operation Management – POM)
Khái niệm về quản trị sản xuất
Quản trị sản xuất bao gồm tất cả hoạt động liên quan đến việc quản trị cácyếu tố đầu vào, tổ chức, phối hợp các yếu tố đó nhằm chuyển hoá thành các kết quả ởđầu ra là sản phẩm vật chất với hiệu quả cao nhất, đạt được lợi ích, lợi nhuận lớn nhấtcho doanh nghiệp Để tạo ra sản phẩm các doanh nghiệp phải thực hiện 3 chức năng cơbản sau đây:
+ Marketing
+ Tiến hành sản xuất
+ Hoạt động tài chính kế toán
Theo kinh nghiệm của các doanh nghiệp Mỹ thì chi phí cho khâu sản xuấtbao giờ cũng chiếm tỷ trọng lớn Mặt khác các giải pháp tạo khả năng sinh lợi tronglĩnh vực quản trị sản xuất lớn hơn rất nhiều so với các biện pháp giảm phí tổn trong tàichính và tăng doanh số trong hoạt động tiếp thị
Như vậy chúng ta cần nghiên cứu các cơ sở khoa học, các mô hình và thuậttoán nhằm giải quyết các nhiệm vụ của Quản trị sản xuất
Xem xét doanh nghiệp theo quan điểm hệ thống
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng có tính độc lập tương đối, lập thành một hệthống (System) có các mối quan hệ bên trong và bên ngoài cũng như các hệ thốngthông thường khác
Thực chất doanh nghiệp là một hệ thống chuyển hoá các đầu vào thành đầu
ra dưới dạng sản phẩm hoặc dịch vụ
Như đã nói ở trên doanh nghiệp có ba chức năng chính: Marketing, sản xuấtvà tài chính, kế toán nên được tổ chức thành 3 bộ phận, lập thành 3 hệ thống bộ phậncó tác động tương hổ, tạo thành các mối quan hệ chủ yếu bên trong của doang nghiệp
Các nhân tố bên ngoài có tác động đến doanh nghiệpbao gồm chủ yếu hệthống kinh tế quốc gia, hệ thống mậu dịch quốc tế, hệ thống chính trị quốc gia và quốctế
Những nhà quản trị nào thông hiểu được sự vận hành của những hệ thốngbên trong và bên ngoài sẽ có cơ hội trở thành các nhà quản trị giỏi, có khả năng phốihợp những mối liên hệ giữa con người với các nguồn tiềm năng vật chất, tài chính,thông tin, để làm cho hệ thống doanh nghiệp đạt hiệu quả cao
Với quan điểm nhìn nhận doanh nghiệp như là một hệ thống sẽ giúp chúng
ta có được tầm nhìn bao quát, toàn diện về doanh nghiệp trong mối quan hệ với môitrường hoạt động Điều đó giúp chúng ta xây dựng được những nhiệm vụ quản trị cóhiệu quả, có tính khả thi để thực hiện tốt mục tiêu chiến lược chung của doanh nghiệp
Trang 24Ngoài ba hệ thống bộ phận chính còn có các hệ thống phụ khác như: Hệthống tồn kho, hệ thống vạch và điều hành lịch trình sản xuất, hệ thống duy tu, bảoquản năng lực doanh nghiệp.
Như vậy trong nội bộ doanh nghiệp có rất nhiều mối quan hệ chằng chịt cầnphải điều hoà sao cho tối ưu
Mục tiêu của quản trị sản xuất
Quản trị sản xuất cần đạt được bốn mục tiêu cơ bản sau đây:
- Chất lượng
- Hiệu năng
- Dịch vụ khách hàng
- Linh hoạt và thích ứng nhanh
Mục tiêu chất lượng
Trong quản trị sản xuất, mục tiêu chất lượng là mục tiêu số một vì chất lượng là sự sống còn, tồn tại của doanh nghiệp
Nếu như trước nay người ta xử dụng chủ yếu hệ thống KCS (Kiểm tra chất lượng sản phẩm) để kiểm soát chất lượng sản phẩm thì ngày nay, các kiểu kiểm soát chất lượng toàn bộ TQM (Total quality management) được áp dụng rộng rãi, mà điển hình nhất là hệ thống đảm bảo chất lượng ISO 9000 (sẽ trình bày ở chương XII của giáo trình này).
Mục tiêu hiệu năng
Thực chất của mục tiêu này chính là làm thế nào để xử dụng và khai thác tốtnhất các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp, cụ thể là:
- Kiểm soát và giảm thiểu chi phí nguyên liệu
- Sử dụng nhiên liệu hợp lý, kiểm soát chi phí lao động
- Kiểm soát chặt chẽ sử dụng cơ sở vật chất – kỹ thuật của doanh nghiệp
(Nhà xưởng, thiết bị, phương tiện vận tải, …).
Mục tiêu dịch vụ khách hàng
Mục tiêu này nhằm thực hiện hai yêu cầu:
- Sản xuất đủ số lượng, đúng mẫu mã, chủng loại để thoã mãn nhu cầu của khách hàng
- Đảm bảo sản xuất đúng thời hạn giao hàng theo yêu cầu của khách hàng.Mục tiêu linh hoạt và thích ứng nhanh
Ngày nay môi trường kinh doanh và nhu cầu thị trường thay đổi rất nhanh, đặc biệt là sự phát triển của khoa học và công nghệ
Khoa học và công nghệ thay đổi có thể làm phương pháp sản xuất thay đổi hẳn và kết quả là khối lượng sản phẩm cao hơn, chí phí giảm hơn, chất lượng tốt hơn
Những sự biến động về giá cả các vật tư chiến lược (Như xăng, dầu, …) cũng
như các biến động xã hội – chính trị, …, làm cho thế giới luôn không ổn định
Trang 25Trong bối cảnh đó, để tồn tại và nâng cao cạnh tranh buộc các doanh nghiệpsản xuất phải tính toán tổ chức sản xuất sao cho rất linh hoạt và có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của môi trường kinh doanh.
Chức năng của quản trị sản xuất
Chức năng của quản trị sản xuất bao gồm chức năng dài hạn và ngắn hạn:
a Chức năng dài hạn
- Dự báo, lựa chọn và thiết kế hệ thống sản phẩm
- Định vị trí của hệ thống sản xuất và xây dựng nhà máy
- Lựa chọn tiến trình và thiết bị sản xuất
- Thiết kế mặt bằng
- Thiết kế quá trình sản xuất
- Thiết kế công việc
b Chức năng ngắn hạn (Liên quan đến việc vận hành và kiểm soát hệ thống sản xuất)
- Dự báo sản xuất và lập kế hoạch sản xuất
- Kiểm soát dòng nguyên vật liệu
- Kiểm soát tồn kho
- Duy trì hệ trống sản xuất
- Kiểm soát chất lượng
- Kiểm soát lao động và nhân lực trong hệ thống sản xuất
Quản trị sản xuất và các lĩnh vực quản trị khác trong doanh nghiệp
Quản trị sản xuất gắn liền với các lĩnh vực (Bộ phận) quan trọng khác trong
doanh nghiệp như: Marketing, tài chính, nhân sự, khoa học công nghệ
Quản trị sản xuất và Marketing
Quản trị sản xuất có quan hệ chặc chẽ với hoạt động Marketing, mối quan hệ này thể hiện trong việc thực hiện các nhiệm vụ sau:
a Thoả mãn nhu cầu dài hạn
Để lập được kế hoạch sản xuất, nhà quản trị sản xuất phải dự báo và nhận biết được nhu cầu trong tương lai Để làm được điều này, nhà quản trị cần sự trợ giúp vàhợp tác của bộ phận Marketing
b Thoả mãn nhu cầu dài hạn
Các đơn đặt hàng cung cấp cho ta thông tin về nhu cầu hiện tại Thông tin giữa phòng Marketing và bộ phận điều độ sản xuất được đáp ứng tốt sẽ tránh được tình trạng bị động hay đột xuất
c Chất lượng
Mục tiêu chất lượng của quản trị là nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng.Để hiểu rõ nhu cầu của khách hàng về chất lượng cần có sự giúp đỡ của bộ phận Marketing
Trang 26d Kiểm soát tồn kho
Kiểm soát tồn kho là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của quản trị tác nghiệp Tồn kho quá lớn sẽ gây lãng phí, kém hiệu quả Tồn kho quá ít sẽ không đảm bảo nhiệp độ cung ứng hàng Tồn kho thế nào là hợp lý đòi hỏi nhà quản trị sản xuất phải hiểu về Marketing
Quản trị sản xuất và quản trị tài chính kế toán
Thực hiện việc quản lý tài chính,tài sản theo đúng chế độ qui định, sử dụng đồng vốn có hiệu quảlà một công tác có liên quan chặc chẽ tới sản xuất
Quản trị sản xuất và quản trị nhân sự
Bộ phận nhân sự, lao động sẽ cuung cấp cho hệ thống sản xuất nguồn nhân lực, họ sẽ giải quyết các vấn đề: tuyển dụng, đào tạo, giải quyết chế độ, sa thải, … Nhà quản trị phải nắm chắc và lưu tâm nhiều đến công tác này
Quản trị sản xuất và nghiên cứu khoa học công nghệ
Nghiên cứu khoa học công nghệ và điều hành sản xuất luôn luôn gắn liền với nhau như hình với bóng
- Nghiên cứu khoa học giúp thiết kế sản phẩm mới có chất lượng tốt hơn
- Nghiên cứu khoa học giúp qui trình hoá và công nghệ hoá hệ thống sản xuất
- Nghiên cứu khoa học giúp nâng cao hệ thống kiểm soát chất lượng
Vấn đề năng suất trong quản trị
Năng suất (Productivity) phản ảnh sự gia tăng (sản phẩm hoặc giá trị) của
quá trình sản phẩm Năng suất được tính bằng cách so sánh giữa kết quả đạt được vớinguồn lực đã bỏ ra
Số sản phẩm (giá trị) đã làm ra
Năng suất =
Lượng đầu vào đã sử dụng
Năng suất có ý nghĩa rất quan trọng đối với từng doang nghiệp cũng như đốivới quốc gia Nhiệm vụ của các nhà quản trị là phải làm sao cho năng suất đơn vị mìnhkhông ngừng tăng lên Khoa học quản trị sản xuất giúp họ tìm được giải pháp thích hợpđể giải quyết vấn đề này
Những nhân tố tác động đến năng suất:
Theo các nhà quản trị Mỹ, trong vòng 100 năm(1889- 1989) năng suất củaMỹ tăng bình quân 2,5% năm, trong đó:
Nhân tố lao động đóng góp 0,5%
Nhân tố tài chính đóng góp 0,4%
Trang 27Nhân tố khoa học và nghệ thuật quản trị đóng góp 1,6%
Như vậy 3 yếu tố chủ yếu tác động trực tiếp đến năng suất là: Lao động, tàichính, khoa học và nghệ thuật quản trị Trong đó yếu tố thứ 3 giữ vai trò rất quan trọngđể nâng cao năng suất
Hoạt động quản trị chỉ có thể được thực hiện trọn vẹn, mang lại hiệu quả tốtthông qua những nền tảng GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO không những đối với những nhàquản trị mà còn đối với những người lao động, nâng cao hàm lượng khoa học trong hoạtđộng của họ Kinh nghiệm của Nhật bản cho thấy: Những Quốc gia nào càng chú trọngnâng cao dân trí, chú trọng đầu tư phát triển con người thì họ càng thành công trong việcnâng cao năng suất.Một nhà quản trị có năng lực phảiluôn bảo đảm mọi nguồn lực vềkiến thức và kỹ thuật trong đơn vị được huy động và khai thác triệt để
2.3 Lựa chọn chiến lược trong quản trị sản xuất
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh, hoạt động sản xuất ( và dịch vụ)luôn xẩy ra các tình huống quản trị khác nhau Trước một tình huống có thể có nhiềucách giải quyết, nhiều khả năng lựa chọn( Alternative) nhiều phương án hành động.Mỗi cách giải quyết, khả năng lựa chọn hoặc phương án hành động đó gọi là chiến lượcStrategie) Nhiệm vụ của nhà quản trị là phải lựa chọn được chiến lược tốt nhất trongtập hợp các chiến lược khả năng để ra quyết định thực hiện
Một quyết định đúng đắn sẽ dẫn đến thành công và ngược lại
Trong một doanh nghiệp có:
- Chiến lược chung cho toàn doanh nghiệp nhằm giải quyết những nhiệm vụlớn, chung cho cả doanh nghiệp, như mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp, các phươngán, các giải pháp lớn trong sản xuất kinh doanh
- Các chiến lược riêng của các bộ phận chức năng như: Marketing,… nhữngchiến lược riêng này là những giải pháp, các phương án hành động riêng của các bộphận, được lựa chọn trên cơ sở đáp ứng được các yêu cầu của chiến lược chung gópphần thực hiện thắng lợi các quyết định được đưa ra từ chiến lược chung đã được lựachọn trước đó
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chiến lược và ra quyết định
Có hai loại nhân tố chủ yếu sau đây:
- Các nhân tố về chất
- Các nhân tố về lượng
Các nhân tố về chất bao giờ cũng đóng vai trò quan trọng hàng đầu, nó thểhiện trước hết ở mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp Mục tiêu này có thể thay đổitheo từng thời gian Chẳng hạn: một doanh nghiệp mới thành lập hoặc một sản phẩmmới sản xuất lần đầu thì mục tiêu chính truớc mắt là chiếm lĩnh thị trường, nhưng khidoanh nghiệp đã hoạt động ổn định thì mục tiêu chính phải đạt lợi nhuận lớn nhất
Trang 28Mục tiêu của một doanh nghiệp cũng có thể được biểu hiện ở mức độ phấnđấu qua từng thời kỳ, đạt được công suất, sản lượng tới đâu, trình độ hiện đại như thếnào, đứng ở hàng đầu hay hàng giữa trên thị trường.
Khi mục tiêu đã được xác định hoặc đã ổn định thì các nhân tố về lượng giữmột vai trò quan trọng trong việc lựa chọn chiến lược và ra quyết định thực hiện Đó lànhững chỉ tiêu về hiệu quả dùng trong so sánh các phương án chiến lược, lựa chọn chiếnlược tối ưu là chiến lược có các chỉ tiêu hiệu quả tốt nhất
Nói tóm lại mục tiêu phải được xác định trước làm cơ sở cho việc lựa chọncác chiến lược thích hợp để đạt được mục tiêu đó Những gì mà một tổ chức cần thựchiện để đạt được mục tiêu chính là nội dung chiến lược , được thể hiện dưới dạng mộtquyết định
Kỹ thuật phân tích TOWS
Việc xác định mục tiêu của doanh nghiệp phụ thuộc trước hết vào mục đích, nhiệm vụ, động cơ tồn tại của doanh nghiệp, những giá trị gì mà doanh nghiệp cần tạo
ra cho xã hội
Để xác định mục tiêu , nhiệm vụ và hoạch định chiến lược, ngày nay người
ta thường sử dụng kỹ thuật phân tích TOWS, tức là kỹ thuật phân tích:
- Mối đe doạ (Threats – T)
- Cơ hội (Oppotunities – O)
- Thế yếu (Weaknesses – W)
- Thế mạnh (Strengths – S)
Một ma trận chiến lược hai chiều trong đó một chiều thể hiện sự đe doạ và
cơ hội của môi trường, một chiều thể hiện thế mạnh và thế yếu của doanh nghiệp sẽcho phép chúng ta xác định được vị thế của doanh nghiệp trong quá trình hình thành
chiến lược Sơ đồ thể hiện ma trận đó như sau: (Bảng 2.1)
Bảng 2.1
Thế mạnh / yếu
của doanh
nghiệp
Cơ hội/đe dọa của môi trường
Thế mạnh (A) Phối hợp giữa cơ hộivà thế mạnh (C) Tránh sự đe doạ
Thế yếu (B) Tránh điểm yếu (D) Tình huống nguy hiểm
Đây là ma trận chiến lược về môi trường – tình hình nội tại của doanh nghiệp.Trước hết cần xác định vị trí của doanh nghiệp mình nằm trong ô nào của
ma trận TOWS, để tạo được lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp cần am hiểu những đe doạvà cơ hội của môi trường bao bọc xung quanh mình
Những nhân tố chủ yếu của đe doạ và cơ hội gồm:
- Điều kiện về văn hoá
- Điều kiện về nền dân chủ
Trang 29- Khía cạnh chính trị, pháp lý của quốc gia.
- Khía cạnh kỹ thuật
- Điều kiện xã hội
Những thế mạnh và thế yếu của doanh nghiệp thể hiện qua những điều kiệnvà nhân tố sau:
- Điều kiện về nguồn cung cấp tư bản
- Điều kiện về cung cấp nguyên vật liệu, bán thành phẩm
- Hệ thống khách hàng
- Điều kiện về nguồn lực lao động
- Điều kiện về đối thủ cạnh tranh
- Những điều kiện khác…
Việc phân tích môi trường giúp ta nhận thức được những cưỡng chế của môitrường đối với hoạt động của doanh nghiệp Một sự nhận thức không trọn vẹn môitrường có thể sẽ dẫn đến sự thất bại của chiến lược đề ra
Trình tự chọn chiến lược
Chúng ta phải đánh giá thế mạnh, thế yếu của doanh nghiệp mình, xem xétkỹ những đe doạ, thách thức và cơ hội của môi trường xung quanh Sau đó phải xác định
vị trí của mình trong ma trận TOWS Trên cơ sở đó hoạch định chiến lược và chiếnthuật nhằm tạo ra được lợi thế cạnh tranh Cần xác định các giải pháp khai thác tối đathế mạnh cũng như cơ hội phát triển của doanh nghiệp, hạn chế các mối đe doạ, khắcphục các điểm yếu của doanh nghiệp Những việc này cần được thực hiện theo trình tự
sau đây, tức là trình tự xác định chiến lược (hình 2.3)
Hình 2.3 Sơ đồ các bước lựa chọn chiến lược
Phân tích tình huống cạnh tranh
trong môi trường kinh tế xã hội Phân tích tình trạng nội tại của doanh nghiệp
Xác định mục tiêu nhiệm vụ
vụ
Liệt kê các phương án chiến lược khả thi
Tính toán so sánh lựa chọn các chiến lược
Ban hành quyết định và các giải pháp thực hiện chiến
lược
Trang 30Nội dung các bước trên như sau
1 Phân tích tình huống cạnh tranh (môi trường kinh tế xã hội)
- Tìm hiều thực trạng của môi trường và dự báo xu hướng thay đổi
- Tìm hiểu nhu cầu của xã hội
- Nhận dạng các đặc điểm kinh tế của ngành mình và môi trường
- Nhận dạng những yếu tố quan trọng cho sự phát triển của ngành nghề màdoanh nghiệp đang hoạt động
- Nhận dạng vị trí cạnh tranh tương đối giữa các ngành trong nền kinh tế đểtìm kiếm và đánh giá cơ hội phát triển doanh nghiệp
-Đánh giá những thách thức, đe doạcó thể xuất hiện từ phía các đối thủ cạnhtranh
2 Phân tích tình trạng nội tại của doang nghiệp
- Đánh giá kết quả thực tế của doanh nghiệp
- Thực hiện việc phân tích TOWS
- Đánh giá sức mạnh cạnh tranh tương đối của doanh nghiệp
- Nhận dạng các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp cần được giải quyết
- Nhận dạng các mặt yếu và các biện pháp khắc phục
3 Xác định mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược
Đề xuất các mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược có tính khả thi cao Xác địnhmục tiêu, nhiệm vụ cơ bản, xác định thứ tự ưu tiên các nhiệm vụ
4 Đề xuất các phương án chiến lược khả năng có thể có
Cần đề xuất và liệt kê đầy đủ các phương án khả năng Những phương ánnày phải đạt được các yêu cầu sau:Tạo sự hội nhập giữa thế mạnh và cơ hội phát triểncủa môi trường, khắc phục các điểm yếu của doanh nghiệp, lường trước được các phảnứng, thay đổi của các đối thủ cạnh tranh, tạo được lợi thế cho mình đồng thời phải phùhợp với các điều kiện của môi trường và phải có tính khả thi
5.Tính toán, so sánh, lựa chọn chiến lược
- Xác định các chỉ tiêu hiệu quả để đánh giá các chiến lược khả năng
- Tính toán các chỉ tiêu này cho từng phương án
- Lựa chọn phương án chiến lược có chỉ tiêu hiệu quả tốt nhất Trong trườnghợp khó khăn, không định hướng được các chỉ tiêu hiệu quả một cách cụ thể thì cần trảlời được các câu hỏi sau đây:
- Những chiến lược nào tạo được lợi thế cạnh tranh, giành được thị phần chodoanh nghiệp?
- Những chiến lược nào làm cho doanh nghiệp chiếm lĩnh được vị tría hàngđầu trên thị trường?
Trang 31- Những chiến lược nào thiết yếu trước mắt đối với doanh nghiệp?
- Những chiến lược nào có tính khả thi cao?
6 Ra quyết định thực hiện
Sau khi lựa chọn được chiến lược cần ra quyết định chính thức để thống nhấtthực hiện và làm cơ sở để các bộ phận chức năng xác định nhiệm vụ của mình
Đề xuất các biện pháp thực hiện quyết định
Tổ chức thực hiện, theo dõi, kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh khi cần thiếttrong suốt quá trình thực hiện
Một chiến lược quản trị sản xuất thành công chỉ khi nào nó đáp ứng đượccác tiêu chuẩn sau đây:
- Phù hợp với nhu cầu môi trường
- Đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh
- Phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp
- Phù hợp với chu kỳ đời sống của sản phẩm
2.4 Những quyết định quan trọng nhất trong nội dung quản trị sản suất
Thực chất của việc Quản trị sản xuất là quá trình lựa chọn các chiến lược, racác quyết định quản trịvà tổ chức điều hành thực hiện các quyết định đó
Những quyết định quan trọng gồm có:
1 Quyết định về dự báo
Đây là quyết định đầu tiên trong qui trình quản trị sản xuất, gồm có các câuhỏi phải giải quyết: Các tiêu chuẩn ta hoạch định là gì? Bao nhiêu đơn vị sản phẩm cóthể tiêu thụ được? Nhu cầu sản phẩm của ta phụ thuộc vào những nhân tố nào? Với mốitương quan ra sao?
2 Quyết định về sản phẩm và công nghệ
Sau quyết định về dự báo là quyết định về sản phẩm và công nghệ Phải giảiquyết lựa chọn sản phẩm nào đưa ra thị trường Trong quá trình sản xuất chúng ta phảiđổi mới sản phẩm như thế nào? Thừa kế sản phẩm đã thực hiện ra sao và những quitrình công nghệ nào? Thiết bị gì? Công suất là bao nhiêu? Đầu tư theo phương thứcnào?
3 Quyết định địa điểm, vị trí xí nghiệp
Quyết định này có tầm quan trọng đặc biệt, nó sẽ quyết định ngay từ đầunhững lợi thế cho xí nghiệp
4 Quyết định bố trí mặt bằng
Trang 32Trên cơ sở vị trí đã được lựa chọn, bố trí mặt bằng giúp chúng ta nên bố trísắp xếp các thiết bị, phương tiện như thế nào để đáp ứng nhu cầu Bố trí dây chuyềnsản xuất ra sao? Nhà xưởng, kho tàng, văn phòng….bố trí thế nào cho hiệu quả.
5 Quyết định xử dụng các nguồn lực
Quyết định xử dụng các nguồn lực là quyết định kết hợp việc sử dụng cácnguồn lực của doanh nghiệp vào quá trình sản xuất
Bằng các mô hình tính toán, bằng kỹ thuật phân tích chúng ta lựa chọn việcsử dụng các nguồn lực (máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, lượng tồn kho, …) như thếnào để đạt chi phí sản xuất thấp nhất, sản xuất ổn định nhất
6 Quyết định về nhu cầu vật tư
Quyết định về nhu cầu vật tư là quyết định chiến lược về cung ứng vật tư,phụ tùng, bán thành phẩm
7 Quyết định về tồn kho
Giá trị hàng tồn kho nhiều trường hợp chiếm một tỷ trọng rất cao trong tổnggiá trị tài sản của doanh nghiệp Có nhiều mô hình tồn kho cần nghiên cứu ứng dụngtrong các tình huống khác nhau nhằm đảm bảo sản xuất liên tục mà không bị ứ đọng
8 Quyết định về điều độ sản xuất – tác nghiệp
Nghiên cứu về các phương pháp phân công điều độ sản xuất, chỉ huy sảnxuất Việc ứng dụng sơ đồ PERT để lập lịch trình và điều khiển chỉ huy theo lịch trìnhsẽ mang lại nhiều lợi ích về thời gian, tài chính cũng như các nguồn lực khác trong sảnxuất
9 Quyết định về nhân lực, tổ chức lao động
Quyết định này giúp chúng ta xác định lượng, loại lao động là bao nhiêu?Chiến lược sử dụng, đào tạo nhân lực như thế nào
Để có thể giải quyết tốt các nội dung quản trị sản xuất người quản trị cần cómột số kiến thức nhất định về các môn học cơ sở sau đây: Xác suất, thống kê, quyhoạch tuyến tính và nhất là môn phân tích định lượng trong quản trị
Tóm lược
Sản xuất là quá trình tạo ra sản phẩm Về thực chất sản xuất là quá trình chuyển hoá các đầu vào, biến chúng thành đầu ra dưới dạng sản phẩm để cung cấp cho thị trường.
Khi sản xuất ở qui mô nhỏ, vấn đề quản trị không đặt thành vấn đề lớn Tuy nhiên khi qui mô sản xuất tăng lên, việc quản trị sản xuất trở nên phức tạp hơn và cũng từ đó đòi hỏi phải có các phương pháp, các kỹ thuật quản lý khoa học mới đảm bảo được
Trang 33năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất, đó là cơ sở để ra đời môn khoa học về quản trị sản xuất.
Thực chất của quản trị sản xuất là toàn bộ các công việc liên quan đến thiết kế hệ thống sản xuất, lập các kế hoạch sản xuất (dài hạn, ngắn hạn), lãnh đạo và tổ chức triển khai cũng như kiểm tra thực hiện các kế hoạch đó nhằm đạt các mục tiêu đề ra.
Có nhiều quyết định liên quan đến quản trị sản xuất như quyết định về dự báo, quyết định về sản phẩm, quyết định về vị trí mặt bằng, quyết định về nguồn lực, quyết định về tồn kho, tác nghiệp sản xuất, …
Quản trị sản xuất có liên quan chặc chẽ đến nhiều lĩnh vực: marketing, tài chính, nhân sự, khoa học công nghệ, … Quá trình quản trị sản xuất phải giải quyết tốt các quan hệ này, phải xem xét doanh nghiệp theo quan điểm hệ thống để đạt được mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là: năng suất, chất lượng và hiệu quả.
CÂU HỎI
1 Tại sao nói khoa học và nghệ thuật quản trị sản xuất giữ vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp?
2 Các bước lựa chọn chiến lược trong quản trị sản xuất?
3 Những quyết định quan trọng nhất trong nội dung quản trị sản xuất?
Trang 34CHƯƠNG III CÔNG TÁC DỰ BÁO
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các nhà quản trị phải thường xuyên đưa
ra các quyết định liên quan đến những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai Để có cácquyết định có độ tin cậy và hiệu quả cao, cần phải tiến hành công tác dự báo Điều nàysẽ càng quan trọng đối với nền kinh tế thị trường,thường xuyên có cạnh tranh
Dự báo là khoa học và nghệ thuật tiên đoán những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai.
Tính khoa học của dự báo thể hiện ở chổ khi tiến hành dự báo ta căn cứ trêncác số liệu phản ánh tình hình thực tế hiện tại,quá khứ, căn cứ vào xu thế phát triển củatình hình,dựa vào các mô hình toán học để dự đoán tình hình cơ bản sẽ xảy ra trongtương lai Nhưng các dự đoán này có thể bị sai lệch hoặc thay đổi nếu xuất hiện các tìnhhuống kinh tế, tình huống quản trị không hoàn toàn phù hợp với mô hình dự báo Vì vậycần phải kết hợp chặt chẽ giữa các kết quả dự báo với kinh nghiệm và tài nghệ phánđoán của các chuyên gia,các nhà quản trị mới có thể đạt được các dự báo có độ tin cậycao
Mặt khác, các kỹ thuật dự báo khác nhau thường cho ta các kết quả dự báokhác xa nhau Chưa có một kỹ thuật tổng quát nào có thể dùng cho mọi trường hợp Sauđây là mhững vấn đề chung
3.1 Các loại dự báo
1 Căn cứ vào thời hạn dự báo
- Dự báo ngắn hạn, thường là một quí
- Dự báo trung hạn, thường là 3 năm
- Dự báo dài hạn, thường từ 3 năm trở lên
Trong thực tiễn các đơn vị thường làm: kế hoạch quí, kế hoạch năm, kếhoạch 5 năm, kế hoạch - chiến lược 10 năm, 20 năm, …
2 Căn cứ vào nội dung công việc cần dự báo
Có thể chia ra các loại sau đây:
Dự báo kinh tế: Dự báo này do các cơ quan nghiên cứu, cơ quan dịch vụ
thông tin, cơ quan tư vấn nhà nước, ngành thực hiện.Dự bào kinh tế nhằm cung cấp:
+ Tương lai của các hoạt động kinh doanh
+ Điều kiện hoạt động của doanh nghiệp
+ Chủ trương chính sách kinh tế của nhà nước
+ Chu kỳ kinh doanh trong các thời kỳ tương lai
+ Số liệu tổng quát về kinh tế
+ Nguồn cung ứng về tiền tệ, tín dụng
Trang 35+ Tỷ lệ thất nghiệp.
+ Tổng sản phẩm quốc gia
+ Kinh tế thế giới, dự báo xuất nhập khẩu
Những chỉ tiêu này có giá trị lớn trong việc hổ trợ,tạo tiền đề trong công tácdự báo trung hạn, dài hạn của các doanh nghiệp
Dự báo kỹ thuật công nghệ: Dự báo này đề cập đến mức độ phát triễn
khoa học công nghệ trong tương lai Loại này rất quan trọng đối với những ngành cóhàm lượng kỹ thuật cao Dự báo kỹ thuật thường do các chuyên gia giỏi trong cácngành, các viện, trường thực hiện
Dự báo nhu cầu: Thực chất là dự kiến số lượng sản phẩm tiêu thụ Loại này
được các nhà quản trị đặc biệt quan tâm Thông qua các dự báo này có quyết định mởrộng qui mô sản xuất, hoạt động của doanh nghiệp, dự kiến về tài chính, tiếp thị, nhânsự
3.2 Các nhân tố tác động đến dự báo nhu cầu
Các nhân tố khách quan
Nhân tố khách quan quan trọng nhất là thị trường, bao gồm:
+ Thị hiếu của người sử dụng
+ Qui mô dân cư
+ Sự cạnh tranh
+ Các nhân tố ngẫu nhiên
Ngoài ra còn xét đến môi trường kinh tế, bao gồm:
+ Luật pháp
+ Thực trạng nền kinh tế
+ Chu kỳ kinh doanh
Các nhân tố khách quan trên doanh nghiệp không thể chủ động kiễm soátđược, nhưng nhất thiết phải thấy, nắm vững khi tiến hành dự báo
Các nhân tố chủ quan
Các nhân tố này còn gọi là các nhân tố bên trong nội bộ doanh nghiệp, baogồm:
+ Chất lượng thiết kế, đồ án
+ Cách thức phục cụ khách hàng
+ Chất lượng sản phẩm
+ Giá bán
Đây là những nhân tố mà doanh nghiệp có khả năng chủ động kiểm soát,điều chỉnh, chi phối theo ý mình
Trang 36Tác động của chu kỳ sống của sản phẩm đối với dự báo
Chu kỳ sống của một sản phẩm là một nhân tố quan trọng cần xem xét kỹtrong quá trình dự báo, nhất là dự báo dài hạn.Nói chung, doanh nghiệp không thể bánsản phẩm của mình với một mức độ hoặc số lượng không đổi trong một thời giandài.Phần lớn các sản phẩm được chấp nhận trên thị trường có chu kỳ sống trải qua 4 giaiđoạn, biểu diễn theo sơ đồ hình 3.1
Một sản phẩm sau khi ra đời được bán phổ biến trên thị trường, nó bắt đầunổi tiếng thì có nghĩa là sản phẩm đó đã đạt đến thời kỳ phát triển Lúc này các đối thủcạnh tranh chắc chắn đang tìm cách giành lấy một thị phần của sản phẩm đó Điều đólàm cho sản phẩm đi nhanh vào giai đoạn chín mùi, hầu hết các sản phẩm đều khôngtồn tại mãi mãi.Sau giai đoạn chín mùi, nhu cầu về sản phẩm này ngày càng giảm chođến lúc chấm dứt hẳn
Các sản phẩm đang nằm trong 2 giai đoạn đầu cần dự báo hơn là sản phẩmnằm trong giai đoạn sau
Trong giai đoạn đầu của chu kỳ sống ta chưa có đủ số liệu Vì vậy phươngpháp dự báo trong giai đoạn này thường dựa vào điều tra thực tế trên thị trường, dựavào nhận xét, phán đoán của các chuyên gia hoặc phân tích các sản phẩm tương tựkhác
Trong các giai đoạn sau ta ngày càng có nhiều số liệu hơn nên có thể sửdụng phương pháp thống kê để dự báo các kết quả khả quan hơn
Trong các giai đoạn suy thoái, mặc dầu nguồn số liệu thống kê rất dồi dàonhưng chúng thường không giúp gì cho dự báo suy thoái Lúc này ta phải sử dụngphương pháp điều tra thị trường, phương pháp chuyên gia hoặc phân tích tương tự nhưđã làm ở giai đoạn đầu
suy tàn
phát triển
Trang 37Một ví dụ về chu kỳ sống của sản phẩm đóng tàu
Vào khoảng 1983-1984 do nhu cầu vận chuyển hàng hoá từ nội địa ra cảngbiển và ngược lại, do nhu cầu vận tải khối lượng lớn hàng hoá trên tuyến Bắc-Nam;theo đề suất của một số cán bộ và chuyên gia nhà nước, Bộ trưởng Bộ giao thông vậntải chủ trương đóng tàu vận tải pha sông biển Ở Bộ thành lập công ty vận tải “Biển phasông”, trực thuộc Bộ Các địa phương nhất là các địa phương nằm dọc theo ven biểnđồng loạt thành lập các công ty pha sông biển cho địa phương mình (như Hà Nội, HảiPhòng, Nam Hà Thanh Hoá, Khánh Hoà, Nghệ An, …)
Hàng trăm tàu pha sông biển có trọng tải 200T, 400T, 600T được thiết kế vàđóng mới Đến năm 1989 đóng thêm tàu 1000T Tàu 400T, 600T, 1000T, ngoài việcvận chuyển Nam Bắc còn chạy thêm các tuyến Đông Nam Á Đến giai đoạn 1993-1994bắt đầu phát hiện những nhược điểm lớn của loại phương tiện này, trong đó đặc biệtkhai thác vận tải không hiệu quả, nhiều tàu bị lỗ không có tiền sửa chữa Từ thời giannày các đơn vị đua nhau bán tàu hoặc hoán cải
Có nhiều hội nghị rút kinh nghiệm về loại phương tiện này Đó là một bàihọc quí báu về công tác dự báo của ngành đóng tàu
Có thể mô tả chu kỳ sống của tàu pha sông biển (200T-1000T) của ta theohình 3.2
giới thiệu
chín muồi
phát triển suy tàn
Hình 3.2 Chu kỳ sống của tàu pha sông biển Việt Nam
3.3 Các phương pháp dự báo nhu cầu
Các phương pháp định tính
Trang 38Giai đoạn đầu của chu kỳ sống của sản phẩm, khi chưa có đủ số liệu thốngkê, để tiến hành phân tích dự báo ta có thể dựa vào các phương pháp định tính.
Phương pháp định tính đặc biệt là phương pháp chuyên gia cần được dùng đểxem xét thêm các kết quả dự báo tiến hành bằng phương pháp định lượng
Có các phương pháp định tính thường dùng sau:
- Lấy ý kiến của những người điều hành
- Lấy ý kiến của các nhà Marketing
- Lấy ý kiến của những người tiêu thụ sản phẩm
- Phương pháp chuyên gia
Các phương pháp định lượng
Các phương pháp định lượng dựa trên cơ sở toán học thống kê Để dự báonhu cầu tương lai, không xét đến các nhân tố ảnh hưởng khác ta có thể dùng các phươngpháp dự báo theo dãy số thời gian Khi cần xét đến các nhân tố khác ảnh hưởng đếnnhu cầu (ngoài thời gian) ta có thể chú ý đến phương pháp xét đến các mối quan hệtương quan
Các bước tiến hành dự báo
Gồm 8 bước
- Xác định mục tiêu dự báo
- Chọn các mặt hàng cần dự báo
- Xác định loại dự báo: ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn Xác định thời giancần dự báo
- Chọn mô hình cần dự báo
- Thu thập các số liệu cần thiết
- Phê chuẩn mô hình cần dự báo
- Tiến hành tính toán dự báo
- Aùp dụng kết quả dự báo
Dự báo theo dãy số thời gian
Nhu cầu của thị trường luôn biến động theo thời gian và trong những điềukiện nhất định, nó thường biến động theo một xu hướng nào đó Để phát hiện được xuhướng phát triễn của nhu cầu ta cần thu thập các số liệu trong quá khứ để có một dãy sốthời gian Khi đã có dãy số thời gian ta có thể xác định được xu hướng phát triễn củanhu cầu Từ đó có thể dự báo nhu cầu cho tương lai
Các biến động nhu cầu theo thời gian có thể xãy ra mấy trường hợp sau đây:
- Có khuynh hướmg tăng (giảm) rõ rệt trong suốt thời gian nghiên cứu (kíhiệu là T - Trend)
- Biến đổi theo mùa( S - Seasonality)
- Biến đổi co chu kì (C - Cycles)
- Biến đổi ngẫu nhiên ( R - Randon Variations)
Hình 3.3 cho ta hình ảnh các loại biến đổi nói trên
Trang 39Hình 3.3 Biến đổi nhu cầu sản phẩm
Sau đây là các phương pháp dự báo theo dãy số thời gian
1 Phương pháp bình quân di động
Phương pháp này thường dùng khi các số liệu trong dãy số biến động khônglớn lắm Các số bình quân di động được tính từ các số liệu của dãy số thời gian cókhoảng cách đều nhau
Chẳng hạn co dãy số thời gian tính theo tháng bao gồm các số liệu y1,y2,y3,….Nếu tính số bình quân di động theo từng nhóm 3 tháng ta có:
Ví dụ: một doanh nghiệp có số liệu bán sản phẩm A như trong bảng Hãytính số bình quân di động theo từng nhóm 3 tháng một
Bảng 3.1.Tháng Lượng bán thực tế số bình quân di động 3 tháng
Trang 406 61 (60+59+57)/3 = 58.66
2 Phương pháp bình quân di động có trọng số
Những số liệu mới có ở thời kỳ cuối có giá trị lớn hơn những số liệu xuấthiện đã lâu Để xét đến vấn đề này tasử dụng các trọng số để nhấn mạnh giá trị của cácsố liệu gần nhất vừa xãy ra
Việc chọn các trọng số phụ thuộc vào kinh nghiệm và sự nhạy cảm củangười dự báo
Tính theo công thức:
Số bình quân di = ( Trọng số thời kì n x nhu cầu thời kì n) (*)
động có trọng số các trọng số
Ví dụ:
Tính cho ví dụ trên với trọng số tháng kế trước là 3, cách 2 tháng là 2, cách 3tháng là 1 Tính theo nhóm 3 tháng một
Bảng 3.2.Tháng Lượng bán thực tế
+ Do việc san bằng các biến động ngẫu nhiên nên đã làm giảm độ nhạy cảmđối với những thay đổi thực đã được phản ánh trong dãy số
+ Số bình quân di động chưa cho ta xu hướng phát triển của dãy số một cáchtốt nhất Nó chỉ thể hiện sự vận động trong quá khứ chứ chưa thể kéo dài sự vận độngđó trong tương lai nhất là đối với tương lai xa
+Việc tính số bình quân di động đòi hỏi một nguồn số lượng dồi dào trongquá khứ