Chất liên kết trong sơn nước có thành phần từ nhựa cây ở dưới dạng phân tử thật nhỏ, có thể hòa tan trong nước và tạo thành chất trắng đục sệt.Trong quá trình sơn và khô, chất liên kết s
Trang 1ỨNG DỤNG KỸ THUẬT THI CÔNG TRONG CÔNG TÁC SƠN VÔI
CẤU TRÚC NỘI DUNG CHÍNH
1 Mục đích
2 Vật liệu thiết bị thường sử dụng
3 Phạm vi ứng dụng và phương pháp thi công
4 Phương pháp nghiệm thu và kiểm tra
5 Sai sót thường gặp và cách xử lí
1 Mục đích
Sơn quét lên bộ phận công trình nhằm bảo vệ các bộ phận chống lại tác hại thời tiết, tăng độ bền cơ học, chống rỉ cho kim loại, chống ẩm và chống mục cho gỗ, bảo vệ khỏi tác động của một số hoá chất, đảm bảo điều kiện vệ sinh và để tăng nét đẹp thẩm mỹ cho sản phẩm
Trang 22 Vật liệu thiết bị thường sử dụng
2.1 Vật liệu
Vật liệu chính là vôi, nước bột bã và sơn
Vôi dùng để quét tường trần là vôi sạch, trắng nhuyễn và nở hết khi tôi
Bột matic thường dùng loài bột tan, cacbonat, canxi,thạch cao… đều ở dạng bột mịn khô
Vật liệu sơn là vật liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên, nhân tạo hoặc tổng hợp ở dạng lỏng
Tùy thuộc nguyên vật liệu được chọn lựa để đặc chế mà mỗi loại sơn có chức năng khác nhau cho việc sử dụng Bốn thành phần chính để đặc chế ra sơn bao gồm:
Tinh màu, chất liên kết, dung môi và phụ gia
Trang 3
TINH MÀU:
1 Tinh màu gốc:
a.Titanium Dioxide là tinh màu chính rất đắt, có tác dụng làm màu sơn trắng và tạo ra độ phủ cao cho cả sơn mờ và bóng. b.Tinh màu tạo nên màu sắc, độ phủ của sơn qua sự hấp thụ ánh sáng được chọn lọc Có hai loại tinh màu:
• Tinh màu hữu cơ thể hiện màu sắc rực rỡ, không được bền cho ngoại thất
• Tinh màu vô cơ không chói như màu hữu cơ tạo độ phủ cao hơn và bền hơn cho ngoại thất
Trang 42 Tinh màu phụ:
Một số bột dẻo không đắt như Titanium Dioxide :
a Đất sét Aluminum Silicate thường dùng trong nội thất giúp giảm dơ bẩn
b Silica and Silicates tạo độ cứng cho sơn Chất Diatomaceous Silica thường dùng để khống chế độ bóng trong sơn và trong verni
c Bột đá Calcium Carbonate cũng thường được sử dụng, loại này không tạo độ phủ cao
d.ZincOxide giúp chống rêu mốc,ngăn bào mòn và cản sự hoen ố
Trang 5CHẤT LIÊN KẾT:
Giúp dàn trải các tinh màu gốc và tinh màu phụ, đồng thời liên kết các phân tử để tạo thành màng sơn Chất liên kết sẽ tự tạo thành một màng cứng rồi bám dính vào bề mặt được sơn Nếu trong sơn không có đủ chất liên kết sẽ làm cho chức năng của sơn yếu, màng sơn không bền vững Ngoài ra chất liên kết còn ảnh hưởng rất nhiều về độ bóng của sơn Nếu như tăng độ rắn của sơn và dùng các phân
tử có độ nhuyễn sẽ ảnh hưởng đến độ bóng như sau:
Trang 6Chất liên kết trong sơn nước có thành phần từ nhựa cây ở dưới dạng phân tử thật nhỏ, có thể hòa tan trong nước và tạo thành chất trắng đục sệt.
Trong quá trình sơn và khô, chất liên kết sẽ bám vào nhau tạo ra một một màng co giãn, vì trong lúc khô không bị ôxy hóa nên sơn giữ được độ co giãn trong suốt thời gian sơn còn tốt.
Trang 7
DUNG MÔI:
Nước là thành phần chính trong sơn đóng vai trò quyện, trộn các ngyên liệu và làm lỏng để dễ thi công Tuy nước không hòa tan được chất liên kết nhưng làm cho tất cả các phần tử được trộn lẫn vào nhau, vì thế không được gọi là dung môi trong sơn Tỷ lệ độ rắn của sơn sẽ được thể hiện sau khi sơn hoàn toàn được khô qua độ dày trên lớp phủ và điều này sẽ đánh giá độ bền của sơn Sơn tốt thường có độ rắn cao và giúp cho độ bền của sơn được lâu hơn
Dầu thông, dung môi than đá, spirit trắng, etxăng là những loại dung môi thường được dùng pha với sơn
PHỤ GIA:
Chiếm một tỷ lệ nhỏ trong công thức pha chế sơn với mục đích làm tăng thêm những đặc tính riêng biệt hoặc bổ sung cho những thành phần trong sơn đang thiếu.
1) Làm đặc, giảm sự văng sơn trong lúc thi công.
2) Chất nhờn làm giảm độ lắng của các phân tử màu trong lúc thi công.
3) Chất kháng khuẩn giúp cho sơn được giữ lâu hơn và giảm bớt rêu mốc sinh sản trên bề mặt của sơn.
4) Chất chống bọt sẽ phá vỡ những bong bóng tạo ra từ lúc pha chế sơn, quậy sơn trước khi thi công hoặc trong lúc thi công sơn
Trang 84) Chất chống bọt sẽ phá vỡ những bong bóng tạo ra từ lúc pha chế sơn, quậy sơn trước khi thi công hoặc trong lúc thi công sơn.
Tuy nhiên việc trộn thêm phụ gia để tăng những đặc tính riêng thường sẽ gây ành hưởng đến chất lượng sơn và dẫn đến nguy hại cho sơn nếu không thận trọng và không am hiểu về hóa chất
ngoài ra, để tăng nhanh quá trình khô cứng (đóng rắn) cho sơn hoặc vecni, người ta còn sử dụng các chất làm khô.Chất làm khô thường được sử dụng 5- 8% trong sơn và đến 10% trong vecni Trong sơn xây dựng hay dùng dung dịch muối chì- mângn của axit naftalen
Sơn được chia ra các loại: sơn dầu, sơn men, sơn pha nước, sơn pha nhựa bay hơi.
Trang 9Sơn dầu: là hỗn hợp của chất tạo màu và chất tạo màu được nghiền mịn trong máy nghiền cùng với dầu thực vật, được sản xuất dưới hai
dạng: Sơn đặc chứa 12 -25% dầu (trước khi dùng pải dùng dầu pha loãng ) và loãng chứa 30-35% dầu so với khốilượng chất tạo màu Chất lượng sơn dầu được đánh giá bằng hàm lượng chất tạo màu và dầu sơn, được sử dụng phổ biến để sơn các sản phẩm gỗ trang trí nội thất
Sơn men: là huyền phù chất tạo màu vô cơ hoặc hữu cơ với vecni tổng hợp hoặc vecni dầu Sơn men chứa nhiều chất kết dính nên bề
mặt rất dễ bong tróc, bên cạnh đó sơn men có độ bền ánh sáng và chống mài mòn tốt, thường dùng để sơn các bề mặt kim loại, bê tông
và gỗ phía trong và ngoài nhà Sơn Ankit và Epoxit là hai loại sơn men phổ biến hiện nay
Sơn nước (sơn pha nước): được chia ra làm nhiều loại ( tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng), phổ biến có các loại: sơn vôi, sơn silicat và sơn
xi măng
Sơn vôi: gồm có vôi, bột màu, clorua natri, clorua canxi hoặc muối canxi, axit, dầu lanh Dùng để sơn tường gạch, bê tông trong và ngoài
nhà Nhược điểm của loại này là dễ bị rêu và mảng bám nếu ở sử dụng ở môi trường nhiều độ ẩm và dễ bạc màu dưới tác động của áng sáng mặt trời
Trang 10Sơn silicat: được chế tạo từ bột đá phấn nghiền mịn, bột tan, bột kẽm trắng và bột màu bền kiềm với dung dịch thủy tinh lỏng kali hoặc natri Sơn silicat rất
kinh tế và có tuổi thọ cao hơn sơn peclovinyl sơn vôi và sơn cazein.
Sơn xi măng: là loại sơn có dung môi và nước, sơn polime – xi măng được chế tạo từ chất tạo màu bền kiềm, bền ánh sáng, cùng với xi măng và nhựa tổng
hợp
2.2 Thiết bị
Trang 253 Phạm vi ứng dụng và phương pháp thi công
3.1 Phạm vi ứng dụng
Dùng cho mặt trong, mặt ngoài, trần công trình kiến trúc Ngoài sơn nước cho công trình, sơn còn dùng để sơn cửa đi, cửa sổ, những cấu kiện cần trang trí màu……
Trang 263.2 Phương pháp thi công
3.2.1 Công tác quét vôi
3.2.1.1Pha chế nước vôi
- Nước vôi trắng:
Cứ 2,5kg vôi nhuyễn cộng với 0,1kg muối ăn thì chế tạo được 10l nước vôi để
quét Trước hết đánh lượng vôi đó trong 5l nước cho thật nhuyễn thành sữa vôi, muối
ăn hoặc phèn chua hòa tan riêng đổ vào và quấy cho đều, cuối cùng đổ nốt lượng nướccòn lại và lọc qua sàng 225mắt/cm2
- Nước vôi màu:
Cứ 2,5¸3,5kg vôi nhuyễn cộng với 0,1kg muối ăn pha được 10l nước vôi sữa,
phương pháp chế tạo như trên Bột màu cho vào từ từ, mỗi lần cho phải cân đo, và saumỗi lần phải quét thử, khi đảm bảo màu sắc theo thiết kế thì ghi lạiliều lượng pha trộn
để không phải thử khi trộn mẻ khác Sau đó cũng được lọc qua sàng 255 mắt/cm2.Nếu pha với phèn chua thì cứ 1kg vôi cục pha với 0,12kg bột màu và 0,02kg phènchua
Trang 27Nước vôi phải pha sao cho không đặc quá hoặc loãng quá, bởi vì nếu đặc quá thì
quét khó đều và thường để lại vết chổi, nếu loãng quá thì bị chay, không đẹp
3.2.1.2 Phương pháp quét:
Khi đã làm xong những công việc về xây dựng và lắp đặt những thiết bị thì tiến
hành quét vôi Trước khi quét vôi phải cạo rửa, làm sạch mặt quét, không được quét
vôi lên bề mặt trát còn ướt, bề mặt trát khô quét vôi mới đều, đồng màu
Quét vôi bằng chổi đót bó tròn và chặt bằng đầu, quét nhiều lớp (tối thiểu 3 lớp) : lớp lót và lớpmặt
Lớp lót quét bằng sữa vôi pha loãng hơn so với lớp mặt, quét lớp lót có thể quét 1
hay 2 lượt, lượt trước khô mới được quét lớp sau và phải quét liên tục thành một lượt
mỏng
Trang 28Quét tường thì đưa chổi theo chiều ngangvà quét từ trên xuống, quét trần thì đưa
chổi song song với cửa Trình tự quét từ trên cao xuống thấp, quét trần trước, tường quét sau, quét các đường biên, đường góc làm cơ sở để quét các
mảng trần tiếp theo Phải đảm bảo mặt quét không bị loang lổ, không lộ ra vết chổi hay giọt vôi đọng lại trên bề mặt làm giảm tính thẩm mỹ công trình, tránh để người đi va chạm vào bề mặt mới quét làm giảm độ đồng đều của màu sắc lớp bên ngoài.
Quét lớp mặt: khi lớp lót đã khô, lớp mặt phải quét 2 hoặc 3 lượt, lượt trước khô
mới được quét lớp sau, lớp mặt chổi đưa vuông góc với lớp lót, nghĩa là khi quét
tường chổi đưa lên xuống theo chiều thẳng đứng, khi quét trần chổi đưa theo chiều
vuông góc với cửa Nếu quét vôi màu thì lớp lót quét bằng vôi trắng, lớp mặt quét
Trang 29 Độ ẩm của tường không quá 15%, độ ẩm cao là nguyên nhân chính gây ra sự xuống cấp của màng sơn một cách nhanh chóng như phồng giộp, bong tróc, màu sắc loang lổ, trong kỹ thuật gọi là hiện tượng cháy kiềm.
Phần chân tường rất dễ bị hút ẩm nên thường có hiện tượng nứt, bong tróc, biến màu sơn, nên dùng CR7 CTD11 trộn xi-măng để chống thấm phần này trước rồi mới sơn hoặc bả mastic
Bề mặt thi công phải đạt được độ bằng phẳng cần thiết truớc khi bả mastic Lớp bả mastic dày quá 3 mm sẽ dẫn đến hiện tượng nứt, bong tróc và làm biến dạng màu sơn.
3.2.2.1 Thi công bả matic
a Chuẩn bị bề mặt:
- Đối với bề mặt cũ:
Đối với bề mặt cũ (tường, trần cũ) đã quét vôi hoặc sơn bong tróc thì phải làm sạch các lớp vôi cũ, đảm bảo không còn bụi bám hoặc các chất làm giảm độ bám dính như dầu mỡ Nếu bề mặt cũ khô quá thì nên làm ẩm trước khi thi công.
Trang 30 - Đối với bề mặt mới(tường, trần mới): Bề mặt mới thì phải thật sạch Dùng giấy nhám và đá mài để làm bớt những chỗ gợn sóng do tô hồ Đảm bảo rằng không còn bụi bám hoặc các chất làm giảm độ bám dính như dầu mỡ Nếu bề mặt mới khô quá thì nên làm ẩm trước khi thi công
b Pha trộn bột:
- Tỷ lệ pha trộn là 1:3, tức là từ 16 đến 18 lít nước cho 1 bao bột trét 40Kg
- Nên đổ từ từ bột vào nước để tránh vón cục
- Sau khi pha trộn, nên chờ khoảng 7-10 phút cho hóa chất phát huy tác dụng
- Trộn lại một lần nữa rồi bắt đầu thi công
- Bột trộn quá 03 giờ không được dùng
Trang 31- Có thể dùng đèn chiếu sáng để kiểm tra độ phẳng của tường đã bả.
- Bả sửa tối đa 2 lần vào những chỗ lồi lõm sau đó tiến hành vệ sinh bề mặt tường đã bả.
- Sau đó dùng dẻ sạch hay máy nén khí để làm sạch các hạt bụi phấn.
- Để khô bề mặt tường đã bả sau 24 giờ và tiến hành sơn các bước sơn phủ.
Trang 32 3.2.2.2 Thi công sơn nước
a.Chuẩn bị bề mặt:
- Đối với bề mặt cũ: Bề mặt cũ được quét vôi thì phải làm sạch lớp vôi cũ Dùng giấy nhám hoặc đá mài làm phẳng những chỗ gợn Dùng chổi cỏ và nước để làm sạch bụi Bề mặt có lớp sơn cũ nhưng đã bong tróc cả lớp mastic thì phải cạo bỏ hết, cho đến khi lộ ra lớp tô hồ xi măng Dùng chổi cỏ làm sạch hết lớp bụi bám Xử lý bề mặt cần sơn thật phẳng, mịn bằng lớp mastic mới Nên sử dụng các loại bột tốt như bột Nippon, Jotun, Dulux
Nếu như lớp mastic cũ còn tốt và để tiết kiệm vật tư thì cũng phải làm sạch hết lớp
sơn cũ, lộ ra lớp mastic đó Làm nhẵn, mịn lại bằng giấy nhám sau đó loại hết bụi
bám và các chất làm giảm độ bám dính như dầu mỡ, sáp
- Đối với bề mặt mới: Dùng giấy nhám và đá mài làm nhẵn những chỗ gợn Dùng
chổi cỏ và nước để làm sạch hết bụi bám và các chất làm giảm độ bám như dầu
mỡ, sáp Xử lý bề mặt cần sơn thật phẳng, mịn bằng lớp mastic mới Nên sử dụng
các loại bột tốt như Nippon, Jotun hay Dulux
Trang 33 b Pha sơn
Không cần pha trong sử dụng thông thường hoặc pha theo tỉ lệ ghi
trên thùng sơn Trong trường hợp sơn bằng máy phun sơn thì có thể
pha thêm nước sạch, nhưng không được vượt quá 10% theo thể tích
c Thi công sơn
Sơn lót: Bề mặt đã chuẩn bị xong thì đợi cho khô ráo cứng chắc Bắt đầu từ việc sơn từ 1 đến 2 lớp sơn lót Việc này rất quan trọng vì lớp sơn lót có tác dụng chống được kiềm từ trong xi măng đi ra phá hỏng lớp sơn phủ bên ngoài Lớp sơn lót sẽ tăng cường độ bám dính và tăng tuổi thọ cho lớp sơn hoàn thiện
Dùng Rulo hay máy phun thông thường sơn một lớp (01 lớp) sơn lót chống thấm và chống kiềm hoá Dulux Weathershield Chống kiềm 75230) cho tường ngoài nhà và Dulux Interior Primer (A934-75007) cho tường trong nhà
Trang 34(A936- - Sơn một lớp sơn ướt với độ dày tiêu chuẩn 100 micro.
- Có thể pha thêm tối đa 10% dung môi thích hợp theo thể tích trong quá trình thi công
- Sơn cách lớp sau 1 đến 2 giờ (tuỳ vào nhiệt độ)
- Rửa sạch dụng cụ thi công bằng dung môi thích hợp
Sau khi các lớp sơn lót đã khô, tiếp tục sơn 2 lớp sơn hoàn thiện, lớp nọ cách lớp kia ít nhất là 2 đến 3 tiếng
Trang 35 * Lưu ý quan trọng:
- Đặt thùng sơn ở vị trí an toàn, đậy chặt nắp và để xa tầm với của trẻ em
- Mang khẩu trang thích hợp trong lúc trà nhám hay lăn sơn
- Đảm bảo thông thoáng tốt khi thi công và chờ sơn
- Tránh hít bụi sơn Trong trường hợp thi công không đủ thông thoáng, phải mang thiết bị trợ khí Các thiết bị trợ khí phải đạt tiêu chuẩn phù hợp
- Khi sơn nên mang kính bảo hộ (bảo vệ mắt) Khi mắt bị dính sơn nên rửa với thật nhiều nước sạch và đi đến bác sĩ kiểm tra
- Dùng xà phòng và nước sạch hoặc các chất làm sạch da được công nhận để rửa sạch các vết sơn bám trên da Cẩn thận khi vận
chuyển Đặt thùng sơn thẳng đứng an toàn Trong trường hợp bị đổ sơn, thu gom lại bằng đất và cát
- Không được đổ sơn vào cống rãnh hay nguồn nước Xử lý sơn thải theo đúng các quy định về bảo vệ môi trường
- Tránh tồn trữ ở nhiệt độ khắc nghiệt Bảo quản sơn ở những nơi khô ráo và thoáng mát
Trang 37 4 Phương pháp nghiệm thu và kiểm tra
Kiểm tra quá trình thi công sơn, vôi :
Việc quét vôi hay sơn đều phải tuân theo số lớp sơn hoặc quét vôi qui định trong hồ sơ mời thầu hay chỉ dẫn của thiết kế.
Thông thường phải sơn hay quét vôi làm ba lớp Lớp đầu là lớp để lót và hai lớp sau ngoài nhiệm vụ bảo vệ công trình còn tạo màu cho công trình hoặc kết cấu
Thời gian gián cách giữa lúc sơn hoặc quét vôi các lớp phải đủ cho lớp dưới phải khô mới thi công đè lớp trên Nếu yêu cầu cao, sau mỗi lớp sơn lại lấy giấy nhám đánh cho mặt lớp sơn nhẵn mới sơn tiếp lớp sau
Vết chổi sơn lớp trước được vạch thẳng, vết chổi sau phải đè lên một phần của vết chổi trước cho kín mặt sơn, vôi Đến lớp sau, vết chổi lại quét vuông góc với lớp đã sơn hoặc quét vôi để các lớp sơn, vôi phủ kín khắp mặt tường hay mặt gỗ, mặt kim loại cần phủ
Trang 38 Nghiệm thu công tác sơn , vôi
Bề mặt lớp sơn, vôi phải đồng màu, không có vết ố, vết loang lổ, vết chổi sơn.
Bề mặt phải phẳng, nhẵn, không bị nứt hay cộm sơn Mặt lớp sơn phải bóng.
Không để lộ màu của lớp sơn, vôi nằm dưới lớp phủ trên cùng.
Bề mặt lớp sơn không được có bọt bong bóng khí Không được có hạt bột sơn vón cục Không được có vết rạn nứt bề mặt lớp sơn.
Nếu mặt sơn có hoa văn, hoa văn phải theo đúng thiết kế về hình dạng, kích thước, độ đồng đều và nhất là màu sắc.
Không biến màu theo thời gian.
Không bị bong, phồng rộp, gợn hay biến đổi hình dạng trong quá trình sử dụng công trình.
Chịu được mọi tác động của thời tiết và các điều kiện phơi lộ của môi trường.
Nghiệm thu công tác sơn theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5674:1992)
Trang 39 5 Sai sót thường gặp và cách xử lí
1.Lớp mastic bị bụi phấn:
Nguyên nhân: Do bề mặt áp dụng bị quá khô, nước trong hỗn hợp nhão đã bị hút hết vào bề mặt, do đó quá trình ninh kết (chín) của hỗn hợp không xảy ra nên lớp mastic biến thành bụi phấn Có thể khi pha trộn đã dùng lượng nước quá thấp cộng với việc trộn không đều cũng gây ra hiện tượng trên Cũng có thể khi pha trộn xong đã thi công ngay, không chờ cho hoá chất phát huy tác dụng
Giải pháp: Buộc phải cạo bỏ hết lớp mastic này, làm sạch bụi bám bằng nước và chổi cỏ, Chuẩn bị bề mặt thật kỹ, nếu bề mặt khô quá thì nên làm ẩm Lượng nước pha trộn cần theo đúng tỉ lệ là nước 1, bột 3 (trong khoảng 16 -18 lít nước sạch cho một bao 40kg) Trộn cho thật kỹ và chờ ít nhất là từ 7 đến 10 phút cho hoá chất phát huy tác dụng sau đó quậy lại một lần nữa rồi mới bắt đầu thi công
2.Lớp mastic bị nứt chân chim:
Nguyên nhân: Do lớp mastic này đã được trát quá dày, vượt độ dày cho phép là 3mm
Giải pháp: Cạo bỏ hết những chổ nứt chân chim Nếu bề mặt vùng đó màl õm sâu quá, thì nên dùng hồ xi măng tô thêm cho tương đối phẳng, rồi trát lớp mastic mới