ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG CÙ DUY DƯƠNG TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG DO CƠ QUAN TÀI CHÍNH VÀ KHO BẠC NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
CÙ DUY DƯƠNG
TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
TP ĐÀ NẴNG DO CƠ QUAN TÀI CHÍNH VÀ KHO BẠC NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
CÙ DUY DƯƠNG
TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
TP ĐÀ NẴNG DO CƠ QUAN TÀI CHÍNH VÀ
KHO BẠC NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐƯỜNG NGUYỄN HƯNG
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các s ố liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công b ố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của luận văn 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHI NGÂN SÁCH VÀ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 7
1.1 KHÁI NIỆM NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 7
1.1.1 Ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nước 7
1.1.2 Bản chất, vai trò, đặc điểm chi ngân sách nhà nước 8
1.1.3 Phân loại đơn vị hành chính sự nghiệp 10
1.1.4 Đặc điểm đơn vị hành chính sự nghiệp 12
1.2 KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 14
1.2.1 Kiểm soát trong quản lý và các loại hình kiểm soát 14
1.2.2 Kiểm soát chi ngân sách nhà nước và những nhân tố ảnh hưởng 19 1.2.3 Sự cần thiết phải kiểm soát chi ngân sách nhà nước 23
1.2.4 Yêu cầu đối với công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước 25
1.2.5 Nội dung kiểm soát chi NSNN trong đơn vị hành chính sự nghiệp 26
Trang 5chủ thể kiểm soát 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP THUỘC UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TỪ NĂM 2007 -2011 40
2.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP THUỘC UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 40
2.1.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007 - 2011 tác động đến tình hình chi ngân sách thành phố Đà Nẵng 40 2.1.2 Những đặc trưng cơ bản về hoạt động của các đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc UBND thành phố Đà Nẵng 42
2.2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP THUỘC UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 52
2.2.1 Hệ thống định mức phân bổ chi ngân sách trong các đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc UBND thành phố Đà Nẵng 52
2.2.2 Kiểm soát lập dự toán chi ngân sách nhà nước 55
2.2.3 Kiểm soát chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước 67
2.2.4 Kiểm soát công tác kế toán và quyết toán chi ngân sách nhà nước 73
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH CỦA CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP THUỘC UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 79
2.3.1 Kết quả đạt được về kiểm soát chi ngân sách nhà nước trong đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc UBND thành phố Đà Nẵng 79
Trang 6vị hành chính sự nghiệp 81
2.4 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP THUỘC UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 87
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP THUỘC UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 88
3.1 ĐỊNH HƯỚNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP THUỘC UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 88
3.2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 91
3.2.1 Những ưu điểm 91
3.2.2 Những nhược điểm 94
3.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 96
3.3 CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP THUỘC UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 99
3.3.1 Hoàn thiện trách nhiệm và quyền hạn của các cấp trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước 99
3.3.2 Xây dựng quy trình kiểm soát chi ngân sách nhà nước trong đơn vị hành chính sự nghiệp 102
Trang 7và xây dựng bộ phận kiểm soát chi chuyên trách và quy chế kiểm tra, kiểm soát chi NSNN trong đơn vị hành chính sự nghiệp 106 3.3.4 Tăng cường kiểm soát chi tiêu công qua Kho bạc Nhà nước 111 3.3.5 Tăng cường công tác thanh tra tài chính trong đơn vị hành chính
sự nghiệp 116 3.3.6 Tăng cường kiểm soát quá trình chấp hành kỷ luật tài chính trong đơn vị hành chính sự nghiệp 118 3.3.7 Tăng cường ứng dụng tin học vào công tác kiểm soát chi ngân sách 120 3.4 KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 122 3.4.1 Kiến nghị với Kho bạc Nhà nước và Sở Tài chính thành phố 122 3.4.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính 124 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 125
KẾT LUẬN 127 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 9Số hiệu bảng Tên bảng Trang
2.1 Một số chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế của
thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007 - 2011 41 2.2
Thống kê trình độ cán bộ tài chính - kế toán Quý II/2011 của các đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc UBND thành phố Đà Nẵng
65
2.5
Cơ cấu các khoản chi thường xuyên của đơn vị HCSN thuộc UBND thành phố Đà Nẵng năm 2010 - 2011
69
2.6
Kiểm soát kinh phí chi thường xuyên các đơn vị HCSN thuộc UBND thành phố Đà Nẵng năm 2010 - 2011
Trang 10Số hiệu sơ đồ Tên sơ đồ Trang 1.1 Chi ngân sách cơ quan hành chính 11 1.2 Chi ngân sách đơn vị sự nghiệp 12 1.3 Mô hình đơn vị dự toán các cấp 13
2.1 Bộ máy tổ chức Sở Văn hóa – Thể Thao &
2.2 Bộ máy tổ chức kế toán các đơn vị HCSN 51
2.3 Quy trình thẩm định chi ngân sách của cơ
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình chuyển sang nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng một cách có hiệu quả các công cụ, chính sách tài chính, tiền tệ, đặc biệt là chính sách thu, chi NSNN Điều này góp phần khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường thông qua việc sử dụng bàn tay hữu hình, chủ yếu là chính sách tài chính nhằm điều tiết nền kinh tế có hiệu quả Mặt khác thông qua sử dụng các công cụ này mới có thể quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, động viên toàn bộ nguồn lực để phát triển KT-XH, đáp ứng yêu cầu của cuộc đổi mới đất nước
Trong bối cảnh chung của đất nước, thành phố Đà Nẵng những năm qua
đã đạt được những thành tựu to lớn về KT-XH, bộ mặt đô thị loại I ngày càng được nâng cao đổi mới Tuy nhiên, thực trạng hiện nay công tác chi ngân sách của thành phố vẫn còn nhiều hạn chế Hiệu quả các khoản chi ngân sách còn thấp, chi đầu tư còn dàn trải, thiếu tập trung dẫn đến hiệu quả đầu tư chưa cao, gây lãng phí; chi thường xuyên còn vượt dự toán, dự toán chi ngân sách hàng năm của một số đơn vị đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng vẫn phát sinh các khoản chi bổ sung ngoài dự toán ngược lại một số cơ quan hành chính dự toán chi ngân sách đã được phê duyệt nhưng quá trình sử dụng lại không hiệu quả phải thu hồi nộp ngân sách Điều này thường làm bị động trong quá trình điều hành ngân sách thành phố, phá vỡ kế hoạch giao đầu năm Công tác chấp hành dự toán, quyết toán chi ngân sách một số đơn vị sử dụng kinh phí không đúng mục đích đã được phê duyệt trong dự toán Chính
vì vậy cần phải có công tác kiểm soát chi đối với các đơn vị nhằm đảm bảo các khoản chi đúng mục đích, tránh lãng phí và tổn thất trong quá trình quản
lý ngân sách nhà nước
Trang 12Việc tăng cường kiểm tra, kiểm soát chi NSNN có kết quả sẽ giúp cho việc quản lý NSNN được hiệu quả cao hơn Chi đúng mục đích, đúng chế độ quy định, giúp cho công tác quản lý tránh được những sai sót Đồng thời quan trọng hơn là cung cấp thông tin chính xác, tin cậy cho các nhà lãnh đạo, quản
lý nắm được nhu cầu sát đúng để xây dựng dự toán chi cho năm ngân sách tiếp theo được tốt hơn
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tăng cường kiểm soát chi ngân sách nhà nước trong đơn vị hành chính sự nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng do cơ quan Tài chính và kho bạc nhà nước thực hiện” là nhằm góp phần giải quyết
vấn đề cấp bách nói trên
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Vận dụng lý luận về ngân sách nhà nước, kiểm soát chi ngân sách nhà nước để phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước của thành phố Đà Nẵng Từ đó đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường kiểm soát chi NSNN của thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Khái quát lại những lý luận cơ bản về ngân sách nhà nước, kiểm soát chi ngân sách nhà nước
+ Khảo sát, phân tích thực trạng kiểm soát chi ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2007 đến 2011
+ Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản
lý chi NSNN của Thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở kiểm soát chi ngân sách nhà nước trong
cơ quan hành chính sự nghiệp sử dụng ngân sách thuộc UBND thành phố Đà Nẵng từ năm 2007 đến 2011 (vì số liệu năm 2012 theo quy định là chưa được công bố) Chủ thể kiểm soát chủ yếu của đề tài này là cơ quan Tài chính và
Trang 13Kho bạc nhà nước TP Đà Nẵng Việc chọn mẫu các đơn vị hành chính sự nghiệp là các Sở, ban, ngành thuộc UBND TP Đà Nẵng quản lý về ngân sách
4 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu: vận dụng các phương pháp chung, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp so sánh, khái quát hóa vấn
đề, bảng biểu minh họa
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu kham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chi ngân sách và kiểm soát chi ngân
sách nhà nước trong đơn vị hành chính sự nghiệp
Chương 2: Thực trạng kiểm soát chi ngân sách nhà nước trong đơn vị
hành chính sự nghiệp thuộc UBND thành phố Đà Nẵng từ năm 2007 - 2011
Chương 3: Định hướng và các giải pháp tăng cường kiểm soát chi ngân sách
nhà nước trong đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc UBND thành phố Đà Nẵng
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trong chu trình quản lý chi NSNN, việc thiết lập một cơ chế kiểm soát chi NSNN khoa học, hợp lý nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi NSNN cũng có vai trò quan trọng góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, khi nguồn thu ngân sách còn nhiều hạn chế thì việc kiểm soát chặt chẽ các khoản chi nhằm đảm bảo các khoản chi được sử dụng đúng, tiết kiệm
và hiệu quả là rất quan trọng
Việc nghiên cứu công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước trong các đơn vị hành chính sự nghiệp ở nước ta trong những năm qua có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ quan trung ương và địa phương, nhưng từ khi có quy định của chính phủ về chế độ tự chủ, tự chịu
Trang 14trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các
cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập thì công tác kiểm tra, kiểm soát nói chung và kiểm tra, kiểm soát chi NSNN nói riêng luôn là một khâu quan trọng và cần thiết trong công tác quản lý chi tiêu NSNN ở các đơn vị hành chính sự nghiệp
Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế quản lý mới, nhà nước kiểm soát nền kinh tế bằng luật pháp, đặc biệt là việc kiểm soát chi ngân sách nhà nước Cùng với các công cuộc cải cách nền kinh tế thì Luật NSNN ra đời năm 1996 [12] Tuy nhiên qua 6 năm thực hiện, Luật NSNN dần dần bộc lộ nhược điểm và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới, giai đoạn mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới Vì vậy, từ ngày 12 tháng 11 đến ngày 16 tháng 12 năm 2002, kỳ họp thứ hai, khóa XI, Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật NSNN [13] nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới Chính phủ ban hành Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 [70] quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN, cùng với việc ban hành Luật NSNN và Nghị định, Bộ Tài chính ban hành thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 Việc nghiên cứu đề tài kiểm soát chi ngân sách nhà nước trong đơn vị hành chính sự nghiệp này, Tác giả tập trung vào các thông tư hướng dẫn về kiểm soát chi đối với đơn vị hành chính sự nghiệp như : Thông tư số 18/2006/TT-BTC ngày 13/3/2006 [1] về việc hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các cơ quan nhà nước thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính, thông
tư số 81/2006/TT-BTC ngày 06/9/2006 [3] về việc hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu
Trang 15trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính
Về đề tài nghiên cứu quản lý, kiểm soát chi ngân sách nhà nước trong những năm qua cũng có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ quan trung ương và địa phương như:
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước Quảng Bình” của tác giả Đào Hoàng Liên, năm 2010 Đề tài này đã nghiên cứu thực trạng công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Quảng Bình, theo yêu cầu đổi mới công tác quản lý ngân sách nhà nước để đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước đáp ứng được yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý, điều hành ngân sách nhà nước, phù hợp với quá trình cải cách hành chính công, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại TP
Đà Nẵng” của tác giả Ngô Thị Bích, năm 2010 Đề tài này đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chi tiêu NSNN, những quy định về quản lý chi tiêu NSNN trên cơ sở Luật ngân sách nhà nước, các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ Tài chính có liên quan; Phân tích thực trạng về quản lý chi NSNN của thành phố Đà Nẵng; Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN của thành phố Đà Nẵng trong những năm đến
- Luận văn thạc sĩ “Kiểm soát công tác lập, chấp hành dự toán chi ngân sách tại các cơ quan hành chính thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Bích Thủy, năm 2012 Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là thực trạng kiểm soát lập, chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước tại các cơ quan hành chính thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng Phạm
vi nghiên cứu giới hạn ở kiểm soát công tác lập dự toán chi ngân sách năm
2012 tại các cơ quan hành chính do Sở Tài chính thành phố Đà Nẵng thực hiện và kiểm soát công tác chấp hành dự toán chi ngân sách Nhà nước do Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng thực hiện Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên
Trang 16cứu sau: Phương pháp phỏng vấn, quan sát nghiên cứu hồ sơ tài liệu để khảo sát thực trạng vấn đề nghiên cứu từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện
Điều đó cho thấy việc tác giả nghiên cứu đề tài “Tăng cường kiểm soát chi ngân sách nhà nước trong đơn vị hành chính sự nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng do cơ quan Tài chính và kho bạc nhà nước thực hiện” là vấn đề mới đang đặt
ra, vừa khó khăn, đòi hỏi phải nghiên cứu những điều kiện đặc thù của thành phố để góp phần tăng tính hiệu quả quản lý chi ngân sách
Luận văn xác định được ý nghĩa quan trọng của công tác kiểm soát chi ngân sách trong lĩnh vực hành chính sự nghiệp hiện nay thông qua việc phân tích những cơ sở lý luận về quản lý chi NSNN và kiểm soát chi NSNN, các loại hình kiểm soát chi NSNN trong đơn vị hành chính sự nghiệp và các nhân
tố ảnh hưởng đến kiểm soát chi NSNN đối với các đơn vị HCSN
- Tìm ra được những ưu điểm, đặc biệt là các hạn chế của công tác quản lý
và kiểm soát chi NSNN trong các đơn vị HCSN (từ năm 2007-2011) thuộc UBND thành phố Đà Nẵng để từ đó rút ra những kinh nghiệm và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác kiểm soát chi NSNN đối với các đơn vị HCSN, góp phần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, thất thoát ngân sách và thực hiện có hiệu quả các chỉ tiêu kinh tế - xã hội trong những năm đến
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là công tác kiểm soát lập, chấp hành dự toán, quyết toán chi ngân sách nhà nước tại các đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc UBND thành phố Đà Nẵng Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở kiểm soát công tác lập dự toán chi ngân sách nhà nước tại các đơn vị HCSN
do Sở Tài chính thành phố Đà Nẵng thực hiện, kiểm soát công tác chấp hành
dự toán chi ngân sách Nhà nước do Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng thực hiện và kiểm soát công tác quyết toán chi ngân sách Nhà nước do Sở Tài chính thành phố Đà Nẵng thực hiện
Trang 17CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHI NGÂN SÁCH VÀ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG
ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 1.1 KHÁI NIỆM NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP
1.1.1 Ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước (NSNN), hay ngân sách chính phủ, là một thành phần trong hệ thống tài chính Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa
về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia Luật Ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội Việt Nam thông qua năm 1996 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của quốc gia trong
dự toán đã được cơ quan chính phủ có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của chính phủ [12,tr.1]
Nhưng phổ biến và chính thống nhất hiện nay là theo Luật Ngân sách năm 2002 có quy định: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [13,tr.1]
Chi NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng các nguồn lực tài chính tập trung vào việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của
Trang 18Nhà nước Chi NSNN có quy mô rộng và mức độ rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương, nhiều cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm trang trải cho các chi phí của nhà nước để thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận theo các nguyên tắc và trong từng thời kỳ nhất định là một năm Chi NSNN gồm có 02 quá trình: Quá trình phân phối và quá trình sử dụng NSNN Quá trình phân phối là quá trình cung cấp vốn từ NSNN để hình thành các loại quỹ khác nhau trước khi đưa số vốn đó vào sử dụng Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng các khoản từ NSNN cho các mục đích đã định như: trực tiếp dùng mua sắm các hàng hóa, dịch vụ, trả lương …Quá trình sử dụng NSNN có thể khái quát thành chu trình gồm lập dự toán NSNN, chấp hành NSNN và quyết toán NSNN
Để đảm bảo cho mọi khoản chi tiêu của NSNN đúng mục đích, có hiệu quả, Nhà nước nào cũng cần phải quan tâm đến quản lý chi NSNN Quản lý chi NSNN là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc hoạch định và tổ chức thực hiện, giám sát quá trình sử dụng ngân sách cho mục đích chi tiêu của nhà nước theo những yêu cầu nhất định, trong từng thời
kỳ nhất định
1.1.2 Bản chất, vai trò, đặc điểm chi ngân sách nhà nước
a Bản chất chi ngân sách nhà nước
Là hệ thống những quan hệ phân phối lại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện chức năng tăng trưởng kinh tế, mở mang các sự nghiệp văn hóa, xã hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước và bảo đảm an ninh, quốc phòng
b Vai trò chi ngân sách nhà nước
Mỗi cơ chế kinh tế đều có đặc điểm riêng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước, đồng thời ảnh hưởng đến
Trang 19việc Nhà nước sử dụng các công cụ nào đó đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội Do đó chi ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong tất cả các lĩnh vực của một quốc gia, thể hiện như sau:
- Th ứ nhất; Chi ngân sách cung cấp phương tiện tài chính cho sự tồn tại
và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước
- Th ứ hai; Chi ngân sách là một trong những công cụ quan trọng để Nhà
nước thực hiện quản lý vĩ mô nền kinh tế
Vai trò của chi ngân sách nhà nước khi được xem xét trên từng lĩnh vực
cụ thể nó sẽ được phát huy ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào mục đích cần đạt được khi sử dụng ngân sách tác động vào việc thực hiện các mục tiêu đó
c Đặc điểm chi ngân sách nhà nước
Chi NSNN có những đặc điểm chủ chốt sau:
+ Chi NSNN gắn liền với các hoạt động của bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước
+ Các khoản chi NSNN gắn với quyền lực nhà nước, mang tính chất pháp lý cao
+ Các khoản chi NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp
+ Các khoản chi NSNN thường được xem xét hiệu quả ở tầm vĩ mô, nghĩa là được xem xét một cách toàn diện dựa vào mức độ hoàn thành của khoản chi đó trên các chỉ tiêu kinh tế, xã hội mà Nhà nước đề ra trong từng thời kỳ
+ Các khoản chi NSNN có ảnh hưởng chặt chẽ tới mọi mặt của xã hội, như tiền lương, giá cả, tỷ giá v.v…
d Phân loại chi ngân sách nhà nước
Có nhiều tiêu thức để phân loại:
+ Theo chức năng nhiệm vụ, chi ngân sách nhà nước gồm:
Trang 20* Chi đầu tư phát triển kinh tế và kết cấu hạ tầng, trong đó phần lớn là xây dựng cơ bản, khấu hao tài sản xã hội
* Chi bảo đảm xã hội, bao gồm: giáo dục, y tế, công tác dân số, khoa học
và công nghệ, văn hóa, thông tin đại chúng, thể thao, lương hưu và trợ cấp xã hội, các khoản liên quan đến can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh
tế, quản lý hành chính, an ninh, quốc phòng, các khoản chi khác, dự trữ tài chính, trả nợ vay nước ngoài, lãi vay nước ngoài
+ Theo đối tượng thì chi NSNN được chia thành: chi đầu tư, chi thường xuyên và chi khác
+ Theo mục đích kinh tế thì chi NSNN được chia thành chi tiêu dùng và chi đầu tư phát triển
1.1.3 Phân loại đơn vị hành chính sự nghiệp
Căn cứ vào chức năng hoạt động, bao gồm các đơn vị như sau:
- Cơ quan hành chính thuần tuý: như các các cơ quan công quyền, cơ quan quản lý kinh tế, xã hội … (các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND…)
- Đơn vị sự nghiệp (sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp y tế…)
- Các tổ chức, đoàn thể xã hội (các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội…)
Căn cứ vào việc phân cấp tài chính: Các đơn vị dự toán được chia làm 3 cấp
- Đơn vị dự toán cấp I: là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách năm
do các cấp chính quyền giao, phân bổ ngân sách cho các đơn vị dự toán cấp dưới; chịu trách nhiệm về việc tổ chức, thực hiện quản lý kinh phí của cấp mình và các đơn vị trực thuộc
- Đơn vị dự toán cấp II: Là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp I và là
đơn vị có nhiệm vụ nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp I và phân
Trang 21bổ ngân sách cho đơn vị dự toán cấp III và có trách nhiệm về việc tổ chức, thực hiện công tác quản lý kinh phí của cấp mình và đơn vị dự toán cấp dưới
- Đơn vị dự toán cấp III: Là đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng kinh phí
nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp II hoặc cấp I (nếu không có cấp II) có trách nhiệm về việc tổ chức, thực hiện công tác quản lý kinh phí của cấp mình và đơn vị dự toán cấp dưới (nếu có)
Từ trước đến nay chúng ta vẫn thường gọi chung đơn vị HCSN, tuy nhiên trên thực tế tồn tại hai loại hình đơn vị là cơ quan hành chính nhà nước
và đơn vị sự nghiệp công lập
Cơ quan hành chính Nhà nước là cơ quan công quyền trong bộ máy quản
lý nhà nước được nhà nước đảm bảo 100% kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước với biên chế do nhà nước giao Do đó chi hành chính là các khoản chi cho các cơ quan nêu trên, chi hành chính từ ngân sách là khoản chi quan trọng để đảm bảo duy trì hoạt động thường xuyên liên tục của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp từ Trung ương đến địa phương theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Chi ngân sách cơ quan hành chính Đơn vị sự nghiệp có thu công lập được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập để thực hịên các hoạt động sự nghiệp nhằm cung cấp các dịch vụ
Tòa án nhân dân các cấp, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp
VP HĐND,
VP UBND, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
VP HĐND và UBND, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các quận, huyện, thị xã, TP trực thuộc tỉnh và
TP trực thuộc trung ương
CHI HÀNH CHÍNH HƯỞNG KINH PHÍ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Trang 22công trong các lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo, Y tế, Văn hóa, Thể dục Thể thao,
sự nghiệp kinh tế …chủ yếu hoạt động bằng nguồn ngân sách nhà nước cấp
và trong quá trình hoạt động được nhà nước cho phép thu để trang trải một phần hoặc toàn bộ chi phí thường xuyên không vì mục đích lợi nhuận
Sơ đồ 1.2 Chi ngân sách đơn vị sự nghiệp Đơn vị sự nghiệp có thu công lập bao gồm 03 mô hình như sau:
a) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động)
b) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn
vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động)
c) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ (gọi tắt
là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động)
1.1.4 Đặc điểm đơn vị hành chính sự nghiệp
Đơn vị HCSN hoạt động theo dự toán được cấp có thẩm quyền giao và được NSNN cấp toàn bộ hoặc một phần dự toán được duyệt Hoạt động của các đơn vị HCSN phong phú, đa dạng mang tính chất phục vụ, hầu hết không
có thu hoặc có thu nhưng chỉ đáp ứng một phần các nhu cầu chi, các hoạt
CHI SỰ NGHIỆP TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
tế (Chăm sóc sức khỏe ND
Chi sự nghiệp văn hóa thông tin
Chi sự nghiệp Khoa học Công nghệ
Chi sự nghiệp thể dục thể thao
Chi sự nghiệp nông lâm ngư nghiệp
Chi sự nghiệp khác
Trang 23động chủ yếu được trang trải bằng nguồn kinh phí của NSNN Các đơn vị HCSN trong cùng một ngành theo hệ thống dọc được chia thành các đơn vị
dự toán các cấp như sau:
Quan hệ trực tiếp với cấp ngân sách
Quan hệ gián tiếp với cấp ngân sách
Sơ đồ 1.3 Mô hình đơn vị dự toán các cấp Nội dung chi hành chính sự nghiệp bao gồm:
- Các khoản chi thanh toán cho cá nhân: Tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, các khoản đóng góp theo lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể và các khoản thanh toán khác cho cá nhân theo quy định;
- Chi thanh toán dịch vụ công cộng, chi phí thuê mướn, chi vật tư văn phòng, thông tin, tuyên truyền, liên lạc;
- Chi hội nghị, công tác phí trong nước, chi các đoàn đi công tác nước ngoài và đón các đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam;
- Các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn;
- Các khoản chi đặc thù của ngành, chi may sắm trang phục (theo quy định của cơ quan có thẩm quyền);
Đơn vị dự toán cấp I Đơn vị dự toán cấp II Đơn vị dự toán cấp III Đơn vị dự toán (dưới cấp III) Cấp ngân sách (Trung ương, tỉnh,
huyện)
Trang 24- Chi mua sắm tài sản, trang thiết bị, phương tiện, vật tư, sửa chữa thường xuyên tài sản cố định;
- Các khoản chi có tính chất thường xuyên khác;
- Các khoản chi phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí theo quy định; Ngoài ra đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, ngoài các khoản trên còn
có thêm các khoản sau:
- Chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ, kể cả chi nộp thuế, trích khấu hao TSCĐ…
1.2 KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP
1.2.1 Kiểm soát trong quản lý và các loại hình kiểm soát
a Kiểm soát trong quản lý
Kiểm soát là một chức năng của quản lý Hoạt động quản lý của một tổ chức có thể chia thành nhiều chức năng, song có thể khái quát gồm 4 chức năng: hoạch định, tổ chức, điều hành và kiểm soát Trong khi tiến hành hoạch định, tổ chức, điều hành quá trình tác nghiệp tại đơn vị vẫn có thể có nhiều sự
cố xảy ra do những nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan Vì vậy hoạt động kiểm soát được thực hiện nhằm đảm bảo cho quá trình tác nghiệp được tiến hành theo như kế hoạch ban đầu, điều chỉnh kịp thời các sai lệch trong quá trình hoạt động Như vậy kiểm soát là một hoạt động vô cùng quan trọng trong công tác quản lý
Kiểm soát không phải là một giai đoạn hay một pha của quá trình quản
lý mà nó được thể hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình này Do đó kiểm soát được quan niệm là một chức năng của quản lý Trong mọi trường hợp để đảm bảo hiệu quả hoạt động, tất yếu mỗi đơn vị cơ sở đều tự kiểm tra hoạt động của mình trong tất cả các khâu: rà soát các tiềm năng, xem xét lại các dự báo, các mục tiêu và định mức, đối chiếu và truy tìm các thông số về sự kết
Trang 25hợp, soát xét lại các thông tin thực hiện để điều chỉnh kịp thời trên quan điểm đảm bảo hiệu năng của mọi nguồn lực và hiệu quả kinh tế cuối cùng của các hoạt động Công việc rà soát này có tên gọi là kiểm soát
Tham gia quá trình quản lý, kiểm soát phải tuân thủ theo quy trình 3 bước:
- Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn dựa trên cơ sở những mục tiêu quản lý
Hệ thống tiêu chuẩn là cơ sở pháp lý và kỹ thuật của hoạt động kiểm soát, đó
là những chuẩn mực mà người ta dùng đối chiếu, xem xét kết quả hay quá trình tác nghiệp Có nhiều dạng tiêu chuẩn khác nhau được thiết lập và đánh giá, đo lường mức độ thực hiện công việc, có thể căn cứ vào chất lượng và số lượng công việc, căn cứ và đánh giá của các chuyên gia hay của các cơ quan thanh tra, kiểm tra mà cho phép phát hiện sớm những sai lệch trong quá trình tác nghiệp Từ đó có thể kịp thời đưa ra những biện pháp chấn chỉnh thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra
- Đo lường việc thực hiện theo những tiêu chuẩn đã được xây dựng Bước này người quản lý sẽ nhận được các thông tin về đối tượng quản lý của mình Từ những thông tin phản hồi về đánh giá kết quả của quá trình thực thi nhiệm vụ đã đề ra với những người điều hành, để các nhà điều hành có các điều chỉnh cần thiết cho quá trình tác nghiệp, tuân thủ theo ý chí của mình hay mục tiêu của hệ thống
- Dựa trên những thông tin thu thập được ở bước thứ hai, người quản lý điều chỉnh các sai lệch trong việc thực hiện các công việc và đưa ra những quyết định phù hợp với thực tế và tương lai
b Các loại hình kiểm soát
Về loại hình kiểm soát có thể được phân thành nhiều loại khác nhau dựa trên các tiêu thức khác nhau như mục tiêu kiểm soát, nội dung kiểm soát, phương thức thực hiện, thời điểm thực hiện Hoạt động kiểm soát có thể chia
Trang 26ra thành hoạt động kiểm soát trực tiếp và kiểm soát gián tiếp Theo thời điểm thực hiện trong quá trình tác nghiệp, hoạt động kiểm soát được chia thành ba loại: Kiểm soát trước, kiểm soát hiện hành và kiểm soát sau Căn cứ vào nội dung của kiểm soát có thể chia thành kiểm soát hành chính và kiểm soát kế toán Căn cứ vào mục tiêu của kiểm soát có thể chia ra thành kiểm soát ngăn
ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát điều chỉnh
- Kiểm soát hành chính và kiểm soát kế toán
Kiểm soát hành chính tập trung vào các thể thức kiểm tra nhằm đảm
bảo cho việc điều hành công tác ở đơn vị có nề nếp, nghiêm minh và hiệu quả Các thao tác kiểm soát hành chính được thực hiện trên lĩnh vực tổ chức
và hành chính ở mọi cấp độ như: tuyển chọn nhân viên, xây dựng tác phong, quy trình làm việc, tổ chức thực hiện công việc cùng với các thao tác kiểm soát quá trình chấp hành mệnh lệnh ở đơn vị
Kiểm soát kế toán bao gồm lập kế hoạch tổ chức và thực hiện các trình
tự cần thiết cho việc bảo vệ tài sản và độ tin cậy của sổ sách tài chính kế toán,
có thể áp dụng cho các báo cáo này và duy trì khả năng hạch toán của tài sản
- Các hoạt động đều được ghi nhận vào các thời điểm thích hợp, giúp cho việc thiết lập thông tin kinh tế tài chính phù hợp với các chuẩn mực kế toán và thể hiện chính xác, toàn diện hiện trạng tài nguyên của đơn vị hoặc đơn vị có nhiệm vụ quản lý và phải có sự điều chỉnh khi có những chênh lệch
- Cung cấp căn cứ đề ra quyết định xử lý các sai lệch, rủi ro có thể gặp phải
Trang 27Như vậy kiểm soát kế toán chỉ quan tâm đến hoạt động tài chính của đơn
vị được phản ánh trên các tài liệu kế toán Trong khi đó kiểm soát quản lý yêu cầu một phạm vi rộng hơn của các đối tượng kiểm soát theo mục tiêu quản lý của toàn bộ tổ chức Tuy nhiên kiểm soát kế toán lại có vai trò là cơ sở cho kiểm soát quản lý Các chứng từ kế toán không chỉ là sự thông tin mà còn là minh chứng pháp lý cho sự hình thành các nghiệp vụ kinh tế Từ đó kiểm soát
kế toán có thể hình thành phương pháp tự kiểm soát, đối ứng tài khoản không chỉ là phương pháp phân loại, phản ánh sự vận động của tài sản mà còn là phương pháp kiểm tra những quan hệ cân đối cụ thể; tổng hợp - cân đối kế toán không chỉ cung cấp những thông tin tổng hợp mà còn là phương pháp kiểm tra kết quả cân đối tổng quát trong thông tin kế toán
Kiểm soát ngăn ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát điều chỉnh
Mục tiêu của hoạt động kiểm soát tác nghiệp là đảm bảo cho quá trình tác nghiệp được thành công, đạt mục tiêu đề ra, ngăn ngừa và phát hiện các sai lầm, gian lận, sai sót và rủi ro trong quá trình tác nghiệp làm giảm thiểu các khả năng xảy ra các hiện tượng này và còn cung cấp những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định điều chỉnh
Kiểm soát ngăn ngừa là kiểm soát tập trung vào việc ngăn chặn các sai
phạm hoặc các điều kiện dẫn đến sai phạm Kiểm soát này thường được thực hiện trước khi nghiệp vụ xảy ra và thực hiện ngay trong công việc hàng ngày của nhân viên theo chức năng: phân chia trách nhiệm, giám sát, kiểm tra tính hợp lý, sự đầy đủ và chính xác
Kiểm soát phát hiện tập trung vào việc phát hiện các gian lận, sai sót,
sai lầm và rủi ro trong quá trình tác nghiệp một cách nhanh chóng, nhằm giúp các cấp lãnh đạo có những quyết định xử lý kịp thời, hạn chế tới mức thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra Kiểm soát phát hiện và kiểm soát ngăn ngừa có quan hệ bổ sung cho nhau trong việc thực hiện các mục tiêu kiểm
Trang 28soát, do kiểm soát phát hiện thường được thực hiện sau khi quá trình tác nghiệp
đã xảy ra và giúp cho việc phát hiện các sai phạm “lọt lưới” kiểm soát phòng ngừa Một ý nghĩa quan trọng của kiểm soát phát hiện là sự “răn đe” làm tăng trách nhiệm của nhân viên trong quá trình thực hiện kiểm soát phòng ngừa
Hoạt động kiểm soát điều chỉnh hướng tới việc cung cấp những thông
tin cần thiết cho việc ra quyết định điều chỉnh các sai sót được phát hiện
Kiểm soát trước, kiểm soát hiện hành và kiểm soát sau:
Kiểm soát trước hay còn gọi là kiểm soát lường trước, kiểm soát hướng
về tương lai, nhằm khắc phục độ trễ thời gian trong kiểm soát thực hiện Đó là
sự tiên liệu những diễn biến có thể xảy ra trong quá trình tác nghiệp, đề phòng rủi ro và các khó khăn tiềm ẩn Đây là hoạt động kiểm soát đặc biệt quan trọng, tuy nhiên loại hoạt động kiểm soát này chưa phổ biến về mặt kỹ thuật
và còn rất hạn chế
Kiểm soát hiện hành hay kiểm soát tác nghiệp là hoạt động kiểm soát
được tiến hành ngay trong quá trình tác nghiệp nhằm ngăn ngừa, phát hiện sai lầm kiểm tra việc thi hành các quyết định trong khi thực hiện các thao tác tác nghiệp Như vậy nếu làm tốt công tác kiểm soát tác nghiệp thì mức độ rủi ro trong quá trình tác nghiệp sẽ giảm đi, đảm bảo được hiệu quả công việc ở mức tốt nhất
Kiểm soát sau khi tác nghiệp hay còn gọi là kiểm soát thông tin phản
hồi (còn gọi là kiểm soát thông tin trở về trước) là hoạt động kiểm soát thông dụng nhất hiện nay Mặc dù bị độ trễ về thời gian song bù lại kiểm soát sau
khi tác nghiệp lại có đầy đủ căn cứ để đánh giá, đo lường kết quả tác nghiệp Kiểm soát nội bộ
Kiểm soát nội bộ là một hệ thống gồm các chính sách, thủ tục được thiết lập tại đơn vị nhằm đảm bảo cho các nhà quản lý đạt được các mục đích: + Bảo vệ tài sản
Trang 29+ Bảo đảm tin cậy của hệ thống thông tin
+ Duy trì và kiểm tra tuân thủ các chính sách liên quan đến hoạt động của đơn vị
+ Bảo đảm hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý
Kiểm soát nội bộ là một chức năng quản lý, trong phạm vi một đơn vị cơ
sở, kiểm soát nội bộ là việc tự kiểm tra và giám sát mọi hoạt động trong tất cả các khâu của quá trình quản lý nhằm đảm bảo các hoạt động đúng pháp luật
và đạt được các kế hoạch, mục tiêu đề ra với hiệu quả kinh tế cao nhất và đảm bảo sự tin cậy của báo cáo tài chính Thực tế đã chứng minh, đơn vị nào có hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tốt và có độ tin cậy cao thì cung cấp thông tin một cách kịp thời, chính xác cho các cấp lãnh đạo cũng như các cơ quan bên ngoài muốn tìm hiểu hoạt động của đơn vị
1.2.2 Kiểm soát chi ngân sách nhà nước và những nhân tố ảnh hưởng
Kiểm soát là một hoạt động của tổ chức hay là một bộ phận bất kỳ có tổ chức và nó được sự quan tâm của nhiều người Kiểm soát chi ngân sách nhà nước là một trong những hoạt động quản lý của nhà nước trong lĩnh vực quản
lý NSNN Kiểm soát chi NSNN là những thủ tục đảm bảo cho công tác chi NSNN đạt được những mục tiêu mong muốn cũng như ngăn ngừa những hậu quả có thể xảy ra đối với công tác này
Kiểm soát chi NSNN có mối quan hệ mật thiết với quá trình quản lý NSNN cũng như các đơn vị sử dụng ngân sách, chức năng của kiểm soát bắt đầu từ việc xác định các mục tiêu và kết thúc khi đạt được các mục tiêu đó
Do vậy muốn quản lý NSNN đạt hiệu quả cao, sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng, không để thất thoát, đảm bảo thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh
tế, xã hội và tránh những tổn thất lãng phí thì phải làm tốt tất cả các khâu của quá trình quản lý NSNN trong đó có kiểm soát chi NSNN
Trang 30Trong khi tiến hành hoạch định, tổ chức điều hành, quản lý NSNN vẫn
có thể có nhiều sự cố xảy ra do những nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan Điều này dẫn tới nhiều khi xa rời mục tiêu đã đặt ra, cụ thể là gây lãng phí cho NSNN như tham ô, biển thủ công quỹ hay sử dụng ngân sách sai mục đích Vì vậy hoạt động kiểm soát chi NSNN được thực hiện nhằm đảm bảo quá trình sử dụng ngân sách tiến hành theo như kế hoạch ban đầu, điều chỉnh kịp thời các sai lệch trong quá trình hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra Như vậy kiểm soát chi NSNN là một hoạt động vô cùng quan trọng trong công tác quản lý của Nhà nước nói chung và trong công tác quản lý chi NSNN nói riêng
Đối với các đơn vị cụ thể sử dụng NSNN, để đảm bảo hiệu quả của hoạt động chi tiêu, đòi hỏi tất yếu mỗi đơn vị cơ sở đều tự kiểm tra mọi hoạt động của mình trong tất cả các khâu: từ lập dự toán, chấp hành dự toán, công tác kế toán và quyết toán ngân sách; rà soát các mục tiêu và các định mức, các yêu cầu về mặt pháp lý, các tiêu chuẩn quy định
Để công tác quản lý chi NSNN được hiệu quả và tiết kiệm thì đòi hỏi công tác kiểm soát chi NSNN phải được tiến hành tốt và triệt để Do đó công tác kiểm soát các khoản chi NSNN phải được thực hiện ở nhiều cơ quan, tổ chức các cấp và trong từng đơn vị sử dụng NSNN
Việc kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước với mục tiêu quản lý là ổn định, đảm bảo tối thiểu các nhu cầu về chi thường xuyên cho con người, sau đó cân đối hợp lý giữa chi đầu tư phát triển cùng với các chương trình thiết yếu khác
Vì vậy, công tác kiểm soát chi NSNN cần xem xét những nhân tố ảnh hưởng sau:
- Đặc thù về quản lý: Kiểm soát chi NSNN là một trong những khâu
quan trọng trong công tác quản lý NSNN nói chung và công tác quản lý chi NSNN nói riêng Kiểm soát chi NSNN là một khâu không thể tách rời trong
Trang 31quá trình quản lý NSNN do đó cơ chế quản lý có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định tới công tác kiểm soát chi NSNN Khi yêu cầu hay mục tiêu của quản lý thay đổi thì đối tượng và cách thức tiến hành kiểm soát cũng vì thế mà thay đổi theo Kiểm soát chi NSNN là một chức năng của công tác quản lý chi NSNN, trong phạm vi một cơ sở hay một đơn vị thì đó là hoạt động tự kiểm tra hay giám sát nhằm đảm bảo việc chi tiêu ngân sách được thực hiện đúng pháp luật, đúng kế hoạch và mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất Do đó cơ chế quản lý chi NSNN là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng quyết định đến công tác kiểm soát chi NSNN Với một cơ chế nhất định sản sinh ra phương thức, đối tượng, cách thức kiểm soát nhất định Khi cơ chế quản lý thay đổi tức là công tác kiểm soát chi cũng thay đổi để phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý đặt ra
- Môi tr ường kiểm soát: Là thái độ, khả năng, sự nhận biết và các hoạt
động kiểm soát của người quản lý trong đơn vị đối với công tác quản lý chi NSNN; các chính sách, các thủ tục kiểm soát chi NSNN, tính trung thực và giá trị đạo đức của cán bộ, nhân viên; cơ cấu tổ chức, sự phân công trách nhiệm, sự phân chia quyền lực, chính sách về nhân sự trong đơn vị cũng là những yếu tố không nhỏ ảnh hưởng tới công tác kiểm soát chi NSNN
Môi trường kiểm soát gồm các hành động, các chế độ và các thể thức phản ánh thái độ chung của lãnh đạo đơn vị sử dụng ngân sách về quá trình kiểm soát và tầm quan trọng của nó đối với công tác quản lý NSNN ở đơn vị mình Dưới đây là những nguyên lý quan trọng nhất:
+ Nguyên tắc điều hành của Ban lãnh đạo: Trên thực tế thì tính hiệu quả của hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong hoạt động của một tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào các nhà quản lý tại tổ chức đó Nếu các nhà quản lý cho rằng công tác kiểm tra, kiểm soát quan trọng và không thể thiếu đối với mọi hoạt
Trang 32động của đơn vị thì mọi thành viên trong đơn vị nhận thức đúng đắn về hoạt động kiểm tra, kiểm soát và tuân thủ mọi quy định cũng như chế độ quy định + Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức của một đơn vị sử dụng NSNN xác định các mối quan hệ trách nhiệm và quyền hạn đang tồn tại giữa các thành viên trong đơn vị
+ Chính sách nhân sự: Con người là khía cạnh quan trọng nhất của bất
kỳ hệ thống kiểm soát nào Năng lực và phẩm chất đạo đức của đội ngũ nhân viên là nhân tố chi phối tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát Sự thành công hay thất bại của đơn vị trong kiểm soát chi tiêu ngân sách phụ thuộc vào năng lực của cán bộ công chức, vào chính sách tuyển dụng, đào tạo,
khen thưởng, kỷ luật và cả môi trường làm việc…
- H ệ thống kế toán: Mục đích của hệ thống kế toán của một đơn vị quản
lý và sử dụng NSNN là nhận biết, thu thập, phân loại, phân tích, ghi sổ và báo cáo các khoản, mục chi của đơn vị Đối với các đơn vị chi tiêu NSNN, hệ thống thông tin kế toán là hệ thống phản ánh các số liệu về tình hình chi tiêu NSNN ở các khoản mục đã được quy định Công việc này được thực hiện bởi
bộ phận kế toán của các đơn vị sử dụng NSNN Thực hiện nghiêm túc công tác kế toán chính sẽ là điều kiện phát huy tác dụng tự kiểm tra của đơn vị
- Các th ủ tục kiểm soát: Các thể thức kiểm tra, kiểm soát đối với công
tác chi tiêu NSNN dựa trên các căn cứ là Luật NSNN, mục lục NSNN, các chế độ quy định chi tiêu ngân sách và thể thức được xây dựng để đảm bảo những hoạt động cần thiết sẽ được thiết lập và thực hiện nhằm đạt được các
kế hoạch và mục tiêu đề ra
- Trình độ cán bộ: Sự phát triển của một đơn vị luôn gắn với một đội ngũ
cán bộ, nhân viên nói chung và các cán bộ, nhân viên làm công tác kiểm soát chi NSNN nói riêng Một đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ và phẩm chất
Trang 33đạo đức tốt sẽ quyết định sự thành công của công tác quản lý và chi tiêu NSNN cũng như công tác kiểm soát chi NSNN
- Điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị chủ yếu: Trong điều kiện công nghệ như hiện nay, cơ sở vật chất và trang thiết bị đảm bảo sẽ góp phần rất quan trọng vào hiệu quả của công tác kiểm soát chi
- Các nhân t ố khác: Sự nhận thức và ý thức chấp hành của các đối tượng
kiểm soát chi NSNN, sự quan tâm phối hợp của các cơ quan, các cơ quan ngành tài chính và các cơ quan có chức năng chuyên môn của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, sẽ đem lại hiệu quả cao trong công tác kiểm soát chi NSNN
1.2.3 Sự cần thiết phải kiểm soát chi ngân sách nhà nước
- Do yêu cầu của công cuộc đổi mới: Đổi mới về cơ chế quản lý tài chính nói chung và đổi mới cơ chế quản lý NSNN nói riêng, đòi hỏi mọi khoản chi của NSNN phải đảm bảo chi đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả Trong điều kiện hiện nay, khi khả năng của NSNN còn khá hạn hẹp mà nhu cầu chi phát triển kinh tế xã hội ngày càng tăng thì việc kiểm soát chặt chẽ các khoản chi NSNN thực sự là mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước, các ngành và các cấp Thực hiện tốt công tác này có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện tiết kiệm chống lãng phí nhằm tập trung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế, xã hội, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ và lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia; đồng thời, cũng góp phần nâng cao trách nhiệm cũng như phát huy được vai trò của các ngành các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến công tác quản lý và điều hành NSNN Đặc biệt là hệ thống KBNN
sẽ kiểm soát, thanh toán trực tiếp từng khoản chi NSNN cho các đối tượng sử dụng đúng chức năng nhiệm vụ đã được Nhà nước giao, góp phần lập lại kỷ cương, kỷ luật tài chính
Trang 34- Do hạn chế từ chính bản thân cơ chế quản lý chi NSNN: cơ chế quản lý chi NSNN tuy đã thường xuyên được sửa đổi hoàn thiện, nhưng vẫn chỉ quy định được những vấn đề chung nhất mang tính nguyên tắc, dẫn tới không thể bao quát hết tất cả các hiện tượng phát sinh trong quá trình thực hiện quản lý kiểm soát chi NSNN Mặt khác, cùng với sự phát triển không ngừng của các hoạt động kinh tế - xã hội, các nghiệp vụ chi NSNN cũng ngày càng đa dạng
và phức tạp hơn Do vậy cơ chế quản lý chi NSNN nhiều khi không theo kịp với biến động của hoạt động chi NSNN Từ đó, một số đơn vị, cá nhân tìm cách lợi dụng, khai thác những kẽ hở của cơ chế nhằm tham ô, trục lợi, tư túi gây lãng phí tài sản và công quỹ Nhà nước Từ thực tế đó, đòi hỏi phải có các
cơ quan có thẩm quyền, thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng kinh phí NSNN của các cơ quan, đơn vị nhằm ngăn chặn tiêu cực, phát hiện những điểm chưa phù hợp trong cơ chế quản lý để từ đó kiến nghị với các ngành các cấp sửa đổi, bổ sung kịp thời để cơ chế quản lý và kiểm soát chi NSNN ngày càng được hoàn thiện, phù hợp và chặt chẽ hơn
- Do ý thức của các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN: Các đơn vị thụ hưởng NSNN thường có tư tưởng tìm mọi cách để sử dụng hết số kinh phí đã được cấp, không quan tâm tới việc chấp hành đúng mục đích, đối tượng và dự toán được duyệt Các đơn vị thường lập hồ sơ, chứng từ thanh toán sai chế độ, chính sách như không có trong dự toán chi NSNN đã được duyệt hoặc không đúng tiêu chuẩn định mức chi tiêu của Nhà nước; thiếu hồ sơ, chứng từ có liên quan,… Vì vậy, cần thiết phải có cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện kiểm tra kiểm soát đối với các khoản chi của cơ quan, đơn vị có trong dự toán hay không; có đúng mục đích, đối tượng đã được duyệt không;
có đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi tiêu không; có đầy đủ hồ sơ chứng
từ thanh toán hay không… Qua đó, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các gian lận, sai phạm, sai sót và lãng phí trong việc sử dụng NSNN của các đơn vị,
Trang 35đảm bảo mọi khoản chi NSNN được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả
- Do tính đặc thù của các khoản chi NSNN: Các khoản chi của NSNN thường mang tính chất không hoàn trả trực tiếp như các đơn vị được NSNN cấp phát kinh phí sẽ không phải hoàn trả trực tiếp cho Nhà nước về số kinh phí đã sử dụng; cái mà họ phải hoàn trả cho Nhà nước chính là kết quả công việc đã được giao Tuy nhiên, việc dùng các chỉ tiêu định lượng để đánh giá kết quả công việc trong một số trường hợp sẽ gặp khó khăn và không toàn diện Do vậy, cần thiết phải có một cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ
để thực hiện kiểm tra kiểm soát các khoản chi của NSNN để đảm bảo cho việc chi trả của Nhà nước là phù hợp với các nhiệm vụ đã giao
- Do yêu cầu của mở cửa hội nhập: theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới và khuyến nghị của Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), thì việc kiểm tra, kiểm soát và thực hiện chi trả trực tiếp các khoản chi NSNN từ KBNN đến từng đối tượng sử dụng là rất cần thiết, để đảm bảo yêu cầu, kỷ cương quản lý tài chính
và sử dụng kinh phí NSNN đúng mục đích, có hiệu quả
1.2.4 Yêu cầu đối với công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước
Công tác kiểm soát chi NSNN phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Làm cho hoạt động chi NSNN đạt được hiệu quả cao nhất, có tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế, tránh tình trạng làm cho quỹ NSNN
bị cắt đoạn, phân tán, gây căng thẳng trong quá trình điều hành NSNN Vì vậy, cơ chế và chính sách kiểm soát chi NSNN phải quy định rõ ràng các điều kiện, trình tự cấp phát theo hướng cơ quan tài chính thực hiện cấp phát kinh phí phải căn cứ vào dự toán ngân sách năm đã được giao; về phương thức thanh toán phải đảm bảo mọi khoản chi của NSNN được thanh toán, chi trả trực tiếp qua KBNN cho các đối tượng thụ hưởng trên cơ sở dự toán được duyệt, được thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách chuẩn chi và phù
Trang 36hợp với chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu hiện hành của Nhà nước
- Công tác quản lý và kiểm soát NSNN là một quy trình phức tạp từ lập
dự toán, phân bổ dự toán tới cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán NSNN, có liên quan tới tất cả các Bộ, ngành, địa phương Do đó yêu cầu công tác quản lý và kiểm soát chi NSNN phải được tiến hành một cách chặt chẽ, thận trọng, tuy nhiên không được máy móc gây phiền hà cho các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN cấp
- Tổ chức bộ máy theo hướng gọn nhẹ, đơn giản hóa các thủ tục hành chính Đồng thời cũng cần phân định rõ ràng vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan quản lý ngân sách, các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN, trong quá trình thực hiện chi NSNN từ khâu lập dự toán, cấp phát ngân sách, thực hiện chi đến khâu thông tin, báo cáo, quyết toán chi NSNN để tránh những trùng lặp, chồng chéo trong quá trình thực hiện Mặt khác, đảm bảo sự công khai, minh bạch và kiểm tra giám sát lẫn nhau giữa những cơ quan, đơn vị đó trong quá trình kiểm soát chi NSNN
- Kiểm soát chi NSNN cần được thực hiện đồng bộ, nhất quán và thống nhất với việc quản lý NSNN từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán đến công tác kế toán và quyết toán NSNN Đồng thời phải thống nhất với việc thực hiện các chính sách, cơ chế quản lý tài chính khác như chính sách thuế, phí và
lệ phí, chính sách ổn định phát triển kinh tế, …
1.2.5 Nội dung kiểm soát chi NSNN trong đơn vị hành chính sự nghiệp
a Kiểm soát lập dự toán chi ngân sách nhà nước
- Nội dung dự toán chi ngân sách của đơn vị HCSN bao gồm:
+ Chi thanh toán cho cá nhân: Bao gồm các khoản chi về tiền lương, phụ cấp lương được tính theo chế độ hiện hành, kể cả nâng bậc lương hàng
Trang 37năm trong từng đơn vị HCSN và các khoản phải nộp theo lương: bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
+ Chi nghi ệp vụ chuyên môn: Tùy theo tính chất hoạt động của mỗi
ngành và chế độ nhà nước cho phép mà số chi nghiệp vụ chuyên môn có sự khác nhau Do vậy, việc xác định số chi nghiệp vụ chuyên môn thuộc mỗi loại ngành sẽ được xác định theo từng nội dung cụ thể gắn với nhu cầu kinh phí và khả năng đảm bảo của nguồn kinh phí
+ Chi mua s ắm, sửa chữa tài sản: Hàng năm do nhu cầu hoạt động, do
sự xuống cấp tất yếu của tài sản cố định dùng cho các hoạt động HCSN nên thường phát sinh nhu cầu kinh phí để mua sắm thêm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị sử dụng cho những TSCĐ đã xuống cấp Số chi mua sắm sửa chữa TSCĐ thường được xác định trên cơ sở thực trạng về TSCĐ của mỗi ngành, mỗi đơn vị và khả năng ngân sách kỳ kế hoạch dành cho khoản mục này
+ Chi th ường xuyên khác: Là các nội dung chi không nằm trong các
nhóm chi trên như: chi tiếp khách, chi hỗ trợ…
- Nội dung kiểm soát lập dự toán chi NSNN
Các đơn vị sử dụng NSNN là những đơn vị thuộc nhiều cấp dự toán, do
đó công tác lập dự toán ngân sách cũng do nhiều cấp lập và nhiều cấp, nhiều đơn vị kiểm soát Tuy nhiên ở mỗi cấp quản lý thì chức năng và nhiệm vụ đặt
ra cho từng mục tiêu của công tác này lại khác nhau Để làm rõ điều đó cần tìm hiểu từng chủ thể với các cách thức khác nhau
Ch ủ thể kiểm soát: Cơ quan Tài chính, Cơ quan chủ quản và các đơn vị
dự toán trực thuộc
Khách th ể kiểm soát: Các đơn vị HCSN thụ hưởng ngân sách
C ăn cứ kiểm soát: Để tiến hành công tác kiểm soát chi ngân sách trong khâu lập dự toán cần phải dựa trên các căn cứ sau đây
Trang 38- Luật Ngân sách Nhà nước [13]; Mục lục NSNN [11] và các Thông tư hướng dẫn về chế độ chi cho con người, định mức về các khoản chi cho hàng hóa và dịch vụ và các quy định khác của Nhà nước, của Bộ Tài chính, của từng ngành;
- Dự toán của các đơn vị sử dụng NSNN lập và gửi cơ quan cấp trên; số giao dự toán chi ngân sách năm trước, biên chế có mặt và dự kiến biến động; Đặc thù chi tiêu của từng đơn vị sử dụng NSNN (đối với các chủ thể)
Đối tượng kiểm soát:
Đối tượng của công tác kiểm soát trong khâu lập dự toán NSNN là bảng tổng dự toán được lập theo đúng mẫu quy định, có đầy đủ con dấu và chữ ký theo yêu cầu về mặt pháp lý; là cách thức tính toán, là các số liệu, các Bảng giải trình thuyết minh được sử dụng trong bảng dự toán mà đơn vị sử dụng NSNN cấp dưới lập và gửi cho cơ quan quản lý NSNN cấp trên theo thời gian quy định
Ho ạt động kiểm soát: Các thể thức kiểm tra, kiểm soát đối với công tác
chi tiêu Ngân sách nhà nước dựa trên các căn cứ là Luật Ngân sách nhà nước, mục lục Ngân sách nhà nước, các chế độ quy định chi tiêu ngân sách và thể thức được xây dựng để đảm bảo những hoạt động cần thiết sẽ được thiết lập
và thực hiện nhằm đạt được các kế hoạch và mục tiêu đề ra Những thể thức
kiểm soát thường theo 5 nguyên tắc sau: Sự cách ly thích hợp về trách nhiệm; Các thể thức phê chuẩn đúng đắn; Chứng từ và sổ sách đầy đủ; Kiểm soát vật chất đối với tài sản; Kiểm soát độc lập với thực hiện
b Kiểm soát chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước
Chấp hành dự toán chi NSNN là một khâu quan trọng trong quản lý ngân sách, là quá trình sử dụng tổng hòa các biện pháp kinh tế - tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu chi đã được ghi trong kế hoạch ngân sách thành hiện thực Tổ chức chấp hành ngân sách là tiền đề quan trọng để thực hiện các
Trang 39chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia trong từng thời kỳ Tổ chức chấp hành ngân sách là nhiệm vụ của các cấp, các ngành, các đơn vị dự toán ngân sách Do đó đây là một nội dung được đặc biệt coi trọng trong công tác quản lý tài chính của các đơn vị dự toán
Chấp hành ngân sách diễn ra trong khoảng thời gian của niên độ ngân sách từ ngày 1/1 đến ngày 31/12 hàng năm
- Nội dung kiểm soát chấp hành chi NSNN
Ch ủ thể kiểm soát: Kho bạc Nhà nước, Cơ quan chủ quản và các đơn vị
dự toán trực thuộc
Khách th ể kiểm soát: Các đơn vị HCSN thụ hưởng ngân sách
C ăn cứ để kiểm soát: Để tiến hành công tác kiểm soát khâu chấp hành
NSNN cần phải dựa trên các căn cứ sau đây:
- Luật Ngân sách Nhà nước [13]; Mục lục NSNN [11]; Dự toán chi ngân sách của đơn vị HCSN đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Đây là căn cứ mang tính chất quyết định nhất trong công tác kiểm soát khâu chấp hành dự toán chi ngân sách của đơn vị HCSN; Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý tài chính Các văn bản hướng dẫn đối với các mục, các khoản chi; Sổ sách ghi chép, chứng từ cùng với tình hình biên chế
và thực tế nhiệm vụ chính trị của mỗi đơn vị (đối với các chủ thể)
Đối tượng kiểm soát
Đối tượng kiểm soát của khâu chấp hành dự toán ngân sách là: Dự toán đầu năm được duyệt, sổ sách, chứng từ, báo cáo quyết toán quý cùng với các
số liệu, cách thức chi tiêu đối với từng khoản mục thực tế phát sinh tại đơn vị
sử dụng NSNN
Ho ạt động kiểm soát: Các hoạt động kiểm soát bao gồm các chính sách
và thủ tục được thực hiện bởi các nhân viên liên quan, nhằm đảm bảo các chính sách, chỉ thị của nhà quản lý về phản ứng với rủi ro được thực hiện Các
Trang 40hoạt động kiểm soát có thể được phân loại tùy thuộc vào mục tiêu của đơn vị
mà hoạt động kiểm soát có liên quan như chiến lược, hoạt động, báo cáo và tuân thủ
c Kiểm soát công tác kế toán và quyết toán chi ngân sách nhà nước
Nội dung kiểm soát công tác kế toán và quyết toán NSNN
Ch ủ thể kiểm soát: Cơ quan Tài chính, Cơ quan chủ quản
Khách th ể kiểm soát: Các cơ quan đơn vị thụ hưởng ngân sách
C ăn cứ để kiểm soát: Để tiến hành công tác kiểm soát khâu kế toán và
quyết toán chi ngân sách cần phải dựa trên các căn cứ sau đây:
Luật Ngân sách Nhà nước [13]; Mục lục NSNN [11]; Các văn bản hướng dẫn chế độ chi tiêu đối với từng khoản mục; Dự toán được duyệt đầu năm; dự toán được điều chỉnh đã được phê duyệt nếu có; Thông báo số cấp phát qua KBNN đối với từng nguồn và từng mục; Các loại báo cáo tài chính của đơn vị phải được lập đúng mẫu quy định và được thủ trưởng cơ quan ký, đóng dấu và KBNN đồng cấp xác nhận
Đối tượng kiểm soát
- Đối tượng của công tác kiểm soát này là các số liệu trong các báo cáo tài chính của đơn vị sử dụng NSNN lập và gửi; báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán các cấp có xác nhận của KBNN đồng cấp Các số liệu cụ thể trong Báo cáo tài chính, chứng từ, sổ sách, thuyết minh báo cáo trong suốt niên độ ngân sách
- Cách thức tính toán chi tiêu đối với các khoản mục đã được phê duyệt trong dự toán đầu năm
- Các bút toán và phương pháp ghi chép sổ sách của đơn vị sử dụng NSNN
Ho ạt động kiểm soát: Các thể thức kiểm tra, kiểm soát đối với công tác
kế toán, quyết toán chi Ngân sách nhà nước dựa trên các căn cứ là Báo cáo kế