Một trong những nhà Nho tiêu biểu cho tư tưởng nhân nghĩa - người được ví như ngôi sao Khuê trên bầu trời Việt - đó là Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, người đ
Trang 1Đà Nẵng - Năm 2014
Trang 2Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ TUYẾT BA
Đà Nẵng - Năm 2014
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Tác giả
Phan Thị Vĩnh
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu luận văn 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 NGUYỄN TRÃI VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI 8
1.1 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NGUYỄN TRÃI 8
1.1.1 Cuộc đời 8
1.1.2 Sự nghiệp 14
1.2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI 18
1.2.1 Tư tưởng Nho giáo 18
1.2.2 Truyền thống của dân tộc 23
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ 32
2.1 TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI 32
2.1.1 Tư tưởng yêu nước, thương dân 32
2.1.2 Tinh thần khoan dung 46
2.2 GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI 52
Trang 52.2.2 Giá trị thực tiễn 55
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 62
CHƯƠNG 3 NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM GIÁO DỤC
TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI CHO THẾ HỆ TRẺ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 63
3.1 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA THẾ HỆ TRẺ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 63
3.1.1 Vai trò của thế hệ trẻ đối với sự phát triển đất nước 63 3.1.2 Những biến động trong đời sống tinh thần của thế hệ trẻ hiện nay 70
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CHO THẾ HỆ TRẺ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 77
3.2.1 Nội dung giáo dục tư tưởng nhân nghĩa 77 3.2.2 Các giải pháp cơ bản nhằm giáo dục tư tưởng nhân nghĩa cho thế
hệ trẻ ở nước ta hiện nay 83
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 91
KẾT LUẬN 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhân nghĩa là một trong những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam Truyền thống đó được kế thừa và phát triển theo chiều dài của lịch
sử Nó từng là cơ sở để các nhà tư tưởng theo trường phái Nho gia ở Trung Hoa xây dựng đường lối trị nước bằng việc giáo hóa đạo đức (đức trị) Đường lối đó đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các triều đại phong kiến ở Việt Nam Tuy nhiên, các Nho gia Việt Nam đã tìm về với Nho giáo nguyên thủy, Nho giáo thời Khổng Mạnh để xóa bỏ nhân nghĩa giả hiệu và chủ trương lấy dân làm gốc
Một trong những nhà Nho tiêu biểu cho tư tưởng nhân nghĩa - người được ví như ngôi sao Khuê trên bầu trời Việt - đó là Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, người đã có công trong việc phò tá vua
Lê xây dựng nghiệp lớn Tư tưởng của Nguyễn Trãi đã đạt tới tầm cao của thời đại Bằng việc khái quát những vấn đề có tính quy luật của sự nghiệp dựng nước và giữ nước, ông đã đưa tư duy của dân tộc lên một trình độ mới
Tư tưởng của ông không chỉ có ý nghĩa trong một giai đoạn cụ thể mà còn có
ý nghĩa lâu dài trong lịch sử dân tộc Việt Nam
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là sự kết tinh của tài năng, nhân cách của ông với sự kế thừa truyền thống của dân tộc và sự vận dụng sáng tạo học thuyết Nho giáo vào thực tiễn xã hội Việt Nam Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đã vượt ra khỏi khuôn khổ của Nho giáo, có ý nghĩa phương pháp luận và nhân sinh quan sâu sắc
Cùng với thời gian, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi vẫn còn nguyên giá trị Nó trở thành một trong những nền tảng để các bậc anh hùng hào kiệt đời sau và nhân dân Việt Nam kế thừa và phát huy, nhằm góp phần xây dựng một dân tộc Việt Nam giàu mạnh
Trang 7Với mong muốn hiểu rõ hơn về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, góp phần đưa tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đi vào lòng người và giáo dục cho thế hệ trẻ - những người chủ của đất nước có thể vượt qua những chướng ngại vật của thời đại kinh tế thị trường, để họ có thể cống hiến hết mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, em đã mạnh dạn chọn vấn
đề “Vận dụng tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi vào việc giáo dục cho
thế hệ trẻ hiện nay” làm đề tài luận văn của mình
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những nội dung cơ bản trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi và việc kế thừa, phát huy tư tưởng đó trong giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên đề tài có các nhiệm vụ sau:
1 Trình bày các đặc điểm về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi, các tiền đề hình thành tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
2 Trình bày một cách có hệ thống những nội dung cơ bản về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
3 Đề xuất một số giải pháp nhằm giáo dục tư tưởng nhân nghĩa cho thế
hệ trẻ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng nhân
nghĩa của Nguyễn Trãi
trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi và việc kế thừa tư tưởng đó trong điều kiện hiện nay
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và so sánh
- Phương pháp lôgic và lịch sử, quy nạp và diễn dịch
- Kết hợp lý luận và thực tiễn
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần nội dung của đề tài gồm có 3 chương, 6 tiết
Chương 1: Nguyễn Trãi và cơ sở hình thành tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
Chương 2: Những nội dung cơ bản trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi và giá trị của nó
Chương 3: Những giải pháp cơ bản nhằm giáo dục tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi cho thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Góp phần vào việc nghiên cứu một cách có hệ thống tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
- Luận văn góp phần đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm giáo dục tư tưởng nhân nghĩa cho thế hệ trẻ
- Ngoài ra, luận văn còn là đề tài tham khảo cho các cá nhân, tổ chức quan tâm đến vấn đề này
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Nguyễn Trãi là một tác giả, một nhà tư tưởng lớn Trong nhiều năm qua
đã có rất nhiều công trình của các nhà triết học, nhà nghiên cứu về ông, trên
cả bình diện văn thơ và tư tưởng Chúng ta có thể kể đến một số công trình như:
Trang 9- “Nguy ễn Trãi người anh hùng của dân tộc” (1962), Tác giả: Phạm Văn
Đồng, Võ Nguyên Giáp in trên báo nhân dân số 3099, ngày 19-9-1962; Các tác giả đã dẫn một số câu thơ của Nguyễn Trãi để phân tích tư tưởng của ông, nhất là tư tưởng vì nước vì dân, từ đó khẳng định công lao to lớn của Nguyễn Trãi đối với dân tộc
- “Vài nét về tư tưởng của Nguyễn Trãi qua thơ văn ông” (1962) của tác
giả Trần Thanh Mại, được in trong tập san nghiên cứu văn học Tác giả đã phân tích thơ văn Nguyễn Trãi để chứng minh Nguyễn Trãi là một nhà chính trị sáng suốt, một nhà quân sự lỗi lạc, một nhà ngoại giao thiên tài, đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu sử địa và một nhà thơ lớn Tác giả cũng đã điểm qua một số nét trong tư tưởng của Nguyễn Trãi, nhất là tư tưởng nhân nghĩa của ông
- “Văn chương Nguyễn Trãi rực ánh sao khuê” (2000), Tác giả: GS Bùi
Văn Nguyên, Nxb Khoa học xã hội; Tác giả đã tìm hiểu văn chương Nguyễn Trãi trong chiều sâu triết học của nó, tìm hiểu về thời đại, gia đình, cuộc đời
và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi
- “Sự phát triển của Nguyễn Trãi về khái niệm dân tộc” (2002) Tác giả:
TS Trần Hồng Lưu, Tạp chí triết học số 3, tr.24-28; tác giả đã so sánh, đối chiếu quan niệm về dân tộc của Nguyễn Trãi so với quan niệm về dân tộc trước và sau Nguyễn Trãi, để thấy được đóng góp to lớn của ông đối với vấn
đề dân tộc
Bích, Nxb Quân đội Nhân dân; tác giả đã trình bày có hệ thống toàn bộ sự nghiệp đánh giặc, cứu nước và những hoạt động của Nguyễn Trãi trong 15 năm, từ sau khi đánh thắng quân Minh tới ngày ông mất, trong đó đã làm rõ mấy điểm:
Trang 10Thứ nhất, Nguyễn Trãi là người yêu nước và thương dân Nguyễn Trãi là người vừa tận trung với nước vừa tận hiếu với dân
Thứ hai, Nguyễn Trãi không chỉ đơn thuần là nhà tư tưởng quân sự như các nhà binh pháp thời cổ Ông là nhà chính trị và quân sự lỗi lạc Tư tưởng chính trị vĩ đại của ông đã soi đường cho sự hình thành và phát triển những tư tưởng quân sự ưu tú của ông
Thứ ba, Nguyễn Trãi là người yêu nước thiết tha đồng thời là nhà chính trị dân chủ kiên cường của dân tộc ta ở đầu thế kỷ XV Ý thức dân chủ của ông rất mạnh Ông biết kết hợp tinh thần dân tộc với ý thức dân chủ để tiến hành chiến tranh chống xâm lược thắng lợi Kết hợp dân tộc với dân chủ đã sớm trở thành một truyền thống của dân tộc ta để đánh thắng ngoại xâm từ các thời đại trước
- Trong cuốn “Triết lý văn hóa Phương Đông” (2004), GS.TS Nguyễn
Hùng Hậu đã chỉ ra nguồn gốc tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi bắt nguồn từ Nho giáo nhưng đã được Nguyễn Trãi vận dụng trên quan điểm dân tộc, vì lợi ích đất nước (tr 213)
- Trong cuốn “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” (2006), Nxb Thuận Hóa, của
TS Huỳnh Công Bá, đã xem nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là một chủ nghĩa nhân đạo cao cả và toàn diện Nguyễn Trãi vì độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân, hòa bình của đất nước mà suy nghĩ và hành động Nguyễn Trãi quan niệm hòa bình, ấm no, sống trong yên vui là tâm lý phổ biến, là nguyện vọng thiết tha của mọi người, mọi tầng lớp, mọi dân tộc và đó là điều rất tự nhiên, chân chính (trang 116) Và xem “tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội nhà Lê hồi thế kỷ XV” (trang 117)
- “Về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi” (2007), PGS.TS Lương
Minh Cừ và Th.S Nguyễn Thị Hương, Tạp chí Triết học số 11; đã đề cập đến
Trang 11tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi như là một triết lý sâu sắc, cốt lõi, bao trùm trong suốt cuộc đời hoạt động của ông Trong bài viết này, các tác giả đã khẳng định sự kế thừa tư tưởng Nho giáo Khổng Mạnh trong tư tưởng của Nguyễn Trãi Bài viết nêu lên một số nội dung cơ bản trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi như: nhân nghĩa là yêu nước, thương dân; là sự khoan dung, lòng “hiếu sinh” đối với kẻ thù; là ý tưởng xây dựng một đất nước thái bình, vua thánh tôi hiền, trên dưới thuận hòa…
- Trong “Giáo án lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam” (2010) của TS
Trần Ngọc Ánh cũng đã phân tích rõ các nội dung về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, đặc biệt tác giả nhấn mạnh tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là tư tưởng nhân nghĩa vì dân và sự khác biệt về “mức độ của tư duy, ở chiều sâu của tư tưởng” (tr 26) của Nguyễn Trãi so với những người khác
- “Nhân nghĩa - nội dung cốt lõi trong toàn bộ tư tưởng triết học Nguyễn
đã nghiên cứu tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi với một số nội dung cơ bản như hai tác giả trên Tuy nhiên, trong bài viết này, tác giả đã rút ra được một số giá trị mang tính lý luận và thực tiễn của tư tưởng nhân nghĩa Nguyễn Trãi
- “Tư tưởng thân dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam đến đầu thế kỷ
học Xã hội và Nhân văn, Khoa Triết học; Tác giả đã phân tích tư tưởng lấy dân làm gốc của Trần Quốc Tuấn; Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi đến tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh Làm rõ sự kế thừa tư tưởng thân dân, “lấy dân làm gốc” của Đảng ta trong sự nghiệp đổi mới của đất nước
- “Mạch nguồn thơ văn Nguyễn Trãi trong tác phẩm của Hồ Chí Minh”
(2013), Quân đội nhân dân, tác giả Nguyễn Thanh Tú đã khẳng định thơ
Trang 12Nguyễn Trãi là một trong những mạch nguồn tư tưởng và mạch nguồn ngôn ngữ nghệ thuật ở tác phẩm của Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Nguyễn Trãi, trước hết là tư tưởng vì dân, trọng dân, yêu dân Ngoài ra còn một số công trình, bài viết khác có đề cập đến Nguyễn Trãi
như: Lịch sử tư tưởng Việt Nam (1997), tập VI của Nguyễn Đăng Thục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh; Trong Nho giáo xưa và nay (1999) của Quang Đạm, Nxb Văn hóa thông tin; Nguyễn Trãi thơ và đời (2012) của Nhóm trí thức
Việt, Nxb Văn học…
Các công trình nghiên cứu về giáo dục các giá trị truyền thống của dân
tộc cho thế hệ trẻ, tiêu biểu như: “Vấn đề bảo vệ các giá trị đạo đức truyền
học của TS Lê Thị Tuyết Ba; “Thực trạng giáo dục giá trị truyền thống cho
Thúy Anh, Tạp chí triết học số 3; PGS.TS Lê Hữu Ái, TS Ngô Văn Hà, TS
Lê Thị Tuyết Ba (2008), “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục
Những công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập, phân tích, làm rõ về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi Tuy nhiên, việc vận dụng tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trong giáo dục thế hệ trẻ thì chưa đề tài nào nghiên
cứu một cách có hệ thống Đó là lý do chúng tôi chọn “Vận dụng tư tưởng
luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 13CHƯƠNG 1 NGUYỄN TRÃI VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI
1.1 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NGUYỄN TRÃI
1.1.1 Cuộc đời
Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai, sinh năm 1380, quê quán làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương sau dời về làng Ngọc Ổi (Nhị Khê) huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây Về dòng họ nội của Nguyễn Trãi, đến nay, chưa được rõ lắm Gia phả họ Nguyễn ở làng Nhị Khê chỉ ghi chép từ đời Nguyễn Phi Khanh trở xuống Có nhiều nguyên nhân ẩn giấu gốc tích của họ Nguyễn
ở làng Nhị Khê nhưng nguyên nhân trực tiếp vẫn là vụ án Lệ Chi Viên, vụ án chính trị thảm khốc giết chết toàn gia tộc Nguyễn Trãi
Thân sinh của Nguyễn Trãi - Nguyễn Phi Khanh tên thật là Nguyễn Ứng Long (1345 - 1418) là người học rất giỏi, vì vậy lúc mới 19 tuổi đã được Trần Nguyên Đán yêu mến và mời về dạy cho con gái là Trần Thị Thái Trong quá trình dạy học, ông và bà Thái yêu mến nhau Sau đó Nguyễn Ứng Long trở thành con rể của Tư đồ Trần Nguyên Đán Được sự động viên của cha vợ, ông đã chăm chỉ dùi mài kinh sử chờ ngày thi cử Vì rất thông minh, ham học, nổi tiếng hay chữ, nên ông đã thi đỗ Tiến sĩ tại cung Trùng Quang ở Sơn Nam hạ (phía ngoài thành phố Nam Định hiện nay) vào đời vua Trần Duệ Tông (Năm Long Khánh thứ 2, 1374) Nhưng do hoàn cảnh xuất thân nghèo khó, lại lấy con gái của dòng dõi hoàng tộc nên ông không được nhà Trần, lúc đó là thượng hoàng Trần Nghệ Tông trọng dụng Ông phải trở về Nhị Khê làm nghề dạy học
Sau khi Hồ Quý Ly lên ngôi, Nguyễn Ứng Long mạnh dạn đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh ra phục vụ triều đình nhà Hồ, giữ chức Hàn lâm học sĩ
Trang 14kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám, ít lâu sau được thăng chức Trung thư thị lang
ở Trung thư sảnh
Giặc Minh sang, nhà Hồ thất bại Cả triều thần, trong đó có Nguyễn Phi Khanh đều bị bắt về Trung Quốc Cuối đời, ông chết ở Yên Kinh (Trung Quốc) Ông ngoại của Nguyễn Trãi là Trần Nguyên Ðán Ông là người thuộc dòng dõi hoàng tộc, là cháu bốn đời của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, tính tình điềm đạm, khẳng khái, có thành tích xuất sắc chống giặc Chiêm Thành dưới thời Trần Nghệ Tông nên được vua nhà Trần giao cho chức vụ Tư đồ, quyền ngang Tể tướng Tuy nhiên, khi ông lên nắm quyền, cơ nghiệp nhà Trần đã suy vi Chán nản thời thế, ông xin về ở ẩn tại Côn Sơn năm 1385 (Xương Phù thứ 9) và mất năm 1390
Ông ngoại và cha là những người trực tiếp ảnh hưởng đến tư tưởng yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi sau này Nguyễn Trãi được thừa hưởng từ ông ngoại và cha tính tình điềm đạm, học vấn uyên thâm và lòng ưu ái Ông ngoại Nguyễn Trãi - Trần Nguyên Đán, tuy làm tới chức Tể tướng, được ở trong cung điện nguy nga, nhưng ông vẫn luôn nghĩ đến đời sống lầm than của dân đen, con đỏ
“Hạn rồi qua lụt đã bao phen
Đau nỗi đồng điền lúa chẳng lên
Ba vạn sách hóa thành giấy vụn
Bạc đầu luống những phụ dân đen!” [38, tr 63]
Nguyễn Phi Khanh trong một bài thơ tặng nhạc phụ Trần Nguyên Đán cũng có viết:
“Mênh mông đồng lúa đỏ như thiêu
Khắp chốn kêu than xiết nỗi sầu!
…Lưới tham quan lại vơ hầu kiệt
Mỡ béo dân lành hút đã hao…” [38, tr 64]
Trang 15Nguyễn Trãi là con thứ của Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, cháu ngoại của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán Khi ông vừa tròn 6 tuổi thì mẹ qua đời, ông phải về Côn Sơn ở với ông ngoại Năm 1390, quan Tư đồ cũng mất, ông theo cha trở về sống ở làng Nhị Khê Tuổi thơ Nguyễn Trãi là một thời kỳ thanh bần nhưng ông vẫn rất ham học và quyết chí gắng công học tập, điều đó được cha ông nói đến trong bài thơ Gia viên lạc:
“Cố viên loạn hậu hữu tiên lư
Lục tuế nhi đồng phả ái thư”
Nghĩa là:
“Vườn xưa sau loạn còn nhà cũ
Sáu tuổi con thơ rất thích sách” [60]
Nguyễn Trãi nổi tiếng là một người học rộng, có kiến thức sâu về nhiều lĩnh vực, có ý thức về nghĩa vụ của một kẻ sĩ yêu nước thương dân
Tháng 8 Canh Thìn, năm Thánh Nguyên thứ 1 (1400) khi triều Hồ mở khoa thi đầu tiên, lúc này Nguyễn Trãi vừa tròn 20 tuổi cũng vào kinh ứng thí
và đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) cùng nhiều tài danh khác như Lưu Thúc Kiệm,
Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Nguyễn Mộng Tuân…Mặc dù còn rất trẻ nhưng ông đã được Hồ Quý Ly cử giữ chức Ngự sử đài Chánh chưởng, một trong những chức quan đầu triều trong giai đoạn này Đến tháng chạp năm Tân Tỵ (1401) thân phụ ông đổi tên là Nguyễn Phi Khanh cũng ra làm quan, được cử giữ chức Học sĩ Viện hàn lâm kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám, một chức quan chuyên về giáo dục nhưng cũng là đại thần, thường do Thượng thư
bộ Lễ đảm nhận
Thời gian làm quan dưới triều Hồ không lâu, vì năm 1407 quân Minh sang xâm lược đã bắt được các quan quân triều Hồ giải về nước, trong đó có Nguyễn Phi Khanh Nghe tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn Phi Hùng khóc theo cha lên tận cửa Nam Quan với ý định sang bên kia biên giới
Trang 16hầu hạ cha già trong lúc bị cầm tù để vẹn tròn chữ hiếu Tuy nhiên, trên đường
đi nhân lúc vắng vẻ, Nguyễn Phi Khanh bảo Nguyễn Trãi: “Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha Như thế mới là đại hiếu Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao?” [59] Nguyễn Trãi nghe lời cha quay trở về tìm kế sách đánh đuổi quân xâm lược, còn Nguyễn Phi Hùng theo cha sang Trung Quốc để chăm lo phụng dưỡng khi già yếu và khi cha mất thì đem hài cốt về quê hương bản quán
Vâng lời cha, Nguyễn Trãi quay trở về Thăng Long để mưu đồ việc lớn
Về đến Thăng Long, ông bị quân Minh bắt Thượng thư nhà Minh là Hoàng Phúc biết Nguyễn Trãi là một nhân vật có tài, tìm cách dụ dỗ, nhưng ông kiên quyết không theo giặc
Sau một thời gian bị giam lỏng ở Đông Quan (tức Thăng Long), năm
1416 Nguyễn Trãi vượt được vòng vây của giặc vào Thanh Hóa tìm minh chủ
Lê Lợi Ông gặp Lê Lợi - vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn ở Lỗi Giang và dâng bản chiến lược đánh đuổi quân Minh mà sử sách Việt Nam gọi là Bình Ngô sách Sau khi dâng Bình Ngô sách, Nguyễn Trãi được chủ soái Lê Lợi giao cho chức Tuyên phụng đại phu, Học sĩ Hàn lâm viện thừa chỉ Tuy không gọi là quân sư nhưng chức quan này lại bao hàm công việc của quân
sư, ngày đêm dự bàn việc quân Nguyễn Trãi là người thay mặt Lê Lợi viết các loại văn kiện chỉ đạo nghĩa quân Lam Sơn và giao thiệp với bên ngoài, đồng thời lại là người tuyên đọc các văn kiện đó Kế sách bình Ngô từng bước được thực hiện trong thực tế chỉ đạo cuộc khởi nghĩa
Năm 1428, khi cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo giành thắng lợi hoàn toàn, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi soạn bài cáo Bình Ngô nổi tiếng, nhằm bá cáo cho toàn thể nhân dân trong thiên hạ biết về việc đất nước đã thái bình
Trang 17Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành được thắng lợi, bên cạnh vị chúa công giỏi điều binh, khiển tướng, sự đoàn kết trên dưới một lòng của các tướng sĩ,
sự đoàn kết, ủng hộ của nhân dân thì công lao của Nguyễn Trãi cũng rất to lớn, như nhận xét của tác giả Nguyễn Năng Tĩnh: “Nước Việt ta từ Đinh, Lê,
Lý, Trần, đời nào sáng lập cơ nghiệp đế vương, tất cũng đều phải có tướng tá giúp sức, nhưng tìm được người toàn tài toàn đức như Ức Trai tiên sinh, thật
là ít lắm” [42, tr.176]
Sau khi đánh đuổi giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi vua, Nguyễn Trãi trở thành đầu tàu gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước Tuy nhiên, tài năng và đức độ của ông cũng bắt đầu bị bọn quyền thần ganh ghét Như trong
“Mua ghen ghét, chuốc gièm pha, chợt nhặng xanh dơ vết/ Mới biết quả hợp (thẳng thắn) thì người khó thích” [42, tr.172] Ðặc biệt, sau vụ việc Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo bị bức tử, Nguyễn Trãi bị bắt giam một thời gian ngắn Sau đó, ông được tha nhưng không còn được nhà vua tin dùng Năm 1433, khi Lê Thái Tổ băng hà Nguyễn Trãi chán nản xin về ở ẩn tại Côn Sơn, sống cuộc đời nhàn dật, ngày đêm làm bạn với thiên nhiên:
“Côn Sơn có suối nước trong
Ta nghe suối chảy như cung đàn cầm
Côn Sơn có đá tần vần
Mưa trơn rêu sạch ta nằm ta chơi
Côn Sơn thông tốt ngất trời
Ngả nghiêng dưới bóng ta thời tự do
Côn Sơn trúc mọc đầy gò
Lá xanh bóng rợp tha hồ tiêu dao.”
(Côn Sơn ca)
Trang 18“Núi láng giềng, chim bầu bạn
Mây khách khứa, nguyệt anh tam.”
(Thuật hứng, 19)
Khi Lê Thái Tông lớn lên, hiểu rõ Nguyễn Trãi là người tài giỏi và có tấm lòng trung hiếu nên đã cho vời ông trở lại làm quan, giữ chức Gián nghị đại phu Rất mừng rỡ, ông viết bài Biểu tạ của gián nghị đại phu kiêm tri tam
kỷ cương, đào tạo nhân tài Biểu tạ ơn có đoạn viết:
“Cúi nghĩ: Sáu chục tuổi thân tàn, chức vụ đã yên phận mọn;
Chín trùng trời chiếu xuống, móc mưa lại đội ân trên
Xét mình biết thế là vinh;
Nghĩ bụng lại càng thêm thẹn
Thần, tấn thân dòng cũ, chương cú nho hèn
Chuyên đọc Điền Phần chí những muốn việc cổ nhân đã muốn
Để tâm dân chúng, mình trước lo điều thiên hạ phải lo
…
Thần xin giữ bền tiết cũ, mong kịp người xưa
Biển rộng non cao, chưa báo được quyên ai chút đỉnh;
Trời che đất chở, dám đâu quên ân đức lớn lao!” [42, tr.171-173] Tuy nhiên, hạ tuần tháng bảy năm 1442, vụ án Lệ Chi Viên xảy ra Lúc
đó, vua Lê Thái Tông đi tuần, trên đường đi nhà vua có ghé ngự ở Côn Sơn, cùng đi với Người có người thiếp của Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ, chẳng may sau khi rời Côn Sơn, trên đường về kinh thì nhà vua băng hà Quan quân
đã đưa thi hài vua về kinh Do bị bọn quyền thần ghen ghét nên Nguyễn Trãi
bị can tội âm mưu cùng người thiếp giết vua, dòng họ Nguyễn Trãi nhận án tru di tam tộc Phải 22 năm sau khi Lê Thánh Tông lên ngôi, nỗi oan khuất
Trang 19của Nguyễn Trãi mới được giải, nhà vua bấy giờ mới phục hồi chức tước và sai Trần Khắc Kiệm tìm lại gia tộc và toàn bộ trước tác của Nguyễn Trãi
Có thể nói cuộc đời Nguyễn Trãi là cuộc đời chiến đấu không ngừng nghỉ, chiến đấu chống quân xâm lược cướp nước và chống bọn xu nịnh gian
tà Cuộc đời của một nhân cách cao đẹp, chí khí thanh cao, có tâm hồn trong sáng, có cốt cách như “hoa mai nở sớm”, “tùng bách rụng sau” Cuộc đời Nguyễn Trãi cho chúng ta bài học quý báu về lòng yêu nước thương dân cao đẹp, tinh thần nhân đạo, nhiệt tình chiến đấu, quan điểm mạnh dạn đổi mới, sáng tạo
1.1.2 Sự nghiệp
a Sự nghiệp chính trị
Nguyễn Trãi là người học rộng, biết nhiều Ngay từ nhỏ ông đã tỏ ra là người ham học hỏi và được tiếp thu sự dạy dỗ chu đáo từ gia đình Năm 1400, khi Thái sư Hồ Quý Ly phế bỏ vua Trần Thiếu Đế, tự lập nên nhà Hồ và ngay năm đó Hồ Quý Ly cũng cho mở khoa thi Nho học Nguyễn Trãi tham gia thi
và đỗ Thái học sinh, đứng thứ tư và được trao chức Ngự sử đài Chánh chưởng
Sau khi nhà Hồ sụp đổ, Nguyễn Trãi chờ thời cơ tìm về Lam Sơn phò Lê Lợi Ông dâng Bình Ngô sách và được Lê Lợi phong cho chức Tuyên phụng đại phu, Học sĩ Hàn lâm viện thừa chỉ, ngày đêm dự bàn việc quân
Đất nước thái bình ông trở thành bậc khai quốc công thần Nguyễn Trãi được Lê lợi tin tưởng giao cho làm nhiều việc quan trọng Trước tiên là viết Bình Ngô đại cáo, thông báo cho toàn dân cuộc khởi nghĩa chống quân Minh
đã thắng lợi
Nguyễn Trãi cũng từng được tiến cử làm thầy dạy cho con vua, được giao sửa định nhã nhạc và quy chế lễ nghi trong triều đình
Trang 20Đến đời vua Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi đã giữ chức Gián nghị đại phu
ở Môn hạ sảnh, một chức quan tương tự như chức vụ ở Ngự sử đài thời Hồ Quý Ly, tức có quyền khuyên bảo, can gián vua và các quan
Nguyễn Trãi có cuộc đời đầy thăng trầm, có lúc đường công danh ông lên đến đỉnh cao của sự nghiệp, giữ nhiều trọng trách cao trong triều đình, được vua yêu mến và trọng dụng, nhưng cũng có lúc ông bị bọn gian tà hãm hại, phải lui về ở ẩn làm bạn với muông thú cỏ cây Dầu vậy, ông vẫn là người trung hiếu vẹn toàn, được người đời kính nể Có lẽ vì vậy mà Nguyễn Trãi luôn được nhiều tác giả khi nghiên cứu về ông đánh giá cao, cả về con người, tư tưởng và sự nghiệp Nguyễn Mộng Tuân, một người bạn của Nguyễn Trãi đã viết rằng: “Kinh bang hoa quốc cổ vô tiền” (nghĩa là: giúp đời, làm rạng rỡ cho nước, từ xưa chưa ai được như thế) [35, tr 7] Đỗ Nghi, một nhân sĩ sống ở cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, cho rằng:
“Nếu Nguyễn Trãi ở ngôi Tể tướng, thì nắng hạn không cần tụng kinh, sét đánh không cần lập đàn mà tai biến tự nó dập tắt Tiếc thay học vấn của ông chưa được phát huy triệt để Nhưng cũng may, lời nói của ông còn được ghi trong sử sách cho đến nay, đều có thể làm phép tắc cho các thế hệ nước nhà” [35, tr 8]
b Sự nghiệp thơ văn
Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà quân sự, nhà chính trị đại tài, một anh hùng dân tộc giàu lòng yêu nước thương dân mà ông còn là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Ông là một cây bút đa dạng, sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm Cũng như nhiều bậc hiền nhân đi trước, Nguyễn Trãi làm thơ, viết văn chắc hẳn không chỉ là văn chương thuần túy, mà có lẽ Nguyễn Trãi muốn dùng văn thơ để đánh giặc, để biểu lộ lòng yêu nước thương dân sâu sắc của mình Văn chương của ông vì thế mà “có đủ sức để sửa sang việc đời” (Ngô Thế Vinh) Ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị, thấm đượm truyền thống
Trang 21của dân tộc Ngoài những tác phẩm bị thất lạc sau vụ án Lệ Chi Viên, chúng
ta có thể kể đến một số tác phẩm để đời và được lưu truyền cho hậu thế như:
thư Đây là tác phẩm nổi tiếng, lấy lời Lê Lợi tổng kết 10 năm chống giặc Minh xâm lược, tuyên bố trước nhân dân về chính nghĩa quốc gia, dân tộc, về quá trình chiến đấu gian nan để đi đến chiến thắng vĩ đại cuối cùng giành lại hòa bình cho đất nước
có hơn 70 bức thư, trong đó đa số các bức thư gửi cho tướng tá nhà Minh, một
số giấy tờ giao thiệp với triều đình nhà Minh nhằm thực hiện kế hoạch đánh vào lòng người, phần còn lại là những thư từ viết gửi cho quân ta
vào năm 1428, kể về cuộc đời ông ngoại mình là Trần Nguyên Đán Ngoài tấm lòng tưởng nhớ về ông ngoại ra, bài văn còn chứa đựng nỗi niềm tâm sự của tác giả Lúc này, Nguyễn Trãi đã lui về ở ẩn tại Côn Sơn, nhưng cũng như ông ngoại mình ngày xưa “Tuy mình gửi lâm tuyền mà chí vẫn để vào tông xã Mảnh lòng ưu ái, chưa từng một lúc nào tạm khuây” Đây cũng là một trong những tài liệu được xem là súc tích và sớm nhất viết về Trần Nguyên Đán
thứ 6 (1433) ngay sau khi vua Lê Thái Tổ băng hà và được táng ở Vĩnh Lăng Nội dung bia ngắn gọn, súc tích, thuật lại thân thế sự nghiệp của vua Lê Thái
Tổ, quá trình khởi nghĩa Lam Sơn cho đến khi đánh tan quân Minh, xây dựng lại quốc gia Đại Việt
tử những hiểu biết về đất nước, con người và đặc sản của các vùng miền để từ
đó thái tử có hiểu biết rõ hơn về đất nước và khi lên làm vua có thể xây dựng
Trang 22một quốc gia độc lập toàn diện Sách này sau khi Nguyễn Trãi soạn xong, dâng lên thì vua Lê Thái Tông rất tâm đắc và liền sai thợ khắc ván in để phổ biến rộng rãi
Ức Trai thi tập gồm 105 bài thơ chữ Hán Về nội dung, có thể chia ra 3
chủ đề lớn: thơ tả thiên nhiên, danh lam thắng cảnh; thơ sáng tác sau khi quân Minh xâm lược nước ta (trong đó có bài "Đề Hoàng ngự sử Mai tuyết hiên" làm khi ở Đông Quan) và thơ sáng tác sau khi chiến thắng quân Minh, giống thơ "ngôn chí" trong Quốc âm thi tập
duy nhất còn sót lại sau thảm án Lệ Chi Viên) Như tác giả Đỗ Thị Thu Hà trong bài viết “Hiện tượng tiếp biến văn chương qua "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi” đã nhận định:
Quốc âm thi tập là thơ của người ẩn, cảnh sắc là cảnh sắc ở
ẩn Nguyễn Trãi như một lão nông tri điền say trong thiên nhiên thôn dã với tình yêu sâu sắc Cùng với tình yêu thiên nhiên, tập thơ còn bộc lộ tình yêu con người, cuộc sống và nỗi đau buồn trước thế
sự, lòng người hiểm hóc Bên cạnh đó, cuộn chảy suốt Quốc âm thi tập là nỗi lòng ưu dân ái quốc, là dâng dậy tấm lòng của một con người luôn canh cánh nỗi tiên ưu với niềm khắc khoải chưa thấu thỏa, là vằng vặc vầng sáng của ý chí, của khát vọng hiến dâng mình cho đại sự nước nhà: Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn/ Dường như ta đà phỉ sở nguyền [62]
Thơ văn Nguyễn Trãi thấm đượm lòng yêu nước, thương dân, tình yêu đối với thiên nhiên tươi đẹp Thơ văn của ông để lại có nhiều giá trị to lớn như đánh giá của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: văn chương của ông “đạt đến đỉnh cao nghệ thuật, đều hay và đẹp lạ thường” [42, tr 9]
Trang 231.2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI
1.2.1 Tư tưởng Nho giáo
Tư tưởng nhân nghĩa xuất hiện từ rất sớm trong triết học Trung Hoa và
có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều nước ở Phương Đông trong đó có Việt Nam
a Quan niệm về nhân của Khổng Tử
Khổng Tử (551 - 479 TrCN) là người sáng lập trường phái Nho gia, là nhà triết học lớn nhất Trung Quốc thời cổ đại Trong thời kỳ phong kiến, tư tưởng, đường lối chính trị của ông trở thành học thuyết chính thống ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Trong suốt cuộc đời, mình Khổng Tử bàn nhiều đến “nhân”, đặc biệt trong tác phẩm “Luận ngữ” Nhân trở thành phạm trù trung tâm và mang nhiều ý nghĩa khác nhau trong tư tưởng của ông “Đó
là hạt nhân nòng cốt, là con đường đưa ông trở về với nhân bản, với tinh thần nhân văn sâu sắc của văn hoá Trung Hoa, một đặc điểm xuyên suốt trong hệ thống tư tưởng và đó cũng là một yếu tố khẳng định sự trường cửu của tư tưởng Khổng Tử qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển” [63] Trong “Luận ngữ” có tới 105 chỗ nói tới chữ nhân, nhưng mỗi nơi một khác Nhìn chung
“nhân” là người, tình người, lòng thương người, đạo làm người, nhân gắn liền với “Lễ”
Khi Phàn Trì - một người học trò của Khổng Tử hỏi về nhân, Khổng Tử nói: “yêu người” [25, tr 207] Nhân là lòng yêu thương con người và nó biểu hiện rõ nét trong tất cả các mối quan hệ xã hội, mà điểm xuất phát của lòng nhân là “hiếu” - sự kính trọng của con cái đối với mẹ cha, là “từ” - lòng yêu thương của cha mẹ với con cái, là “đễ” - hòa thuận với anh chị em trong gia đình, là bề tôi “trung” với vua và vua thương yêu bề tôi…Trong đó hiếu đễ là gốc của lòng nhân “Người quân tử chuyên chú vào cái gốc; cái gốc mà được
Trang 24vững thì đạo lý sẽ được sinh ra Hiếu đễ vì thế được coi là cái gốc của đức nhân” [23, tr.18]
Lòng yêu thương phải xuất phát từ yêu thương gia đình, sau đó mở rộng
ra là lòng yêu thương mọi người Làm người quân tử thì việc trước tiên là phải hết lòng vì cha mẹ Hiếu theo Khổng Tử là “Cha mẹ lúc còn sống thì phụng sự cho hợp lễ, mất rồi thì tống tang cho hợp lễ, cúng tế cho hợp lễ” [25,
tr 40] Khi trả lời câu hỏi của Tử Du về đạo hiếu, Khổng Tử nói: “Ngày nay người ta cho hiếu là có thể nuôi cha mẹ Nhưng đến chó, ngựa kia, người ta
cũng nuôi, nếu không kính cha mẹ thì có khác gì?” [25, tr 42] Câu này có
nghĩa là nuôi dưỡng cha mẹ không chỉ có việc đáp ứng về vật chất mà quan trọng hơn phải có lòng kính trọng Dân hiếu ít sinh loạn, con hiếu ít sinh tệ, hiếu đễ làm cho con người được phân biệt với cầm thú, xã hội an định, gia đạo hài hòa, thúc đẩy con người vươn đến điều nhân Xét về mặt xã hội thì quan điểm về “hiếu” đã vượt ra khỏi bản thân nó, làm cho con người biết tiết dục, kính thiên, tôn quân, thủ lễ, sự phụ mẫu
Trong quan niệm về nhân, Khổng Tử chú trọng đến đức nhân của người quân tử Ông cho rằng quân tử không có đức nhân thì không còn là quân tử nữa và chỉ có người quân tử mới có nhân còn kẻ tiểu nhân thì không có nhân “Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi” tức là quân tử chỉ quan tâm đến điều nghĩa, tiểu nhân chỉ quan tâm đến điều lợi [25, tr 79] Những việc
mà người quân tử làm đều xuất phát từ lòng nhân nghĩa, chứ không xuất phát từ ý thích hay lợi ích cá nhân Đó chính là điều phân biệt người quân tử với kẻ tiểu nhân
Theo ông, đức nhân của người quân tử có hai mặt là “trung” và “thứ” Trung tức là ngay thẳng, thành thật, giúp đỡ người khác thực hiện điều mà mình muốn thực hiện Thứ là lòng vị tha, đừng làm điều mà mình không muốn cho người khác Trung thứ là nguyên lý quán xuyến, đạt đạo của Khổng
Trang 25Tử và là điều mà suốt đời ông tuân theo Trung thứ phải được phân biệt giữa
kẻ khác và ta, đó là mối quan hệ bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và được quy định bởi Lễ Lễ là con đường đưa xã hội đi đến đại đồng Vì vậy, Khổng Tử khuyên: điều gì không hợp lễ thì không nghe, không hợp lễ thì không nói và không hợp lễ thì không làm “Khắc kỷ phục lễ vi nhân” [25, tr.195] Như vậy đối với Khổng Tử, nhân trở thành nội dung của lễ, lễ là hình thức biểu hiện của nhân Sự tác động qua lại giữa nhân và lễ được tác giả Võ Minh Hải đánh giá: “Sự tương hỗ ấy đã đẩy quá trình tìm hiểu khẳng định bản chất con người, khám phá về con người đạt đến những điểm mới mà các triết gia trước thời Khổng Tử chưa có được” [63]
Đối với Khổng Tử, yêu điều nhân cũng có nghĩa là ghét điều bất nhân Khổng Tử nói: “người thật ham điều nhân thì không cho điều gì hơn điều nhân, người thật ghét điều bất nhân thì khi làm điều nhân không để cho điều bất nhân vướng vào mình” [25, tr 75 - 76], hay “chỉ người có đức nhân mới biết yêu người, ghét người (một cách công tâm, chính đáng)” [25, tr 74] Như vậy, trong quan điểm về nhân của Khổng Tử ta thấy có rất nhiều điểm tích cực Trên lập trường của nhân, Khổng Tử đã nêu cao tư tưởng nhân trị, đề cao lễ, đưa xã hội từ loạn đến trị (dẫu rằng ở thời đại ông nó chỉ tồn tại
về mặt lý thuyết), nhưng công lao của đức Khổng được khẳng định bởi từ trong nội tại của quan điểm xã hội, chính trị ông đã làm cho con người với những thuộc tính vốn có của nó được khẳng định hơn và trở thành đối tượng của triết học theo đúng nghĩa của nó Từ đó, đánh dấu sự chuyển biến rõ rệt của triết học Nho gia thời kỳ đầu trên con đường từ thần bản đến nhân bản của triết học Trung Hoa cổ đại Đồng thời, khẳng định bản chất xã hội sâu rộng và tính chất đạo đức cao quý của tư tưởng Khổng Tử trong tiến trình phát triển của lịch sử triết học Trung Hoa
Trang 26b Quan niệm về nhân của Mạnh Tử
Mạnh Tử (372 - 289 TrCN) là đại biểu xuất sắc của Nho giáo thời Chiến Quốc, thời kỳ nở rộ các nhà tư tưởng lớn với các trường phái như Pháp gia,
Du thuyết, Nho gia, Mặc gia hay còn gọi là thời kỳ bách gia tranh minh và cũng là thời kỳ mà các tập đoàn phong kiến tranh giành, xâu xé lẫn nhau gây
ra các cuộc chiến tranh liên miên, làm cho đời sống của dân tình vô cùng khổ
sở Tư tưởng của Mạnh Tử phát triển thêm tư tưởng của Khổng Tử nhưng ông không tuyệt đối hóa vai trò của ông vua như Khổng Tử, ông chủ trương dân
vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, ông cũng là người đưa ra thuyết Tính Thiện Ông cho rằng, bản chất của con người khi sinh ra đã là thiện rồi “nhân chi sơ bản tính thiện”, tư tưởng này đối lập với thuyết tính ác của Tuân Tử rằng “nhân chi sơ bản tính ác”
Học thuyết Tính Thiện của Mạnh Tử cũng chủ yếu nói về nhân Mạnh
Tử kế thừa tư tưởng nhân, lễ, nghĩa, “tính tương cận cập tương viễn” [25, tr 284], “sinh nhi tri chi” [25, tr 128] của Khổng Tử để đưa ra hệ thống triết học tâm học với những vấn đề về tâm, tính, chí, khí và đặc biệt là học thuyết Tính Thiện nổi tiếng, cống hiến lớn cho lịch sử triết học Trung Hoa
Khi đề cập đến những đổi thay của con người, cả Khổng Tử và Mạnh Tử đều tin ở mệnh trời Chính Khổng Tử nói về ông “Ta năm mươi tuổi biết
mệnh trời” Còn Mạnh Tử thì cho bản tính thiện của con người là do trời phú
Nhân trong quan niệm của Mạnh Tử thực chất là sự duy tâm hóa quan niệm về nhân của Khổng Tử, nhưng có nhiều điểm tiến bộ Theo Mạnh Tử
“Nhân tính chi thiện giã” (bản tính con người vốn dĩ là thiện) Nhân theo Mạnh Tử không chỉ là thích làm điều thiện, điều tốt mà là sự tự nguyện, thành tâm thành ý làm điều thiện cho mọi người không vì khen chê; nhân là tiêu chí
để phân biệt đại nhân với tiểu nhân Theo Mạnh Tử lòng thương xót là đầu mối của nhân
Trang 27Mạnh Tử kết hợp “nhân” và “nghĩa” thành phạm trù nhân chính Nhân nghĩa theo Mạnh Tử cũng là bản tính tự nhiên của con người, là tiêu chí để phân biệt kẻ hiền với người ngu, là điều cao quý của con người Trước sau như một, Mạnh Tử luôn đề cao phạm trù nhân nghĩa Ông cho rằng: Đối với người có lòng nhân thì dẫu kẻ địch có đông đến bao nhiêu cũng không làm gì được mình Nếu một vị vua làm theo nhân chính thì ắt hẳn trong thiên hạ chẳng ai có thể địch nổi Trong thiên hạ người nhân sẽ luôn chiến thắng “điều nhân sẽ thắng điều bất nhân, như nước thắng lửa” và người ta sẽ không ngại đường xa vạn dặm để tìm đến minh chủ có lòng nhân
Trong tư tưởng nhân chính của mình, Mạnh Tử cũng thể hiện sự coi trọng nhân dân, yêu cầu người cầm quyền phải làm cho dân no đủ thì dân mới theo: "Thánh nhân cai trị thiên hạ, phải làm cho dân có đậu thóc nhiều như nước lửa, khi đậu thóc nhiều như nước lửa thì dân chẳng còn ai bất nghĩa nữa” [8, tr.246]
Trong đường lối nhân chính, ngoài việc lấy nhân nghĩa làm gốc, coi
"dân vi quý”, thi hành chế độ điền địa và thuế khoá công bằng, Mạnh Tử còn chủ trương phải giảm nhẹ hình phạt và tăng cường giáo hoá nhân dân Là người đi theo đường lối của Khổng Tử, Mạnh Tử trước sau tôn sùng "Vương đạo" phản đối "Bá đạo" Ông coi việc giảm hình phạt phải là một chính sách trong đường lối đức trị Ông cho rằng đối với một vị vua, cần phải thi hành phép cai trị nhân - đức đối với dân, điều quan trọng là phải giảm hình phạt, bớt sưu thuế, làm sao để khiến cho dân chăm chỉ, siêng năng lo việc cày sâu cuốc bẫm, làm vườn làm tược Theo Mạnh Tử cần phải nhẹ hình phạt bởi nếu "dân khờ khạo mà phạm luật nước, đó không phải là tội của họ, mà chính là tội của nhà cầm quyền chẳng biết giữ gìn, giáo hoá họ" [9, tr.179]
Để thực hiện đường lối coi trọng giáo hóa, Mạnh Tử chủ trương mở nhiều trường học ở nhiều nơi, từ kinh đô đến các làng xã và không chỉ chú trọng
Trang 28giáo dục đạo đức mà còn yêu cầu người cai trị phải quan tâm đến cuộc sống vật chất của người dân Đó chính là bước tiến mới trong tư tưởng của ông so với Khổng Tử
Như vậy, cả Khổng Tử và Mạnh Tử đều bàn nhiều đến nhân nghĩa, coi trọng nhân nghĩa Nhân nghĩa luôn là yếu tố cơ bản và bao trùm các đức tính khác của con người Cả hai ông đều đề cao dân chúng, coi trọng việc giáo hóa nhân dân, giảm nhẹ hình phạt và hướng mọi người xây dựng mẫu người quân
tử Tư tưởng của hai ông có giá trị và có ảnh hưởng tới nhiều quốc gia, trong
đó có Việt Nam Tư tưởng nhân nghĩa của Khổng Mạnh đã được nhiều nhà Nho ở Việt Nam nghiên cứu và học tập Một trong những người tiếp thu và vận dụng thành công đó là Nguyễn Trãi
1.2.2 Truyền thống của dân tộc
a Truyền thống yêu nước
Truyền thống yêu nước được xem là giá trị của các giá trị, là động lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân tộc, là nấc thang cao nhất trong hệ thống giá trị truyền thống của dân tộc ta Lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam được nâng lên thành chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước là tình yêu đối với đất nước, lòng trung thành với Tổ quốc Nó trở thành tư tưởng chủ yếu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử của dân tộc Việt Nam
Truyền thống yêu nước bắt nguồn từ tình yêu quê hương, gia đình, làng xóm Yêu nước là đặt lợi ích của đất nước lên trên hết, sẵn sàng chống quân
đô hộ và xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Yêu nước là một truyền thống đạo đức cao quý và thiêng liêng nhất của dân tộc Việt Nam, là cội nguồn của hàng loạt các giá trị truyền thống khác của dân tộc Người Việt Nam yêu đất nước mình, tình yêu đó được hun đúc từ trong các cuộc đấu tranh gian khổ chống giặc ngoại xâm và lao động dựng xây đất nước Chính truyền thống yêu nước là sức mạnh nội
Trang 29sinh giúp dân tộc ta vượt qua bao nhiêu khó khăn, thử thách, chiến thắng thiên tai khắc nghiệt và tất cả mọi kẻ thù
Lòng yêu nước được truyền từ thế hệ này đến thệ khác như huyết mạch, suối nguồn chảy mãi không ngừng nghỉ Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đúc kết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [32, tr 171]
Dân tộc ta đã tồn tại và phát triển qua hàng ngàn năm Tinh thần yêu nước xuất phát từ cuộc đấu tranh sinh tồn của cha ông ta Chủ nghĩa yêu nước trở thành một thứ vũ khí cực kỳ sắc bén mà không một kẻ thù nào khuất phục nổi
Minh chứng lịch sử của truyền thống yêu nước đó là mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm nhân dân ta đều đoàn kết đứng lên chống lại kẻ thù Mỗi người dân Việt Nam đều tự hào mình là con Lạc cháu hồng, tự hào về mảnh đất nơi mình đã được sinh ra Lòng yêu nước luôn biến thành hành động cụ thể Ở mọi thời điểm lịch sử thì không chỉ có người đàn ông thể hiện lòng yêu nước bằng hành động cầm gươm đánh giặc mà “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” Các cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng, Bà Triệu trả thù nhà, nợ nước đã chứng minh cho chân lý đó Các cuộc khởi nghĩa của các bậc anh hùng như Ngô Quyền - người đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng, đánh đuổi quân Nam Hán ra khỏi bờ cõi, hay quân dân nhà Trần - đánh tan hàng vạn quân Nguyên Mông, để giành lại nền thái bình cho dân tộc, đưa đất nước thoát khỏi nạn xâm lăng Sức mạnh của lòng yêu nước
là nguyên nhân, là ngọn nguồn của mọi thắng lợi
Tình cảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tưởng lớn nhất của
Trang 30nhân dân và dân tộc Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại Yêu nước trở thành một triết
lý nhân sinh của người Việt Nam “Nếu dùng từ “đạo” với nguyên nghĩa của
nó là “đường”, là hướng đi thì chủ nghĩa yêu nước đích thật là đạo Việt Nam” [17, tr 99]
Thực ra trên thế giới đất nước nào, dân tộc nào cũng có lòng yêu nước, nhưng mỗi dân tộc đều có nét riêng của mình Đối với Việt Nam, lòng yêu nước bắt nguồn từ những tình cảm đơn sơ, giản dị nhất, đó là từ tình yêu gia đình, yêu quê hương, yêu bãi mía, nương dâu hay là cây đa, bến nước, sân đình…Trong thực tiễn đất nước chúng ta có thể thấy “chủ nghĩa yêu nước là giá trị đạo đức cao quý nhất của dân tộc Việt Nam, là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong thang bậc giá trị truyền thống và là hằng số trong mỗi người Việt Nam” [19, tr 1]
Tinh thần yêu nước trở thành “nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xã hội mà nội dung của nó là lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc” [19, tr 1] Biểu hiện xuyên suốt của truyền thống yêu nước của dân tộc
ta, hay nói cách khác là thông qua những biểu hiện của tinh thần yêu nước chúng ta cũng có thể thấy được điểm khác biệt với các dân tộc khác Đó là: yêu nước là yêu thương đồng bào, yêu nơi chôn rau cắt rốn của mỗi con người
và hơn nữa, là tư tưởng xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ, đủ sức đảm bảo cuộc sống an lành cho mỗi người dân; yêu nước là sẵn sàng hi sinh vì đất nước, vì sự tự do của dân tộc Điều này trở thành ý thức thường trực trong mỗi người dân Việt Nam Tinh thần yêu nước được thể hiện trong đường lối ngoại giao, cách ứng xử thân thiện, hòa hợp với các nước láng giềng, như nhận xét của Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” đã viết:
“Trong việc trị nước, hòa hiếu với nước láng giềng là việc lớn mà những khi
Trang 31ứng thù lại rất quan hệ không thể xem thường cho nên nghĩa tu hiếu, đạo giao lân chép ở hiền truyện là đem lòng thực mà kết giao, người có quyền trị nước phải cẩn thận” [59]
Nói đến tinh thần yêu nước Việt Nam là “nói đến ý thức trách nhiệm về giống nòi, về cộng đồng, về dân tộc được biểu hiện thành những quan điểm, những lý luận; là những nhận thức về con đường, biện pháp đấu tranh giải phóng dân tộc, về động lực và khả năng giành lại lãnh thổ và xây dựng đất nước…Tinh thần yêu nước đã góp phần hình thành những nguyên lý: cùng một giống nòi thì phải có nghĩa vụ thương yêu, đùm bọc nhau Tinh thần yêu nước đã góp phần khẳng định chủ quyền lãnh thổ, phong tục tập quán, sự độc
lập, tự chủ trong quản lý và phát triển đất nước” [47, tr 62]
Tinh thần yêu nước luôn hiện hữu trong mỗi con người Việt Nam, được hình thành và phát triển cùng với quá trình dựng nước, giữ nước và trở thành giá trị truyền thống thiêng liêng của dân tộc Truyền thống yêu nước đã tồn tại
và phát triển qua hàng ngàn năm, nó trở thành một thứ vũ khí không kẻ thù nào khuất phục nổi Truyền thống đó trở thành dòng chảy trong huyết mạch mỗi con người Việt Nam Nguyễn Trãi cũng đã thừa hưởng truyền thống quý báu ấy của dân tộc
b Truyền thống nhân văn
Nhân văn là một trong những truyền thống quý báu của dân tộc ta Đây
là truyền thống có từ lâu đời Nhân văn có thể hiểu là yêu thương con người, chăm lo cho con người, cho sự tiến bộ của con người, hướng tới con người và giải phóng con người Nếu nhân ái chỉ dừng lại ở lòng yêu thương con người thì nhân văn được nâng lên tầm cao hơn, nó trở thành tư tưởng, giá trị
Truyền thống nhân văn bắt nguồn cả từ lịch sử và hoàn cảnh dân tộc Truyền thống này có nguồn gốc sâu xa trong sinh hoạt công xã nông thôn, sở hữu chung từ thời xa xưa Truyền thống đó càng trở nên sâu sắc hơn khi dân
Trang 32tộc ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh và thiên tai khắc nghiệt Cùng với đó là ảnh hưởng tác động của văn hóa bên ngoài du nhập vào, đã hình thành nên truyền thống nhân văn mang bản sắc Việt Nam
Truyền thống nhân văn, nhân ái có xuất phát điểm từ lòng yêu thương, quý trọng những thành viên trong gia đình Đó là tình yêu thương một cách
vô điều kiện của cha mẹ đối với con cái Lòng hiếu thuận, kính trọng của con cái đối với cha mẹ và sự yêu thương lẫn nhau của anh chị em trong gia đình
Có lẽ ai trong mỗi chúng ta đều không thể quên hình ảnh cậu bé ủ ấm chăn mỗi khi đông về để giữ ấm cho cha mẹ, quạt mát khi ngày hè nóng nực, hay hình ảnh người con trèo đèo lội suối đi tìm bông hoa có nhiều cánh để kéo dài tuổi thọ cho mẹ trong các câu chuyện dân gian truyền miệng Những hình ảnh
đó đã nói lên những tình cảm yêu thương thật thiêng liêng và cao quý Cho đến tình cảm “như bát nước đầy” của tình nghĩa phu thê Và tình anh em như môi với răng “môi hở răng lạnh”
Từ tình yêu gia đình mở rộng ra là tình làng nghĩa xóm Có thể khẳng định rằng, văn hóa Việt Nam được bảo tồn và không bị đồng hóa là do sự lưu giữ bắt đầu từ làng xã Nơi “bán anh em xa, mua láng giềng gần”, láng giềng
“tối lửa tắt đèn có nhau” hay “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” Đến lòng yêu thương con người rộng mở, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, miền xuôi hay miền ngược Người ta sẵn sàng sẻ chia với nhau khi khó khăn, hoạn nạn, thậm chí là tha thứ, mở đường hiếu sinh cho những người lầm đường lạc lối Đó chính là lòng yêu thương con người vô bờ bến của nhân dân ta từ hàng ngàn đời nay
Lịch sử dân tộc ta hàng ngàn năm nay đã chứng minh cho truyền thống nhân văn nhân ái của dân tộc Bắt nguồn của truyền thống ấy là truyền thuyết
về lòng yêu thương của Lạc Long Quân Từ buồi đầu khai thiên lập địa, nhân dân ta phải đối mặt với rất nhiều khó khăn Đó là sự khốc liệt của thiên nhiên
Trang 33và quỷ dữ Sự tích về Lạc Long Quân đã tiêu diệt Ngư Tinh, Hồ Tinh và Mộc Tinh đã đưa lại cuộc sống thanh bình cho nhân dân Các cư dân Lạc Việt đã vĩnh viễn thoát khỏi nạn và yên ổn an cư lạc nghiệp Đó là câu chuyện được truyền từ đời này sang đời khác qua lời kể của bà, của mẹ
GS Trần Văn Giàu cũng đã có phân tích về câu chuyện này:
Lạc Long Quân là điển hình tập trung của những người anh hùng bộ tộc, tài cao, chí cả, đức lớn, mà đức lớn nhất là thương người tha thiết, vì dân mà chiến đấu, lập nước, đem lại an cư lạc nghiệp cho quần chúng nhân dân Chắc chắn hơn cả, Lạc Long Quân là hình ảnh của nhân dân Lạc Việt biết thương yêu nhau, biết hợp sức nhau trong cơn hoạn nạn để trừ hại cứu mình Tình thương người, cụ thể là thương dân là động cơ của ba hành động khảng khái
của Lạc Long Quân [17, tr 247]
Lòng thương yêu con người như đã nói ở trên, không phải chỉ xuất phát từ quá trình lao động sản xuất, mà cả trong quá trình chống quân phản động trong và ngoài nước Chính trong hoàn cảnh đất nước lầm than nô lệ, lòng thương yêu lại trở thành sợi dây liên kết các thành viên trong cộng đồng lại, trở thành một sức mạnh to lớn, và cũng chính lòng thương dân đã thúc đẩy những người đứng đầu đi theo nguyện vọng của quần chúng nhân dân Có lẽ cũng ngay từ những ngày đầu thì nhân dân ta đã xem đức thương người, thương dân là một trong những yếu tố cơ bản nhất dựng thành dân tộc, nước nhà
Trong lịch sử thế giới người ta đã chứng kiến nhiều cách thống nhất giang sơn, Tổ quốc Xét không đâu xa, Trung Quốc đời nhà Tần, Tần Thủy Hoàng đã thống nhất giang sơn bằng quyền lực, cho quân đi chinh phạt Còn Việt Nam chúng ta, ngay từ buổi đầu lập quốc đã chinh phục lòng người bằng tình yêu thương con người
Trang 34Trong các triều đại phong kiến, nhiều vị vua anh minh cũng luôn coi trọng cái tình hơn cái lý, nặng tình nhẹ lý ngay cả trong việc cai quản đất nước, dùng đức để cảm hóa con người Và cũng trong những năm tháng ấy thì các bậc hiền nhân luôn dựa vào nhân dân, lấy gốc rễ là nhân dân Các nhà tư tưởng thời Lý - Trần đã nói rất nhiều về "lòng dân", "ý dân" và họ luôn xem việc "khoan thư sức dân" là điều cần kíp bậc nhất trong các hoạt động chính trị Theo họ, coi trọng nhân dân là căn cứ, là mục đích cho những chủ trương chính trị lớn như việc dời đô, kế vị hay thay đổi giữa các vương triều, việc nên hay không nên phát động các cuộc chiến tranh Cũng trong thời kỳ này, nhân dân được xem như là cơ sở để tiến hành các cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của quốc gia, dân tộc, theo nghĩa đó, để giành chiến thắng cần phải "khoan thư sức dân", tranh thủ và vận động được sự đồng lòng của
nhân dân trên mọi miền Tổ quốc Trong Chiếu dời đô, Lý Công Uẩn đã nói:
"Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân " Trong bài Văn lộ bố khi tiến hành
cuộc chiến tấn công quân Tống ở biên giới phía Bắc, Lý Thường Kiệt đã nói:
"Trời sinh ra dân chúng, vua hiền tất hoà mục Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân" Trần Tự Khánh, người có công lớn trong việc gây dựng cơ đồ nhà Trần cũng thường viện dẫn tới lòng dân để làm căn cứ cho các hành động chinh phạt Trần Quốc Tuấn - nhà chính trị, quân sự tài ba cũng cho rằng: “việc khoan thư sức dân, tranh thủ sự đồng lòng của dân là kế sâu rễ bền gốc, phương châm chiến lược lâu dài để phát triển quốc gia độc lập Ông coi trọng sức mạnh của nhân dân, dựa vào dân để đánh giặc giữ nước, đây là một tư tưởng hết sức tiến bộ mà ở thời đại đó rất ít người có thể nhận ra vì các triều đại phong kiến xưa kia chỉ coi dân là “thảo dân” mà thôi” [24, tr 8]
Truyền thống nhân văn hình thành và phát triển cùng với lịch sử dân tộc Khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, chúng ta chịu ảnh hưởng của tư tưởng
“từ bi” trong Phật giáo và cùng với ảnh hưởng từ Phật giáo thì chúng ta cũng
Trang 35tiếp nhận “đạo nhân” trong Nho giáo Nhưng chúng ta không rập khuôn “từ bi” và “đạo nhân” của Phật giáo và Nho giáo mà cha ông ta đã đưa những tư tưởng ấy thành việc củng cố lòng thương người, đoàn kết đấu tranh trực diện nhằm hưng lợi, trừ hại, lo lợi ích cho dân, cho nước và đạo nhân trở thành yêu đồng bào, yêu Tổ quốc Có thiết tha yêu đồng bào mình thì mới biết yêu nhân loại một cách chân thật
Bên cạnh tiếp nhận những tinh hoa từ Nho và Phật, nhân dân ta đã tiếp nhận một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa nhân đạo vì con người và cách thức giải phóng con người
Chủ nghĩa nhân đạo mà chúng ta đang thực hiện chính là sự tiếp nối và phát huy truyền thống nhân văn của dân tộc ta từ hàng ngàn đời nay Truyền thống đó cũng tạo cơ sở cho lòng yêu nước, yêu hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc Đó là nguồn lực tinh thần to lớn giúp nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, từng bước vươn lên làm chủ cuộc đời mình, làm chủ đất nước
và góp phần xây dựng đất nước ngày một thịnh vượng hơn
Trang 36TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên trong một gia đình có cha và ông ngoại đều là những người học rộng tài cao, có lòng yêu nước nồng nàn, lòng thương dân sâu sắc Nguyễn Trãi là người rất ham học hỏi và được thừa hưởng các truyền thống quý báu của gia đình Bên cạnh đó, ông cũng đã tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, nhất là tư tưởng về nhân của Khổng Tử và Mạnh Tử Đồng thời, Nguyễn Trãi đã kế thừa văn hóa truyền thống của dân tộc, từ truyền thống yêu nước, truyền thống nhân văn, nhân ái để xây dựng tư tưởng của mình với mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, mang lại hạnh phúc cho nhân dân
Sự nghiệp chính trị và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi là minh chứng hùng hồn cho một con người tài ba Ông không chỉ là một nhà chính trị, nhà quân sự lỗi lạc, mà ông còn là một nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc Nguyễn Trãi đã có đóng góp to lớn cho bước tiến của lịch sử dân tộc Ông cũng đã để lại nhiều tư tưởng có giá trị Một trong những tư tưởng tiêu biểu của Nguyễn Trãi đó là tư tưởng nhân nghĩa
Trang 37CHƯƠNG 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ
2.1 TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI
2.1.1 Tư tưởng yêu nước, thương dân
a Tinh thần cứu nước, trừ bạo cho dân
Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn Truyền thống ấy thấm sâu và chảy trong huyết mạch của mỗi người dân đất Việt Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống nên cũng được thừa hưởng bởi những giá trị tốt đẹp ấy của dân tộc Ông đã thừa hưởng từ ông ngoại là
cụ Tư đồ Trần Nguyên Đán và thân sinh Nguyễn Phi Khanh tư tưởng yêu nước, thương dân sâu sắc “Nguyễn Trãi là một người yêu nước, yêu nước sâu sắc, mạnh mẽ, thiết tha, với tâm hồn và khí phách của người anh hùng” [42,
tr 8] Đối với Nguyễn Trãi, yêu nước phải gắn liền với việc đưa đất nước ra khỏi cảnh lầm than, cơ cực, phải gắn với việc đem lại hạnh phúc cho nhân dân Và đây cũng chính là tư tưởng nhân nghĩa cao đẹp của ông
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi được thể hiện trong các tác phẩm tiêu biểu của ông như: Quân trung từ mệnh tập, Ức Trai thi tập, Bình Ngô đại cáo, Quốc âm thi tập…Có thể thấy rằng trong toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Trãi mà chúng ta còn lưu giữ được thì hai từ “nhân” và “nghĩa” được ông nhắc đến rất nhiều lần Chữ “nhân” được nhắc đến khoảng 59 lần, còn chữ
“nghĩa” thì khoảng 81 lần Tổng cộng cả nhân và nghĩa được nhắc đến 140 lần [10]
Về “nhân”: Nhân với Nguyễn Trãi không phải là một thứ đạo đức chung chung, trừu tượng mà nhân ở Nguyễn Trãi chính là lòng yêu nước,
Trang 38thương dân sâu sắc Theo Nguyễn Trãi thì yêu nước chân chính đó là chí nhân Nhân được Nguyễn Trãi nhắc đến nhiều trong thơ văn của mình
Trong Bảo kính cảnh giới V, Nguyễn Trãi viết: “Có nhân có trí có anh hùng” [42, tr 54], có nghĩa là mỗi người cần giữ lấy lòng nhân - lòng yêu
thương con người, giữ lấy trí - sự hiểu biết, biết phân biệt rõ đúng sai, hay,
dở, có trí sẽ không nhầm lẫn và không đi sai đường và giữ lấy khí phách anh
hùng Trong Bảo kính cảnh giới XLII “Tài đức thì cho lại có nhân” [42, tr.62],
có nghĩa là trong chuyện tài đức thì cần chú ý đến điều nhân, đức thì quan trọng hơn tài, tài kém đức một hai phần Người có đức nhân đối với cha mẹ luôn giữ lòng hiếu thảo, biết chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ nhất là khi già yếu, đối với việc phò chúa thì lấy sự ngay thẳng và chăm chỉ làm đầu, đọc sách thì phải hiểu được nghĩa lý, trông nom dân chúng thì không được để mất lòng dân, sống trong sạch không màng đến của cải bất chính Nói cách khác, thì người có nhân là người tận trung, tận hiếu Hay “Học thánh nhân chuyên thói thánh nhân” [42, tr 63], Nguyễn Trãi cho rằng khi đã học theo thánh nhân thì điều quan trọng là phải làm theo thánh nhân, đi học phải thẳng thắn, trung thực, làm quan thì phải trung cần, sống nơi phàm tục nhưng phải giữ cho lòng không phàm tục, tấm lòng son phải trọn đạo cương thường Vì thế theo Nguyễn Trãi “cơm kẻ bất nhân ăn ấy chớ/ Áo người vô nghĩa mặc chẳng thà” [42, tr 29], có nghĩa là đã là người có đức nhân thì không nên ăn cơm của kẻ bất nhân mời, không nên mặc áo người vô nghĩa tặng…
Về “nghĩa”: “Nghĩa” ở Nguyễn Trãi chứa đựng nhiều nghĩa khác nhau, nhưng hiểu một cách chung nhất “nghĩa” là điều nên làm Khi đất nước bị xâm chiếm thì điều nên làm là phải đứng lên giải phóng đất nước, giải phóng
giang sơn khỏi cảnh áp bức, nô lệ Trong Bảo kính cảnh giới XVI Nguyễn
Trãi viết: “bất nghĩa lòng nào mựa (chớ) nỡ toan”, [42, tr 56], tức là ông muốn khẳng định bản thân ông chưa bao giờ nghĩ đến làm điều bất nghĩa;
Trang 39Trong Bảo kính cảnh giới LVII: “Đọc sách thì thông đòi nghĩa sách” [42, tr 62], Nguyễn Trãi yêu cầu, việc đọc sách nếu chỉ thuộc mỗi con chữ thì không
có giá trị gì cả, mà điều quan trọng là phải hiểu được nghĩa lý trong từng câu chữ của sách…
Về “nhân nghĩa”: trong Bảo kính cảnh giới IV “Nhân nghĩa trung cần
chứa tích ninh” [42, tr 53], tức là hãy đinh ninh giữ lấy nhân nghĩa trung cần,
hay trong bài Hạ quy Lam Sơn, Nguyễn Trãi nói: “nhân nghĩa duy trì quốc thế
an” [42, tr 80], có nghĩa là muốn cho thế lực quốc gia được vững chắc, phải lấy nhân nghĩa mà duy trì, phải làm cho nhân dân no ấm, yên ổn làm ăn Hay
trong Thư lại gửi cho Phương Chính “ta nghe bậc danh tướng quý nhân nghĩa
mà rẻ quyền mưu Lũ mày thì quyền mưu cũng chẳng đủ, còn nói gì nhân nghĩa” [42, tr 136],…Như vậy có thể thấy một trong những vấn đề nền tảng trong hệ thống tư tưởng của Nguyễn Trãi chính là tư tưởng nhân nghĩa
Theo Nguyễn Trãi, nhân nghĩa không phải là yêu thương chung chung
mà trước hết “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” [42, tr 150], hay “dùng quân nhân nghĩa cứu dân khổ, đánh kẻ có tội”,
“đại đức hiếu sinh, thần vũ bất sát, đem quân nhân nghĩa đi đánh dẹp cốt để
an dân” (Thư dụ hàng (các tướng sĩ) thành Bình Than) Nhân nghĩa với Nguyễn Trãi trước hết là phải yên dân Tức là làm cho cuộc sống của nhân dân bình an, ấm no, hạnh phúc, không phải đối diện với địch họa chiến tranh
“Dẽ có ngu cầm đàn một tiếng/Dân giàu đủ khắp đòi phương” [42, tr 62] (Hãy để cho ta tiếng đàn của vua Thuấn gảy lên một bài/ Để mong cho dân ta khắp mọi miền đều giàu có) Nhân nghĩa như thế chính là yêu nước, thương dân, là đánh đuổi quân xâm lược, trừ bạo cứu nước
Trong tư tưởng nhân nghĩa có thể xem “yên dân” là mục đích của lòng nhân nghĩa còn “trừ bạo” là đối tượng và phương tiện của nhân nghĩa Người thực hiện tư tưởng nhân nghĩa đó chính là những người có lòng trung quân ái
Trang 40quốc, hết mực yêu thương dân chúng Điều này chúng ta đã thấy phảng phất ở
tư tưởng của Trần Quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ “Tự cổ các bậc nghĩa sĩ
trung thần đã từng diệt thân để cứu nước” Ở đây Trần Quốc Tuấn cũng muốn nói đến các đấng tiền bối đã hi sinh thân mình vì độc lập dân tộc
Nhân nghĩa yêu nước là gắn với lòng tự hào dân tộc, khẳng định chủ quyền quốc gia:
“Nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác” [42, tr 150]
Nhân nghĩa còn là lòng căm thù sâu sắc với “Quân cuồng Minh đã thừa
cơ gây vạ/ Bọn gian tà bán nước cầu vinh” Là đau với nỗi đau của người dân mất nước, là sẻ chia với nỗi cực khổ trăm đường về nạn thuế khóa nặng nề, là nhọc nhằn bao nỗi phu phen…của dân đen con đỏ
Lúc sinh thời, Nguyễn Trãi cũng mong muốn có thể truyền bá tư tưởng nhân nghĩa cho nhân dân khắp cả nước Đặc biệt là ông muốn các bậc vua chúa và đại thần cũng có tấm lòng nhân ái, yêu nước thương dân, để các đấng minh quân, quan lại có thể dùng lòng nhân mà đối xử với muôn dân Trong
Nguyễn Trãi đã mượn lời Lê Lợi dạy thái tử, để thái tử hiểu được vai trò của một quân vương đối với quốc gia dân tộc:
Xưa kia ta (Lê Lợi) gặp thời loạn lạc, dựng nghiệp khó khăn, hơn hai chục năm mới nên việc lớn Tình dân đau khổ đều được tỏ tường; đường đời gian nan cũng đã từng trải Thế mà lúc trị dân, tình ngay dối còn có điều khó rõ; việc nghi gian còn có chỗ chưa phân; đạo làm vua há chẳng khó sao! Chớ gần thanh sắc và tham của tiền, chớ ham chơi săn và thích dâm dật Chớ nghe sàm nịnh