Kế toán chi phí và tính giá thành theo phương pháp truyền thống dựa trên các tiêu thức phân bổ gián tiếp thường dẫn đến kết quả là giá thành các loại sản phẩm không chính xác, từ đó dẫn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ DUYÊN
TÍNH GIÁ THÀNH TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG
(ABC) TẠI CÔNG TY TNHH VIỆT Ý
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ DUYÊN
TÍNH GIÁ THÀNH TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG
(ABC) TẠI CÔNG TY TNHH VIỆT Ý
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐƯỜNG NGUYỄN HƯNG
Đà Nẵng – Năm 2013
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG (ABC) 7
1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 7
1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 7
1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 8
1.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 11
1.1.4 Vai trò của công tác tính giá thành sản phẩm và những quan tâm khi thiết kế hệ thống tính giá 12
1.1.5 Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành 14
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG (ABC) 15
1.2.1 Khái niệm về phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) 15
1.2.2 Đặc điểm của phương pháp tính giá ABC 18
1.2.3 Điều kiện cần thiết để thực hiện hệ thống kế toán chi phí và tính giá thành trên cơ sở hoạt động 18
1.2.4 Trình tự tính giá thành sản phẩm dựa trên cơ sở hoạt động 19 1.3 SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ ABC VÀ TRUYỀN THỐNG 28
Trang 41.3.1 So sánh phương pháp tính giá ABC và truyền thống 28 1.3.2 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp tính giá thành dựa trên
cơ sở hoạt động (ABC) 30
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH VIỆT Ý 36
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH VIỆT Ý 36 2.1.1 Giới thiệu về Công ty TNHH Việt Ý 36 2.1.2 Tổ chức bộ máy quản lí, bộ máy kế toán tại Công ty TNHH Việt Ý 36 2.1.3 Đặc điểm sản phẩm sản xuất kinh doanh Công ty TNHH Việt Ý 40 2.1.4 Quy trình sản xuất Băng keo 41 2.2 ĐẶC ĐIỂM CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TẠI CÔNG
TY TNHH VIỆT Ý 42 2.2.1 Đặc điểm chi phí sản xuất 42 2.2.2 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tượng tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Việt Ý 45
2.2.3 Quá trình tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất 46
HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH VIỆT Ý 61
3.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG 61 3.1.1 Sự cần thiết của việc áp dụng phương pháp tính giá thành trên cơ
sở hoạt động tại Công ty TNHH Việt Ý 61
Trang 53.1.2 Khả năng vận dụng tại Công ty TNHH Việt Ý 62 3.2 THIẾT KẾ HỆ THỐNG KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG 63 3.2.1 Phân tích quy trình sản xuất Băng keo tại Công ty TNHH Việt Ý 63 3.2.2 Xác định các hoạt động 66 3.2.3 Xác định các nguồn lực được sử dụng tại phân xưởng Băng keo 68 3.2.4 Phân bổ nguồn lực cho các hoạt động 69 3.2.5 Lựa chọn nguồn phát sinh chi phí 72 3.2.6 Phân bổ chi phí chi phí của các hoạt động cho các đối tượng tính giá thành 73 3.2.7 Tính giá thành cho từng loại sản phẩm 77 3.3 SO SÁNH GIÁ THÀNH CỦA SẢN PHẨM BĂNG KEO DỰA TRÊN
CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG VÀ HỆ THỐNG HIỆN TẠI 79 3.4 TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN PHỤC VỤ TÍNH GIÁ THÀNH TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG 81 3.5 THỰC HIỆN QUẢN TRỊ TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG KHI VẬN
DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ ABC 82
KẾT LUẬN 86 TÀI LIỆU TAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BOPP Baial Oriented Polypropylene
Trang 73.4 Bảng phân bổ tỷ lệ hoạt động- Sản phẩm (Ma trận APD) 75 3.5 Bảng phân bổ của chi phí theo hoạt động (Ma trận APD) 76 3.6 Bảng tính giá thành sản phẩm trên cơ sở hoạt động tháng 78 3.7 Bảng so sánh giá thành của phương pháp ABC với phương
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số hiệu
2.1 Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty TNHH Việt Ý 38
3.1 Phân tích giá trị theo quy trình sản xuất 65
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng cao, mỗi doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt Buộc các doanh nghiệp phải tìm kiếm các biện pháp để nâng cao được năng lực cạnh tranh trên thị trường về chất lượng, giá cả, dịch vụ của sản phẩm…Những biện pháp đó là kiểm soát chi phí đặc biệt là thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đã trở thành yếu tố quan trọng bật nhất đối với doanh nghiệp
Kế toán chi phí và tính giá thành theo phương pháp truyền thống dựa trên các tiêu thức phân bổ gián tiếp thường dẫn đến kết quả là giá thành các loại sản phẩm không chính xác, từ đó dẫn đến những quyết định kinh doanh không phù hợp Để khắc phục những nhược điểm trên các nhà kế toán đã nghiên cứu nhiều phương pháp tính giá thành hiện đại, trong đó có phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động (Activity Based Costing – ABC) Robin Cooper, Robert Kaplan, H.Thomas Jhnoson là những học giả kinh tế đầu tiên đưa ra phương pháp tính giá ABC nhằm xác định giá thành chính xác hơn giúp cho nhà quản lý đưa ra quyết định đúng đắn về quản trị và chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp
Tại Việt Nam, chủ đề nghiên cứu về phương pháp tính giá ABC trong
vấn đề tính giá thành theo tác giả được biết, có thể kể đến như: Bài báo "Vận
dụng phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động tại các doanh nghiệp In"-Trương Bá Thanh – Đinh Thị Thanh Hường (2009) Tạp chí khoa
học công nghệ Đại học Đà Nẵng Luận văn Thạc sỹ "Vận dụng phương
pháp tính giá thành (SBC) tại công ty CP In và Bao bì Bình Định" của
Nguyễn Hoàng Như Thảo (2012) Đại học Đà Nẵng…
Trang 10Hiện tại, Công ty TNHH Việt Ý đang áp dụng tính giá theo phương pháp truyền thống Trong đó, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung được tập hợp chung và phân bổ cho từng loại sản phẩm dựa trên một tiêu thức phân bổ cố định Việc áp dụng một tiêu thức phân bổ cho toàn bộ chi phí này khiến cho giá thành bị sai lệch Quá trình sản xuất các sản phẩm trải qua nhiều công đoạn nhưng công ty tập hợp chi phí sản xuất một lần vào cuối tháng và không theo dõi riêng biệt nên khoản chi phí này làm một số đơn hàng, sản phẩm phải gánh chịu thêm chi phí ở những giai đoạn không trải qua Như vậy việc tính giá thành của sản phẩm sẽ thấp hoặc cao hơn thực tế
Việc tổ chức về báo cáo chi phí sản xuất và giá thành chưa phân tích được sự biến động về chi phí để phục vụ quản trị giá thành tại Công ty
Chính từ những vấn đề đã nêu trên, tác giả chọn đề tài "Tính giá thành
trên cơ sở hoạt động (ABC) tại Công ty TNHH Việt Ý" nhằm góp phần
giải quyết vấn đề về lí luận và ứng dụng vào thực tiễn tại Công ty TNHH Việt
Ý đem lại thông tin cho từng sản phẩm chính xác góp phần định hướng phát triển sản phẩm và điều chỉnh lại giá bán cho sản phẩm
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nhằm làm rõ phương pháp tính giá thành hiện đang áp dụng tại Công ty, phân tích ưu điểm, sự cần thiết và khả năng vận dụng phương pháp tính giá ABC tại Công ty TNHH Việt Ý, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản trị chi phí và quản trị dựa trên cở hoạt động tại Công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và ứng dụng phương pháp tính giá thành hoạt động vào Công ty TNHH Việt Ý
Trang 11- Phạm vi nghiên cứu
Công ty TNHH Việt Ý cụ thể là các bộ phận tham gia quá trình sản xuất sản phẩm tại Công ty Riêng việc vận dụng phương pháp tính giá ABC,
đề tài tập trung minh họa quá trình tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm Băng keo (Băng keo cuộn các loại, Băng keo Jumbo) tại Công ty
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chủ yếu vận dụng trong nghiên cứu đề tài là phương pháp mô tả, suy diễn
- Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu chủ yếu thu thập từ nguồn số liệu sơ cấp và nguồn dữ liệu thứ cấp
- Cách thức xử lý số liệu: tổng hợp, phân tích
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn được thiết kế gồm:
Chương 1 Cơ sở lý luận về tính giá thành sản phẩm dựa trên cơ sở hoạt động(ABC)
Chương 2 Thực trạng công tác kế toán chi phí và tính giá thành tại Công ty TNHH Việt Ý
Chương 3 Phương hướng tổ chức hệ thống kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trên cơ sở hoạt động tại Công ty TNHH Việt Ý
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Qua nghiên cứu và tham khảo giáo trình, tạp chí và đề tài về phương pháp tính giá (ABC) tác giả đã kế thừa và vận dụng những phần phù hợp để phát triển riêng cho đề tài đang thực hiện về vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) tại công ty Việt Ý Sau đây là tổng quan tài liệu sử dụng tham khảo trong quá trình làm luận văn
Về lý luận phương pháp tính giá ABC được nhiều tác giả trong nước nghiên cứu và đưa vào chương trình giảng dạy như sau: Giáo trình Kế toán
Trang 12quản trị -Nguyễn Tấn Bình-(2003) Kế toán quản trị - PGS.TS Phạm Văn Dược (2006) Giáo trình kế toán quản trị - GS.TS Trương Bá Thanh (2008)
Tác giả Quang Khải với chuyên đề "Hệ thống xác lập chi phí dựa trên hoạt động" (2005) đã nêu cách thức tiến hành phân bổ chi phí theo hoạt động
và gợi ý các bước xác lập hệ thống ABC và nêu ra những ưu và nhược điểm của phương pháp ABC Bên cạnh đó, bài viết cụ thể hơn về các doanh nghiệp nhỏ trên tạp chí Kinh tế phát triển- tạp chí kế toán (1/7/2006) "Áp dụng phương pháp tính chi phí theo hoạt động cho các doanh nghiệp nhỏ" chuyên
đề này đưa ra những những nhân tố cản trở doanh nghiệp nhỏ trong việc thực hiện phương pháp ABC, đề xuất ra cách vận dụng phương pháp ABC hiệu quả, ít tốn kém và giảm rủi ro của việc chuyển đổi từ hệ thống kế toán này sang hệ thống kế toán theo phương pháp tính giá ABC mang lại lại một sự biến đổi nhẹ nhàng của hai phương pháp mà không đòi hỏi sự đầu tư lớn trong hệ thống thu thập dữ liệu phức tạp hơn và không yêu cầu tái cấu trúc lại doanh nghiệp Đến bài viết của tác giả Trần Đức Nam về chuyên mục "Bàn thêm về kế toán chi phí theo hoạt động"(2006) đã làm rõ thêm về một số thông tin về bản chất và tính ưu việt của phương pháp tính giá ABC Phân tính những tính bất cập trong phương pháp kế toán truyền thống và những ưu điểm của phương pháp ABC không chỉ ở việc cung cấp thông tin về giá thành sản phẩm chính xác hơn mà còn cung cấp những thông tin quản lý doanh nghiệp, cụ thể là giúp doanh nghiệp có thể quản lý tốt hơn chi phí sản xuất kinh doanh, ra quyết định thuê ngoài, xây dựng hệ thống đánh giá và quản lý nhân sự phù hợp Tuy nhiên, những bài viết trên mang tính phân tích chiều sâu về lý thuyết mà chưa có đề xuất áp dụng trên thực tế
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hoàn với đề tài "Tổ chức hệ thống kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm dựa trên cơ sở hoạt động tại Công ty Bao bì Nhựa Sài Gòn"(2006) đã nêu ra được những mặc tồn tại và hạn chế của
Trang 13phương pháp truyền thống phân bổ theo khối lượng Từ đó, nêu lên những ưu điểm của phương pháp ABC có thể khắc phục những tồn tại của phương pháp truyền thống Nêu thực trạng tại công ty và hướng công ty áp dụng phương pháp ABC để cung cấp thông tin cho nhà quản trị được chính xác hơn
Đến năm 2008 đã có một số đề tài nghiên cứu về việc vận dụng phương pháp ABC cho các doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp điện tử như: Luận văn
"Vận dụng lý thuyết ABC để hoàn thiện hệ thống kế toán chi phí tại công ty điện tử Samsung Vina"(2008) của tác giả Trần Minh Hiền đã phân tích được thực trạng tính giá thành tại công ty theo phương pháp truyền thống rất chuyên sâu từ đó đề xuất vận dụng phương pháp ABC Nhưng bên cạnh đó tác giả quá chú trọng phân bổ chi phí theo nhiều tiêu thức lựa chon
Trong lĩnh vực may mặc, đề tài "Vận dụng phương pháp tính giá ABC vào công ty CP dệt may 29-03"(2008) của tác giả Bùi Thị Lâu, hay đề tài "Vận dụng phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty CP may Núi Thành - Quảng Nam" (2012) của tác giả Phan Thị Tuyết Trinh Nhìn chung đều trải qua 4 bước Quá trình phân bổ chi phí và công tác tính giá thành đều được nêu ra phân tích và đánh giá nhằm chỉ ra những nhược điểm của phương pháp tính giá hiện tại Điều này tạo cơ sở cho việc vận dụng phương pháp tính giá mới khắc phục những hạn chế đang gặp phải Đối với hai luận văn này, lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu về ngành may mặc nên có thể cho thấy được khả năng vận dụng phương pháp ABC trên nhiều lĩnh vực khác nhau
Đề tài "Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) tại nhà máy bánh kẹo Quãng Ngãi – Công ty CP Đường Quãng Ngãi"(2012) tác giả Nguyễn Công Du Đề tài hướng đến vận dụng phương pháp ABC vào hoạt động thực tiễn từ đó cải tiến chu trình sản xuất, giảm bớt công đoạn tạo ra giá trị tăng thêm Đồng thời hướng đến cung cấp thông tin giá thành sản phẩm thích hợp và đáng tin cậy
Trang 14Trên tạp chí khoa học và công nghệ ĐH Đà Nẵng Số 32-2009 tác giả Trương Bá Thanh– Đinh Thị Thanh Hường với chuyên đề "Vận dụng phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động tại các doanh nghiệp in" Đề tài
"Vận dụng phương pháp tính giá thành ABC tại công ty CP in và Bao bì Bình Định"(2012) Nguyễn Hoàng Như Thảo Trong các công trình này đã hệ thống lại các nội dung cơ bản và nêu rõ quy trình vận dụng thực tế phương pháp tính giá ABC để hoàn thiện hệ thống kế toán chi phí và giá thành của ngành in
và được thể hiện thông qua một doanh nghiệp cụ thể
Qua quá trình tìm hiểu trên tác giả nhận thấy các bài viết nghiên cứu đi sâu vào việc hoàn thiện hệ thống chi phí với định hướng áp dụng phương pháp tính giá ABC trong những doanh nghiệp có đặc thù kinh sản xản xuất kinh doanh khác nhau Luận văn nghiên cứu về các khái niệm cơ bản và nền tảng vận dụng phương pháp ABC với mong muốn làm rõ hơn về cách thức tiến hành và
ưu điểm vượt trội của phương pháp này so với phương pháp truyền thống để có định hướng vận dụng thực tế nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như trong công tác quản lý chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Việt Ý Tuy nhiên, để
áp dụng phương pháp tính giá ABC vào doanh nghiệp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố Nhưng đây là một gợi ý có giá trị thực tiễn, cung cấp kiến thức hữu ích
về một phương pháp kế toán chi phí khác cho nhà quản trị xem xét và có định hướng vận dụng để giúp nhà quản trị có những quyết định chính xác về giá thành sản phẩm, kiểm soát chi phí của các hoạt động nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG (ABC)
1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
a Khái niệm chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao động vật chất hóavà lao động sống mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm
Để tiến hành sản xuất, doanh nghiệp cần ba yếu tố cơ bản đó là: tư liệu lao động, đối tượng lao động và lực lượng lao động Mọi chi phí đều được biểu hiện dưới dạng giá trị, trong đó chi phí về tiền công là biểu thị bằng tiền của hao phí lao động sống, còn chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu, điện nước, khấu hao tài sản…là biểu hiện bằng tiền của lao động vật hóa
Một doanh nghiệp sản xuất ngoài lao động có liên quan đến quá trính sản xuất sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, còn có những hoạt động khác không có tính chất sản xuất như hoạt động bán hàng, hoạt động quản lý, các hoạt động mang tính chất sự nghiệp…Chỉ những chi phí tiến hành sản xuất mới được coi là chi phí sản xuất Chi phí sản xuất phải được tập hợp theo kỳ: tháng, quý, năm phục vụ cho tính giá thành sản phẩm và lập báo cáo kế toán của doanh nghiệp
b Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các chi phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ hoàn thành
Trang 16Quy trình sản xuất là quy trình thống nhất bao gồm 2 mặt: chi phí sản xuất và kết quả sản xuất Tất cả các khoản chi phí phát sinh (phát sinh trong
kỳ, kỳ trước chuyển sang) và các chi phí trích trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể kỳ nào nhưng có liên quan
đến khối lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ
1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
a Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại có tính chất kinh tế, mục đích sử dụng, công cụ trong quá trình sản xuất… khác nhau Để phục vụ cho công tác quản lý chi phí sản xuất phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm, kế toán cần phải phân loại chi phí sản xuất
- Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí
Căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế ban đầu của chi phí sản xuất để sắp xếp các chi phí phát sinh có cùng nội dung tính chất kinh tế ban đầu và một yếu tố chi phí, không phân biệt công dụng kinh tế của chi phí đã phát sinh Căn cứ vào tiêu thức trên, chi phí sản xuất được phân chia thành các yếu
tố chi phí cơ bản sau:
+ Chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị của các loại
nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ xuất dùng cho sản xuất trong kỳ báo cáo
+ Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ chi phí trả cho người lao động
(tiền lương, các khoản phụ cấp, trợ cấp, tiền ăn giữa ca và các khoản trích theo lương, kinh phí công đoàn, BHYT, BHXH, BHTN) trong kỳ báo cáo
Trang 17+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: bao gồm chi phí khấu hao toàn bộ
tài sản cố định của doanh nghiệp dùng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo
+ Chi phí khác bằng tiền: bao gồm các chi phí sản xuất kinh doanh
chưa
được phản ánh ở các chỉ tiêu trên, đã chi bằng tiền trong kỳ báo
- Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế
Những chi phí sản xuất phát sinh có công dụng kinh tế không phân biệt nội dung kinh tế của chi phí đó, được chia thành ba khoản mục chi phí sau:
+ Khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: gồm chi phí về nguyên
vật liệu chính, vật liệu phụ sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm
+ Khoản mục chi phí nhân công trực tiếp: gồm các khoản phải trả cho
người lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm dịch vụ
+ Khoản mục chi phí sản xuất chung: gồm những chi phí phát sinh tại
bộ phận sản xuất (phân xưởng, đội, tổ sản xuất…)
Theo mối quan hệ với sản lượng: khoản mục chi phí sản xuất chung bao gồm chi phí sản xuất cố định và chi phí sản xuất biến đổi Chi phí sản xuất cố định là chi phí sản xuất gián tiếp thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất Chi phí sản xuất biến đổi là chi phí sản xuất gián tiếp thường thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất
Theo nội dung kinh tế khoản mục chi phí sản xuất chung gồm các nội dung như sau:
Chi phí nhân viên phân xưởng: gồm các khoản tiền lương, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương, tiền ăn giữa ca của các nhân viên quản lý phân xưởng, đội, bộ phận sản xuất
Trang 18Chi phí vật liệu: gồm những chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng như vật liệu dùng để sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định, vật liệu văn phòng phân xưởng và những vật liệu dùng cho nhu cầu quản lý chung ở phân xưởng
Chi phí dụng cụ sản xuất: gồm những chi phí về công cụ dụng cụ xuất dùng cho hoạt động quản lý của phân xưởng như khuôn mẫu, dụng cụ gá lắp, dụng cụ cầm tay, dụng cụ bảo hộ lao động
Chi phí khấu hao tài sản cố định: gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản cố định dùng trong phân xưởng, bộ phận sản xuất như chi phí bảo dưỡng tài sản cố định thuê ngoài, tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ, nhãn hiệu thương mại…
Chi phí bằng tiền khác: gồm các chi phí bằng tiền ngoài các chi phí đã
kể trên phục vụ cho hoạt động của phân xưởng
- Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung khác
Chi phí trực tiếp - Chi phí gián tiếp
Chi phí biến đổi (biến phí) - Chi phí cố định (định phí)
Chi phí đơn nhất - Chi phí tổng hợp
b Phân loại giá thành
- Phân loại giá thành theo thời điểm và nguồn số liệu hình thành
Theo cách phân loại này, chỉ tiêu giá thành được chia thành 3 loại:
+ Giá thành kế hoạch: là giá thành tính trước khi bắt đầu sản xuất của
kỳ kế hoạch hoặc được xây dựng dựa vào các định mức và dự toán cần thiết
để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm kỳ kế hoạch
+ Giá thành định mức: là một loại giá thành được xác định trước khi
bắt đầu sản xuất sản phẩm Giá thành thành định mức được xây dựng trên cơ
sở các định mức chi phí hiện hành tại thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thường là đầu tháng) Giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay
Trang 19đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch Giá thành định mức là thước đo chính xác chi phí cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm nhất định
+ Giá thành thực tế: là giá thành được xác định sau khi đã hoàn thành
việc sản xuất sản phẩm Nó bao gồm tất cả những chi phí thực tế phát sinh trong đó có tất cả những chi phí vượt định mức, ngoài kế hoạch như các thiệt hại về sản phẩm hỏng, các thiệt hại do ngừng sản xuất Giá thành thực tế được xác định nhất thiết là phải theo số liệu kế toán
Cách phân loại này giúp cho quản lý và giám sát chi phí, xác định các nguyên nhân vượt định mức chi phí trong kỳ kế hoạch Từ đó tiến hành điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí trong kỳ kế hoạch
1.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất gồm hai mặt: mặt hao phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất Chi phí sản xuất phản ánh hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩm phản ánh kết quả sản xuất Tất cả các khoản chi phí phát sinh (trong kỳ hoặc của kỳ trước chuyển sang) có liên quan đến khối
Trang 20lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên giá thành sản phẩm Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi phí
mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến khối lượng công việc hoặc sản phẩm hoàn thành trong kỳ Tuy nhiên chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có sự khác nhau cần phân biệt về chất và lượng như sau:
- Về chất: giá thành sản phẩm là nói đến chi phí sản xuất tính cho một
đối tượng tính giá thành cụ thể đã hoàn thành, còn chi phí sản xuất là những chi phí đã chi ra trong quá trình sản xuất sản phẩm không kể đã hoàn thành hay chưa
- Về lượng: giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất thường không đồng
nhất với nhau vì giá thành sản phẩm ở kỳ này có thể bao gồm chi phí kỳ trước hoặc chi phí ở kỳ sau tính trước cho nó, còn chi phí ở kỳ này có thể được tính vào giá thành kỳ sau
1.1.4 Vai trò của công tác tính giá thành sản phẩm và những quan tâm khi thiết kế hệ thống tính giá
Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình sử dụng các nguồn lực kinh tế tại doanh nghiệp để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ có ích cho người tiêu dùng Quá trình đó làm phát sinh các loại chi phí tại nhiều địa điểm khác nhau trong doanh nghiệp Do vậy, tập hợp chi phí và tính giá thành là một nội dung cơ bản và có tính truyền thống trong kế toán quản trị Vai trò của tính giá thành trong công tác quản trị doanh nghiệp được thể hiện như sau:
- Tính giá thành góp phần xác định giá thành sản phẩm, dịch vụ hoàn thành, qua đó làm cơ sở để xác định kết quả kinh doanh của từng sản phẩm, nghành hàng, từng bộ phận và toàn doanh nghiệp
Trang 21- Tính giá thành sản phẩm, dịch vụ giúp nhà quản trị làm tốt công tác hoạch định và kiểm soát chi phí ở từng nơi phát sinh phí (từng phòng ban, từng phân xưởng, từng hoạt động )
- Tính giá thành trợ giúp các nhà quản trị trong các nổ lực nhằm giảm thấp chi phí sản phẩm, có giải pháp cải tiến sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường
- Tính giá thành phẩm còn giúp các nhà quản trị xây dựng một chính sách giá bán hợp lí, có tính cạnh tranh cao làm cơ sở cho nhiều quyết định tác nghiệp khác
Với tầm quan trọng đó, việc xây dựng và vận dụng hệ thống tính giá thành hợp lí là rất cần thiết trong tổ chức công tác kế toán quản trị trong doanh nghiệp Việc xây dựng một hệ thống tình giá thành phù hợp là rất cần thiết trong tổ chức công tác kế toán quản trị ở doanh nghiệp Khi xây dựng hệ thống tính giá thành cần quan tâm đến một số khía cạnh như sau :
- Cân nhắc giữa chi phí và lợi ích của vấn đề tính giá thành Một hệ thống tính giá thành rất chi tiết và cụ thể có thể cung cấp nhiều thông tin cho nhà quản trị, nhưng lại mất nhiều thời gian và tiền bạc, nhất là các chi phí về đào tạo Do vậy hệ thống tính giá thành phức tạp chỉ nên vận dụng khi các nhà quản trị tin tưởng rằng lợi ích mang lại phải tương đương với chi phí bỏ
ra và hoạt động chung của doanh nghiệp được cải thiện nhiều trên cơ sở các thông tin được cung cấp của hệ thống tính giá thành
- Hệ thống tính giá thành cần phải được thiết kế phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại Nó phụ thuộc vào bản chất của ngành sản xuất, quy trình công nghệ, tính đa dạng của sản phẩm, dịch vụ và yêu cầu về thông tin của mỗi ngành nghề khác nhau Do vậy khi xây dựng một hệ thống tính giá thành cần phân tích kĩ lưỡng quy trình sản xuất tiến hành như thế nào, cũng cần xác định rõ dữ liệu nào cần thu thập và báo cáo
Trang 221.1.5 Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành
Kế toán định nghĩa chi phí là một nguồn lực được hy sinh hay mất đi để đạt một mục tiêu nhất định nào đó Chi phí phát sinh luôn gắn liền với một không gian cụ thể ở tại một thời điểm cụ thể Do tài nguyên của bất kì tổ chức nào cũng có giới hạn và khan hiếm nên các nhà quản trị luôn đặt ra câu hỏi, chi phí phí phát sinh ở đâu; với qui mô ra sao và ảnh hưởng đến các hoạt động khác như thế nào Do vậy, xác định đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành là một đặt tính quan trọng trong kế toán quản trị, bởi vì nó không chỉ đơn thuần phục vụ cho công tác tính giá thành mà còn liên quan đến công tác tổ chức dữ liệu, và phục vụ các nhu cầu khác của nhà quản trị
a Đối tượng tập hợp chi phí
Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi được xác định trước để tập hợp chi phí Xác định đối tượng tập hợp chi phí thực chất là xác định giới hạn các
bộ phận chịu chi phí hoặc các đối tượng chịu chi phí làm cơ sở cho việc tính giá thành Khái niệm này không chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất
mà còn có thể áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc các ngành kinh doanh khác Trên một góc độ chung, có hai biểu hiện về đối tượng tập hợp chi phí
đó là:
- Các trung tâm chi phí: trung tâm chi phí là những bộ phận trong doanh
nghiệp mà các nhà quản trị ở các bộ phận trong doanh nghiệp, mà nhà quản trị ở
bộ phận đó chịu trách nhiệm về những biến động chi phí phát sinh trong kỳ Trong doanh nghiệp sản xuất, trung tâm chi phí có thể là mỗi cửa hàng, quầy hàng ….Trong doanh nghiệp thương mại, hoặc từng khách sạn, khu nghỉ mát, từng bộ phận kinh doanh … trong kinh doanh du lịch
- Sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm: cùng loại, một công việc (đơn đặt
hàng) hay một hoạt động, một chương trình nào đó như chương trình tiếp thị, hoạt động nghiên cứu và triển khai cho một sản phẩm mới, hoạt động nghiên
Trang 23cứu và triển khai cho một sản phẩm mới, hoạt động sữa chữa tài sản cố định
… Đối tượng tập hợp chi phí trong trường hợp này thường không quan tâm đến các bộ phận phát sinh chi phí mà quan tâm đến các bộ phận phát sinh cho công việc gì, ở hoạt động nào Khi đó, người quản trị có thể so sánh, đánh giá chi phí giữa các sản phẩm, các hoạt động với nhau
b Đối tượng tính giá thành
Là kết quả của quá trình sản xuất hoặc quá trình cung cấp dịch vụ cần được tính giá thành phục vụ yêu cầu của quản lý Xác định các đối tượng tính giá thành thường gắn liền với yêu cầu của nhà quản trị về kiểm soát chi phí, định giá bán và xác định kết quả kinh doanh về một đối tượng tính giá thành
có thể là một chương trình, một hoạt động kinh doanh nào đó Kế toán quản trị còn nhìn nhận đối tượng tính giá thành ở một khía cạnh rộng hơn Chẳng hạn, khi doanh nghiệp tiến hành đầu tư mới, hay thực hiện một dự án nào đó
Đối tượng tập hợp chi phí và tập hợp giá thành có mối quan hệ với nhau trong hệ thống tính giá thành ở đơn vị Nếu đối tượng tập hợp chi phí cần xác định là bước khởi đầu cho quá trình tập hợp chi phí thì đối tượng tính giá thành gắn liền với việc thực hiện các kỹ thuật tính giá thành Trong một số trường hợp, đối tượng tập hợp chi phí trùng với đối tượng tính giá thành
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM DỰA TRÊN
CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG (ABC)
1.2.1 Khái niệm về phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động (ABC)
a Lịch sử hình thành phương pháp tính giá ABC
Vào những năm 1980 hệ thống chi phí truyền thống đã bắt đầu bộc lộ nhiều hạn chế, mặc dù áp dụng rộng rãi từ trước đó khi mà các loại sản phẩm sản xuất ra còn hạn chế, chi phí nhân công trực tiếp và nguyên vật liệu trực tiếp chiếm phần lớn trong tổng chi phí sản xuất, trong khi đó chi phí gián tiếp
Trang 24liên quan đến quản lý và phục vụ sản xuất chiếm tỷ trọng nhỏ Vì vậy việc sai lệch từ việc phân bổ chi phí quản lý dựa trên một tiêu thức đơn giản như sản lượng sản xuất, số giờ lao động … theo hệ thống chi phí truyền thống thời điểm này không đáng kể
Sau những năm 1980, những thách thức bắt đầu đặt ra cho việc tính toán và áp dụng những hệ thống thông tin chi phí mới Do sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học công nghệ, dây chuyền sản xuất tự động đã trở nên phổ biến, nhiều loại sản phẩm sản xuất ra hàng loạt, chi phí lao động chiếm tỷ trong càng nhỏ trong tổng chi phí sản xuất, trong khi chi phí quản lý phục vụ sản xuất tăng dần và chiếm tỷ trọng đáng kể, việc phân bổ chi phí gián tiếp dựa trên tiêu thức phân bổ đơn giản không còn phù hợp
Các tổ chức kinh tế, nhà kinh tế học nổ lực tìm ra những phương pháp mới và trong đó có đưa ra một phương pháp mới đó là ABC (Activity based costing) Nhận thấy được tiềm năng ứng dụng của phương pháp trên các nhà kinh tế học thế giới đã tiếp tục nghiên cứu, đúc kết và nâng cao thành một hệ thống tốt hơn
b Khái niệm phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động (ABC)
Quan điểm của một số học giả kinh tế thế giới về phương pháp tính giá ABC như sau:
Krumwiede và Roth (1997)1: phương pháp tính giá ABC là một hệ thống quản trị tập trung đo lường chi phí, các hoạt động, sản phẩm khách hàng và các đối tượng chi phí … Phương pháp này đòi hỏi việc phân bổ chi phí cho các đối tượng dựa trên số lượng hoạt động sử dụng bởi đối tượng chi phí đó
1 Trần Thị Kim Phượng (2012) Vận dụng phương pháp tính giá ABC tại công ty CP Cao su Đà Nẵng.- Đại học Đà Nẵng-trang
Trang 25Kaplan(1998)2: phương pháp tính giá ABC được thiết kế nhằm cung cấp một cách thức phân bổ chính xác chi phí gián tiếp cho hoạt động, quá trình kinh doanh, các sản phẩm và dịch vụ Trên thực tế nhiều nguồn lực của doanh nghiệp không chỉ phục vụ cho việc cấu thành nên yếu tố vật chất của sản phẩm mà còn cung cấp nhiều hoạt động hổ trợ để đưa ra các sản phẩm, dịch vụ đến với khách hàng Mục tiêu của phương pháp này không chỉ phân
bổ chi phí sản xuất chung cho sản phẩm mà còn đo lường và tính giá tất cả các nguồn lực sử dụng cho các hoạt động mà có thể bổ trợ cho việc sản xuất
và phân phối sản phẩm, dịch vụ khách hàng
Narcyz Roztocki (1999)3: theo Narcyz Roztocki thì phương pháp tính giá ABC bao gồm hai giai đoạn Giai đoạn một phân bổ hoặc kết chuyển chi phí cho các hoạt động, giai đoạn hai sẽ phân bổ cho từng sản phẩm hay dịch
vụ đã tiêu dùng
Homgren (2000)4: phương pháp tính giá ABC là sự cải biến của phương pháp tính giá truyền thống bằng việc tập trung vào các hoạt động cụ thể như là các đối tượng chịu chi phí cơ bản Một hoạt động có thể là một sự kiện, một hành động hay là một công việc với mục đích riêng như thiết kế sản phẩm, lắp đặt máy móc hay phân phối sản phẩm Hệ thống ABC tập hợp chi phí cho từng hoạt động và phân bổ chi phí cho từng sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên hoạt động được tiêu dùng bởi sản phẩm hay dịch vụ đó
Maher (2001)5: phương pháp tính giá ABC là một công cụ quản trị dựa trên hoạt động, trước hết chi phí được phân bổ cho hoạt động, sau này sẽ phân
Trang 26bổ cho từng sản phẩm, hay dịch vụ dựa trên các hoạt động mà sản phẩm hay dịch vụ đó đã tiêu dùng Quản trị dựa trên cơ sở hoạt động sẽ tìm kiếm sự cải thiện không ngừng, ABC cung cấp thông tin về hoạt động và nguồn lực cần thiết để thực hiện chúng Vì thế, ABC không chỉ đơn thuần là quá trình phân
bổ chi phí
Mỗi học giả có những khái niệm khác nhau về phương pháp ABC nhưng đều có điểm chung là khắc phục hạn chế lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí và kỹ thuật phân bổ chi phí trong phương pháp tính giá truyền thống
1.2.2 Đặc điểm của phương pháp tính giá ABC
Phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động là phương pháp tính chi phí được sử dụng để tính thẳng chi phí chung vào cho các đối tượng chịu chi phí Những đối tượng này có thể là sản phẩm, dịch vụ, quá trình hoặc khách hàng Phương pháp này giúp cho nhà quản trị ra được những quyết định đúng với cơ cấu sản phẩm và chiến lược cạnh tramh của doanh nghiệp mình
Về cơ bản phương pháp ABC khác với phương pháp truyền thống ở hai điểm Thứ nhất, giá thành sản phẩm theo phương pháp ABC bao gồm toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ, kể cả chi phí gián tiếp như chi phí bán hàng, chi phí quản lí doanh nghiệp Thứ hai, phương pháp ABC phân bổ chi phí phát sinh và giá thành mỗi sản phẩm dựa trên mức chi phí thực tế cho mỗi hoạt động và mức đóng góp của mỗi hoạt động vào quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Kết quả giá thành sản phẩm phản ánh chính xác hơn mức chi phí thực tế kết tinh trong mỗi sản phẩm
1.2.3 Điều kiện cần thiết để thực hiện hệ thống kế toán chi phí và tính giá thành trên cơ sở hoạt động
Một số học giả kinh tế như Homgren (2000), Hilton (2002)6
đã chỉ ra
6 Nguyễn Thị Bích Lài (2010) Vận dụng phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) tại
Công ty CP may Trường Giang Quảng Nam - Đại học Đà Nẵng
Trang 27các điều kiện cơ bản mà các doanh nghiệp cần xem xét khi thực hiện tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động như sau :
Sản phẩm, dịch vụ sản xuất đa dạng về chủng loại, mẫu mã, phức tạp
về kỹ thuật Quy trình công nghệ trải qua nhiều công đoạn, nhiều hoạt động
Các sản phẩm phức tạp, khó sản xuất, được báo cáo có lợi nhuận cao, trong khi đó các sản phẩm đơn giản được xem là có lợi nhuận thấp hoặc lỗ
Chi phí gián tiếp chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành và tăng liên tục theo thời gian Doanh nghiệp chỉ sử dụng một hoặc hai tiêu thức phân bổ gián tiếp Hầu hết chi phí gián tiếp được được xác định như chi phí cấp đơn vị
Giá thành theo phương pháp truyền thống cung cấp không đủ độ tin cậy trong việc định giá sản phẩm, dịch vụ
1.2.4 Trình tự tính giá thành sản phẩm dựa trên cơ sở hoạt động
Theo các lý thyết về mô hình ABC cho rằng các nguồn lực tiêu hao sinh ra chi phí, hoạt động tiêu hao nguồn lực, sản phẩm và dịch vụ tiêu tốn các hoạt động Được thể hiện qua mô hình sau :
Sơ đồ 1.1 Lý thuyết mô hình ABC
Trước khi trình bày chi tiết các bước thực hiện phương pháp tính giá ABC, ta cần làm rõ khái niệm của một số thuật ngữ chính liên quan đến mô hình này như sau
Sản phẩm , dịch vụ …
Hoạt động
Tiêu hao nguồn lực
Chi phí
Trang 28Nguồn lực
Nguồn lực là một yếu tố kinh tế được sử dụng để thực hiện các hoạt động Con người, dụng cụ, thiết bị và nhà xưởng … là những nguồn lực chủ yếu để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn lực có thể được phân thành hai loại chủ yếu là các nguồn biến đổi và các nguồn lực cố định
Hoạt động
Hoạt động là một quy trình, chức năng hoặc công việc xử lý đầu vào hay sản xuất đầu ra Nói cách khác, một hoạt động là sự biến đổi những yếu tố đầu ra được thực hiện bằng những cách thức nằm trong sự kiểm soát của đơn
vị Ví dụ như: hoạt động xử lý đơn đặt hàng, hoạt động vận chuyển nguyên
vật liệu từ kho đến nơi sản xuất…
Nguồn sinh phí
Nguồn sinh phí là một nhân tố, một khía cạnh của hoạt động có thể định lượng được và gây ra sự phát sinh chi phí Một hoạt động có thể xem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau nhưng chỉ những khía cạnh này gây ra sự phát sinh chi phí và có thể định lượng được mới có thể được xem là nguồn phát sinh chi phí
Trung tâm hoạt động
Trung tâm hoạt động được hiểu là một phần của quá trình sản xuất mà
kế toán phải báo cáo một cách riêng biệt tình hình chi phí của hoạt động trung tâm đó
Đối tượng tính giá
Đối tượng tính giá thường rất đa dạng và tùy thuộc vào nhu cầu thông tin của nhà quản trị mà người thiết kế hệ thống sẽ thiết lập các đối tượng tính giá khác nhau Một số đối tượng tính giá điển hình là: sản phẩm, dịch vụ, lô sản phẩm, hợp đồng, công việc dự án, nhóm khách hàng, kênh phân phối…
Trang 29Tiêu thức phân bổ chi phí nguồn lực
Tiêu thức phân bổ chi phí nguồn lực là yếu tố đo lường sự tiêu hao nguồn lực cho các hoạt động khác nhau, khi đó tỷ lệ thời gian tương ứng tiêu tốn cho mỗi hoạt động sẽ là tiêu thức phân bổ chi phí nguồn lực
Tiêu thức phân bổ chi phí hoạt động
Tiêu thức phân bổ này là cầu nối giữa các hoạt động và các đối tượng tính giá, đo lường sản phẩm, dịch vụ… là yếu tố dùng để đo lường sự tiêu hao của hoạt động cho các đối tượng tính giá, tạo ra trong mỗi hoạt đông
Để thực hiện phương pháp tính giá ABC, theo Sollenberger(1996), Hamgern (1997)7 cũng chia thành 5 bước cơ bản trong quá trình áp dụng ABC và được thể hiện chi tiết như sau:
a Xác định các hoạt động
Việc xác định các hoạt động là nhân tố quyết định cho sự thành công của việc áp dụng phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) Các hoạt động này được thông qua việc phân tích ban đầu, kiểm tra thực tế khu vực làm việc, thực hiện phỏng vấn những nhân viên liên quan hoặc yêu cầu những nhân viên này mô tả việc sử dụng thời gian của nhân viên này cho những công việc gì và như thế nào? hoặc phỏng vấn những người quản lý về công việc và khu vực làm việc và khu vực làm việc của nhân viên
mà họ đang quản lý Những câu hỏi phỏng vấn được sử dụng nhằm xác định các hoạt động, thông tin thu thập được từ những câu hỏi đã đưa ra sẽ là cơ sở cho việc xây dựng danh sách các hoạt động cũng như cung cấp thông tin hữu ích cho việc phân bổ chi phí các nguồn lực đến các hoạt động riêng biệt Một
số câu hỏi được đưa ra như sau:
- Có bao nhiêu người làm việc trong bộ phận của bạn?
7 Nguyễn Thị Bích Lài (2010) Vận dụng phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) tại
Công ty CP may Trường Giang Quảng Nam - Đại học Đà Nẵng
Trang 30- Họ làm việc gì?
- Nguồn lực tiêu hao bởi những hoạt động nào?
- Kết quả của những hoạt động này?
- Nhân viên tốn bao nhiêu thời gian để thực hiện mỗi hoạt động? bởi những thiết bị nào? (thông tin cần thiết để phân bổ chi phí lao động và thiết bị đến các hoạt động)
- …
Trong giai đoạn này, thông thường sẽ tốn nhiều thời gian để thực hiện, phải phân tích chi tiết quy trình sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ thành các hoạt động một cách hệ thống Số lượng hoạt động trong một doanh nghiệp
có thể rất lớn, nếu chia thành nhiều hoạt động thì sẽ đem lại thông tin chính xác cao nhưng chi phí, thời gian bỏ ra để thu thập, xử lí thông tin sẽ lớn Vì vậy nhà quản trị cân nhắc chi phí bỏ ra có tương ứng với kết quả đem lại Doanh nghiệp thường nhóm các hoạt động có liên quan tiêu dùng cùng một nguồn lực và một tâm điểm hoạt động, được gọi là trung tâm hoạt động Để nhận diện các hoạt động một cách dễ dàng Kaplan(1998)8
đã chia hoạt động trong doanh nghiệp theo các cấp độ khác nhau như sau
Hoạt động ở cấp độ đơn vị: hoạt động này được thực hiện mỗi khi một
đơn vị sản phẩm hay dịch vụ được sản xuất Chi phí trong hoạt động này bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp, chi phí về sử dụng điện, chi phí đóng gói, chi phí hoạt động của máy móc…
Hoạt động ở cấp độ lô sản phẩm: những hoạt động này được thực hiện
theo lô sản phẩm Ví dụ như: chi phí lắp đặt máy móc, tài nguyên dùng cho
việc lập kế hoạch sản xuất, dự toán chi phí sản xuất cho lô sản phẩm, kiểm tra chất lượng mỗi lô sản phẩm và vận chuyển nguyên vật liệu Một điểm để
8 Nguyễn Thị Bích Lài (2010) Vận dụng phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) tại
Công ty CP may Trường Giang Quảng Nam - Đại học Đà Nẵng
Trang 31phân biệt quan trọng giữa cấp độ theo lô và đơn vị sản phẩm là những nguồn lực thực hiện một hoạt động theo lô sản phẩm thì độc lập với số lượng của những đơn vị trong lô, chẳng hạn như độc lập với số lượng sản phẩm khi thiết lập máy Hệ thống chi phí truyền thống xem những chi phí phát sinh theo lô là chi phí cố định
Hoạt động ở cấp độ sản phẩm: hoạt động này gắn liền với một sản
phẩm độc lập Những hoạt động này có thể là thiết kế cho một sản phẩm, quảng cáo, cải tiến một sản phẩm
Hoạt động ở cấp độ khách hàng: hoạt động này bao gồm toàn bộ chi
phí có liên quan đến bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ cho từng khách hàng riêng biệt, chi phí này phụ thuộc vào số lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách hàng như chi phí vận chuyển, cài đặt, vận hành thử, bảo hành, sử dụng…
Hoạt động hổ trợ sản xuất: hoạt động này nhằm hổ trợ cho quá trình
sản xuất bao gồm cả hoạt động của đội ngũ quản lý phân xưởng, quản lý chung, kiểm tra chất lượng sản xuất…
Mỗi doanh nghiệp có đặc thù riêng nên có thể phân chia thành các trung tâm hoạt động cho phù hợp
b Tập hợp chi phí cho từng hoạt động
Theo phương pháp tính giá ABC, toàn bộ chi phí phát sinh chia ra làm làm hai loại chi phí Thứ nhất, chi phí trực tiếp là các chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng hay hoạt động thì tập hợp trực tiếp đến đối tượng hay hoạt động đó Thứ hai, chi phí gián tiếp là những chi phí như chi phí như điện, nước, lương lao động…gián tiếp liên quan đến nhiều hoạt động, do đó các chi phí này phân bổ cho các hoạt động một cách trực tiếp hay gián tiếp Nếu quy nạp một cách trực tiếp, nhà quản trị sẽ phỏng vấn nhân viên để ước tính hợp lý của nguồn lực được tiêu dùng cho mỗi hoạt động là bao nhiêu
Trang 32Nếu phân bổ gián tiếp đến từng hoạt động thì những tiêu thức phân bổ chi phí trong giai đoạn này phải được ấn định đối với từng nhóm chi phí dựa trên tiêu
chí các nguồn phát sinh chi phí Ví dụ như: chi phí lương lao động có thể
được tác động bởi thời gian mà người nhân viên sử dụng cho hoạt động này…
Xác định chi phí của từng trung tâm hoạt động bằng cách thiết lập ma trận Chi phí - Hoạt động (EDA) Theo ma trận này, các nhóm chi phí biểu diễn theo cột/hàng và các hoạt động được biểu diễn theo hàng/cột Nếu hoạt động i có sử dụng loại chi phí j, đánh dấu vào ô ij Sau đó thay thế những dấu
đã đánh bằng một tỷ lệ nhất định, tỷ lệ này được ước lượng bằng cách sử dụng một trong các phương pháp sau sao cho tổng các cột của ma trận EDA bằng 1 Có ba phương pháp được sử dụng trong việc tính toán những tỷ lệ này, có mức độ chính xác theo thứ tự từ thấp đến cao là: ước đoán, đánh giá
hệ thống và thu nhập dữ liệu thực tế
- Phương pháp ước đoán: phương pháp này được sử dụng trong
trường hợp không có số liệu thực tế hoặc chi phí bỏ ra thu thập số liệu thực tế cao Phương pháp này được thực hiện bằng cách phối hợp giữa nhà quản lý tài chính, bộ phận quản lý, các nhân viên chức năng có quan hệ trực tiếp với hoạt động Nhóm này có thể cung cấp tỷ lệ ước đoán về tỷ lệ chi phí phân bổ của phương pháp tính giá ABC Mức độ chính xác của phương pháp này dựa trên sự phối hợp giữa các bộ phận và kiến thức của họ
- Phương pháp đánh giá hệ thống: đây là một cách tiếp cận khoa học
hơn để xác định tỷ lệ chi phí bằng cách sử dụng kỹ thuật hệ thống như quá trình phân tích thứ bật (AHP- Analytic Hierarchical Process) AHP là công cụ thích hợp cho việc sử lý các ý kiến chủ quan thành những thông tin đại diện
Ví dụ như: doanh nghiệp phân bổ chi phí nhiên liệu cho 3 hoạt động là bán
hàng, phân phối, bảo trì Thông qua việc đặt câu hỏi cho những bộ phận sử dụng nguồn lực này và yêu cầu họ đánh giá về tỷ lệ nhiên liệu sử dụng trong
Trang 33thời gian nhất định, AHP cũng có thể sử dụng trong giai đoạn phân bổ chi phí
từ các hoạt động cho sản phẩm
- Phương pháp thu nhập dữ liệu thực tế: đây là phương pháp chính
xác nhất nhưng cũng tốn nhiều chi phí nhất để tính toán tỷ lệ dựa vào việc thu thập số liệu thực tế Trong hầu hết các trường hợp, các thủ tục thu thập số liệu phải được xây dựng và trang bị các thiết bị thu thập số liệu Hơn nữa, việc thu thập số liệu phải đúng thời điểm và người thu nhập số liệu phải trang bị những kỹ năng, kiến thức nhất định Kết quả thường được phân tích bằng các
công cụ thống kê Ví dụ như: lấy mẫu công việc có thể được sử dụng để ước
tính tỷ lệ thời gian giám sát việc sản xuất một sản phẩm nhất định Trong trường hợp này, cán bộ giám sát sẽ được phỏng vấn vào những thời điểm ngẫu nhiên để xác định sản phẩm đang giám sát Những thông tin cần thiết có thể có được dựa trên những dữ liệu này
Để có giá trị bằng tiền của từng hoạt động, ta áp dụng công thức sau:
Trong đó:
TCA (i) : Tổng chi phí của hoạt động i
M : Số loại chi phí Chi phí (j) : Giá trị bằng tiền của nhóm chi phí j EDA (ij) : Hệ số tỉ lệ ở ô i, j của ma trận EDA
Trang 34kết chi phí trong một hoạt động với sản phẩm, hoặc một nguồn sinh phí có thể liên kết chi phí trong một hoạt động với các hoạt động khác Nhiều lớp hoạt động có thể tồn tại, một hoạt động có thể liên quan đến hoạt động khác ngay
cả trước khi có quan hệ với sản phẩm được xác lập
Lựa chọn nguồn sinh chi phí phù hợp nhất là dựa trên mối quan hệ giữa chi phí và nguồn phát sinh chi phí cũng như dựa trên trình độ thu thập thông tin của doanh nghiệp Đây là một vấn đề rất phức tạp trong việc thực hiện phương pháp tính giá ABC Hilton (2002)9
cho rằng nên xem xét tiêu chuẩn sau đây khi chọn lựa nguồn phát sinh chi phí:
- Mức độ tương quan nhau: nguồn phát sinh chi phí phải có tương
quan mạnh mẽ với chi phí trong nhóm chi phí Thật ra, chi phí được nhóm lại cần có mức độ đồng đều cao mà cách ứng xử của nó có thể được giải thích bằng nguồn phát sinh chi phí được lựa chọn
- Đo lường chi phí: quá trình thiết kế bất kỳ một hệ thống thông tin nào
cũng cần sự tương xứng giữa Chi phí - Lợi nhuận Nhiều nhóm chi phí hoạt động sẽ gia tăng mức độ chính xác về quản trị chi phí Tuy nhiên, có nhiều nhóm chi phí cũng đòi hỏi nhiều nguồn phát sinh chi phí, kết quả là chi phí của việc thực hiện và duy trì hệ thống nhiều hơn
- Sự ảnh hưởng của cách ứng xử: hệ thống thông tin không chỉ để
phục vụ cho việc ra quyết định phù hợp mà còn ảnh hưởng từ cách ứng xử của những người ra quyết định
d Tập hợp chi phí của hoạt động cho từng đối tượng (hay nhóm đối tượng) tính giá thành
Sau khi đã xác định được nguồn phát sinh chi phí, kết hợp với dữ liệu
về mức độ tiêu dùng các hoạt động (thực chất là tiêu dùng nguồn phát sinh chi
9Nguyễn Thị Bích Lài (2010) Vận dụng phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) tại
Công ty CP may Trường Giang Quảng Nam - Đại học Đà Nẵng
Trang 35phí) của từng loại sản phẩm, chi phí sản xuất chung đã được tập hợp ở các trung tâm hoạt động sẽ được phân phối cho từng loại sản phẩm, dịch vụ Trong bước này, các hoạt động sử dụng cho từng sản phẩm được xác định và
ma trận Hoạt động - sản phẩm (APD) được lập Những hoạt động được biểu diễn theo cột còn các loại sản phẩm biểu diễn theo hàng Nếu sản phẩm i sử dụng hoạt động j, đánh dấu vào ô (ij)
Những ô đã đánh dấu được thay thế bằng một tỷ lệ được ước lượng bằng cách sử dụng một trong các phương pháp đã nêu trên Tổng các cột của
Trên cơ sở sở phân bổ chi phí sản xuất chung tập hợp theo các hoạt động cho các sản phẩm và cùng với việc tính toán, hạch toán các chi phí trực tiếp cho các sản phẩm, giá thành sản phẩm được hình thành Giá thành của sản phẩm được tính như sau :
Giá thành sản
phẩm n
Chi phí sản xuất chung phân bổ cho sản phẩm n
Chi phí sản xuất trực tiếp sản phẩm n
Trang 361.3 SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ ABC VÀ TRUYỀN THỐNG
1.3.1 So sánh phương pháp tính giá ABC và truyền thống
a Điểm giống nhau
Cả hai phương pháp đều trải qua hai giai đoạn
trung tâm chi phí
- Giai đoạn thứ hai: là phân bổ chi phí cho từng sản phẩm Điểm giống
nhau cơ bản nhất là cách tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp vào đối tượng chịu chi phí Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ở hai hệ thống này luôn được tập hợp trực tiếp ngay vào đối tượng chịu chi phí Riêng nhân công trực tiếp có phần giống nhau đó là tiêu thức phân bổ chi phí gắn liền với số lượng sản xuất, đôi khi kết hợp với định mức thời gian sản xuất sản phẩm Tuy nhiên, chi phí nhân công trực tiếp trong phương pháp tính giá ABC có phần chi tiết hơn bằng cách tập hợp các chi phí này theo các hoạt động gắn liền với chu trình làm việc trước khi tiến hành phân bổ Cả hai phương pháp tính giá đều hướng đến mục tiêu cuối cùng là giá thành sản phẩm hàng hóa tính ra phản ánh chi phí tiêu hao sản xuất hoặc mua sản phẩm hàng hóa đó
b Điểm khác nhau
Điểm khác biệt lớn nhất giữa hai hệ thống này xuất phát từ cách tập hợp và phân bổ chi phí chung đến từng đối tượng chịu phí khác nhau trong hai hệ thống như sau :
Phương pháp tính giá truyền thống
Phương pháp tính giá ABC
Đối tượng
tập hợp
chi phí
- Công việc, nhóm sản phẩm, hay nơi phát sinh chi phí:
phân xưởng, đội sản xuất, hay
- Tập hợp dựa trên hoạt động
- Chỉ có một yếu tố làm thay đổi chi phí trong hoạt động đó
Trang 37toàn doanh nghiệp
Tiêu
chuẩn
phân bổ
- Hệ thống chi phí truyền thống sử dụng rất ít tiêu thức phân bổ, chủ yếu sử dụng như: số giờ công lao động trực tiếp, số lượng đơn vị sản phẩm, số giờ máy chạy, lao động trực tiếp Trong một số trường hợp những tiêu thức này được sử dụng nhưng không có mối quan hệ với nguồn lực
- Sử dụng nhiều tiêu thức phân
bổ ở cấp độ khác nhau dựa trên mối quan hệ nhân quả giữa các hoạt động và đối tượng chịu phí Ngoài ra phương pháp này
có một số tiêu thức phân bổ khác như: số lần vận hành máy,
số lượng đơn đặt hàng của khách hàng, diện tích mặt bằng
- Giá thành được tính chính xác hơn, do vậy tin cậy trong việc
ra quyết định nhờ sử dụng linh hoạt tiêu chuẩn phân bổ
- Phù hợp với quy mô doanh nghiệp lớn, sản phẩm đa dạng, chi phí sản xuất chung chiếm
tỷ trọng cao
Trang 381.3.2 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động (ABC)
a Ưu điểm
Cùng với việc phân bổ toàn bộ các chi phí vào giá thành sản phẩm, phương pháp tính giá ABC sử dụng một hệ thống các tiêu thức phân bổ được xây dựng trên cơ sở phân tích chi tiết mối quan hệ nhân quả giữa chi phí phát sinh cho từng hoạt động và mức độ tham gia của từng hoạt động vào quá trình sản xuất và kinh doanh sản phẩm, thay vì chỉ sử dụng một tiêu thức phân bổ
(ví dụ như chi phí nhân công trực tiếp) như phương pháp truyền thống Các
tiêu thức phân bổ đó phản ánh chính xác hơn mức độ tiêu hao nguồn lực thực
tế của từng loại sản phẩm Theo đó, phương pháp tính giá ABC sẽ giúp các nhà quản lý tránh được những quyết định sai lầm do sử dụng thông tin không chính xác về giá thành như trình bày ở trên Ngoài ra, bên cạnh việc cung cấp thông tin chính xác hơn về giá thành, ABC còn cung cấp thông tin chi tiết hơn
về cơ cấu chi phí của từng loại sản phẩm, giúp cho nhà quản lý có thể linh hoạt hơn trong việc lập kế hoạch ngân sách cũng như điều chỉnh các chính sách, chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp trong điều kiện thị trường luôn biến động và cạnh tranh Như vậy, có thể thấy phương pháp tính giá ABC cung cấp thông tin giá thành chính xác và hợp lý hơn so với phương pháp kế toán chi phí truyền thống Tuy nhiên, đó chỉ là một trong những mục tiêu của của phương pháp tính giá ABC mà việc áp dụng ABC còn tạo điều kiện nâng
cao hiệu quả công tác quản lý doanh nghiệp thông qua các ứng dụng sau
Để xây dựng được hệ thống các tiêu thức phân bổ chi phí, yêu cầu đầu tiên là phải xác định được toàn bộ các hoạt động diễn ra trong doanh nghiệp trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh Bước thứ hai, doanh nghiệp cần xác định mức chi phí cho mỗi hoạt động trong từng kỳ Cuối cùng, mức đóng góp của từng hoạt động vào từng sản phẩm được xác định Với những thông tin
Trang 39chi tiết như vậy, các nhà quản lý có thể dễ dàng phân loại các hoạt động trong doanh nghiệp theo các nhóm: các hoạt động có mức đóng góp cao vào giá trị sản phẩm (high value adding activities), các hoạt động có mức đóng góp thấp (low value adding activities), và các hoạt động không đóng góp, thậm chí là nhân tố cản trở trong quá trình sản xuất kinh doanh (non-value adding activities/constraints) Trên cơ sở hiểu rõ tầm quan trọng của các hoạt động, nhà quản lý có thể đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bằng cách loại bỏ những hoạt động không có đóng góp vào giá trị sản phẩm, tổ chức lại các hoạt động có mức đóng góp thấp nhằm nâng cao hơn mức đóng góp của các hoạt động này Ngay đối với các hoạt động có mức đóng góp cao, ABC cũng cung cấp thông tin về quá trình phát sinh chi phí, nguyên nhân phát sinh chi phí cho các hoạt động, qua đó tạo cơ hội cắt giảm chi phí sản xuất kinh doanh Cần lưu ý, việc cắt giảm chi phí kinh doanh
ở đây được xét trên phạm vi tổng thể Tức là nhà quản lý có thể tăng chí phí cho một hoạt động cụ thể nào đó nhằm nâng cao mức đóng góp của hoạt động
đó vào quá trình sản xuất kinh doanh, qua đó giảm giá thành sản phẩm
Ngày nay, trong một nền kinh tế thị trường phát triển, một xu hướng khá phổ biến là việc các doanh nghiệp không còn tự mình thực hiện toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh nữa mà chỉ tập trung vào một số khâu có
hiệu quả nhất Các công đoạn khác sẽ được thuê ngoài (outsource) Ví dụ như
năm 2005 hãng sản xuất máy bay Airbus công bố outsource 70% các công đoạn trong quá trình sản xuất máy bay Để ra quyết định outsource, các doanh nghiệp cần có các thông tin chi tiết về toàn bộ các hoạt động của mình, chi phí cho từng hoạt động, vai trò của từng hoạt động trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh Trên cơ sở đó các nhà quản lý có thể xác định được các hoạt động nào không thể thuê ngoài vì lý do bảo mật công nghệ hoặc vì đó là các hoạt động có tính chất sống còn nên doanh nghiệp phải luôn chủ động kiểm
Trang 40soát, các hoạt động doanh nghiệp có lợi thế so sánh nên tự thực hiện sẽ hiệu quả hơn thuê ngoài, và các hoạt động thuê ngoài sẽ hiệu quả hơn Có thể thấy rằng phương pháp ABC cung cấp toàn bộ các thông tin này với mức độ tin cậy cao hơn nhiều so với phương pháp truyền thống
Phương pháp tính giá ABC còn cung cấp thông tin về quá trình và nguyên nhân phát sinh chi phí Việc hiểu rõ quá trình và nguyên nhân phát sinh chi phí không chỉ giúp tìm ra biện pháp thích hợp để cắt giảm chi phí mà còn giúp cho nhà quản lý có thể xây dựng được một cơ chế đánh giá và khuyến khích nhân viên một cách phù hợp, góp phần quan trọng nâng cao hiệu suất làm việc của nhân viên, qua đó cải thiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cụ thể, các thông tin do phương pháp tính giá ABC cung cấp cho phép nhà quản lý có thể thấy rõ mối liên hệ giữa ba yếu tố: chi phí phát sinh - mức độ hoạt động - mức độ đóng góp vào sản phẩm Việc hiểu
rõ mối liên hệ này sẽ làm thay đổi tư duy quản lý từ chỗ tìm cách cắt giảm chi phí sang nâng chất lượng doanh nghiệp Theo đó, một sự tăng chi phí sẽ không phải là không tốt nếu như lợi ích tăng thêm cao hơn chi phí tăng thêm,
và do đó tạo ra giá trị tăng thêm Theo phương pháp kế toán truyền thống, mối liên hệ này là không rõ ràng, theo đó các doanh nghiệp có xu hướng xây dựng cơ chế khuyến khích gắn với việc giảm chi phí, gián tiếp hạn chế các cơ hội làm tăng giá trị doanh nghiệp do nhân viên chỉ chú trọng tiết kiệm chi phí thay vì tìm cách tạo ra giá trị gia tăng Việc áp dụng phương pháp ABC sẽ cho phép doanh nghiệp có thể xây dựng một cơ chế đánh giá và khuyến khích nhân viên dựa trên mức độ tạo ra giá trị gia tăng thay vì dựa trên chí phí, qua
đó nâng cao hiệu quả hoạt động chung của doanh nghiệp
Việc áp dụng phương pháp tính giá ABC còn góp phần hỗ trợ hoạt động marketing trong việc xác định cơ cấu sản phẩm cũng như chính sách giá Đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp có nhiều mặt hàng thì việc đàm phán