Tính cấp thiết của đề tài Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu và mang lại thu nhập chính trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, tuy nhiên rủi ro của
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
BÙI XUÂN HÒA
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM -
CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
BÙI XUÂN HÒA
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM -
CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 4
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 2
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU TRONG NGÂN HÀNGTHƯƠNGMẠI 7
1.1.1 Doanh nghiệp xuất nhập khẩu 7
1.1.2 Các hình thức cho vay đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu của NHTM 8
1.2 KHÁI NIỆM RỦI RO CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU 12
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK 12
1.2.2 Phân loại rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK 14
1.2.3 Hậu quả (tác động) của rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK 16
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬPKHẨUCỦANHTM 17
1.3.1 Khái niệm và vai trò của quản trị rủi ro cho vay 17
1.3.2 Nội dung quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK trong NHTM 18
Trang 5CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH 30
2.1.KHÁIQUÁTVỀBIDVBÌNHĐỊNH 30
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 30
2.1.2 Mô hình tổ chức và quản lý 30
2.1.3 Các nguồn lực chủ yếu 31
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh giai đoạn 2010-2012 33
2.2 TÌNH HÌNH CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU TẠI BIDVBÌNHĐỊNH 37
2.2.1 Tình hình hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Bình Định .37
2.2.2 Kết quả cho vay xuất nhập khẩu của BIDV Bình Định 38
2.2.3 Cơ cấu cho vay của BIDV Bình Định đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu 40
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU TẠI BIDV BÌNH ĐỊNH GIAI ĐOẠN2010-2012 42
2.3.1 Thực trạng công tác nhận diện rủi ro 42
2.3.3 Thực trạng công tác đo lường rủi ro 48
2.3.4 Thực trạng công tác kiểm soát rủi ro 51
2.3.5 Thực trạng công tác tài trợ rủi ro 57
2.3.6 Kết quả quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK tại BIDV Bình Định giai đoạn 2009-2012 58
2.4.ĐÁNHGIÁCHUNG 59
2.4.1 Thành công trong quản trị rủi ro 59
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65
CHƯƠNG 3 : TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH 66
3.1.CÁCCĂNCỨ(ĐỊNHHƯỚNG,MỤCTIÊU) 66
3.1.1 Định hướng phát triển hoạt động XNK của tỉnh Bình Định 66
3.1.2 Quan điểm, mục tiêu của BIDV Bình Định về cho vay và quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp XNK 67
3.2 HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY ĐỐIVỚIDOANHNGHIỆPXNKTẠIBIDVBÌNHĐỊNH 69
3.2.1 Tăng cường công tác nhận diện rủi ro 69
3.2.2 Hoàn thiện công tác đo lường rủi ro 75
3.2.3 Đổi mới công tác kiểm soát và xử lý rủi ro 77
3.2.4 Tích cực phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro 81
3.3.MỘTSỐKIẾNNGHỊ 83
3.3.1 Đối với BIDV Trung ương 83
3.3.2 Đối với Tỉnh Bình Định 86
3.3.3 Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu 87
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7BIDV : Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
BIDV Bình Định : Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi
QĐ 493 : Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trang 8Số hiệu
2.4 Một số chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu giai đoạn 2010-2012 33
2.6 Công tác cho vay và thị phần của BIDV Bình Định 35
2.9 Kim ngạch xuất nhập khẩu của tỉnh Bình Định năm
2010-2012
37
2.19 Mức độ tập trung dư nợ XNK theo quy mô doanh nghiệp 47
2.25 Các chỉ tiêu mức độ rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK 59
Trang 9Số hiệu
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu và mang lại thu nhập chính trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, tuy nhiên rủi ro của nó cũng rất lớn Rủi ro tín dụng cao quá mức sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh ngân hàng
Rủi ro tín dụng là phổ biến và gần như mang tính tất yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Việc chấp nhận và đối đầu với rủi ro tín dụng là một điều tất yếu, không thể tránh khỏi Vấn đề đặt ra ở đây không phải có hay không có rủi ro mà ở chỗ phải phòng ngừa để giảm thiểu rủi ro ở mức chấp nhận được
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bình Định (BIDV Bình Định) cung cấp các sản phẩm tín dụng phục vụ cho các ngành nghề nên việc xử lý rủi ro và đề ra những biện pháp phòng ngừa RRTD luôn là mục tiêu quan trọng hàng đầu nhằm vừa đảm bảo an toàn nguồn vốn,
có lãi, vừa tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đang trở thành lực lượng kinh tế đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình phát triển đất nước Nhận thức tầm quan trọng trong việc phục vụ doanh nghiệp xuất nhập khẩu, BIDV Bình Định đã và đang tập trung đẩy mạnh cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng đối với các doanh nghiệp này Tuy nhiên, các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu liên quan đến yếu tố nước ngoài, nên việc cho vay xuất nhập khẩu càng phức tạp và rủi ro hơn, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tín dụng, tăng chi phí, giảm lợi nhuận của ngân hàng
Trang 11Xuất phát từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài: "Quản trị
rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bình Định" làm luận văn
nghiên cứu như một đóng góp nhằm giải quyết những yêu cầu cấp thiết của hoạt động cho vay xuất nhập khẩu tại BIDV Bình Định
2 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động cho vay và quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại
Phân tích thực trạng cho vay và quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại BIDV Bình Định
Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần tăng cường quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại BIDV Bình Định
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động cho vay xuất nhập khẩu và quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại
Phạm vi nghiên cứu là hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp chuyên hoạt động xuất nhập khẩu của BIDV Bình Định, với thông tin số liệu được thu thập và xử lý trong giai đoạn 2009-2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu, đề xuất các giải pháp, kiến nghị, kết luận được vận dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, diễn dịch, phương pháp thống kê, lượng hóa,
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn này đuợc cấu trúc thành ba chương:
Trang 12Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bình định
Chương 3: Tăng cường quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bình định
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả tham khảo các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan như sau:
Sách Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, Nhà xuất bản thống
kê 2010 của PGS.TS Nguyễn Văn Tiến Cuốn sách cập nhật những kiến thức mới, khá đầy đủ về các loại rủi ro và quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng hiện đại, trong đó đã giới thiệu nhiều công cụ, mô hình quản trị rủi ro cho từng loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng, như: rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản,
Sách Quản trị rủi ro trong ngân hàng, Nhà xuất bản lao động xã hội
2012 của Giáo sư Joel Bessis Cuốn sách đề cập nhiều khía cạnh quản trị rủi
ro, các mô hình kỹ thuật mới về quản trị rủi ro trong ngân hàng, trong đó có rủi ro tín dụng Với tài liệu này, người đọc có thể tiếp cận được các kỹ thuật
đo lường rủi ro mới, phức tạp đã được các nước tiên tiến trên thế giới áp dụng trong quản lý ngân hàng hiện đại
Sách Quản trị Ngân hàng Thương mại, nhà xuất bản Tài chính 2004
của Giáo sư Peter S.Rose: Cuốn sách đề cập tới rất nhiều khía cạnh trong công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại, cung cấp các kiến thức phong phú về hoạt động kinh doanh ngân hàng, trong đó tác giả tham khảo được các phần
Trang 13đề cập đến hoạt động cho vay của ngân hàng, công cụ, kỹ thuật tài trợ tín dụng, nhận diện, xử lý các khoản vay có vấn đề
Sách Thanh toán quốc tế, nhà xuất bản Thống kê 2008 của TS Nguyễn
Minh Kiều Cuốn sách đề cập đế các vấn đề về ngoại hối, các rủi ro liên quan đến ngoại hối, các vấn đề về thanh toán quốc tế, các điều kiện, phương tiện thanh toán quốc tế, nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại Người đọc có thể tìm hiểu kỹ hơn các vấn đề liên quan đến hoạt động thanh toán quốc tế, ngoại hối, tài trợ xuất nhập khẩu, qua đó có thể thấy được những rủi ro liên quan đến hoạt động thanh toán quốc tế, ngoại hối, và trong tài trợ xuất nhập khẩu
Sách Nghiệp vụ quản lý xuất nhập khẩu (ICC 2010), nhà xuất bản Lao
động 2011 Cuốn sách là cẩm nang về xuất nhập khẩu, giúp người đọc nắm được những kỹ năng, tập quán trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, cũng như giới thiệu những chính sách của nhà nước Việt Nam đối với hoạt động xuất nhập khẩu Qua cuốn sách còn gián tiếp giúp tác giả thấy được nếu không nắm vững kiến thức, kỹ năng, tập quán trong xuất nhập khẩu sẽ dễ dẫn đến những rủi ro trong kinh doanh xuất nhập khẩu
Tài liệu giảng dạy môn học Quản trị ngân hàng thương mại năm 2011,
khoa tài chính ngân hàng, Trường Đại học kinh tế - Đại học Đà Nẵng của PGS.TS Lâm Chí Dũng, đã khái quát quá trình quản trị rủi ro theo 4 bước cơ bản: Nhận dạng rủi ro (Risk identification); Đánh giá rủi ro (Risk Assessment); Kiểm soát rủi ro (Risk controlling); Tài trợ rủi ro (Risk financing) Tài liệu chuyên sâu nghiên cứu các công cụ, kỹ thuật đánh giá đo lường các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng như: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản … rất đa dạng, hữu ích
Bài viết Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng trên thế giới, bài viết năm
2012, đăng trên báo điện tử
Trang 14http://www.tapchitaichinh.vn/Trao-doi-Binh-luan/Kinh-nghiem-quan-ly-rui-ro-tin-dung-tren-the-gioi/19013.tctc, tác giả ThS.Phan Thị Linh Qua đó tham khảo được những nguyên nhân rủi ro của các ngân hàng trong các cuộc khủng hoảng tài chính tín dụng, một số kinh nghiệm, phương pháp quản trị rủi ro của các nước Mỹ, Nhật bản, Trung quốc
Luận văn Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế 2011, Trường đại học Kinh tế quốc dân Hà
Nội - Hồ Quang Viễn Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn quá trình nhận diện , đo lường, kiểm soát, và phòng ngừa rủi ro và phân tích quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng Tuy nhiên, luận văn nghiên cứu chung quản trị rủi ro tín dụng, không chi tiết đến từng loại hình, sản phẩm cho vay như cho vay xuất nhập khẩu Luận văn này tham khảo những vấn đề lý luận, và những kinh nghiệm thực tiễn trong quản trị rủi ro tín dụng của BIDV giai đoạn 2008-2010
Luật các tổ chức tín dụng (đã sửa đổi, bổ sung năm 2004) cung cấp
những khái niệm mang tín pháp lý về thành lập, tổ chức và hoạt động của các
tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN do Thống đốc NHNN Việt Nam ban
hành 2005, quy định chi tiết về phân loại nợ và phương thức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng tại Việt Nam giúp tác giả có cơ sở vững chắc hơn trong việc đưa ra các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng ngân hàng
Các báo cáo thường niên, quy trình, văn bản, chế độ chính sách do BIDV ban hành là nguồn tài liệu quan trọng giúp tác giả khái quát bức tranh toàn cảnh về quá trình quản trị rủi ro tín dụng của BIDV Bình Định
Báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2009-2012 của BIDV Bình Định là nguồn tài liệu quan trọng giúp tác giả tập
Trang 15hợp số liệu nghiên cứu cho đề tài
Báo cáo chính trị trình đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XVIII (2011-2015), báo cáo Tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Bình Định (2009-2012), Báo cáo tình hình hoạt động xuất nhập khẩu của Sở công thương Bình Định (2009-2012), Báo cáo tổng kết của Ngân hàng nhà nước Chi nhánh Bình Định (2009-2012), là nguồn tư liệu giúp tác giả đánh giá được thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu của tỉnh, hoạt động tài chính tín dụng của các ngân hàng trên địa bàn, thị phần của BIDV Bình Định, cũng như định hướng phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh Bình Định trong thời gian tiếp theo
Trang 16CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Doanh nghiệp xuất nhập khẩu
a Khái niệm
- Kinh doanh xuất nhập khẩu: là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thông qua hành vi mua bán [7] Bao gồm hoạt động xuất khẩu và nhập
khẩu:
+ Xuất khẩu: trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng
hóa và dịch vụ cho nước ngoài Theo khoản 1 điều 28 luật thương mại việt nam 2005: Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ việt nam được coi
là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
+ Nhập khẩu: trong lý luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này
mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước Theo khoản 2 điều 28 luật thương mại việt nam 2005: Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
nghiệp trực tiếp tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu Doanh nghiệp xuất nhập khẩu là chủ thể của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
Trang 17b Đặc điểm kinh doanh xuất nhập khẩu
- Hoạt động xuất, nhập khẩu liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau, nên chủ thể kinh doanh xuất nhập khẩu cũng có thể ở nhiều quốc gia khác nhau Chính từ đây cũng sẽ phát sinh sự ràng buộc khác nhau về luật lệ, quy chế ở mỗi nước, các vấn đề về giá cả, lãi suất, và dẫn đến phát sinh những vấn đề vướng mắc, phức tạp trong nghiệp vụ
- Hàng hóa trong kinh doanh xuất nhập khẩu là những sản phẩm, dịch
vụ được di chuyển qua khỏi biên giới hải quan của các quốc gia
- Đồng tiền trong thanh toán xuất nhập khẩu là ngoại tệ đối với ít nhất
là một trong các bên kinh doanh Vì vậy, có thể là đồng tiền của nước nhập khẩu, nước xuất khẩu, hoặc là của nước thứ ba và thường thống nhất khi ký các hợp đồng liên quan
- Pháp lý trong thanh toán xuất nhập khẩu: Đối với phương thức tín dụng chứng từ thì văn bản pháp lý quan trọng là UCP và UCP 600 (là bản sửa đổi mới nhất của Phòng thương mại Quốc tế được áp dụng từ ngày 01/07/2007) Các phương thức thanh toán khác được thực hiện theo thông lệ
Dưới đây xem xét một số hình thức cho vay XNK thông dụng: [10]
a Cho vay đối với doanh nghiệp xuất khẩu
Ø Cho vay thông thường:
Cho vay thông thường là việc ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để họ sử dụng trong một thời gian nhất định Đây là hình thức cho
Trang 18vay truyền thống, giống như các dạng cho vay thông thường khác, bao gồm cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, Hình thức cho vay này được sử dụng cho các mục đích thu mua, sản xuất, chế biến xuất khẩu, các chi phí phát sinh trong quá trình xuất khẩu, hoặc mua máy móc thiết bị nước ngoài,
Ø Cho vay trên cơ sở hối phiếu:
Doanh nghiệp xuất khẩu khi cần tiền có thể vay ngân hàng bằng cách đem chiết khấu các hối phiếu chưa đến hạn trả tiền
Cơ sở để xác định số tiền cho vay tối đa là giá trị của hối phiếu sau khi
đã trừ đi giá trị chiết khấu và lệ phí nhờ thu Thời hạn cho vay tối đa bằng hình thức này là thời hạn còn lại chưa đến hạn thanh toán của hối phiếu
Ø Chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất khẩu:
Đây là hình thức cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp xuất khẩu trên cơ sở chiết khấu bộ chứng từ trước khi đến hạn thanh toán bộ chứng
từ đó Với hình thức này ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp xuất khẩu
có thể thu hồi được vốn nhanh tương tự như chiết khấu hối phiếu Lãi xuất chiết khấu phụ thuộc vào phương thức chiết khấu: (1) Chiết khấu có truy đòi; (2) Chiết khấu miễn truy đòi
Ø Cho vay ứng trước cho người xuất khẩu:
Trong quá trình chuẩn bị và thực hiện hợp đồng xuất khẩu các doanh nghiệp xuất khẩu cũng có thể đề nghị ngân hàng tạm ứng một phần vốn để doanh nghiệp thực hiện thu mua, chế biến, sản xuất ra sản phẩm cho chính hợp đồng xuất khẩu đó, cho đến khi thu được tiền từ hoạt động xuất khẩu và dùng chính nguồn thu đó để trả nợ ngân hàng Hình thức cho vay này bao gồm hai hình thức cơ bản sau:
- Cho vay ứng trước trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ:
Sau khi lập xong bộ chứng từ hàng hoá, vận chuyển, bảo hiểm và các chứng từ liên quan khác, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ nộp lên ngân hàng của
Trang 19mình nhờ thu hộ tiền Ngân hàng của doanh nghiệp xuất khẩu sẽ chuyển đến ngân hàng của nhà nhập khẩu (hoặc ngân hàng giao dịch) với chỉ thị chỉ giao chứng từ khi đã thanh toán (điều kiện D/P: Documents against Payment) hoặc chấp nhận một hối phiếu đòi nợ kèm theo (điều kiện D/A: Documents against Acceptance)
Thường doanh nghiệp xuất khẩu sử dụng hình thức này để tìm kiếm nguồn tài trợ ngắn hạn phục vụ nhu cầu tiền mặt tạm thời Cho vay ứng trước trong phương thức nhờ thu có thể xem như chiết khấu từng phần
- Cho vay ứng trước trong phương thức tín dụng chứng từ:
Tín dụng chứng từ phục vụ đặc biệt cho việc đảm bảo nhiệm vụ cung ứng và thanh toán trong quan hệ ngoại thương nhưng nó cũng bao hàm cả các nhân tố tín dụng
Cho vay ứng trước trong phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng với L/C điều khoản đỏ Đây là loại thư tín dụng quy định một khoản tiền ứng trước của nhà nhập khẩu cho nhà xuất khẩu vào một thời điểm xác định, trước khi xuất trình bộ chứng từ hàng hoá Các điều khoản ứng trước thường được quy định trong một điều kiện thuận lợi cho các bên thực hiện
Điều khoản này yêu cầu ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận cấp cho nhà xuất khẩu một khoản tín dụng trước khi giao hàng Nhà xuất khẩu chịu chi phí liên quan còn ngân hàng mở L/C chịu trách nhiệm về khoản ứng trước này
Ø Tín dụng xuất khẩu bao thanh toán:
Theo quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của Ngân hàng Nhà nước thì tín dụng xuất khẩu bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng (người xuất khẩu) thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng
Trang 20Tín dụng bao thanh toán cho doanh nghiệp xuất khẩu thực chất là hình thức mua bán nợ của ngân hàng và doanh nghiệp xuất khẩu Nội dung hoạt động tín dụng bao thanh toán cho doanh nghiệp xuất khẩu gồm: cung cấp tín dụng, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và thực hiện việc thu tiền khi đến hạn
b Cho vay đối với doanh nghiệp nhập khẩu
Các ngân hàng thương mại cho doanh nghiệp nhập khẩu vay để thực hiện các nghĩa vụ của mình trong trong các hợp đồng thương mại quốc tế, với các hình thức cho vay như: cho vay mở thư tín dụng, chấp nhận hối phiếu, cho vay thấu chi,
Ø Cho vay mở thư tín dụng (L/C):
Thư tín dụng (L/C) là một văn bản pháp lý trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu họ xuất trình được bộ chứng phù hợp với những nội dung của L/C Ưu điểm của cho vay ký quỹ để mở L/C là đáp ứng vốn kịp thời cho hoạt động nhập khẩu Tuy nhiên, hình thức cho vay này cũng có rủi ro vì cho vay trên cơ sở chứng từ chứ không căn cứ trên hàng hóa, nếu hàng hóa kém giá trị hay hư hỏng thì ngân hàng bị tổn thất
Ø Tín dụng chấp nhận hối phiếu:
Tín dụng chấp nhận hối phiếu là hình thức tín dụng được thực hiện trên
cơ sở ngân hàng ký hợp đồng tín dụng với doanh nghiệp nhập khẩu, trong đó các ngân hàng ký cam kết chấp nhận các hối phiếu mà khách hàng của mình phải thanh toán Hình thức tín dụng này đảm bảo cho doanh nghiệp nhập khẩu thanh toán khi đến hạn
Đối với ngân hàng kể từ khi ký chấp nhận hối phiếu cũng chính là thời điểm bắt đầu gánh chịu rủi ro nếu người mua không có tiền thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến hạn thanh toán Tuy nhiên, nếu đến thời hạn thanh toán người mua có đủ tiền thì ngân hàng có thể không phải ứng tiền ra Như
Trang 21vậy, khoản tín dụng chỉ là hình thức, một sự đảm bảo tài chính Lúc này ngân hàng nhận được một khoản phí chấp nhận, nó là khoản tiền bù đắp cho chi phí gánh chịu rủi ro của ngân hàng
Ø Cho vay ứng trước cho nhà nhập khẩu:
Cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nhập khẩu cũng rất cần được cho vay theo hình thức ứng trước của ngân hàng Đó là khi họ cần phải thanh toán tiền mặt cho nhà xuất khẩu, hoặc khi mà hàng hóa chưa
về đến cảng và doanh nghiệp chưa tiêu thụ được hàng hóa để thu hồi vốn
Ø Cho vay doanh nghiệp nhập khẩu theo hạn mức:
Ngân hàng cấp một hạn mức tín dụng cho doanh nghiệp nhập khẩu để thanh toán tiền hàng trong thời gian từ khi phải trả tiền hối phiếu đến khi tiêu thụ được hàng hoặc bán được sản phẩm sản xuất do sử dụng đầu vào nhập khẩu đó Hình thức cho vay này gắn với chứng từ hàng hóa nhập khẩu nên ngân hàng thường chi phối bộ chứng từ và hàng hóa để giảm thiểu rủi ro
1.2 KHÁI NIỆM RỦI RO CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK
a Khái niệm rủi ro cho vay
Theo văn bản pháp lý hiện hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì: "Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết"
[12]
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại Rủi
ro cho vay cũng chính là rủi ro tín dụng Vì vậy, rủi ro cho vay của ngân hàng
có thể hiểu là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động cho vay của ngân hàng
do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ
Trang 22trả nợ của mình theo cam kết
Chúng ta cần hiểu rõ hơn rằng rủi ro cho vay ở đây không chỉ là những rủi ro đã xảy ra, đang hiện hữu, mà phải đặc biệt quan tâm đến những nguy cơ phát sinh rủi ro, những rủi ro tiềm ẩn Như vậy, để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay, không chỉ có các biện pháp xử lý rủi ro đã phát sinh, mà quan trọng hơn là phải có những biện pháp nhận biết, phòng ngừa nhằm hạn chế rủi ro phát sinh
b Đặc điểm của rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK
Để có thể chủ động phòng ngừa các rủi ro cho vay phát sinh một cách hiệu quả thì vấn đề đặt ra là phải nhận biết được chúng thông qua những đặc điểm cơ bản sau:
- Rủi ro cho vay mang tính gián tiếp:
Trong quan hệ cho vay, ngân hàng thương mại chuyển giao quyền sử dụng vốn cho doanh nghiệp XNK để sử dụng vào hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh XNK, và doanh nghiệp phải có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ nợ gốc
và lãi Rủi ro cho vay xảy ra doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình hoạt động kinh doanh, dẫn đến mất vốn, không có đủ vốn để hoàn trả nợ vay cho ngân hàng Nói cách khác, những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là nguyên nhân gián tiếp gây nên rủi ro cho ngân hàng
- Rủi ro cho vay có tính chất đa dạng và phức tạp:
Hoạt động kinh doanh XNK với những đặc điểm là đa dạng, phức tạp
do có liên quan đến yếu tố nước ngoài, liên quan đến tỷ giá hối đoái, nghiệp
vụ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, Do đó, rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp XNK cũng rất đa dạng và phức tạp, từ nguyên nhân rủi ro, đến hình thức, hậu quả của rủi ro
- Rủi ro cho vay có tính tất yếu, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại:
Trang 23Khả năng trả nợ của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều yếu tố mà khi cho vay cũng chỉ xác định mang tính chất dự đoán, và trong thực tế có thể thay đổi như phương án sản xuất kinh doanh, tài sản đảm bảo, Như vậy, bất
cứ khoản vay nào cũng có thể có những rủi ro xảy ra khi mà khả năng trả nợ của khách hàng luôn luôn bị tác động bởi các yếu tố biến động
- Rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK gắn liền với rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh toán XNK:
Hoạt động kinh doanh XNK luôn chịu rủi ro từ tỷ giá, rủi ro trong khâu thanh toán Tỷ giá hối đoái luôn biến động, sự biến động, kéo theo ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước và hầu hết các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế đối ngoại, nhất là hoạt động xuất nhập khẩu Rủi ro tỷ giá có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp, dẫn đến rủi ro cho vay
- Rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK gắn liền với những thay đổi về môi trường pháp lý, những thay đổi về kinh tế, chính trị các nước liên quan:
Hoạt động kinh doanh XNK của doanh nghiệp, và hoạt động cho vay của ngân hàng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố thuộc về môi trường pháp
lý, sự thay đổi về kinh tế, chính trị của các nước, nhất là sự thay đổi môi trường về hoạt động xuất nhập khẩu như là thay đổi các chính sách khuyến khích xuất khẩu hay hạn chế nhập khẩu, bất ổn về chính trị,
1.2.2 Phân loại rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK
Có nhiều cách phân loại rủi ro cho vay khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK thành các loại khác nhau
a Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro
Rủi ro cho vay được phân thành 2 loại chính là rủi ro giao dịch và rủi ro
danh mục: [6]
- Rủi ro giao dịch (Transaction risk): Là rủi ro cho vay mà nguyên
Trang 24nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay đối với doanh nghiệp XNK, nhất là những hạn chế trong việc nắm bắt thông tin kinh tế thị trường xuất nhập khẩu, những kiến thức trong kinh doanh xuất nhập khẩu để phục vụ cho công tác thẩm đinh, xét duyệt, cũng như quản
lý, thu hồi khoản vay
- Rủi ro danh mục (Portfolio risk): Là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh
là do những hạn chế trong việc quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, như việc tập trung cho vay quá nhiều vào một lĩnh vực, ngành hàng XNK nào đó, hay tập trung vào một số doanh nghiệp, hay một số sản phẩm cho vay,
b Căn cứ vào tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro
Rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK được phân thành rủi ro khách quan
và rủi ro chủ quan
- Rủi ro cho vay khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, hỏa hoạn, cướp biển, thay đổi môi trường pháp lý, biến động tỷ giá… và các biến động ngoài dự kiến khác dẫn đến thất thoát vốn vay Trong cho vay doanh nghiệp XNK, rủi ro tỷ giá là rủi ro đặc thù và thường xảy ra Tỷ giá liên tục thay đổi, và sự thay đổi đó làm ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp xuất nhập khẩu, ảnh hưởng đến việc trả nợ vay
- Rủi ro cho vay chủ quan là rủi ro do nguyên nhân chủ quan của ngân hàng và doanh nghiệp do vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay những
lý do chủ quan khác Trong cho vay doanh nghiệp XNK thường gặp rủi ro do doanh nghiệp không hoàn trả khi đối tác mất khả năng thanh toán hoặc cố ý không thanh toán
Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay,
Trang 251.2.3 Hậu quả (tác động) của rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK
Rủi ro cho vay luôn tiềm ẩn trong kinh doanh ngân hàng và gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn cầu
a Đối với ngân hàng
Rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK tác động rất lớn đến rủi ro cho vay nói chung của ngân hàng Mức độ nhẹ nhất là khi ngân hàng không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất là khi ngân hàng không thu được vốn và lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị thua lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài và ngân hàng không khắc phục được thì sẽ dẫn đến phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng
Khi xảy ra rủi ro cho vay thì có thể sẽ kéo theo hàng loạt rủi ro khác, như ngân hàng sẽ thiếu tiền chi trả cho khách hàng dẫn đến cả rủi ro về thanh khoản, lợi nhuận ngân hàng giảm thấp Mặt khác, khi khả năng thanh khoản của ngân hàng có biểu hiện không tốt sẽ ảnh hưởng đến tâm lý khách hàng, có thể dẫn đến hiện tượng rút tiền hàng loạt Hậu quả là xuất hiện tình trạng không có sự ăn khớp giữa lượng vốn huy động với lượng vốn cho vay và đây chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện rủi ro lãi suất Như vậy,
có thể thấy rằng ủi ro cho vay là loại rủi ro phổ biến và có ảnh hưởng lớn nhất, gây ra tổn thất nhiều nhất cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng
b Đối với nền kinh tế
Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp, các ngành và các cá nhân, vì vậy khi một ngân hàng gặp phải rủi ro thì sẽ ảnh hưởng đến cộng đồng doanh nghiệp, dân cư, ảnh hưởng đến nền kinh tế Ngân hàng khó khăn, hay phá sản sẽ gây ảnh hưởng đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh
Trang 26hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế, nó sẽ làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng cao, sức mua giảm, tình trạng thất nghiệp gia tăng mạnh, xã hội rơi vào trạng thái mất ổn định
Bên cạnh đó, hiện nay nền kinh tế của mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới, hoạt động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia phát triển rất nhanh nên rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK tại một nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp và ngân hàng của nước khác và ảnh hưởng đến nền kinh tế các nước có liên quan
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NHTM
1.3.1 Khái niệm và vai trò của quản trị rủi ro cho vay
a Khái niệm quản trị rủi ro cho vay
Quản trị rủi ro cho vay là quá trình tiếp cận rủi ro cho vay một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát, và tối thiểu hoá những tác động bất lợi của rủi ro cho vay đối với hoạt động của ngân hàng
Quản trị rủi ro cho vay là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách cho vay nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững, tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp
nợ quá hạn, nợ xấu trong cho vay, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động cho vay cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM
b Vai trò và mục tiêu của quản trị rủi ro cho vay
Quản trị rủi ro cho vay gắn liền với quản trị và kinh doanh tín dụng là một trong những hoạt động chủ đạo của NHTM
Quản trị rủi ro cho vay phải hướng vào các mục tiêu sau:
- Nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong giới hạn rủi ro
Trang 27có thể giám sát và khả năng chịu đựng được rủi ro
- Đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả, phát triển bền vững trong điều kiện thị trường đầy biến động, nguy cơ rủi ro ngày một gia tăng
- Thực hiện đúng quy định của nhà nước và của pháp luật hiện hành Nói một cách cụ thể hơn thì quản trị rủi ro cho vay nhằm vào việc hạ thấp rủi ro cho vay, nâng cao mức độ an toàn cho kinh doanh của NHTM bằng các chính sách các biện pháp quản lý, giám sát các hoạt động cho vay khoa học và hiệu quả
1.3.2 Nội dung quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK trong NHTM
a Nhận diện rủi ro trong cho vay DN XNK
Nhận dạng rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK bao gồm các nội dung: theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay để thống kê các dạng rủi ro cho vay, nguyên nhân từng thời kỳ và dự báo được những nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra rủi ro cho vay
Rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK có thể được nhận biết dựa trên các yếu tố đặc thù cấu thành tạo nên rủi ro cho vay của từng sản phẩm hay hoạt động ngân hàng như:
- Rủi ro khách hàng và ngành hàng: Các doanh nghiệp và ngành hàng XNK khác nhau có mức độ rủi ro khác nhau Trường hợp đối với doanh nghiệp và ngành hàng có mức độ rủi ro được xác định cao có thể hạn chế bằng cách đưa ra những yêu cầu cao hơn như tăng tài sản đảm bảo, tăng vốn chủ sở hữu và giám sát chặt chẽ hơn Việc lựa chọn khách hàng mục tiêu và ngành nghề XNK mục tiêu để cho vay là rất cần thiết và quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động cho vay
- Rủi ro sản phẩm: Các sản phẩm cho vay khác nhau chứa đựng rủi ro khác nhau, như cho vay theo loại tiền (bằng ngoại tệ, bằng đồng Việt Nam),
Trang 28cho vay trung dài hạn, cho vay theo hạn mức, chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất khẩu
- Khả năng cấp tín dụng và trình độ của cán bộ ngân hàng: rủi ro xảy ra khi cán bộ tín dụng tiến hành thẩm định phương án không chặt chẽ, thiếu thông tin và kiến thức về sản phẩm, thị trường xuất nhập khẩu, không xác định được rủi ro, thiếu kiểm tra, giám sát trong suốt thời gian cho vay Ngoài năng lực của cán bộ tín dụng còn có yếu tố khác như thông tin về phía khách hàng, về thị trường không đầy đủ, cơ sở công nghệ thông tin yếu
- Mức độ tập trung danh mục tín dụng: một nhân tố tác động tiêu cực đến khoản vay có thể gây ra tổn thất nghiêm trọng hơn nhiều nếu danh mục tín dụng của ngân hàng quá tập trung vào những khoản vay có đặc thù như vậy Để hạn chế rủi ro rủi ro, phải thường xuyên đánh giá phân tích mức độ biến động của ngành, lĩnh vực, sản phẩm, tài sản đảm bảo, thời hạn cho vay,…
- Rủi ro thanh toán gắn với các công cụ phái sinh khác nhau Trong cho vay doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường hay sử dụng các công cụ phái sinh
đi kèm như hoán đổi lãi suất, tỷ giá, hợp đồng kỳ hạn, quyền chọn tỷ giá Mỗi công cụ phái sinh này vừa là công cụ bảo hiểm, nhưng đồng thời cũng làm phát sinh những rủi ro khác nhau
Ngoài ra, việc nhận diện rủi ro còn dựa trên các dấu hiệu cảnh báo sớm Các dấu hiệu phổ biến và tập trung vào hai nhóm dấu hiệu tài chính và dấu hiệu phi tài chính của doanh nghiệp vay
Để nhận diện rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK, các ngân hàng thường thực hiện các phương pháp sau:
- Rà soát báo cáo tào chính của doanh nghiệp, đi kèm với rà soát hồ sơ khoản vay, đánh giá lại toàn bộ các yếu tố liên quan tới việc đề xuất, phê duyệt ban đầu Trường hợp có xảy ra những sự kiện ảnh hưởng xấu đến tài
Trang 29chính, hoạt động của khách hàng thì lập tức phải rà soát ngay
- Phân tích thông tin tài chính do khách hàng vay cung cấp như bảng kê các khoản phải thu, phải trả, hàng tồn kho, báo cáo tài chính được kiểm toán, hoặc quyết toán thuế, nhằm đánh giá lại tình hình hoạt động, tài chính của doanh nghiệp Một báo cáo tài chính doanh nghiệp, cùng với những hồ sơ tào chính liên quan khác (bảng kê các khoản phải thu, phải trả, hàng tồn kho, ) cho ta thấy trạng thái tài chính của doanh nghiệp đó (lợi nhuận, phi lợi nhuận) nhằm đưa ra các quyết định phù hợp Ngoài ra, một cách gián tiếp, báo cáo tài chính cho ta biết tình hình hoạt động của một doanh nghiệp, thông qua đó, góp phần đánh giá năng lực của bộ máy lãnh đạo, các hoạt động của doanh nghiệp đó Trong công tác nhận diện rủi ro, các báo cáo tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong việc xem xét, ra quyết định cho vay
- Thăm thực địa, kiểm tra trực tiếp hoạt động của khách hàng: Đây là một việc cần phải làm trong quá trình nhận diện rủi ro Việc phân tích các báo cáo tài chính, hồ sơ khách hàng, khoản vay chỉ có thể đưa ra những đánh giá
sơ bộ, đôi khi thiếu tính xác thực Trong quá trình xét duyệt, cho vay, cán bộ ngân hàng phải trực tiếp thăm thực địa, kiểm tra hoạt động thực tế của khách hàng, từ đó có cái nhìn khách quan, cụ thể, chính xác hơn về tình hình tài chính, hoạt động của khách hàng, qua đó bổ sung, kiểm chứng cho những đánh giá sơ bộ qua hồ sơ, hiểu rõ hơn về những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải
Để nhận diện rủi ro cho vay, ngân hàng thường phải liệt kê tất cả các dạng rủi ro đã, đang và sẽ có thể xuất hiện bằng các phương pháp: lập bảng câu hỏi nghiên cứu, tiến hành điều tra, phân tích các hồ sơ tín dụng, đặc biệt quan tâm điều tra các hồ sơ đã có vấn đề Kết quả phân tích cho ra những dấu hiệu, biểu hiện có thể là nguyên nhân dẫn đến rủi ro
Hiệu quả của quản trị rủi ro cho vay phụ thuộc rất lớn vào việc nhận diện rủi
Trang 30ro Một khi, ngân hàng nhận biết được và xác định chính xác các dấu hiệu rủi
ro thì việc đo lường, kiểm soát,… ở các bước tiếp theo mới thực sự có ý nghĩa và hiệu quả
b Đo lường rủi ro
Đo lường rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK là việc lượng hóa mức độ các rủi ro cũng như biết được xác suất xảy ra rủi ro, mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra để xem xét khả năng chấp nhận nó của ngân hàng, và từ đó ra quyết định cho vay một cách đúng đắn nhất Các rủi ro sau khi được lượng hóa sẽ giúp ngân hàng xác định được những rủi ro cần được ưu tiên tập trung theo dõi và kiểm soát Các đối tượng cần được đánh giá mức độ rủi ro là doanh nghiệp XNK, khoản vay của doanh nghiệp XNK, và danh mục vay XNK
Có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau để đánh giá rủi ro cho vay Các công cụ này rất đa dạng bao gồm định lượng và định tính Trong luận văn này nghiên cứu một số công cụ đo lường rủi ro cho vay DN XNK phổ biến như sau:
* Đánh giá rủi ro khách hàng vay
- Mô hình 6C (Mô hình định tính):
Trọng tâm của mô hình này là xem xét liệu người vay có thiện chí và khả năng thanh toán các khoản vay khi đến hạn hay không Và điều này liên quan đến việc nghiên cứu chi tiết "6 khía cạnh - 6C" của khách hàng, bao
gồm: [6]
+ Tư cách doanh nghiệp vay (Character): Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng doanh nghiệp có mục đích vay rõ ràng, phù hợp với các sản phẩm cho vay XNK ngân hàng cung cấp, và doanh nghiệp phải có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn
+ Năng lực doanh nghiệp vay (Capacity): doanh nghiệp vay phải có năng lực pháp luật theo đúng quy định, xem tư cách người đại diện hợp pháp
Trang 31của doanh nghiệp
+ Thu nhập của doanh nghiệp (Cashflow): xác định nguồn trả nợ của doanh nghiệp như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, tiền kinh doanh hay thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán…
+ Đảm bảo tiền vay (Collateral): là điều kiện để ngân hàng cho vay và cũng là nguồn thu thứ hai để trả nợ ngân hàng khi rủi ro xảy ra
+ Các điều kiện (Conditions): ngân hàng quy định các điều kiện cho vay tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ
+ Kiểm soát (Control): đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp, quy chế hoạt động, khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng
Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản và thường được các ngân hàng đưa vào quy trình thẩm định, xét duyệt cho vay Hạn chế của mô hình ở chỗ nó phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng của nguồn thông tin thu thập được, khả năng xử lý thông tin của cán bộ tín dụng
- Mô hình điểm số Z (Mô hình định lượng):
Mô hình này do E.I.Altman hình thành để cho điểm tín dụng đối với các công ty sản xuất ở Mỹ Mô hình phụ thuộc vào: (i) chỉ số các các yếu tố tài chính của người vay - X; (ii) tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ, được mô tả như sau:
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5 Theo mô hình này, nếu trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ
nợ càng thấp Như vậy khi trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao
Kỹ thuật đo lường rủi ro của mô hình này đơn giản Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình là chỉ cho phép phân biệt khách hàng thành hai nhóm có rủi
ro và không có rủi ro Tuy nhiên trong thực tế mức độ rủi ro tín dụng tiềm
Trang 32năng của mỗi khách hàng từ mức thấp như chậm trả lãi, không trả lãi, cho đến mức mất hoàn toàn cả gốc và lãi của khoản vay
- Chấm điểm tín dụng và xếp loại tín dụng
Hiệp ước Basel II cho phép ngân hàng lựa chọn giữa “đánh giá tiêu chuẩn” và “xếp loại nội bộ” Về cơ bản có 2 công cụ là xếp loại tín dụng (Credit rating) đối với khách hàng doanh nghiệp và chấm điểm tín dụng (Credit scoring) đối với khách hàng cá nhân Hiện tại, các ngân hàng thường
sử dụng công cụ xếp loại tín dụng doanh nghiệp để đánh giá xếp loại rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK Tại các ngân hàng có thể khác nhau về cách thực hiện, tên gọi, chỉ tiêu đánh giá rủi ro cho vay, nhưng luôn cùng chung một mục đích là xác định khả năng, thành ý của khách hàng trong hoàn trả tiền vay, lãi vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết
* Đánh giá rủi ro khoản vay:
Để đánh giá rủi ro khoản vay, theo Basel II có thể tính xác xuất rủi ro
dự kiến hay tổn thất dự kiến EL (expected loss) theo khả năng vỡ nợ PD (probability of default) với mức độ tổn thất khi vỡ nợ LGD (loss given default) và tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ EAD (exposure at default) theo công thức sau:
EL = PD x LGD x EAD Phương pháp này đòi hỏi ngân hàng phải có số liệu thống kê rủi ro đầy
đủ, mà yêu cầu này hiện tại các ngân hàng thương mại Việt Nam khó đáp ứng được, do đó phương pháp này rất ít được sử dụng
* Đánh giá mức độ rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK: Dựa vào một số chỉ tiêu sau:
- Tỷ lệ nợ quá hạn:
Tỷ lệ nợ quá hạn = (Dư nợ quá hạn / Tổng dư nợ) x 100%
Trang 33c Kiểm soát rủi ro
Kiểm soát rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK là các hoạt động thường xuyên nhằm để giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro, cũng như mức độ nghiêm trọng của thiệt hại Đó là những kỹ thuật, những công cụ, những chiến lược và những quá trình nhằm biến đổi rủi ro thông qua việc kiểm soát tần suất và mức độ của rủi ro hoặc tổn thất Căn cứ vào mức độ rủi ro đã được tính toán, các hệ số an toàn tài chính, và khả năng chấp nhận rủi ro mà có những biện pháp phòng chống khác nhau nhằm làm giảm mức độ thiệt hại
Các kỹ thuật kiểm soát rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK thường được
sử dụng, gồm: Né tránh; ngăn ngừa rủi ro; giảm thiểu tổn thất; đa dạng hóa sản phẩm nhằm phân tán rủi ro Cụ thể về từng phương pháp như sau:
- Né tránh rủi ro: Né tránh những đối tượng khách hàng, khoản cho vay, những ngành hàng, thị trường có thể làm phát sinh tổn thất bằng cách ngăn chặn ngay từ đầu bằng cách áp dụng chính sách cho vay linh hoạt trong từng thời kỳ
- Ngăn ngừa rủi ro: Chương trình ngăn ngừa tổn thất tìm cách giảm bớt
số lượng các rủi ro xảy ra hoặc loại bỏ chúng hoàn toàn Thường các ngân hàng sử dụng biện pháp ngăn ngừa rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK thông qua quy trình cho vay, phân cấp thẩm quyền phán quyết tín dụng Thông qua
Trang 34các quy trình, quy định về thẩm quyền, có thể ngăn ngừa những rủi ro xảy ra trong quá trình xét duyệt cho vay, quản lý thu hồi nợ vay
- Giảm thiểu tổn thất: Các biện pháp giảm thiểu tổn thất từ các rủi ro bằng cách làm giảm bớt giá trị rủi ro, tổn thất khi rủi ro xảy ra (tức giảm nhẹ mức tổn thất) Những biện pháp này được đặt ra trước khi một tổn thất nào đó xuất hiện, mục đích của những biện pháp này là làm giảm tác động của tổn thất một cách hiệu quả nhất Các biện pháp giảm thiểu tổn thất thường được
sử dụng:
+ Xây dựng các kế hoạch phòng ngừa rủi ro: thể chế hoá các chính sách quy trình hành động ngay khi xuất hiện dấu hiệu tổn thất nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại do thổn thất gây ra
+ Lập dự phòng rủi ro: là việc chuẩn bị sẵn một tài sản khác bù đắp cho tổn thất có thể xảy ra của tài sản gốc Công tác này được các NHTM thực hiện thông qua việc gia tăng tài sản đảm bảo của khách hàng vay, trích lập quỹ dự phòng rủi ro
+ Gia tăng tài sản đảm bảo (tăng số lượngk, giá trị tài sản) Khi rủi ro xảy ra, việc phát mãi tài sản để thu hồi nợ là biện pháp khá hữu hiệu mà các ngân hàng thường sử dụng để giảm thiểu mức độ rủi ro trong cho vay doanh nghiệp XNK
- Đa dạng hóa sản phẩm nhằm phân tán rủi ro: Đây là một nỗ lực làm giảm sự tác động của tổn thất lên toàn bộ ngân hàng bằng cách đa dạng hóa khách hàng, đa dạng hóa các loại hình cho vay, đa dạng hóa các lĩnh vực và ngành nghề Kỹ thuật này thường được thực hiện thông qua định hướng công tác cho vay đối với doanh nghiệp XNK trong từng thời kỳ
Trong quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK, thông thường các ngân hàng thương mại thực hiện thể chế hóa các biện pháp, kỹ thuật kiểm soát rủi ro thông qua hệ thống các văn bản chính sách của mình Nội dung chính
Trang 35của hoạt động này thể hiện qua việc xây dựng chính sách cho vay và tổ chức hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Chính sách tín dụng đặt ra mục tiêu, yêu cầu, định hướng cho hoạt động tín dụng trong cho vay doanh nghiệp XNK, và những người làm công tác tín dụng Việc tổ chức tốt hoạt động cho vay sẽ giúp công tác kiểm soát được rủi ro được hiệu quả Một quy trình hoạt động cho vay tốt phải thể hiện rõ ở hệ thống văn bản thực thi chính sách, quy trình cho vay, sự tách bạch các chức năng, nguyên tắc bỏ phiếu trong quyết định cho vay, kiểm soát nội bộ, hệ thống quản lý thông tin khách hàng
Ngoài ra các ngân hàng còn xây dựng hệ thống giám sát rủi ro tín dụng
Hệ thống này cần liên tục được hoàn thiện với mục tiêu kiểm soát chặt chẽ các quy trình chính sách tín dụng nhằm giảm thiểu rủi ro Việc giám sát rủi ro tín dụng bao gồm giám sát riêng lẻ và giám sát tổng thể danh mục tín dụng
d Tài trợ rủi ro
Tài trợ rủi ro cho vay là việc sử dụng những kỹ thuật, công cụ để tài trợ cho chi phí của rủi ro và tổn thất Đây là các hoạt động triển khai bù đắp về mặt tài chính những tổn thất đã xảy ra
Cũng như đối với các loại rủi ro khác, kỹ thuật tài trợ rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK bao gồm các phương án:
- Tự khắc phục: Là việc ngân hàng từ mình bù đắp cho tổn thất mà ro rủi ro cho vay gây ra, cụ thể là sử dụng nguồn tiền từ quỹ dự phòng rủi ro tín dụng đã trích, bán tài sản đảm bảo để thu nợ
- Chuyển giao rủi ro: Là việc chuyển giao toàn bộ hoặc một phần kinh phí bù đắp tổn thất cho đối tượng khác bên ngoài gánh chịu, thông qua các hình thức như mua bán nợ, mua bảo hiểm,
- Trung hòa rủi ro: Thực hiện trao đổi những đặc điểm có lợi cho nhau với một đối tượng khác để hai bên cùng có lợi, hạn chế mức độ tổn thất, như hình thức hợp đồng rao đổi tín dụng, cho vay đồng tài trợ
Trang 36Trong quản trị rủi ro cho vay, các ngân hàng thường dùng phổ biến một
số công cụ tài trợ rủi ro như: Bù đắp tổn thất bằng quỹ dự phòng rủi ro, bán
nợ, hợp đồng trao đổi tín dụng, Hợp đồng trao đổi các khoản tín dụng rủi ro, phát mãi tài sản, yêu cầu bên thứ 3 trả nợ thay, khởi kiện, các biện pháp khuyến khích trả nợ, tham gia bảo hiểm, chứng khoán hóa các khoản nợ Cụ thể một số cong cụ tài trợ rủi ro thường được sử dụng hiện nay trong cho vay doanh nghiệp XNK:
Ø Bù đắp tổn thất bằng quỹ dự phòng rủi ro:
Việc trích lập và sử dụng quỹ DPRR hiện nay của các NHTM tại Việt Nam được thực hiện theo quy định tại Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Theo đó:
+ Dự phòng rủi ro cụ thể: là khoản tiền được trích lập trên cơ sở kết
quả phân loại đối với từng khoản vay nhằm dự phòng cho tổn thất với chính khoản vay đó, được tính theo công thức:
R = max {0, (A - C)} x r Trong đó
R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích
A: giá trị các khoản nợ
C: giá trị tài sản đảm bảo (được xác định trên cơ sở tích số giữa tỷ lệ áp dụng với giá trị tài sản theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN)
r : tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cụ thể theo từng nhóm nợ (nhóm 1: 0%, nhóm 2: 5%, nhóm 3: 20%, nhóm 4: 50%, nhóm 5: 100%)
+ Dự phòng chung: là khoản tiền được trích lập theo danh mục tín
dụng để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được khi trích lập dự phòng đối với từng khoản nợ cụ thể, được tính "bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4"
Trang 37Ø Các biện pháp khuyến khích trả nợ: áp dụng miễn, giảm lãi, khoanh lãi, Biện pháp này thường áp dụng đối với khách hàng gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan, có thiện chí trả nợ Biện pháp này được các ngân hàng ưu tiên thực hiện đối với doanh nghiệp XNK
Ø Phát mãi tài sản: Trước tiên, ngân hàng cố gắng thuyết phục khách hàng tự nguyện chủ động bán tài sản của mình để trả nợ Nếu khách hàng không có thiện chí thì ngân hàng tiến hành bán tài sản đảm bảo theo quy định của pháp luật
Ø Tham gia bảo hiểm trong suốt quá trình cho vay Biện pháp này rất quan trọng và được sử dụng bắt buộc trong cho vay doanh nghiệp XNK, nhất
là bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm khi vận chuyển, cướp biển,
Ø Trả nợ thay: là biện pháp yêu cầu bên bảo lãnh thứ ba trả nợ thay cho người vay Đối với doanh nghiệp XNK thường khó đáp ứng điều kiện tài sản đảm bảo Do đó, các ngân hàng thường yêu cầu phải có bảo lãnh của bên thứ ba
Ø Khởi kiện: nếu áp dụng biện pháp này, ngân hàng cần khẩn trương hoàn thiện các thủ tục pháp lý để khởi kiện khách hàng Với môi trường pháp
lý hiện nay, việc khởi kiện ra tòa là biện pháp ít hiệu quả, khả năng thu hồi được nợ từ khởi kiện với giá trị thấp, thời gian kéo dài, do đó chỉ được xem là biện pháp cuối cùng khi mà đã thực hiện tích cực các biện pháp khác mà vẫn không thu hồi hết nợ vay
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày một các khái quát cơ sở lý luận về cho vay xuất nhập khẩu, rủi ro cho vay và quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp xuất nhập khẩu Trọng tâm của Chương 1 đề cập chi tiết đến quá trình quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK với 4 nội dung cơ bản : Nhận diện rủi ro - Đo lường
Trang 38rủi ro - Kiểm soát rủi ro - Tài trợ rủi ro Những vấn đề trên sẽ là cơ sở cho việc thực hiện các mục tiêu nghiên cứu thực trạng quản trị rủi ro cho vay DN XNK tại BIDV Bình Định trong chương tiếp theo
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU
TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH
2.1 KHÁI QUÁT VỀ BIDV BÌNH ĐỊNH
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 30/03/1977 Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết tỉnh Nghĩa Bình - tiền thân của BIDV Bình Định hiện nay - ra đời, trực thuộc Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam, theo Quyết định số 580 ngày 15/11/1976 của Bộ Tài chính
Qua nhiều lần thay đổi, đến tháng 5/2012, BIDV đã được cổ phần hóa, thay đổi hình thức sở hữu thành ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP), và BIDV Bình Định chính thức có tên đầy đủ là Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bình Định
2.1.2 Mô hình tổ chức và quản lý
Ban giám đốc: 1 Giám đốc và 04 phó Giám đốc
Dưới Ban giám đốc có: 19 phòng được phân làm 5 khối
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức quản lý của BIDV Bình Định
04 Phòng
QHKH
P.Quản trị TD
02 Phòng GDKH
Phòng QL&DV kho quỹ
Phòng TCKT
Phòng TCHC Phòng KHTH
07 Phòng Giao dịch
Ban Giám đốc chi nhánh
Khối tác nghiệp
Phòng QLRR
Trang 40Mô hình tổ chức hệ thống BIDV đã dần được hoàn thiện theo mục tiêu chuyển đổi từ mô hình ngân hàng truyền thống sang mô hình ngân hàng hiện đại, đa năng Hiện tại mô hình tổ chức quản lý của BIDV Bình Định gồm:
Ban giám đốc: Giám đốc và các phó Giám đốc
Dưới Ban giám đốc có: 19 phòng được phân làm 5 khối Về cơ bản đã phân tách về mặt tổ chức giữa khối kinh doanh, khối quản lý rủi ro và khối tác nghiệp Cụ thể:
- Khối quan hệ khách hàng (QHKH): gồm 04 phòng QHKH
- Khối quản lý rủi ro: Phòng quản lý rủi ro (QLRR)
- Khối tác nghiệp: gồm phòng Quản trị tín dụng, 02 phòng Giao dịch khách hàng, phòng Quản lý và dịch vụ kho quỹ
- Khối quản lý nội bộ: các phòng Tài chính kế toán, Tổ chức hành chính, Kế hoạch tổng hợp (bao gồm Tổ điện toán trực thuộc phòng KHTH)
- Khối đơn vị trực thuộc: gồm 07 phòng giao dịch
2.1.3 Các nguồn lực chủ yếu
a Cơ sở vật chất
Bảng 2.1 Cơ sở vật chất của BIDV Bình Định
(Nguồn: Báo cáo BIDV Bình Định năm 2010-2012)
Nguồn lực về cơ sở vật chất của BIDV Bình Định không ngừng gia tăng về số lượng qua các năm, đồng thời liên tục đổi mới, nhất là thiết bị tin học nhằm gia tăng năng suất, chất lượng hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh