1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Tạo việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở Thành phố Đà nẵng

108 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 466,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ quả tất yếu của tiến trình đó là quá trình đô thị hóa được hình thành và phát triển, tạo ra sự thay đổi không chỉ về mặt kinh tế - xã hội mà còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, tr

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả

Trần Ngọc Tú

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.2 Biến động diện tích đất đai của thành phố Đà Nẵng 362.3 Tình hình thu hồi đất nông nghiệp ở thành phố Đà Nẵng 372.4 Cơ cấu tuổi và giới tính của lao động nông nghiệp bị thu

2.5

Trình độ học vấn của lao động nông nghiệp bị thu hồi đất

2.6

Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông nghiệp

bị thu hồi đất sản xuất được điều tra ở thành phố Đà Nẵng 41

2.7 Số hộ nông nghiệp hàng năm có đất bị thu hồi ở

2.8 Tình trạng việc làm của lao động thuộc hộ bị thu hồi đất

2.9 Biến đổi việc làm của lao động nông nghiệp sau khi bị thu

2.10 Nguyên nhân lao động nông nghiệp vẫn làm nghề cũ 462.11 Lao động nông nghiệp có việc làm sau khi bị thu hồi đất

2.12 Nguyên nhân thất nghiệp của lao động nông nghiệp 57

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa HĐH) với mục tiêu chuyển nền kinh tế chủ yếu dựa trên nông nghiệp sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên công nghiệp Hệ quả tất yếu của tiến trình đó là quá trình đô thị hóa được hình thành và phát triển, tạo ra sự thay đổi không chỉ về mặt kinh tế - xã hội mà còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó đặc biệt là vấn đề tạo việc làm cho người lao động

(CNH-Thành phố Đà Nẵng cũng nằm trong tiến trình ấy, từ khi chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng đến nay (1/1/1997), thành phố Đà Nẵng đã tiến hành các chính sách lớn trong đó có việc quy hoạch, chỉnh trang đô thị, xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội của thành phố Quá trình đô thị hóa đã đem lại nhiều điều kiện thuận lợi tạo

ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của thành phố Đà Nẵng Trong giai đoạn vừa qua, đã có hàng chục ngàn hộ dân phải thực hiện di dời giải tỏa, giao đất lại cho các khu công nghiệp, khu dịch vụ, du lịch

và các khu đô thị mới Quá trình này đã có những tác động lớn đến chuyển dịch

cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của thành phố Thông qua các chính sách giải tỏa đền bù, một bộ phận lao động được thu hút vào làm việc ở các khu công nghiệp, một số hộ khác có vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh, bên cạnh đó quá trình đô thị hóa đã tạo ra ngày càng nhiều việc làm mới trong lĩnh vực phi nông nghiệp tạo điều kiện cho một bộ phận lao động trong nông nghiệp chuyển đổi ngành nghề hoặc có việc làm trong thời gian nông nhàn tạo ra thu nhập góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động

Tuy nhiên những vấn đề hậu đô thị hóa, trong đó công tác tạo việc làm cho người lao động nông nghiệp vẫn đang là vấn đề bức thiết cần được quan tâm giải quyết Công tác tạo việc làm gặp không ít khó khăn do trình độ của

Trang 6

người lao động nông nghiệp thường thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp còn nhiều hạn chế, trong khi yêu cầu của doanh nghiệp đòi hỏi cao để có khả năng thích ứng ngay với yêu cầu công việc Vấn đề tạo việc làm cho những đối tượng này để họ ổn định và nâng cao đời sống không thể một sớm một chiều là có thể giải quyết, đòi hỏi chính quyền địa phương cùng với các cơ quan chức năng phải có chính sách phù hợp, phương thức thực hiện hiệu quả.Xuất phát từ những vấn đề trên đây, khi mà quá trình ĐTH trên địa bàn thành phố Đà Nẵng vẫn còn diễn ra trên diện rộng thì việc tìm hiểu thực trạng vấn đề tạo việc làm cho lao động nông nghiệp ở thành phố Đà Nẵng vẫn là

yêu cầu cấp thiết Do đó tôi chọn vấn đề “Tạo việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên

cứu cho luận văn thạc sĩ kinh tế

2 Mục đích nghiên cứu

- Mục đích:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về lao động và việc làm của lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng, sẽ đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm tạo việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình ĐTH ở thành phố Đà Nẵng

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về việc làm, tạo việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa

+ Điều tra, khảo sát, phân tích thực trạng lao động và việc làm của lao động nông nghiệp; phân tích, đánh giá thực trạng tạo việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình ĐTH ở thành phố Đà Nẵng

+ Đề xuất những giải pháp nhằm tạo việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng

Trang 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu về lao động nông nghiệp (không nghiên cứu về lao động ngư nghiệp), quá trình đô thị hóa, việc làm và tạo việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng

- Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn chỉ nghiên cứu về vấn đề việc làm và tạo việc làm cho lao động nông, lâm nghiệp (không nghiên cứu lao động ngư nghiệp) trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2006 - 2010

4 Phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

Luận văn được nghiên cứu dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác

- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, lý thuyết kinh tế học phát triển, kinh tế lao động, việc làm, kinh tế nguồn nhân lực hiện đại

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Sử dụng phương pháp thu thập số liệu từ các nguồn có sẵn, tài liệu sơ cấp thông qua điều tra xã hội học đối tượng lao động nông nghiệp bị ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hóa, phương pháp phỏng vấn

+ Phương pháp xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu, thống kê - so sánh

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học của đề tài: đề tài góp phần bổ sung thêm một số nội

dung lý luận cơ bản về các vấn đề như lao động, việc làm, tạo việc làm và nội dung tạo việc làm, tạo việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa

- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: thông qua việc nghiên cứu lý luận và điều

tra, khảo sát, phân tích về thực trạng việc làm và công tác tạo việc làm cho lao

Trang 8

động nông nghiệp ở thành phố Đà Nẵng, đề tài đã đưa ra được nhiều giải pháp hay, mang tính khả thi cao, đồng thời cũng nêu lên được những kiến nghị cho chính quyền thành phố trong việc thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ tạo việc làm nhằm góp phần tạo việc làm, ổn định cuộc sống cho lao động nông nghiệp của thành phố trong tiến trình đô thị hóa.

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề tài gồm

Trang 9

Chương 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

1.1 Việc làm

1.1.1 Việc làm

Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các yếu tố của quá trình kinh

tế xã hội, nhân khẩu, chất lượng lao động Việc làm là một nhân tố chủ yếu nhất của toàn bộ đời sống xã hội Chính vì vậy, cho đến nay đã thu hút sự quan tâm của không ít những nhà khoa học với nhiều cách hiểu khác nhau về việc làm, do đó cũng tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về việc làm

Trước đây đã có nhiều quan niệm cho rằng, việc làm phải là những công việc yêu cầu một chuyên môn nào đó và tạo ra một thu nhập nhất định Người

có việc làm phải thuộc biên chế nhà nước hoặc làm việc trong khu vực kinh tế quốc doanh Với cách hiểu ở trạng thái tĩnh như vậy đã không bao hàm hết được tất cả những hoạt động khác có thể tạo ra thu nhập cho bản thân, gia đình người lao động và xã hội mà không bị pháp luật cấm Do đó, cũng tạo ra sự phân biệt đối xử về lao động giữa các thành phần kinh tế, không huy động được tối đa các nguồn lực lao động cho sự phát triển, đồng thời cách hiểu đó cũng giới hạn phạm vi giải quyết việc làm chỉ là trách nhiệm của Nhà nước.Nếu hiểu theo trạng thái động, trong giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế quốc dân (2008) thì khái niệm việc làm được hiểu

là “phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó” [2,

tr.256] Trạng thái phù hợp đó được thể hiện qua công thức:

∑VL = C/V

Trang 10

Trong đó: C là chi phí ban đầu như nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị, nguyên vật liệu…

V là chi phí về sức lao động

Quan hệ tỷ lệ biểu hiện sự kết hợp giữa C và V phải phù hợp với trình độ công nghệ sản xuất Khi trình độ công nghệ thay đổi, như theo hướng công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc theo hướng công nghệ sử dụng nhiều sức lao động, thì sự kết hợp giữa C và V cũng thay đổi theo Ví dụ, trong điều kiện kỹ thuật thủ công, với một đơn vị chi phí ban đầu về tư liệu sản xuất, về vốn đòi hỏi kết hợp với nhiều đơn vị sức lao động (công nghệ sử dụng nhiều lao động) Ngược lại, trong điều kiện tự động hóa, chi phí về vốn, công nghệ, thiết bị rất cao nhưng chỉ đòi hỏi một tỷ lệ thấp sức lao động (công nghệ sử dụng nhiều vốn)

Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay, việc ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất ngày càng phổ biến và mạnh mẽ, thì quan hệ tỷ lệ giữa C và V thường xuyên biến đổi Từ công thức nêu trên ta có, nếu tỷ lệ C/V = 1 cho thấy sự phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động, nghĩa là mọi người có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc đều có việc làm Nếu tỷ lệ C/V <1 cho thấy sự không phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động, lúc này là sử dụng sức lao động không hết khả năng hay lãng phí sức lao động, gây ra thiếu việc làm hoặc thất nghiệp.Trạng thái phù hợp này thể hiện ở cả mặt số lượng và chất lượng Vì vậy, tạo việc làm là một quá trình tạo ra tư liệu sản xuất (số lượng và chất lượng), sức lao động (số lượng và chất lượng) và các điều kiện kinh tế xã hội khác Quan điểm này tuy có mặt tích cực là khái quát được bản chất của việc làm nhưng nó dễ làm người ta lẫn lộn, nhầm lẫn giữa việc làm hợp pháp và không hợp pháp, nhất là trong bối cảnh nước ta hiện nay đang xuất hiện nhiều

Trang 11

hoạt động có ích cho cá nhân nào đó nhưng lại gây nguy hại cho xã hội, không được xã hội thừa nhận đã trở nên bức bách.

Theo tác giả Đặng Xuân Thao thì “việc làm là một dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho người thân, gia đình hoặc cộng đồng” [9, tr.25] Quan niệm này

hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay, một mặt, nó

mở rộng phạm vi quan niệm việc làm, tránh được tình trạng phân biệt đối xử về lao động, kích thích khơi dậy và động viên được nguồn nhân lực cho phát triển, mặt khác nó giới hạn được những hoạt động có hại cho cộng đồng, xã hội

Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về việc làm nhưng tựu chung các tác giả đều thống nhất rằng việc làm là một dạng hoạt động kinh tế - xã hội phải có đầy đủ các đặc trưng sau đây:

Thứ nhất, việc làm là hoạt động có mục đích của con người;

Thứ hai, hoạt động đó tuân thủ theo pháp luật;

Thứ ba, hoạt động đó mang lại thu nhập hoặc tạo điều kiện cho người lao

động tham gia để tạo thu nhập hoặc giảm chi phí cho gia đình và cộng đồng.Những đặc trưng trên đây cũng là nội dung cốt lõi bao quát được bản chất của việc làm được thống nhất và cụ thể hóa trong khái niệm việc làm của

Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX

thông qua tại Khoản 1, Điều 13, Chương II như sau: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [5, tr.13].

Khái niệm trên rất phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của nước ta hiện nay, nó cho thấy sự đổi mới sâu sắc trong nhận thức về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm Từ chỗ quan niệm cho rằng, giải quyết việc làm là trách nhiệm của Nhà nước và chỉ có biên chế làm việc trong cơ quan Nhà nước mới được coi là việc làm, nay đã chuyển sang nhận thức mới, mọi hoạt động tạo ra

Trang 12

thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm và giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của bản thân người lao động và toàn xã hội Quan niệm về việc làm này đã được mở rộng, tạo ra nhiều khả năng cho việc giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người và huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển.

1.1.2 Phân loại việc làm

Có nhiều cách nhìn nhận và phân loại việc làm, nhưng cơ bản là đứng trên góc độ chủ thể hoạt động của việc làm là người lao động Những hoạt động của người lao động thể hiện hình thức, tính chất, đặc điểm, yêu cầu và cả xu hướng của việc làm Việc làm vì thế có thể phân loại theo chủ thể hoạt động lao động là người lao động và chủ thể tạo việc làm trong nền kinh tế

Theo hoạt động của mỗi cá thể người lao động việc làm có thể chia ra thành: việc làm chính, việc làm phụ Việc làm chính là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất so với công việc khác Việc làm phụ là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính Trong trường hợp việc làm chính và phụ có thời gian bằng nhau thì việc làm nào có thu nhập cao hơn được xem là việc làm chính Xét về tính chất việc làm, việc làm có thể mang tính chất ổn định hay tạm thời Việc làm

ổn định trong một năm đối với người lao động có thời gian làm việc từ 6 tháng trở lên Việc làm tạm thời là những công việc dưới 6 tháng

Các nền kinh tế khác nhau có hình thức tổ chức khác nhau, nhưng thông thường phân theo các tổ chức thuộc khu vực nhà nước, khu vực doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, khu vực các tổ chức cộng đồng và khu vực có yếu tố nước ngoài Theo phân loại của cuộc điều tra thực trạng việc làm và thất nghiệp hàng năm của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội phân ra, việc làm trong các khu vực như sau [1, tr.27]:

Trang 13

- Khu vực hành chính: cơ quan tổ chức hành chính nhà nước (các cấp

bộ, ban, ngành ở trung ương, tỉnh, huyện, xã…);

- Khu vực sự nghiệp: các đơn vị sự nghiệp (Giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, truyền hình, thể thao v.v ) gồm cả công lập, bán công, tư thục và dân lập;

- Khu vực cộng đồng: các cơ quan đảng, đoàn, tổ chức chính trị, các hiệp hội;

- Khu vực sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp trong nước: các doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân;

- Khu vực hợp tác xã: hiện đang hoạt động theo luật hợp tác xã;

- Khu vực kinh tế hộ: kinh tế cá thể, hộ gia đình;

- Khu vực có yếu tố nước ngoài: việc làm trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và trong các cơ quan, tổ chức và cá nhân nước ngoài khác

1.2 Tạo việc làm và nội dung tạo việc làm

1.2.1 Tạo việc làm

Tạo việc làm là “quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động” [2, tr.261].

Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu thị trường

Thực chất của tạo việc làm cho người lao động là tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất gồm cả về chất lượng và cả số lượng Môi trường cho sự kết hợp giữa các yếu tố này là hết sức quan trọng,

nó bao gồm các chính sách, điều kiện khuyến khích người lao động cũng như người sử dụng lao động trong công việc Thị trường lao động chỉ có thể được

Trang 14

hình thành khi người lao động với người sử dụng lao động gặp gỡ trao đổi đi đến nhất trí vấn đề sử dụng sức lao động, do vậy vấn để tạo việc làm phải được nhìn nhận ở cả người lao động và người sử dụng lao động đồng thời không thể không thể kể đến vai trò của Nhà nước.

1.2.2 Nội dung tạo việc làm

Để tạo việc làm đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức cùng với các cá nhân người lao động Mỗi bên đảm nhận một chức năng, nhiệm

vụ nhất định song lại có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau để cộng tác tạo thành việc làm một cách có hiệu quả Suy cho cùng, nếu công tác tạo việc làm có hiệu quả cao thì cả ba bên đều có lợi Về phía người lao động, họ có việc làm có thể có thu nhập, ổn định cuộc sống, nâng cao vị thế của mình trong xã hội Đối với người sử dụng lao động, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động cũng là duy trì và mở rộng kinh doanh cho doanh nghiệp Còn đối với nhà nước, nếu lao động được tạo việc làm đầy đủ thì sẽ giảm thất nghiệp, từ đó giảm các khoản trợ cấp của chính phủ, tăng cường nguồn đầu tư vào các lĩnh vực khác, đặc biệt là lĩnh vực xây dựng các công trình phúc lợi, nâng cao xã hội về nhiều mặt Trên cơ sở đó, nội dung tạo việc làm cho lao động cần bao hàm các hoạt động sau:

1.2.2.1 Phát triển kinh tế tạo việc làm

Đối với mỗi nền kinh tế, việc phát triển kinh tế một cách hợp lý sẽ gắn với việc tạo ra nhiều việc làm mới nhằm góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Việc phát triển kinh tế hợp lý về cơ bản sẽ phụ thuộc vào việc tăng trưởng kinh tế hợp lý thông qua việc lựa chọn mô hình tăng trưởng kinh

tế phù hợp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và qua đó sẽ đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động Trên thực tế, việc lựa chọn mô hình tăng trưởng kinh tế phù hợp với các

Trang 15

nguồn lực của từng địa phương sẽ có những ảnh hưởng không nhỏ đến việc tạo ra ít hay nhiều việc làm mới cho người lao động Bên cạnh đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động một cách cân đối sẽ đảm bảo sự cân bằng cung - cầu lao động trong nền kinh tế, cũng như tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động trong các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ Chính vì vậy, đối với mỗi địa phương, việc phát triển kinh tế một cách hợp lý là một trong những nội dung quan trọng của công tác tạo việc làm nhằm tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động.

1.2.2.2 Hỗ trợ vốn tạo việc làm

Hỗ trợ vốn tạo việc làm là một trong những chính sách quan trọng từ phía Nhà nước Vốn đầu tư có ý nghĩa rất lớn đối với việc làm của người lao động: vốn dùng để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm máy móc thiết

bị, đào tạo đội ngũ người lao động,… Trong điều kiện hiện nay, để phát triển sản xuất đòi hỏi phải có vốn để đổi mới máy móc thiết bị, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, trên thực tế để có lợi thế doanh nghiệp phải có một nguồn vốn lớn và muốn phát triển một ngành nghề nào đó cần phải có một lượng vốn đầu tư tương ứng cho một chỗ làm mới Do đó, việc hỗ trợ vốn tạo việc làm thông qua nhiều chính sách khác nhau của Nhà nước sẽ là nhân tố quan trọng để tạo ra nhiều việc làm mới

1.2.2.3 Hỗ trợ đào tạo nghề

Thông qua chính sách giáo dục đào tạo và các đề án đào tạo nghề, chuyển đổi ngành nghề sẽ tạo điều kiện cho người lao động trang bị cho mình những kỹ năng, trình độ chuyên môn nhất định để có khả năng đáp ứng được những yêu cầu của của doanh nghiệp khi được tuyển dụng hoặc có khả năng chuyển đổi việc làm hoặc tự tạo việc làm cho bản thân người lao động khi có những điều kiện cho phép

Trang 16

1.2.2.4 Giao quyền sử dụng đất và hỗ trợ điều kiện sản xuất

Bên cạnh các chính sách hỗ trợ về vốn và hỗ trợ đào tạo nghề thì hỗ trợ cho thuê đất, giao quyền sử dụng đất lâu dài cho người lao động và thực hiện các chính sách hỗ trợ điều kiện sản xuất cho người lao động sẽ giúp cho người lao động có được tư liệu sản xuất, có điều kiện để tổ chức sản xuất, thông qua đó sẽ tự tạo việc làm cho bản thân và gia đình, đồng thời tạo ra nhiều việc làm góp phần giải quyết việc làm cho những lao động khác ở địa phương

1.2.2.5 Xuất khẩu lao động

Đối với nhiều quốc gia, với cơ cấu dân số trẻ và lực lượng lao động dồi dào thì công tác tạo việc làm cho một lực lượng lớn lao động lớn như vậy là một thách thức không nhỏ Trong điều kiện đó và trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế thì khoảng cách ranh giới giữa các quốc gia gần như đã được xóa bỏ, các nguồn lực được di chuyển thường xuyên giữa các quốc gia trong

đó có nguồn lực con người, do đó hoạt động xuất khẩu lao động giữa các quốc gia hiện nay rất sôi động, nó đã góp phần làm cân bằng cung - cầu lao động giữa các quốc gia Vì vậy, hoạt động xuất khẩu lao động được xem như

là một nội dung quan trọng trong công tác tạo việc làm ở nước ta hiện nay, thực hiện tốt hoạt động xuất khẩu lao động sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, tạo ra một nguồn thu ngoại tệ dồi dào và giảm sức ép việc làm lên nền kinh tế trong nước

1.2.2.6 Xúc tiến tạo việc làm từ doanh nghiệp

Trong các nội dung tạo việc làm thì việc xúc tiến tạo việc làm từ doanh nghiệp là một nội dung quan trọng Việc xúc tiến tạo việc làm từ doanh nghiệp thông qua các hoạt động dịch vụ, giới thiệu việc làm cho người lao động sẽ giúp người lao động và doanh nghiệp nắm bắt được những thông tin trên thị trường lao động Với vai trò là cầu nối giữa cung và cầu lao động, trên

Trang 17

cơ sở nắm vững thông tin về cầu lao động, hệ thống dịch vụ việc làm có nhiệm vụ tạo ra sự gặp nhau giữa cung và cầu lao động Việc xúc tiến tạo việc làm từ doanh nghiệp giúp cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội trong và ngoài nước, có những thông tin đầy đủ và kịp thời về thị trường đầu vào và thị trường đầu ra để không chỉ tạo ra chỗ làm việc mà còn phải duy trì

và tăng cường chỗ làm việc cho người lao động Điều đó cũng góp phần duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Để có thể duy trì sản xuất, mở rộng qui mô, nâng cao hiệu quả của sản xuất, người sử dụng lao động không chỉ cần vốn để mua hoặc thuê nhà xưởng, công nhân, máy móc, trang thiết bị, nguyên vật liệu, nhân công, mà cần thiết phải có cả kinh nghiệm tổ chức quản

lý, khả năng vận dụng linh hoạt chính sách về lao động, việc làm của nhà nước, biết quản lý một cách khoa học và nghệ thuật để không những nâng cao

sự thỏa mãn của người lao động trong công việc, thu hút, giữ chân người lao động giỏi mà vẫn đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra

1.2.3 Tiêu chí tạo việc làm

Một số tiêu chí tạo việc làm cơ bản như:

- Số lao động được tạo việc làm mới;

- Số lao động được chuyển đổi nghề và tìm được việc làm;

- Số lao động được xuất khẩu lao động;

- Số lao động được tạo việc làm thông qua các chính sách hỗ trợ từ phía chính quyền;

- Số vốn hỗ trợ cho lao động để tạo việc làm

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm

Hiệu quả của công tác tạo việc làm chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau Song với quan niệm cho rằng, chủ thể tạo việc làm bao gồm Nhà

Trang 18

nước, doanh nghiệp, cộng đồng và bản thân người lao động thì những nhân tố

cơ bản sau đây sẽ ảnh hưởng đến việc tạo việc làm cho lao động:

1.3.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế xã hội

Cầu việc làm bắt nguồn từ đòi hỏi của sản xuất, sự phát triển của nền kinh tế Sản xuất càng tăng, qui mô ngày càng mở rộng thì cầu lao động càng lớn, do đó khả năng tạo việc làm ngày càng tăng Nhưng muốn mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế cần phải dựa vào những tiền đề vật chất, đó là nhân tố tiên quyết trước hết ảnh hưởng đến tạo việc làm Trong những tiền đề vật chất, đầu tiên phải kể đến điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của một quốc gia, một vùng, một địa phương Chúng được hình thành một cách tự nhiên, ngoài ý muốn chủ quan của con người Ví dụ như điều kiện khí hậu, độ màu mỡ của đất đai, diện tích đất canh tác bình quân đầu người, trữ lượng tài nguyên thiên nhiên… của địa phương Trên thế giới, có những nước rất giàu tài nguyên, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển các ngành sản xuất, thu hút được người lao động Tuy nhiên, lại có những nước thiên nhiên không ưu đãi, tài nguyên thiên nhiên hạn hẹp, thường xuyên xảy ra thiên tai, động đất, bão lụt… gây ảnh hưởng bất lợi cho sản xuất Chính vì vậy, mỗi quốc gia, mỗi địa phương cần phải biết tận dụng các lợi thế của mình để phát triển kinh

tế, mở rộng sản xuất tạo việc làm

Bên cạnh điều kiện tự nhiên thì tình hình phát triển kinh tế xã hội cũng ảnh hưởng đến công tác tạo việc làm Đối với một quốc gia hay một địa phương việc phát triển kinh tế ổn định sẽ tạo động lực mạnh mẽ để giải quyết tốt các vấn xã hội, trong đó có vấn đề việc làm Kinh tế tăng trưởng ổn định sẽ tạo điều kiện cho thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và bền vững, cùng với đó là sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo chiều hướng tích cực Bên cạnh đó việc phát triển kinh tế xã hội ổn định sẽ giúp tạo ra nhiều việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao đời sống cho mọi người dân

Trang 19

1.3.2 Nhóm nhân tố thuộc về chính quyền

- Nhân tố chính sách

Các chính sách liên quan chặt chẽ đến hiệu quả tạo việc làm bao gồm: chính sách quản lý di cư, chính sách giáo dục - đào tạo, chính sách tiền lương, chính sách dân số… Các chính sách này không chỉ tác động trực tiếp đến quy

mô, số lượng và chất lượng nguồn lao động mà còn tác động đến số lượng và chất lượng những chỗ việc làm mới được tạo ra Ở đây có thể nêu ra tác động của một vài chính sách đến tạo việc làm như sau:

+ Chính sách tiền lương: trên thị trường lao động, mọi giá cả sức lao

động thể hiện ở tiền lương, tiền công Tuy nhiên, trong thực tế ở mức độ nào

đó Nhà nước có thể can thiệp một cách gián tiếp đến việc hình thành tiền công, tiền lương Chẳng hạn, để bảo vệ lợi ích của người lao động, Nhà nước

có thể quy định lương tối thiểu ở mức cao Với việc quy định này có thể tạo động lực khuyến khích nâng cao năng suất lao động, gia tăng sản lượng Từ

đó, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo mở nhiều việc làm mới ở khu vực kinh tế chính thức và khu vực kinh tế không chính thức góp phần giải quyết việc làm

+ Chính sách giáo dục, đào tạo: một chính sách giáo dục tốt ít nhất phải

hội tụ đủ hai tiêu chuẩn cơ bản nhất, một là cung cấp đủ số lượng lao động cho số lượng việc làm được tạo ra; hai là, cơ cấu về giáo dục đào tạo, bao gồm cơ cấu giới tính, độ tuổi, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, cơ cấu về ngành nghề đào tạo, theo vùng, theo khu vực… phải phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Do vậy, khi có một chính sách phát triển giáo dục, đào tạo tốt sẽ tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho công tác tạo việc làm Ngược lại, một chính sách giáo dục đào tạo có nhiều hạn chế, khiếm khuyết thì sẽ không chuẩn bị tốt nguồn nhân lực trên cả ba phương diện: số lượng, chất lượng và cơ cấu đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội, gây cản trở không nhỏ cho giải quyết việc làm

Trang 20

Ngoài những chính sách trên thì các chính sách như: chính sách phát triển kinh tế xã hội nông thôn, chính sách hỗ trợ vốn, chính sách quản lý di dân… cũng là tác nhân mạnh mẽ đến hiệu quả tạo việc làm cho người lao động.

- Nhân tố lựa chọn mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế và lựa chọn công nghệ:

Ở phương diện lý thuyết, lựa chọn mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tức là nghiên cứu lựa chọn cách thức khai thác và sử dụng các nguồn lực: vốn, khoa học, công nghệ, lao động, tài nguyên thiên nhiên Do đó, nền kinh tế khai thác và sử dụng ít hay nhiều lao động là do sự lựa chọn mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế quyết định Điều này cũng có nghĩa, việc sử dụng nhiều hay ít lao động cho quá trình sản xuất phụ thuộc vào cơ cấu kết hợp các nguồn lực, nhu cầu sử dụng các nguồn lực và khả năng thay thế lẫn nhau giữa nguồn lực lao động với các nguồn lực khác

Nếu nền kinh tế có quá ít vốn đầu tư vào sản xuất thì nguồn lực lao động

sẽ ứ đọng, không có tiền đề vật chất để hoạt động, khi đầu tư nhiều vốn vào sản xuất thì nâng cao khả năng thu hút lao động Nếu lựa chọn mô hình tăng trưởng kinh tế sử dụng công nghệ cao thì cần nhiều vốn nhưng nhu cầu về số lượng lao động lại ít Trong thực tế, không có một mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách tuyệt đối, với việc sử dụng ít vốn, công nghệ cao,

sử dụng nhiều lao động, tiêu tốn ít tài nguyên mà có năng suất cao Vì thế, đối với một quốc gia, một nền kinh tế, tùy theo điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà xác định những mục tiêu cần ưu tiên để lựa chọn một mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế cho phù hợp

Đối với việc lựa chọn công nghệ cho mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế thì lựa chọn công nghệ càng hiện đại, mức độ tự động hóa cao, cần nhiều vốn sẽ làm giảm chỗ làm việc năng suất thấp và tăng chỗ làm việc có chất lượng, năng suất cao cần lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật Do

Trang 21

đó, việc lựa chọn công nghệ hiện đại tác động đến tạo việc làm thông qua cầu lao động, theo hai hướng khác nhau:

+ Giảm cầu lao động, nhất là cầu lao động có trình độ thấp, tăng nguy cơ thất nghiêp

+ Tăng cầu lao động, khi công nghệ càng cao năng suất lao động tăng, chi phí lao động giảm, tức là lợi nhuận tăng, nâng cao được quy mô tích lũy vốn tạo điều kiện mở rộng sản xuất, tạo ra nhiều chỗ việc làm mới, tạo điều kiện thuận lợi cho giải quyết việc làm

Do vậy, hiệu quả của công tác tạo việc làm phụ thuộc rất lớn vào công nghệ được lựa chọn có phù hợp với số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn lao động hay không Những điều trên đây hàm ý rằng, trong quá trình ĐTH, thì việc lựa chọn công nghệ theo xu hướng HĐH là tất yếu, song cũng phải lấy đặc điểm nguồn lao động làm căn cứ cơ bản để quyết định lựa chọn công nghệ sản xuất phù hợp sao cho vừa hạn chế được thất nghiệp, tăng chỗ làm, vừa tăng năng suất lao động, tiết kiệm được tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên đây là một thách thức không nhỏ đối với những nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý

1.3.3 Nhóm nhân tố thuộc về người lao động

Đặc điểm của người lao động bao gồm đặc điểm về nhân khẩu (độ tuổi, giới tính, dân tộc, quy mô và kiểu hộ gia đình, tình trạng hôn nhân…), đặc điểm về giáo dục (học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề), đặc điểm về kinh tế (mức sống, thu nhập, quy mô và thói quen chi tiêu, nhà ở, tài sản…), đặc điểm về văn hóa, lối sống, phong tục, tập quán, tác phong lao động, khả năng thiết lập các mối quan hệ làm ăn, thái độ tích cực, sự năng động và niềm tin của bản thân người lao động về khả năng tìm kiếm việc làm… Do đó, những nhân tố thuộc về người lao động không chỉ quyết định khả năng tham gia và thực hiện các giao dịch trên thị trường lao động của bản

Trang 22

thân người lao động mà còn là căn cứ để những nhà hoạch định chính sách phát triển kinh tế lựa chọn mô hình tăng trưởng kinh tế ở tầm vĩ mô, là căn cứ

để người sử dụng lao động đưa ra những quyết định sản xuất kinh doanh hiệu quả Như vậy, những nhân tố thuộc về người lao động ảnh hưởng lớn đến thách thức sử dụng nguồn lao động, tạo việc làm

Những đặc điểm của người lao động thể hiện như trên là những nhân tố cấu thành nên chất lượng nguồn lao động Ở nước ta hiện nay, số lượng lao động dồi dào nhưng chất lượng lao động còn thấp chưa đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng lao động của quá trình CNH, HĐH Tình trạng dư thừa lao động, thiếu việc làm, thất nghiệp với tỷ lệ cao ở khía cạnh nào đó là một trong những nguyên nhân cản trở quá trình CNH, HĐH Bên cạnh đó, do chất lượng nguồn nhân lực thấp, năng suất lao động và thu nhập hầu hết chỉ đủ để nuôi bản thân nên nhu cầu việc làm thêm cũng như việc làm mới tốt hơn tăng lên đáng kể, gây áp lực cho kinh tế - xã hội Hơn nữa, thu nhập thấp cũng là

lý do cản trở việc tham gia các chương trình giáo dục, đào tạo và chăm sóc sức khỏe cho người lao động Vì vậy việc cải thiện chất lượng nguồn lao động

ở nước ta hiện nay là một thách thức không nhỏ

1.4 Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến việc làm cho lao động nông nghiệp

Trang 23

Do trình độ phát triển khác nhau mà hiện nay trên thế giới ở mỗi nước khác nhau có những tiêu thức khác nhau về đô thị, có những tiêu chuẩn định lượng và định tính khác nhau để phân biệt thành thị và nông thôn.

Ở Việt Nam, ngày 5/5/1990 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định

số 132/HĐBT và nghị định số 72/2001/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 5/10/2001 quy định về phân loại đô thị và phân cấp đô thị Theo đó, điểm dân

cư gọi là đô thị phải có các chỉ tiêu cơ bản sau:

Là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, huyện hoặc một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện

Quy mô dân số (nội thị) tối thiểu là 4.000 - 6.000 người, con số này có thể thấp hơn ở các vùng núi

Mật độ dân cư (nội thị) cao hơn vùng nông thôn và được xác định theo từng loại đô thị, tối thiểu có mật độ là 2.000 người/km2

Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật như giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống cấp thoát nước, và các công trình công cộng phục vụ khu dân cư đô thị từng phần hoặc đồng bộ

Có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm 60% trở lên trong tổng số lao động của nội thị

- Đô thị hóa: khái niệm, đặc trưng

Thuật ngữ đô thị hóa (ĐTH) đã xuất hiện từ thời cổ đại, nó gắn liền với việc thừa nhận ngày càng phổ biến vai trò và tầm quan trọng của các đô thị đối đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ĐTH là quá trình kinh tế - xã hội, lịch sử mang tính quy luật trên quy mô toàn cầu Ngày nay, ĐTH chứa đựng nhiều vấn đề phức tạp với nhiều hiện tượng và biểu hiện dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau của xã hội hiện đại Do đó, nó là đối tượng nghiên

Trang 24

cứu của không ít các ngành khoa học trong nổ lực xây dựng các cơ sở khoa học cho việc quy hoạch, phát triển và quản lý đô thị Theo đó cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về ĐTH.

Theo cách tiếp cận của nhân khẩu học và địa lý kinh tế thì ĐTH chính là

sự di cư từ nông thôn vào thành thị, chỉ sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là các đô thị Đó cũng là quá trình gia tăng tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân số của một quốc gia Với cách tiếp cận này thì dường như tỷ lệ phần trăm dân số đô thị trên tổng dân số là chỉ tiêu duy nhất để đo lường mức độ ĐTH Và vì vậy, nó sẽ không thể giải thích được hết tầm quang trọng và vai trò của ĐTH cũng như ảnh hưởng của

nó đến sự phát triển kinh tế - xã hội hiện tại

Theo cách tiếp cận xã hội học, ĐTH được hiểu rộng hơn, đó là “quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của nhân loại; là sự thay đổi những phương thức hay hình thức cư trú của nhân loại’’ [4, tr.80] Điều này có ý

nghĩa là ĐTH không chỉ thay đổi phương thức sản xuất, tiến hành các hoạt động kinh tế mà còn là sự thay đổi lớn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội và cá nhân, trong đó các quan hệ xã hội, các mô hình hành vi và ứng

xử tương ứng với điều kiện sống CNH, ĐTH và HĐH

Theo quan điểm một vùng, ĐTH là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị

Theo quan điểm nền kinh tế Quốc dân, “ĐTH là quá trình biến đổi về sự phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất, bố trí dân cư những vùng không phải

là đô thị thành đô thị’’ [10].

Tuy có nhiều cách tiếp cận với nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm ĐTH, song ngày nay khi mà ĐTH gắn liền với CNH đang diễn ra mạnh mẽ và phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới thì cách hiểu ĐTH là quá trình mang tính quy luật gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội từ

Trang 25

nông nghiệp - nông dân - nông thôn sang công nghiệp - thị dân - đô thị ngày càng phổ biến Quá trình ĐTH là quá trình CNH đất nước, đồng thời cũng là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc… biến nông thôn thành thành thị, hay nói cách khác đô thị hóa là quá trình biến các làng quê với hoạt động nông nghiệp là chủ yếu thành các đô thị với các hoạt động phi nông nghiệp là chủ yếu, xóa bỏ dần thói quen của những người nông dân, xây dựng phong cách, thói quen và lối sống của người dân trong các đô thị Do

đó, quá trình ĐTH có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Một là, ĐTH không phải là kết quả mà là một quá trình lâu dài diễn ra

trên một không gian lãnh thổ rộng lớn

Hai là, tiền đề cơ bản của ĐTH là sự phát triển công nghiệp hay CNH,

HĐH Bởi lẽ, trong quá trình ĐTH có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ

Ba là, ĐTH là quá trình hình thành, nâng cấp và mở rộng quy mô đô thị

với cơ sở hạ tầng hiện đại

Bốn là, các làn sóng di cư nông thôn - đô thị làm tăng nhanh quy mô dân

số đô thị, chuyển từ lối sống phân tán - mật độ dân số thưa sang lối sống tập trung - mật độ dân số cao, dẫn đến sự bố trí lại dân cư, thay đổi cơ cấu giai cấp, phân tầng xã hội

Năm là, không gian đô thị ngày càng mở rộng và cùng với nó là sự thu

hẹp đất nông nghiệp để nhường chỗ cho các khu công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch, khu đô thị mới

Sáu là, tốc độ và quy mô hội tụ kinh tế đô thị ngày càng tăng, thể hiện ở

tốc độ và quy mô thu hút vốn đầu tư, số lượng và quy mô các đơn vị kinh tế,

Trang 26

Bảy là, chuyển đổi từ lối sống nông thôn sang lối sống đô thị, từ ván

hóa làng, xã sang văn hóa đô thị, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp

Tám là, cùng với quá trình ĐTH là sự đổi mới cơ chế, chính sách phát

triển và quản lý đô thị

Ngoài những đặc trưng chung nói trên, quá trình ĐTH ở Việt Nam trong lịch sử có một đặc trưng rất nổi bật gắn liền với đặc điểm của một nước nông nghiệp truyền thống, đó là ĐTH có tính chất không điển hình Tính chất không điển hình này có nguồn gốc từ sự tồn tại, đan xen, hòa trộn giữa nông thôn và thành thị ở mọi phương diện, từ không gian địa lý, cơ sở hạ tầng, dân

cư, tôn giáo, văn hóa đến các hoạt động nông nghiệp với phong cách, nếp sống làng, xã truyền thống ngày nay vẫn đang còn hiện hữu ngay trong lòng hầu hết các đô thị Việt Nam

Mức độ ĐTH (hay còn gọi là trình độ ĐTH) gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội Về mặt lý thuyết mức độ ĐTH thường được đo lường bằng các tiêu chí sau:

Mức độ tập trung dân số: mật độ dân số, quy mô dân số và tỷ trọng dân

số trong khu vực đô thị

Tỷ lệ phần trăm (%) lực lượng lao động phi nông nghiệp

Mức độ hiện đại của cơ sở hạ tầng

Tỷ lệ phần trăm (%) kinh tế phi nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế đô thị.Vai trò trung tâm hành chính, văn hóa, chính trị, kinh tế tại các vùng lãnh thổ

Tuy nhiên, trong thực tế vì không có đủ các thông tin chi tiết cần thiết để xác định và đo lường mức độ ĐTH, phân loại đô thị Thông thường để đo lường mức độ ĐTH và phân loại chính thức dựa vào các tiêu chí cơ bản như quy mô và mật độ dân số đô thị

Trang 27

và có chất lượng thì phải gắn liền với quá trình CNH, HĐH, trước tiên là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ngay tại các đô thị.

1.4.2 Những đặc điểm của lao động nông nghiệp ảnh hưởng đến tạo việc làm trong quá trình đô thị hóa

Lao động hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nông nghiệp được coi là lao động nông nghiệp Tuy nhiên, nông nghiệp là một ngành sản xuất rộng lớn với nhiều đặc trưng riêng do vậy mà lao động nông nghiệp cũng

có những đặc điểm riêng, đặc biệt là trong quá trình ĐTH, chính những đặc điểm riêng này có ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề tạo việc làm cho đối tượng này

Lao động nông nghiệp có những đặc điểm rất khác so với lao động trong các ngành khác Về đặc điểm nhân khẩu: độ tuổi của lao động nông nghiệp cao, lao động nữ chiếm tỷ trọng lớn; đặc điểm về giáo dục: lao động nông nghiệp có trình độ học vấn thấp, trình độ chuyên môn, kỹ thuật rất hạn chế; đặc điểm về kinh tế: lao động nông nghiệp có mức sống và thu nhập thấp; về văn hóa, lối sống, phong tục, tập quán: lao động nông nghiệp thường gắn với lối sống, phong tục, tập quán gắn với nền nông nghiệp lạc hậu, tác phong lao động mang nặng tính nông nghiệp; khả năng thiết lập các mối quan hệ làm ăn,

sự năng động và niềm tin của bản thân người lao động về khả năng tìm kiếm,

Trang 28

chuyển đổi việc làm rất hạn chế Những đặc điểm cơ bản trên đây của lao động nông nghiệp cho thấy trong quá trình ĐTH, đây là đối tượng phải chịu nhiều ảnh hưởng của quá trình này trên nhiều mặt, trong đó có vấn đề việc làm Vấn đề tạo việc làm cho đối tượng này trong quá trình ĐTH sẽ gặp không ít khó khăn, chính vì vậy sau quá trình ĐTH, số lao động thất nghiệp thường rơi vào những đối tượng này do họ có nhiều hạn chế trong việc chuyển đổi ngành nghề, cũng như tạo việc làm mới cho họ.

Một đặc điểm đáng lưu ý của lao động nông nghiệp là mọi hoạt động lao động, sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp đều gắn liền với đối tượng cây trồng, vật nuôi - là những cơ thể sống với những đặc điểm riêng biệt, không thể xóa bỏ, làm cho lao động nông nghiệp mang sắc thái riêng, không giống với lao động trong một số ngành kinh tế khác Đặc biệt là tính chất thời vụ của lao động nông nghiệp, làm cho lao động nông nghiệp lúc thì căng thẳng, lúc lại nhàn rỗi; tình trạng thiếu việc làm tạm thời là khá phổ biến Với đặc điểm này, quá trình ĐTH lại tạo ra những hiệu ứng tích cực, trên góc độ việc làm quá trình ĐTH tạo ra không ít việc làm tạm thời trong lĩnh vực phi nông nghiệp qua đó sẽ góp phần tạo ra nhiều việc làm tạm thời cho lao động nông nghiệp trong thời gian nông nhàn

1.4.3 Tác động của đô thị hóa đến việc làm cho lao động nông nghiệp

Tác động tích cực, đô thị hóa tạo mở nhiều việc làm mới

- Đô thị hóa mở ra nhiều việc làm trong các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Để tiến hành đô thị hóa đòi hỏi phải thúc đẩy xây dựng, cải

tạo, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật với việc hình thành các khu công nghiệp, khu du lịch, thương mại, khu đô thị mới ngày càng hiện đại Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại sẽ kích thích gia tăng hội tụ các nguồn lực đầu tư cho sản xuất thúc đẩy hoạt động kinh tế phi nông nghiệp diễn ra ngày càng sôi động, đa dạng hóa và phát triển các ngành nghề công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ,

Trang 29

… đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, đô thị hóa từ đó mở nhiều việc làm mới trong công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ Qua

đó, quá trình này sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, đặc biệt là đối với lao động nghèo và lao động nông nghiệp trong quá trình ĐTH

- Đô thị hóa mở rộng khả năng tự tạo việc làm và tìm kiếm việc làm của người lao động Khả năng tự tạo việc làm và tìm kiếm việc làm của người lao

động được mở rộng chủ yếu là do trình độ người lao động được nâng cao Trước yêu cầu trình độ lao động ngày càng cao và áp lực về việc làm do dân

số, lao động hội tụ ngày càng đông ở khu vực đô thị, một bộ phận lao động trong đó có bộ phận không nhỏ lao động nông nghiệp, nhất là lao động trẻ buộc phải tự trang bị cho mình một trình độ kỹ thuật chuyên môn nhất định hoặc được hỗ trợ đào tạo từ các phía Nhà nước Do đó, quá trình đô thị hóa tự phát sẽ hướng một bộ phận lao động tham gia vào các chương trình giáo dục, đào tạo nghề Đồng thời cùng với quá trình đô thị hóa là việc chuyển biến nhận thức về dân số và kế hoạch hóa gia đình Sự chuyển biến này thể hiện qua việc chuyển mô hình từ đại gia đình nhiều thế hệ, đông con của xã hội nông thôn truyền thống, sang mô hình gia đình ít con theo kiểu đô thị Vì vậy, người lao động và người thân trong gia đình có điều kiện thuận lợi hơn về thời gian, tiền bạc, công sức,… để ưu tiên đầu tư cho giáo dục, đào tạo, nâng cao trình độ lao động, vừa làm giảm áp lực về nhu cầu giải quyết việc làm hiện tại ở đô thị vừa nâng cao khả năng tự tạo việc làm hoặc tìm kiếm việc làm trong tương lai cho bản thân và con em họ

- Đô thị hóa làm tăng chỗ việc làm do quy hoạch mở rộng không gian đô thị, cải tạo, nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế Để tiến hành đô thị hóa

đòi hỏi phải quy hoạch, mở rộng không gian đô thị, cải tạo, nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế Theo đó, nhiều việc làm tạm thời trong lĩnh vực xây dựng và dịch vụ nhỏ được tạo ra như phụ hồ, công nhân cầu đường, xe

Trang 30

thồ, thợ xây, … Với sự xuất hiện của những chỗ làm tạm thời này sẽ góp phần tạo ra việc làm cho không ít lao động nông nghiệp trong diện thu hồi đất sản xuất, lao động nông nghiệp trong thời gian nông nhàn, lao động chân tay, không có trình độ chuyên môn kỹ thuật,…

- Đô thị hóa tạo mở nhiều việc làm trong khu vực kinh tế không chính thức Đô thị hóa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập và mức sống

của cư dân đô thị làm nảy sinh các nhu cầu ngày càng cao về vật chất và tinh thần Để đáp ứng các nhu cầu đó đòi hỏi sản xuất và dịch vụ phải được mở rộng, kéo theo sự phát triển đa dạng các ngành nghề, tạo ra nhiều việc làm mới Trong đó, đáng chú ý là sự hình thành và phát triển một cách tự phát khu vực kinh tế không chính thức với những hoạt động kinh tế quy mô nhỏ, không đăng ký, không đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật như bán hàng rong, các dịch vụ nhỏ, buôn bán nhỏ tại nhà, giúp việc gia đình, lao động tự do,… Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế không chính thức trong quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra nhiều việc làm tạm góp phần giải quyết việc làm cho một lực lượng không nhỏ không có tay nghề, lao động nhập cư, lao động nông nghiệp thuộc diện thu hồi đất sản xuất, lao động nông nghiệp trong thời gian nông nhàn…

- Ngoài ra đô thị hóa còn thúc đẩy các chương trình CNH, HĐH ở khu vực nông thôn, đặc biệt là sự phát triển công nghiệp chế biến và đa dạng hóa các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Từ đó, thu hút một bộ phận lao động nông nhàn, lao động dư thừa từ nông nghiệp vào làm việc ở khu vực nông thôn

Tác động tiêu cực, ở góc độ việc làm, đô thị hóa có thể làm gia tăng tình trạng thất nghiệp:

- Đô thị hóa làm cho một bộ phận người lao động, trong đó có một bộ phận lao động nông nghiệp sẽ rơi vào tình trạng thất nghiệp do sự tác động của quá trình đô thị hóa Quy hoạch sử dụng đất theo hướng chuyển đổi mục

Trang 31

đích sử dụng từ phục vụ sản xuất nông nghiệp sang phục vụ sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ và quy hoạch chỉnh trang đô thị trong quá trình

đô thị hóa sẽ làm xuất hiện một bộ phận không nhỏ những người lao động thuộc diện thu hồi đất sản xuất (đất sản xuất nông nghiệp và mặt bàn sản xuất, kinh doanh các ngành nghề phi nông nghiệp) mất việc hoặc buộc phải chuyển đổi việc làm Đối với nông dân bị thu hồi đất sản xuất để xây dựng các khu công nghiệp, thương mại, du lịch, các khu đô thị mới thì coi như mất tư liệu sản xuất, không còn kế sinh nhai Đại đa số họ có trình độ thấp, không có tay nghề, không có vốn để tụ tổ chức việc làm Hơn nữa, do cách nghĩ, cách làm, lối sống của họ còn mang nặng sắc thái văn hóa nông thôn, làng xã truyền thống nên rất hạn chế trong khả năng thiết lập các mối quan hệ công ăn, việc làm, khả năng tiếp cận các dịch vụ việc làm, khả năng hội nhập với cuộc sống

đô thị, khả năng thích ứng kịp thời với sự biến động nhanh chóng của quá trình đô thị hóa, khi mà, bỗng chốc họ đã trở thành những cư dân đô thị sau những quyết định hành chính mở rộng ranh giới, không gian đô thị của chính quyền Những vấn đề trên đây đã cản trở nhóm dân cư này trong việc tìm kiếm cơ hội chuyển đổi việc làm mới, biến họ trở thành những người thất nghiệp ngay chính trên quê hương mình

- Bên cạnh đó, việc thực hiện di dời giải tỏa, thay đổi nơi cư trú có thể làm cho người lao động khó khăn hơn trong việc tự tạo việc làm, chuyển đổi việc làm và tìm kiếm việc làm, đặc biệt là đối với một bộ phận lao động nông nghiệp và lao động nghèo Trong quá trình đô thị hóa sẽ xuất hiện một bộ

phận người lao động bị tách rời khỏi môi trường sống và các mối quan hệ làm

ăn quen thuộc nên bị ảnh hưởng tiêu cực đến việc làm và thu nhập Bên cạnh

đó, sự xa cách về địa lý so với nơi ở cũ cũng gây bất tiện cho một số lao động trong việc tiếp tục làm việc ở các đơn vị kinh tế tư nhân, làm nông, ngư nghiệp,… như cũ Những vấn đề trên đây là nguyên nhân của việc xuất hiện hiện tượng có không ít người lao động cố gắng quay về địa bàn cũ để làm ăn,

Trang 32

vì vậy gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý đô thị nói chung và quản lý lao động - việc làm nói riêng.

1.4.4 Ý nghĩa của việc tạo việc làm trong quá trình đô thị hóa.

Trong quá trình đô thị hóa, việc tạo ra nhiều việc làm mới sẽ mang lại nhiều ý nghĩa tích cực cả về nhiều mặt qua đó thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Thể hiện qua các ý nghĩa cơ bản sau:

- Tạo ra nhiều việc làm mới nhằm góp phần giải quyết việc làm, tạo kế sinh nhai cho một bộ phận lao động và nhất là đối với bộ phận lao động nghèo và lao động nông nghiệp bị ảnh hưởng trong quá trình ĐTH Việc làm

và thu nhập là yêu cầu đầu tiên của mọi người dân, nhất là đối với cư dân đô thị khi mà hàng ngày mọi nhu cầu chi tiêu của họ luôn phụ thuộc vào mức thu nhập và sự biến động của giá cả thị trường Vì vậy, nhu cầu chi tiêu của thị dân thường cao hơn so với nhu cầu chi tiêu của người dân ở khu vực nông thôn Đặc biệt là đối với những lao động nông nghiệp trước đây bây giờ trở thành cư dân đô thị thì áp lực về việc làm và thu nhập đối với họ càng nặng nề hơn so với trước khi bị di dời giải tỏa Đây là vấn đề nan giải đang tạo áp lực rất lớn đối với các cấp chính quyền, một bộ phận người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp vừa chuyển đổi sang Do đó, việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động trong quá trình ĐTH là rất cần thiết

- Góp phần làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động, nhất là đối với những lao động nghèo và lao động nông nghiệp trong quá trình ĐTH, góp phần thực hiện công bằng xã hội.

Quá trình ĐTH thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng nhanh chỗ việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, qua đó tạo thu nhập, cải thiện đời sống cho những đối tượng này Bên cạnh đó, quá trình ĐTH ở nước ta diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển dần cơ chế thị trường đã làm phân cực mạnh mẽ về mức sống, thu

Trang 33

nhập giữa các nhóm dân cư trong khu vực đô thị ĐTH đã mở ra nhiều cơ hội cho những người có kiến thức, biết nắm bắt cơ hội và nhất là những người giàu có, khá giả Ngược lại, những người nông dân mất đất, lao động nghèo không có vốn, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật thấp, hạn chế trong khả năng thiết lập các mối quan hệ xã hội thì cơ hội để học nghề, chuyển đổi nghề

và tham gia vào thị trường lao động sẽ rất ít, do đó cái nghèo khó vẫn đeo bám họ và khả năng tiếp cận các nguồn lực do quá trình ĐTH mang lại cũng kém đi tạo ra sự bất bình đẳng và phân cực về mức sống Do đó, giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động trong quá trình ĐTH không chỉ tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho một bộ phận những lao động nghèo và lao động nông nghiệp - đối tượng nhạy cảm với những tác động của ĐTH mà còn góp phần thực hiện công bằng xã hội

- Góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở đô thị, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH.

Giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động không chỉ thúc đẩy và tạo điều kiện cho những người lao động có trình độ thấp tích cực

tự đào tạo, trao dồi kỹ năng, nghề nghiệp mà còn nâng cao mức sống cho họ Khi mức sống nâng lên thì sức khỏe của người lao động được cải thiện, nhận thức của họ về dân số, kế hoạch hóa gia đình cũng có những thay đổi tích cực Với mô hình gia đình ít con theo kiểu đô thị, họ sẽ thuận lợi hơn về thời gian, tiền bạc, thông tin, khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng… để đầu tư nhiều hơn cho việc học hành, đào tạo nghề của bản thân và người thân nhằm đáp ứng yêu cầu về chất lượng nguồn lao động ngày càng cao trong quá trình đô thị hóa

Song song với quá trình ĐTH là quá trình CNH nên chỗ làm trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ ngày càng được tạo ra nhiều hơn, điều đó sẽ thu hút một bộ phận lao động nông nghiệp và lao động nghèo chuyển đổi nghề và

Trang 34

tìm kiếm cho mình một công việc thích hợp trong các ngành này Thông qua việc tạo ra nhiều việc làm này sẽ tạo ra nhiều hiệu ứng tích cực, chất lượng nguồn nhân lực sẽ được nâng lên, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tiến bộ, qua đó sẽ cho phép tận dụng khai thác tối đa các lợi thế và các nguồn lực ở đô thị Việc tập trung sử dụng tối đa các nguồn lực hội tụ ở đô thị sẽ tạo điều kiện cho công nghiệp, thương mại, dịch vụ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Do vậy,

có một mối quan hệ rất chặt chẽ giữa giải quyết việc làm, đặc biệt là tạo việc làm, chuyển đổi ngành nghề cho lao động bị tác động bởi quá trình đô thị hóa với tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Giải quyết tốt vấn đề việc làm ở đô thị trong quá trình ĐTH sẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, ngược lại khi cơ cấu kinh tế chuyển dịch thì sẽ kéo theo sự chuyển dịch

cơ cấu việc làm, cơ cấu lao động

- Tạo việc làm cho lao động không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn

có ý nghĩa về mặt xã hội.

Nếu không có việc làm, thất nghiệp sẽ tăng, đó là nguồn gốc của các tệ nạn xã hội như: trộm cắp, cờ bạc, ma túy…Bên cạnh đó, tạo việc làm không những góp phần đẩy lùi được các tệ nạn xã hội mà còn có thể kích thích người lao động sáng tạo, thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy xã hội phát triển, đảm bảo công bằng xã hội

Vấn đề tạo việc làm cho lao động là vấn đề cần thiết trong mọi thời kỳ, đặc biệt đối với đối tượng lao động nghèo và lao động nông nghiệp bị ảnh hưởng trong quá trình đô thị hóa thì vấn đề này càng trở nên bức thiết vì họ là những người có trình độ chuyên môn thấp, khả năng tìm việc làm và chuyển đổi nghề nghiệp thường thấp hơn so với các đối tượng khác

Trong quá trình đô thị hóa, nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các công trình đô thị phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại

Trang 35

hóa Do đó, hàng nghìn hộ nông dân kéo theo hàng vạn nhân khẩu nông nghiệp mất tư liệu sản xuất dẫn tới mất việc làm, cuộc sống và thu nhập của

họ gặp không ít khó khăn Một bộ phận nông dân có kiến thức, có trình độ đã chủ động mở mang các ngành nghề, dịch vụ, phát triển tiểu thủ công nghiệp… tạo việc làm và có cuộc sống ổn định Song bên cạnh đó còn rất nhiều hộ còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế do họ không bắt kịp với cơ chế thị trường, trình độ thấp, không có nghề, hay tuổi đời cao…họ gặp phải nhiều khó khăn trong việc tìm và tạo việc làm mới Do hạn chế về văn hóa và nhận thức, nếu như lực lượng này không được tạo việc làm, không có thu nhập để trang trải cuộc sống, cộng với việc có nhiều thời gian rảnh rỗi thì

họ dễ bị lôi kéo, dụ dỗ vào các hoạt động phi pháp như trộm cắp, cướp giật,

ma túy, cờ bạc…Vì vậy, tạo việc làm cho những lao động này cũng chính là biện pháp làm giảm tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo trật tự an ninh xã hội, môi trường sống xã hội sẽ trở nên tốt hơn

Như vậy, vấn đề tạo việc làm cho người lao động trong quá trình ĐTH là

vô cùng cần thiết vì nó không chỉ làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, mà còn góp phần làm ổn định xã hội, giảm thất nghiệp và các tệ nạn xã hội, đồng thời cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo đúng hướng

đó là tăng tỉ trọng lao động trong ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỉ trọng lao động trong ngành nông nghiệp

Kết luận chương 1

Lao động nông nghiệp là một trong những nguồn lực quan trọng của quốc gia Chính vì vậy, việc tạo việc làm, chuyển đổi ngành nghề phù hợp cho bộ phận lao động này có ý nghĩa hết sức quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi đất nước ta đang trong tiến trình CNH, HĐH đất nước và cùng với đó là quá trình ĐTH đang diễn ra với tốc độ nhanh và quy mô lớn Tạo việc làm cho lao động nông nghiệp là cách khai thác hiệu quả nguồn lực

Trang 36

con người, nguồn lực lao động to lớn phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, của đất nước

Trong công tác tạo việc làm cho lao động nông nghiệp cần chú ý đến các đặc điểm cơ bản của lao động nông nghiệp để thực hiện các nội dung tạo việc làm cho các đối tượng này một cách phù hợp và có hiệu quả nhất Đồng thời cần nhận thức rõ các nhân tố tác động ảnh hưởng tới công tác tạo việc làm cho lao động nông nghiệp để phát huy, khai thác mặt mạnh, tích cực, đồng thời hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực và những tác động xấu

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG

NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở

Đà Nẵng là thành phố có nền công nghiệp mạnh, dịch vụ du lịch, văn hóa, y

tế phát triển, đời sống cư dân khá, an ninh chính trị ổn định

Đà Nẵng có 6 quận và 2 huyện, có bờ biển dài 92 km; có cảng biển quan trọng của miền Trung và các nước Đông Bắc Á, là cửa ngõ ra Biển Đông, là đầu mối trong hệ thống đường xuyên Á trong hành lang kinh tế Đông Tây; có tiềm năng du lịch gắn kết với các di sản văn hóa, thiên nhiên thế giới ở các tỉnh lân cận, có sân bay quốc tế; có tài nguyên thiên nhiên và nhân văn, tất cả

đã tạo cho Đà Nẵng có vị thế đặc biệt của vùng kinh tế trọng điểm khu vực miền Trung và đóng vai trò chiến lược quan trọng về an ninh quốc phòng của

cả nước

Từ khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc trung ương (năm 1997), được công nhận đô thị loại 1 cấp quốc gia, là thành phố thuộc khu vực kinh tế trọng điểm miền Trung và được Bộ chính trị ra nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển Thành phố trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đà Nẵng đã biết khai thác tiềm năng và lợi thế, xác định cơ cấu phát triển kinh tế theo hướng Công nghiệp - Dịch vụ - Nông lâm thủy sản, có nhiều chính sách thích hợp kêu gọi đầu tư để đẩy mạnh phát triển, cùng với đó là

Trang 38

triển khai đồng bộ nhiều dự án về chỉnh trang đô thị, phát triển cơ sở hạ tầng

đô thị, xây dựng khu dân cư, khu đô thị mới, xây dựng khu công nghiệp để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế tạo mở nhiều việc làm mới cho người lao động, đời sống nhân dân được nâng cao, bộ mặt đô thị khang trang Các vấn

đề xã hội được giải quyết hiệu quả, được xem là điển hình của cả nước, như chương trình thành phố ‘‘5 không, 3 có”

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy, Đà Nẵng đã trở thành điểm đến thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đầu tư phát triển trong các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, du lịch

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội:

Trong những năm qua Đà Nẵng đã đạt được nhiều thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, đời sống tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện Tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng bình quân 11%/năm, GDP bình quân đầu người nâng lên rõ rệt, năm 2010 đạt 33,2 triệu đồng, gấp 2,2 lần năm 2005 và bằng 1,6 lần mức bình quân chung cả nước

Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp, phù hợp với nghị quyết Đại hội XX và nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị Tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP năm 2010 đạt 50,5% ; công nghiệp - xây dựng đạt 46,4% và nông nghiệp: 3,0% Cơ cấu lao động chuyển biến tích cực, đến năm 2010, tỷ lệ lao động nông nghiệp (thủy sản - nông - lâm) còn 9,6%, lao động công nghiệp: 35,1%, dịch vụ: 55,3%

Bảng 2.1: Cơ cấu GDP theo khu vực [3]

Trang 39

Bên sự chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý thì chất lượng nguồn nhân lực của thành phố ngày càng được cải thiện cả về số lượng, chất lượng Trình

độ của người lao động trên địa bàn thành phố ngày càng được nâng cao hơn Tính đến năm 1/1/2010, lực lượng lao động của thành phố là 442.818 người, trong đó tỷ lệ lao động đã qua đào tạo là 50%, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề

là 37%, năm 2010 thành phố giải quyết việc làm cho hơn 32.000 lao động, qua đó làm giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp của thành phố xuống còn 4,90% [6] Cùng với sự phát triển nhanh chóng kinh tế thì các vấn đề xã hội của thành phố được giải quyết hiệu quả, được xem là điển hình của cả nước, đời sống dân cư Đà Nẵng ngày càng được nâng lên đáng kể

Những thành tựu kinh tế - xã hội của thành phố trong giai đoạn vừa qua

là kết quả của nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội hợp lý của thành phố, trong đó có sự đóng góp quan trọng của quá trình ĐTH và các chính sách quy hoạch chỉnh trang đô thị của thành phố Quá trình đó, đã tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế - xã hội trong đó có vấn đề việc làm, quá trình ĐTH đã có tác động tích cực thúc đẩy thị trường lao động phát triển, cơ cấu lại lực lượng lao động, nâng cao chất lượng nguồn lao động, tạo môi trường thuận lợi và nhiều cơ hội việc làm cho người lao động Tuy nhiên quá trình ĐTH cũng tác động tiêu cực đến việc làm cho một bộ phận lao động nhất là những lao động nghèo và lao động làm việc trong ngành nông nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

2.2 Kết quả thực hiện tạo việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng

2.2.1 Quá trình đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng

Trong thời kỳ 1997 - 2010, do sự tác động mạnh của quá trình đô thị hóa làm cơ cấu đất đai của thành phố Đà Nẵng có nhiều thay đổi

Trang 40

Bảng 2.2: Biến động diện tích đất đai của thành phố Đà Nẵng [8]

Đất lâm nghiệp

Đất phi nông nghiệp

Nguồn: Sở tài nguyên - môi trường thành phố Đà Nẵng năm 2010

Với đặc điểm về điều kiện tự nhiên của thành phố Đà Nẵng, có thể thấy rằng diện tích đất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của kinh tế hộ ở Đà Nẵng là rất ít, lại phân bố nhiều thửa nhỏ, manh mún, phân tán, có không ít đất nông nghiệp phân bố xen lẫn trong các khu dân cư đô thị (như ở các quận Thanh Khê, Liên Chiểu, Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn) nên việc thực hiện dồn điền đổi thửa rất khó khăn gây ảnh hưởng đến việc áp dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đầu tư phát triển các vùng chuyên canh theo hướng công nghiệp hóa Vì vậy, trong giai đoạn vừa qua chính quyền thành phố đã có chủ trương chuyển đổi mục đích sử dụng của các loại đất này nhằm phục vụ cho công cuộc đẩy nhanh ĐTH Qua bảng số liệu trên có thể thấy rằng quá trình ĐTH đã làm diện tích đất nông nghiệp giảm mạnh, năm 1997 tại thời điểm vừa chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thì diện tích đất nông nghiệp của thành phố Đà Nẵng là 12.880 ha nhưng hiện nay chỉ còn khoảng 7.773,20 ha, diện tích đất nông nghiệp năm 2010 đã giảm đi gần 40% so với năm 1997 Nhất là trong giai đoạn 2006 - 2010 vừa qua diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi do quá trình ĐTH là rất lớn, thể hiện qua bảng dưới đây:

Bảng 2.3: Tình hình thu hồi đất nông nghiệp ở thành phố Đà Nẵng

giai đoạn 2006 – 2010 [8]

Ngày đăng: 18/11/2017, 14:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.4: Cơ cấu tuổi và giới tính của lao động nông nghiệp - Tạo việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở Thành phố Đà nẵng
Bảng 2.4 Cơ cấu tuổi và giới tính của lao động nông nghiệp (Trang 42)
Bảng 2.6: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông nghiệp - Tạo việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở Thành phố Đà nẵng
Bảng 2.6 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông nghiệp (Trang 45)
Bảng 2.8: Tình trạng việc làm của lao động thuộc hộ bị thu hồi đất sau - Tạo việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở Thành phố Đà nẵng
Bảng 2.8 Tình trạng việc làm của lao động thuộc hộ bị thu hồi đất sau (Trang 47)
Bảng 2.9: Biến đổi tình trạng việc làm của lao động nông nghiệp - Tạo việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở Thành phố Đà nẵng
Bảng 2.9 Biến đổi tình trạng việc làm của lao động nông nghiệp (Trang 49)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w