1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

108 436 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 857,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngành Giáo dục & Đào tạo Thành phố đã có một số cách đồng bộ các giải pháp khác nhau, phát huy được tác dụng của nhà trường mầm non vào đời sống cộng đồng và những giải pháp tăng cường v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

LÊ HOÀNG THU THỦY

PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Đà Nẵng – Năm 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

LÊ HOÀNG THU THỦY

PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển

Mã số: 60.31.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Ninh Thị Thu Thủy

Đà Nẵng – Năm 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Hoàng Thu Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM

1.1 GIÁO DỤC MẦM NON VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON 9

1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC

1.2.1 Phát triển số lượng, qui mô, mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non 16 1.2.2 Phát triển qui mô phổ cập giáo dục mầm non 20 1.2.3 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non 22

1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương 33 1.3.3 Chính sách đầu tư và quản lý của nhà nước 34 1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN THẾ

Trang 5

1.4.1 Kinh nghiệm của New Zealand 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 38 2.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA

2.1.1 Thực trạng số lượng, qui mô, mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non 38 2.1.2 Thực trạng qui mô phổ cập giáo dục mầm non 48 2.1.3 Thực trạng cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên mầm non 52 2.1.4 Thực trạng chất lượng giáo dục mầm non 56 2.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 59

2.2.3 Các chính sách đầu tư và quản lý hệ thống giáo dục mầm non 69 2.3 NHỮNG HẠN CHẾ TRONG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON

2.3.1 Những hạn chế trong phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn

3.1 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC

Trang 6

3.1.1 Quan điểm phát triển giáo dục mầm non 75

3.1.3 Định hướng phát triển giáo dục mầm non đến năm 2015 78 3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN

3.2.1 Giải pháp về công tác qui hoạch hệ thống giáo dục mầm non 79 3.2.2 Giải pháp đầu tư phát triển cơ sở vật chất trường mầm non 80 3.2.3 Giải pháp phát triển xây dựng đội ngũ giáo viên mầm non 82 3.2.4 Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục mầm non 83 3.2.5 Giải pháp về cơ chế chính sách phát triển giáo dục mầm non 85 3.2.6 Giải pháp nâng cao nhận thức của xã hội về giáo dục mầm non 86

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BP Béo phì

BQ Bình quân CBCN Chế biến công nghiệp

SDD Suy dinh dưỡng STT Số thứ tự

TB Trung bình XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

2.1 Số lượng cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn thành

2.2 Diện tích đất ở các trường bán công trên địa bàn thành

2.5 Tình hình cơ sở vật chất giáo dục mầm non thành phố

2.6 Mạng lưới trường, lớp mầm non thành phố Quy Nhơn

2.7 Các loại hình trường mầm non trên địa bàn thành phố

2.8 Mạng lưới trường, lớp mầm non thành phố Quy Nhơn

Trang 9

2.11 Qui mô phổ cập trẻ 5 tuổi thành phố Quy Nhơn năm

2.15 Trình độ giáo viên mầm non trên địa bàn thành phố Quy

2.16 Tình hình trẻ ăn tại trường mầm non trên địa bàn thành

2.17 Tình hình sức khỏe trẻ em tại trường mầm non trên địa

bàn thành phố Quy Nhơn năm học 2011-2012 58 2.18 Diện tích và dân số của thành phố Quy Nhơn năm 2010 61 2.19 Cơ cấu dân số phân theo giới tính, thành thị, nông thôn

của thành phố Qui Nhơn giai đoạn 2008 - 2010 62 2.20 Cơ cấu lao động theo ngành, lĩnh vực kinh tế qua các

2.24 Tổng sản phẩm địa phương GDP giai đoạn 2001 – 2010

Trang 10

2.25 Thu chi ngân sách của thành phố Quy Nhơn giai đoạn

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

2.1 Biểu đồ tỷ lệ các loại hình trường mầm non trên địa bàn

2.2 Biểu đồ tốc độ tăng trưởng số lượng trẻ đi nhà trẻ (0 – 2

2.7 Biểu đồ tổng sản phẩm địa phương bình quân đầu người

thành phố Quy Nhơn giai đoạn 2008 – 2010 66

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,

có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của nhân cách con người Trên thế giới, các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định giáo dục mầm non là một mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người, coi giai đoạn mầm non là “thời kỳ vàng của cuộc đời'' và thực hiện chính sách: trường mầm non là trường tự nguyện do chính quyền địa phương quản lý, trẻ 5 tuổi có thể theo học không mất tiền Gia đình và Chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với giáo dục mầm non nhằm thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em

Ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng luôn coi trọng giáo dục mầm non Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển, nhu cầu đời sống vật chất cũng như tinh thần ngày càng cao Bên cạnh đó, việc dân số tăng nhanh dẫn đến số lượng trẻ đến trường học rất đông Vì vậy, một số trường học giáo dục mầm non không đáp ứng được nhu cầu xã hội như là thiếu trường, thiếu giáo viên và những chính sách hỗ trợ cho ngành giáo dục mầm non chưa được quan tâm đúng mực Tình trạng đổ xô đi tìm trường cho trẻ đi học đang là vấn đề nóng của xã hội trong thời gian gần đây

Tại Thành phố Quy Nhơn, việc phát triển giáo dục mầm non cũng đang được đẩy mạnh và đã đạt những thành công nhất định Ngành Giáo dục

& Đào tạo Thành phố đã có một số cách đồng bộ các giải pháp khác nhau, phát huy được tác dụng của nhà trường mầm non vào đời sống cộng đồng và những giải pháp tăng cường vai trò chủ động, nòng cốt của ngành giáo dục và nhà trường mầm non trong việc phát triển thành phố nói riêng và đất nước nói chung

Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn thành phố Quy nhơn, mặc dù có sự

Trang 13

quan tâm của các cấp lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương nhưng giáo dục mầm non vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện tại

và tương lai Các chính sách cho hệ thống giáo dục mầm non, giáo viên, cơ sở vật chất, quy mô, chất lượng đào tạo v.v… còn nhiều bất cập

Xuất phát từ thực tế trên và điều kiện nghiên cứu của bản thân, tôi chọn

đề tài “Phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển giáo dục mầm non

- Phân tích thực trạng phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

- Đề xuất một số giải pháp để phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài sử dụng các phương

Trang 14

pháp sau đây:

- Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử

- Phương pháp phân tích thực chứng, phương pháp phân tích chuẩn tắc

- Phương pháp phân tích so sánh, điều tra, khảo sát, dự báo, phương pháp chuyên gia và các phương pháp khác v.v…

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo , luận văn được chia làm các chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển giáo dục mầm non

Chương 2: Thực trạng phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

Chương 3: Một số giải pháp phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định trong thời gian tới

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Nghiên cứu ngoài nước

Ở Trung Quốc, có một học giả đương đại nổi tiếng về học thuyết giáo

dục sớm, một học thuyết làm nền tảng của chương trình “giáo dục không tuổi”, đó là GS Phùng Đức Toàn với công trình nghiên cứu khoa học

“Phương án 0 tuổi” năm 1991

Ông nói “Quan niệm truyền thống cũ, xem đứa trẻ trước khi biết nói là một “ đường tiêu hóa”, còn đứa trẻ sau 3 tuổi chỉ biết hát múa, tự do chơi mà thôi Giáo dục trẻ theo khoa học phải “trong phạm vi sinh lý, tâm lý của trẻ để trẻ có thể tiếp nhận được, cảm thụ được cuộc sống của bé đang sống cực kỳ phong phú Tiền đề kích thích sự phát triển hứng thú của trẻ, giáo dục trẻ không phân biệt môn học, không chú ý đến độ nông sâu, không yêu cầu giải thích hơn, cũng không cần phải học cố định tại lớp.”

Trang 15

Nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, một số tác giả đã đề cập đến vấn đề giáo dục và trẻ em với các công trình nghiên cứu được công bố

Thứ nhất là bài viết “Một số vấn đề về giáo dục mầm non” của TS

Trần Việt Lưu (Phó Vụ trưởng vụ Giáo dục, đào tạo và dạy nghề) trên tạp chí

Tuyên giáo số 1 ngày 26/05/2011 có một số ý kiến sau:

“Giáo dục mầm non không phải là dạy trẻ thơ đọc chữ, học kiến thức khoa học; đây là loại hình giáo dục đặc biệt là sự chuẩn bị cho trẻ thơ những tiền đề quan trọng trước khi bước vào giáo dục nhà trường Thông qua sự chăm sóc ân cần, đúng phương pháp khoa học, phù hợp với sự phát triển tâm – sinh lý của trẻ, để nuôi dưỡng thể chất và tâm hồn cho trẻ

Sau gần 25 năm đổi mới đất nước, với sự nổ lực chung của Đảng và nhân dân, sự nghiệp chăm lo giáo dục trẻ ấu thơ của nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn: mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non đã được thành lập đến tận làng xã; cơ sở vật chật và thiết bị giáo dục được nâng cấp; đội ngũ những người nuôi dạy trẻ cơ bản đảm bảo về số lượng, được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ; chương trình và phương pháp giáo dục được đổi mới theo hướng tiên tiến; nhận thức của xã hội đối với giáo dục mầm non ngày càng được nâng cao, các bậc phụ huynh luôn mong muốn đưa con cháu tới cơ sở giáo dục mầm non tốt; công tác quản lý, chỉ đạo giáo dục mầm non có nhiều đổi mới theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa

Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến nêu trên với các bậc học khác, giáo dục mầm non vẫn chưa thực sự được đặt đúng vị trí trong tổng thể chính sách phát triển giáo dục Đầu tư ngân sách dành cho giáo dục mầm non trong thời gian qua rất nhỏ, hầu như chỉ mới đủ trả lương cho một bộ phận giáo viên và cán bộ quản lý thuộc biên chế, chưa đủ mạnh để nâng cấp căn bản cơ

sở vật chất, thiết bị giáo dục Do có những quan niệm chưa đúng về xã hội

Trang 16

hóa trong giáo dục mầm non, nên xảy ra tình trạng các gia đình phụ huynh phải đóng góp kinh phí khá cao cho việc gửi con cháu tới các cơ sở nuôi dạy trẻ Một bộ phận giáo viên, cô nuôi dạy trẻ chưa được biên chế (ở địa bàn nông thôn, miền núi), chỉ được vài trăm ngàn đồng Nhiều nơi chính quyền

xã, phường thiếu kiên quyết, không nêu cao vai trò trách nhiệm trong xử lý các vụ việc, để kéo dài tình trạng bỏ quy hoạch cơ sở giáo dục mầm non, lấy quỹ đất trong quy hoạch sử dụng vào mục đích kinh doanh Sự phối hợp giữa các ngành, giữa cơ quan quản lý giáo dục mầm non với các tổ chức đoàn thể

xã hội cũng chưa thường xuyên, nên chưa ngăn chặn kịp thời những hiện tượng bạo lực trong các cơ sở giáo dục mầm non tư thục

Để tránh kéo dài những hiện tượng phi giáo dục, phi khoa học trong các

cơ sở giáo dục mầm non, các cấp ủy đảng, chính quyền, các tầng lớp nhân dân cần nhận thức đúng vị trí, vai trò của giáo dục mầm non trong quá trình giáo dục con người

- Trẻ em trong độ tuổi mầm non là thời kỳ phát triển đặc biệt của bộ não, nó đặt nền móng cho việc học tập về sau cho mỗi con người

- Tuy không phải là trực tiếp, nhưng kết quả khả quan ở giáo dục mầm non sẽ có ảnh hưởng tích cực, góp phần thực hiện một số mục tiêu có tính quốc gia và tính toàn cầu về các lĩnh vực giáo dục – kinh tế - xã hội như: nâng cao kết quả học tập khi trẻ vào tiểu học, phát triển trí tuệ, thể chất, tình cảm, xóa đói giảm nghèo

- Nếu ngay từ mầm non, trẻ được phòng ngừa, tăng cường khả năng đề kháng đối với một số bệnh tật, khiếm khuyết thì sẽ giảm chi phí rất nhiều sau này, nhất là có thể tránh cho trẻ phải chịu thiệt thòi suốt đời vì một di chứng nào đó mà lẽ ra có thể can thiệp khi còn ấu thơ

- Giúp cho trẻ em (nhất là tại các nước đang phát triển) có thể được hưởng phúc lợi xã hội, giảm nguy cơ trẻ phải lâm vào hoàn cảnh sống cực kỳ

Trang 17

nghèo khổ hoặc bị tử vong so với những căn bệnh có thể phòng ngừa được

- Chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non là thực hiện cam kết quốc tế của hầu hết các nước đối với Công ước về Quyền trẻ em (Việt nam là một trong những nước đầu tiên kí cam kết này)

Như vậy, thông qua sự chăm sóc ân cần, đúng phương pháp khoa học, phù hợp với sự phát triển tâm – sinh lý của trẻ để nuôi dưỡng thể chất và tâm hồn trẻ Các yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc tới chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ thơ bao gồm: chủ trương, chính sách vĩ mô, sự vận dụng và thực hiện của ngành học và các cấp quản lý, kiến thức khoa học và sự nổ lực của những người công tác tại các cơ sở giáo dục mầm non Những yếu tố đó có mối quan

hệ chặt chẽ, cùng hướng tới mục tiêu giúp cho trẻ thơ thực sự hưởng thụ những thành quả tốt nhất của chế độ xã hội

Thứ hai là bài viết: “Thực hiện giáo dục sớm từ 0 đến 6 tuổi – Bước đột phá để nâng cao chất lượng nòi giống và đào tạo nhân tài cho đất nước” của

Vũ Oanh – Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị - Chủ tịch Hội Giáo dục chăm sóc

sức khỏe cộng đồng Việt Nam vào ngày 14 tháng 2 năm 2012 có nhấn mạnh:

Theo một số liệu mới đây thì nước ta mới chỉ có 20% trẻ em lứa tuổi nhà trẻ (3 -36 tháng) được đến trường, còn khoảng 3 triệu trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo chưa được đến trường Đây là một thiệt thòi lớn không chỉ cho trẻ

em mà còn cho cả đất nước Hiện nay, Nhà nước mới quan tâm đầu tư từ cấp tiểu học trở lên, trong khi đó cấp học mầm non từ 0 – 6 tuổi, độ tuổi có ý nghĩa quyết định cho sự phát triển về trí lực và thể lực thì lại chưa được quan tâm đúng mức Do đó, việc thực hiện chiến lược kinh tế - xã hội 2011 – 2020 của Đảng về giáo dục và đào tạo thì trước hết, Nhà nước phải đầu tư thỏa đáng cho giáo dục mầm non, đồng thời có cơ chế tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các lực lượng trong xã hội tham gia”

Thứ ba là bài viết: "Giáo dục mầm non: vấn đề lớn đối với người nhập

Trang 18

cư” của Trần Minh Quân ngày 14 tháng 10 năm 2010 có ý kiến:

Mọi người đều biết rằng, mức học phí ở bậc giáo dục mầm non thường cao hơn rất nhiều so với bậc học khác, học phí đặc biệt cao ở các trường mầm non tư thục, các nhóm trẻ trong khi phương tiện, trang thiết bị dạy học đa số lại không đảm bảo yêu cầu cần thiết

Trong khi đó trường công lập lại quá tải, một số trường ưu tiên cho người địa phương, những yêu cầu khác liên quan đến hộ khẩu thường trú cũng là rào cản để con em những người nhập cư tiếp cận với các trường mầm non công lập

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu viết về giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non:

- PGS.TS Bùi Quang Bình với công trình nghiên cứu “Vốn con người

và đầu tư vào vốn con người” năm 2009

- PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết với tác phẩm “Tâm lý trẻ em lứa tuổi

mầm non” năm 2002

Một số nghiên cứu khoa học trên trong lĩnh vực giáo dục liên quan đến trẻ em đã được triển khai, các công trình nêu từng khía cạnh và chưa phản ánh đầy đủ thực trạng và phát triển giáo dục mầm non

Do đó, trong những năm qua, giáo dục mầm non Thành phố Quy Nhơn đã có những thay đổi tích cực và đang đạt được những thành tựu đáng khích lệ về kinh tế - xã hội Giáo dục mầm non có vai trò cốt lõi đối với sự phát triển của đất nước nói chung và của từng vùng nói riêng Việc phát triển giáo dục mầm non tốt là điều kiện nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế một cách ổn định, vững chắc và lâu dài

Căn cứ vào những yếu tố đó, Nhà nước xây dựng kế hoạch và đề ra các biện pháp tốt phù hợp với quy mô phát triển của các trường, đồng thời đáp

Trang 19

ứng được nhu cầu của xã hội về giáo dục mầm non

Chính vì vậy, để xây dựng phát triển giáo dục mầm non phù hợp, Chính phủ và các bộ ngành cần nắm được những thông tin về thực trạng của nền giáo dục mầm non của Thành phố Dựa trên kết quả phân tích số liệu điều tra

và thống kê của Thành phố, bài luận văn này có thể có được một cái nhìn tổng quát về thực trạng giáo dục mầm non và những khuyến nghị về giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON

1.1 GIÁO DỤC MẦM NON VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON

1.1.1 Giáo dục mầm non

a Khái niệm giáo dục mầm non

Giáo dục mầm non là một bậc học nhằm hình thành ở trẻ em trước tuổi đến trường phổ thông (trước 6 tuổi) cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới Việt Nam Ở đây giáo dục mầm non được coi là một bậc (cấp) học như các bậc học khác (giáo dục phổ thông, giáo dục đại học…) trong hệ thống giáo dục quốc dân Điều này đã được nói đến trong quyết định 55 như sau:

“Nhà trẻ và những trường mẫu giáo là đơn vị cơ sở của ngành giáo dục mầm non, thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do ngành giáo dục quản lí Nhà trẻ, trường mẫu giáo thu nhận trẻ từ 3 tháng đến 6 hoặc 7 tuổi (trước khi trẻ vào lớp 1) để chăm sóc giáo dục, đặt nền móng đầu tiên cho việc hình thành phát triển nhân cách của trẻ

và chuẩn bị những tiền đề cần thiết để trẻ bước vào trường phổ thông”

* 100% trẻ em trong độ tuổi là đối tượng của bậc học mầm non Do tính chất xã hội hóa rất cao của bậc học mầm non nên bậc học mầm non không chỉ có trách nhiệm đối với những trẻ em đang nhận sự giáo dục trong trường lớp chính qui ở nhà trẻ mẫu giáo mà bậc học này bao gồm tất cả trẻ em trong độ tuổi dù đến lớp hay ở nhà, dù đang nhận sự giáo dục ở loại hình nào làm đối tượng và là trách nhiệm của mình

* Trẻ em là một nhân cách đang hình thành và hoàn thiện dần với tốc

độ phát triển rất nhanh ở tuổi mầm non Vì thế một mặt phải tôn trọng trẻ em, mặc khác phải tổ chức cho trẻ em phù hợp với lứa tuổi, để trẻ em được phát triển đầy đủ nhân cách của mình [22]

Trang 21

b Nhiệm vụ giáo dục mầm non

* Thu hút toàn xã hội mà trước hết là cơ quan giáo dục mầm non, ở đây nòng cốt là nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo để thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trẻ - mẫu giáo do Bộ Giáo dục quy định trong quyết định 55 là:

- “…Hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới XHCN Việt Nam:

- Khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa cân đối

- Giàu lòng thương, biết quan tâm nhường nhịn giúp đỡ những người gần gũi (bố mẹ, bạn bè, cô giáo), thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên

- Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở xung quanh

- Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có một số kỹ năng sơ đẳng (quan sát, so sánh, phân tích tổng hợp, suy luận…) cần thiết để vào trường phổ thông, thích đi học.”

* Tuyên truyền giáo dục các bậc cha mẹ nuôi dạy theo phương pháp khoa học, phê phán những tập quán lạc hậu, phản khoa học trong việc chăm sóc giáo dục trẻ em Cổ vũ toàn dân chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em theo các điều khoản của Công ước quốc tế về Quyền trẻ em (1990) và luật “Bảo

vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em” (1991) của nước ta, chú ý quan tâm đến những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong lứa tuổi mầm non

* Cùng với việc thực hiện mục tiêu của kế hoạch hóa gia đình, thực hiện luật “Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em”, giáo dục mầm non góp phần quan trọng vào việc giải phóng phụ nữ, đảm bảo hạnh phúc gia đình, nâng cao dân trí và cải thiện đời sống cho người lao động

* Nhiệm vụ của giáo dục mầm non là chuẩn bị mọi mặt cho trẻ đến trường phổ thông (về thể chất, tâm lý, trí tuệ, tình cảm, xã hội…) Cần nhận thức đúng rằng một năng lực, chức năng của trẻ chỉ có thể hình thành và phát

Trang 22

triển tốt khi có thể đạt tới một độ chín nhất định và chỉ khi đó việc tập luyện

và giáo dục mới phát huy được vai trò chủ đạo, có tính quyết định của mình trong việc hình thành năng lực, chức năng đó Việc tập luyện và giáo dục quá sớm (đốt cháy giai đoạn), học quá muộn (bỏ lỡ thời cơ) đều có thể gây những hậu quả có hại cho sự phát triển lành mạnh của trẻ Vì thế nhiệm vụ của chúng ta là phải chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông mà chưa cho trẻ học (theo đúng nghĩa của nó) trước khi học phổ thông đây là điều hợp quy luật phát triển của trẻ em trong lứa tuổi mầm non [1]

c Đặc điểm giáo dục mầm non

- Giáo dục mầm non mang tính chất giáo dục gia đình (giáo dục trẻ

suốt tuổi thơ (24/24h – 1 ngày);

Nuôi - dạy trẻ (chăm sóc, giáo dục và bảo vệ) là một quá trình thống nhất Do đặc điểm phát triển về mặt sinh lý và tâm lý của trẻ ở lứa tuổi này, nên không được phép tách rời các nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục và bảo vệ Vì không phải làm nhiệm vụ này tức là đã thực hiện nhiệm vụ kia Việc làm sẽ sai lầm nếu như ở trường mầm non chỉ chú trọng đến nuôi trẻ ở lứa tuổi từ 0 –

3 và chỉ coi trọng việc dạy từ 3 – 6 tuổi, bản chất tự nhiên của trẻ đòi hỏi phải vừa nuôi, vừa dạy trẻ Vì đây là một quá trình thống nhất của việc chăm sóc

và giáo dục trẻ

Do đó cần giáo dục bằng tấm gương, bằng môi trường, giáo dục trẻ ở mọi lúc mọi nơi, luôn thống nhất hai quá trình nuôi và dạy trẻ; vừa chăm sóc, vừa bảo vệ và giáo dục trẻ…) Chính vì thế, lúc ở trường cô giáo cũng là người mẹ và ở nhà thì mẹ lại là cô giáo – mẹ đẻ là cô giáo đầu tiên và gia đình

là môi trường giáo dục đầu tiên của con trẻ - chẳng thế mà A.X.Macrenco nói:” Mỗi mét vuông là một môi trường giáo dục trẻ thơ”

- Giáo dục mầm non mang tính chất xã hội hóa cao và tính tự nguyện

cao Ai là người không qua độ tuổi thơ, ai là người không cần đến sự giáo

Trang 23

dục ở lứa tuổi mầm non? Vì thế giáo dục con người ở lứa tuổi mầm non vừa

là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mỗi người đối với xã hội, đối với cộng đồng

Vì vậy, giáo dục mầm non là trách nhiệm của toàn xã hội [1]

d Vai trò giáo dục mầm non

* Vai trò của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân

Hệ thống giáo dục quốc dân của một nước là toàn bộ các cơ quan chuyên trách việc giáo dục và học tập cho thanh thiếu niên và công dân của nước đó Những cơ quan này liên kết chặt chẽ với nhau về chiều dọc cũng như về chiều ngang, hợp thành một hệ thống hoàn chỉnh và cân đối, nằm trong hệ thống xã hội được xây dựng theo nguyên tắc nhất định về tổ chức giáo dục và học tập nhằm đảm bảo thực hiện chính sách giáo dục của quốc gia trong lĩnh vực giáo dục quốc dân Hệ thống giáo dục cho trẻ em trước tuổi đến trường phổ thông (từ 0 – 6 tuổi)

Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của quá trình giáo dục thường xuyên cho mọi người, là giai đoạn đầu tiên của việc hình thành và phát triển nhân cách con người Kinh nghiệm giáo dục của nước ta và nhân loại, thành tựu hiện nay nghiên cứu về trẻ em đã khẳng định rằng, trẻ em ở lứa tuổi mầm non (0 - 6 tuổi) có sự tăng trưởng rất lớn lao về cơ thể, về trí tuệ và tình cảm Chẳng hạn, có tới 50% sự phát triển trí tuệ của con người được diễn ra trong lứa tuổi từ bào thai đến 4 tuổi, từ 4 tuổi đến 8 tuổi đạt được 30% nữa và tiếp tục hoàn thiện đến tuổi trưởng thành nhưng tốc độ chậm dần sau 18 tuổi

Vì thế những thành đạt của trẻ em ở độ tuổi này có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành và phát triển suốt đời của đứa trẻ Do đó giáo dục mầm non

có vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục con người

* Vai trò giáo dục mầm non trong phát triển kinh tế - xã hội

Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa

Trang 24

quan trọng, quyết định sự thành công cuộc phát triển đất nước Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hôi

Sự mở rộng và phát triển của giáo dục ở mọi cấp đã góp phần vào sự tăng trưởng tổng thể thông qua việc: (1) Tạo một lực lượng lao động có năng suất cao hơn, có những hiểu biết và kỹ năng cao hơn (2) Tạo ra nhiều việc làm và những cơ hội kiếm được thu nhập cho các giáo viên, những người làm việc trong các trường học, những người xây dựng, những nhà in sách giáo khoa, những nhà sản xuất đồng phục học sinh…,(3) Tạo ra một tầng lớp những người lãnh đạo có học vấn để điền vào chỗ trống trong các công sở nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân và trong những ngành nghề khác; (4) Dường như tạo ra một dạng đào tạo và giáo dục mà nó có thể thúc đẩy sự biết đọc, biết viết, biết tính toán và những kĩ năng cơ bản, đồng thời khuyến khích thái

độ “hiện đại” trong các tầng lớp dân cư khác nhau.” [6]

Phát triển giáo dục có quan hệ mật thiết và trực tiếp đến việc chuẩn bị con người lao động mới, đến việc phát huy sức mạnh của yếu tố con người trong chiến lược kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nếu phát triển giáo dục được xác định đúng đắn dựa trên cơ sở khoa học xác đáng thì sức mạnh con người sẽ được phát huy mạnh mẽ trong toàn bộ đời sống xã hội về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội của đất nước Chính vì vậy, để phát triển đất nước, để thực hiện chiến lược kinh tế - xã hội, các quốc gia đều trước hết phải quan tâm đến chiến lược con người Trong chiến lược kinh

tế - xã hội của nước ta trong những năm tới đã được Đảng và Nhà nước đánh giá rất cao yếu tố giáo dục với việc giáo dục đúng đắn để tạo nên con người mới Việt Nam Và giáo dục mầm non đang là một bộ phận trọng điểm của việc giáo dục góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước

Trang 25

1.1.2 Phát triển giáo dục mầm non

a Khái niệm phát triển giáo dục mầm non

Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển, tiếp cận theo quan điểm của Mác thì “phát triển” là quá trình biến đổi của sự vật từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Đó là một quá trình tích lũy dần về số lượng dẫn đến

sự thay đổi về chất lượng, là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ, do

sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng Theo quan điểm lý thuyết phát triển thì phát triển của hệ thống kinh tế là quá trình vận động đi lên ngày càng hoàn thiện hơn của một hệ thống đó Hoàn thiện cả về cơ chế phân bổ nguồn lực để tạo ra đầu ra nhiều hơn tốt hơn đáp ứng nhu cầu của xã hội (Bùi Quang Bình (2010))

Như vậy phát triển giáo dục mầm non là quá trình vận động đi lên theo hướng hoàn thiện hơn vể mọi mặt mà bao gồm hoàn thiện cơ sở vật chất, chương trình giáo dục, trình độ chuyên môn và đạo đức của giáo viên… để cung cấp được nhiều và tốt hơn dịch vụ giáo dục mầm non cho xã hội

Nhờ thỏa mãn nhu cầu giáo dục mầm non trẻ em phát triển khả năng nhận thức, kĩ năng, kĩ xảo và cả nhu cầu xã hội của trẻ được hình thành Do

đó, phát triển giáo dục mầm non là một mặt phát triển trẻ em hơn nữa về trí tuệ, tình cảm, kĩ năng xã hội và một số phẩm chất, nhân cách để cho việc sẵn sàng vào lớp Một, mặt khác phát triển về quy mô loại hình trường lớp, phổ biến kiến thức chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, phát triển đội ngũ giáo viên có chất lượng và trình độ cao góp phần nâng cao chất lượng và bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục

Phát triển giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn

bị cho trẻ em vào lớp một, hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang nền tảng, những kĩ năng sống cần

Trang 26

thiết phù hợp lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học tập ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời Phát triển giáo dục mầm non là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, nhân tài trong tương lai Phát triển giáo dục mầm non cũng gắn liền nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa; bảo đảm cân đối cơ cấu trình độ, vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả; và đáp ứng nhu cầu xã hội [13]

b Tính chất phát triển giáo dục mầm non

- Tính chất định hướng

Giáo dục mầm non chỉ ra được bức tranh thực trạng của giáo dục và sự phát triển của cá nhân trong nền giáo dục ấy Tính chất định hướng có khả năng tác động và bảo đảm tính thông suốt trong quá trình thực hiện mục tiêu, chính sách giáo dục, chỉ ra phương hướng giúp các trường, các giáo viên lập

kế hoạch dạy và học trên cơ sở của mục tiêu giáo dục đề ra

- Tính chất sàng lọc và phát triển

Giáo dục mầm non mang đến tinh thần học hỏi và vươn lên không ngừng trong quá trình dạy và học, là tạo động lực cho sự phát triển toàn diện nhân cách người học và đạt được những điều mong muốn tốt đẹp

c Mô hình phát triển giáo dục mầm non

Hình 1.1 Mô hình phát triển giáo dục mầm non

TÀI CHÍNH

Trang 27

1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON

1.2.1 Phát triển số lượng, qui mô, mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non

a Phát triển số lượng cơ sở giáo dục mầm non

Phát triển số lượng cơ sở giáo dục mầm non là sự tăng lên về số lượng

cơ sở giáo dục mầm non trong một thời gian nhất định

Phát triển số lượng cơ sở giáo dục mầm non yêu cầu bảo đảm mục tiêu nuôi dưỡng – chăm sóc – bảo vệ trẻ em nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

và đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Cần xác định rõ cần có bao nhiêu cơ sở là phù hợp, bao nhiêu cơ sở công lập, bao nhiêu cơ sở ngoài công lập… trên cơ sở xác định xem hiện tại có bao nhiêu

cơ sở giáo dục mầm non và nhu cầu cần bao nhiêu cơ sở để tính toán số cơ sở cần phải xây dựng mới

Trong điều kiện nước ta hiện nay, để phát triển số lượng cơ sở giáo dục mầm non đòi hỏi cần:

- Thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non, tạo điều kiện cho mọi người dân tham gia vào hoạt động giáo dục, mở trường, mở lớpv.v…, phát huy tối

đa những nguồn lực trong nhân dân cho việc phát triển giáo dục mầm non

- Phải chuẩn bị cơ sở vật chất cho những cơ sở dự kiến thành lập mới

- Phải chuẩn bị đội ngũ giáo viên mầm non

- Phải có chính sách đối với giáo viên mầm non

Việc phát triển số lượng các cơ sở giáo dục mầm non phải đảm bảo sự cân đối giữa nhu cầu học và khả năng giáo dục mầm non của hệ thống giáo dục mầm non

* Tiêu chí phát triển số lượng cơ sở giáo dục mầm non:

- Số trường mầm non, số nhà trẻ, số nhóm trẻ

- Số trường mầm non công lập và ngoài công lập

Trang 28

Để hiểu rõ hơn việc cần thiết phát triển các cơ sở giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục năm 2009, cơ sở giáo dục được định nghĩa là nơi diễn ra các hoạt động giáo dục theo các hình thức chính quy và không chính quy Cơ

sở giáo dục là đơn vị của hệ thống giáo dục Việt Nam Trường học là đơn vị chính của cơ sở giáo dục Cơ sở giáo dục mầm non gồm:

+ Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi

+ Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ từ ba tuổi đến sáu tuổi

+ Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi

Trường mầm non là đơn vị cơ sở của bậc giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân Trường mầm non đảm nhận việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em nhằm giúp trẻ em và trường có những quyền hạn và nhiệm vụ sau:

- Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

- Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; tổ chức giáo dục hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật

- Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên để thực hiện nhiêm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em

- Huy động, quản lý sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật

- Xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa hoặc theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng đặc biệt khó khăn

- Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em

- Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ em tham gia

Trang 29

các hoạt động xã hội trong cộng đồng

- Thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ

em theo quy định

- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp

luật

Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước

và toàn dân Hiện nay, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện các loại hình trường và các hình thức giáo dục; đồng thời khuyến khích, phát huy và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và

an toàn

Nhà trường trong hệ thống quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước Điều kiện, thủ tục và thẩm quyền thành lập trường phải đúng quy định của luật Giáo dục

- “Có quyết định thành lập hoặc quyết định cho phép thành lập nhà trường

- Có đất đai, trường sở, cơ sở vật chất, thiết bị đáp ứng yêu cầu hoạt động giáo dục

- Địa điểm xây dựng trường đảm bảo môi trường giáo dục, an toàn cho người học, người dạy và người lao động

- Có chương trình giáo dục và tài liệu giảng dạy học tập theo quy định phù hợp với mỗi cấp học và trình độ đào tạo

- Có đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đạt tiêu chuẩn, đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu bảo đảm thực hiện chương trình giáo dục và các tổ chức hoạt động giáo dục

- Có đủ nguồn lực tài chính theo quy định để bảo đảm duy trì và phát triển hoạt động giáo dục

Trang 30

- Có quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường” [22]

Tóm lại, phát triển số lượng cơ sở giáo dục mầm non là sự gia tăng số

cơ sở giáo dục bao gồm gia tăng số trường mầm non, gia tăng số nhà trẻ, nhóm trẻ bằng cách thành lập mới, huy động vốn từ nhiều nguồn, đa dạng hóa

về loại hình sở hữu

b Phát triển qui mô cơ sở giáo dục mầm non

Phát triển qui mô cơ sở giáo dục mầm non là sự lớn lên của mỗi cơ sở giáo dục mầm non về cơ sở vật chất thực hiện thông qua việc gia tăng vốn đầu tư, tăng diện tích, tăng số phòng học; gia tăng số lượng giáo viên và tăng

số lượng học sinh theo học

Trước sự phát triển kinh tế - xã hội như ngày nay, việc tăng quy mô cơ

sở giáo dục mầm non là rất cần thiết để giải quyết vấn đề thiếu lao động và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có việc làm góp phần bảo đảm an sinh xã hội Phát triển qui mô sở sở giáo dục mầm non còn giúp sự gia tăng số lượng học sinh nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và có điều kiện phát triển ngành ngày càng lớn mạnh

Qui mô trường mầm non thể hiện ở cơ sở vật chất Cơ sở vật chất và việc sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất là yếu tố không thể thiếu để tạo nên chất lượng của cơ sở giáo dục

Đánh giá cơ sở vật chất bao gồm những nội dung cơ bản sau:

+ Cơ sở vật chất toàn trường: số phòng học, sân chơi (cây xanh, bãi cát, cầu trượt, đu quay,…); khu vệ sinh; nhà bếp

+ Cơ sở vật chất lớp học: các góc chơi, ánh sáng, trang thiết bị (đèn, quạt…); giá để giày dép, túi xách; nhà vệ sinh riêng, giấy vệ sinh, xà phòng,

bệ rửa

+ Đồ chơi, đồ dùng dạy học

Cơ sở vật chất có thể được đánh giá theo các tiêu chí: tính an toàn; vệ

Trang 31

sinh; tính khoa học trong bài trí, sắp xếp; và tính phù hợp về mặt sư phạm

* Sự phát triển về qui mô cơ sở giáo dục mầm non phản ánh bằng các tiêu chí như :

- Vốn đầu tư cho cơ sở giáo dục mầm non

- Diện tích bình quân cơ sở giáo dục mầm non

- Số giáo viên mầm non

- Số trẻ em theo học trường mầm non

Để tăng qui mô cơ sở giáo dục mầm non cần phải quan tâm các tiêu chí trên Tuy nhiên việc phát triển số lượng, quy mô các cơ sở giáo dục mầm non phụ thuộc vào số lượng trẻ em tham gia Sự gia tăng trẻ em tác động đến sự gia tăng cơ sở mầm non và Nhà nước cũng như các tổ chức, cá nhân sẽ góp phần đầu tư vào phát triển sự nghiệp giáo dục đáp ứng được nhu cầu xã hội

c Phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non

Là sự phân bố cơ sở giáo dục mầm non trên từng địa bàn để tạo thuận lợi cho việc đến trường của trẻ em Sự phân bổ tùy thuộc vào qui mô và mật

độ dân cư trên địa bàn Muốn thực hiện sự phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục mần non, cần phải dựa trên qui hoạch tổng thể của địa phương về phân bố dân cư, phân bố cơ sở đào tạo

1.2.2 Phát triển qui mô phổ cập giáo dục mầm non

a Phát triển qui mô phổ cập giáo dục mầm non

Phát triển qui mô phổ cập giáo dục mầm non là việc bố trí, sắp xếp phân bố tỷ lệ trẻ em đến trường theo địa bàn vùng, miền, địa phương v.v… sao cho hợp lý, bảo đảm cung, cầu và tính hiệu quả của giáo dục mầm non Việc phổ cập giáo dục mầm non cấn phải đạt được mục tiêu, đó là:

- Bảo đảm tính cân đối cung cầu trẻ em giưã các vùng, miền và địa phương, đáp ứng nhu cầu xã hội và phục vụ phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, mỗi địa phương

Trang 32

- Bảo đảm tính công bằng xã hội cho các vùng., miền và địa phương và mọi người dân có quyền đưa trẻ em đến trường

* Tiêu chí qui mô phổ cập giáo dục mầm non

- Tỷ lệ trẻ trong độ tuổi đi nhà trẻ

- Tỷ lệ trẻ trong độ tuổi đi mẫu giáo

- Tỷ lệ trẻ khuyết tật đi mẫu giáo

Hiện nay, các bậc giáo dục đều được mở rộng qui mô phổ cập giáo dục Theo luật giáo dục Việt Nam năm 2005 có ghi rõ: “…Nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập”

b Phát triển qui mô phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Để đảm bảo hầu hết trẻ em năm tuổi ở mọi vùng miền được đến lớp để thực hiện chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ngày, đủ một năm học nhằm chuẩn bị tốt

về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý sẵn sàng đi học, bảo đảm chất lượng để trẻ em vào lớp Một

Mở rộng qui mô phổ cập giáo dục mầm non chính là làm cho trẻ em trong độ tuổi mầm non được tới các cơ sở mầm non để được nuôi dưỡng, chăm sóc mà trước hết là trẻ ở độ tuổi 5 tuổi

* Tiêu chí phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi như sau:

+ Điều kiện phổ cập

- Có đủ phòng học theo hướng kiên cố, đạt chuẩn;

- Trường, lớp có bộ thiết bị dạy học tối thiểu để thực hiện Chương trình giáo dục mầm non mới; ở vùng thuận lợi có thêm các bộ đồ chơi, phần mềm trò chơi ứng dụng công nghệ thông tin, làm quen với vi tính để học tập;

Trang 33

- Có đủ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo; giáo viên được hưởng thu nhập và các chế độ khác theo bảng lương giáo viên mầm non;

- Trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định hiện hành, được chăm sóc giáo dục theo Chương trình giáo dục mầm non mới, trẻ em dân tộc thiểu số được chuẩn bị tiếng Việt trước khi vào lớp 1

+ Tiêu chuẩn phổ cập

- Đối với phường, xã, thị trấn: Bảo đảm các điều kiện, giáo viên, cơ sở vật chất, tài liệu, thiết bị, đồ chơi trong các trường, lớp mầm non năm tuổi; huy động 95% trở lên số trẻ em năm tuổi ra lớp, trong đó có ít nhất 85% số trẻ

em trong độ tuổi được học 2 buổi/ngày trong một năm học (9 tháng) theo các Chương trình giáo dục mầm non mới do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; ở vùng miền đặc biệt khó khăn và vùng dân tộc thiểu số, trẻ em được chuẩn bị tiếng Việt để vào học lớp 1; tỷ lệ chuyên cần của trẻ: đạt từ 90% trở lên; tỷ lệ suy dinh dưỡng dưới 10%

- Đối với huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: Bảo đảm 90% số

xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

- Đối với tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Bảo đảm 100% số huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi

1.2.3 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non

Công tác quản lý trường học nói chung và quản lý trường mầm non nói riêng mặc dù vẫn có những yếu tố quản lý cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật nhưng yếu tố quản lí con người là trọng tâm, xuyên suốt toàn bộ quá trình quản lý

Trang 34

a Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non

Giáo viên mầm non là người làm nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ em

từ 3 tháng đến 6 tuổi tại các cơ sở giáo dục mầm non thuộc các loại hình công lập, dân lập, tư thục Người giáo viên mầm non có thể được coi là người thầy đầu tiên cùng với cha mẹ trẻ xây dựng nền móng ban đầu của nhân cách con người ở trẻ

Hay giáo viên mầm non là người làm việc tại một trong các loại cơ sở

giáo dục mầm non, đảm nhận công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi [11]

Phát triển giáo viên mầm non bao gồm cả gia tăng số lượng và chất lượng của đội ngũ giáo viên tại một số cơ sở giáo dục mầm non

Phát triển số lượng giáo viên mầm non yêu cầu bảo đảm mục tiêu nuôi dưỡng – chăm sóc – bảo vệ trẻ em nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đà tạo và đáp ứng nhu cầu xã hội Cần xác định rõ cần có bao nhiêu giáo viên là phù hợp, bao nhiêu giáo viên ở cơ sở công lập, bao nhiêu cơ sở ngoài công lập… trên cơ sở xác định xem hiện tại

có bao nhiêu giáo viên mầm non và nhu cầu cần bao nhiêu giáo viên để tính toán số giáo viên mầm non cần bổ sung và đạt tiêu chuẩn Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non thông qua đào tạo, bỗi dưỡng, tập huấn…

để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng và đạo đức cho họ…

Ý nghĩa của việc phát triển giáo viên mầm non là lao động của người giáo viên mầm non không thể so sánh với bất kỳ dạng lao động sư phạm nào, bởi vì đối tượng lao động của họ là trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi, lứa tuổi non nớt nhất của cuộc đời mỗi con người 6 năm đầu so với cả đời người là một khoảng thời gian ngắn, nhưng đối với sự phát triển của trẻ em là một thời kỳ quan trọng, vì nó tạo ra cơ sở ban đầu cho nhân cách Bộ mặt nhân cách của con người trưởng thành được hình thành từ tuổi thơ.A.X Macarenco – nhà

Trang 35

giáo dục Xô Viết vĩ đại đã nói” Những gì không có được ở trẻ 5 tuổi thì sau này khó có thể hình thành và sự hình thành nhân cách ban đầu bị lệch lạc, giáo dục lại rất khó khăn”

Trẻ em tuổi mầm non cơ thể yếu ớt, sức đề kháng kém, tốc độ tăng trưởng và phát triển diễn ra mạnh cả về thể chất và tâm lí, các chức năng của

cơ thể chưa hoàn thiện dễ bị tổn thương Cuộc sống và sự phát triển của trẻ chủ yếu phụ thuộc vào việc chăm sóc giáo dục của người lớn Chính vì thế, mọi hành động của người lớn xung quanh dù ý thức hay không ý thức vẫn tác động đến đứa trẻ và để lại dấu ấn trong tâm hồn non nớt của nó Do đó, trong quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động, giao tiếp của trẻ đòi hỏi sự mẫu mực về nhân cách của người giáo viên, cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ và nghệ thuật sư phạm của nhà giáo dục Mặc dù được đào tạo chuyên môn như nhau, nhưng tùy theo nhiệm vụ được phân công, trong trường mầm non gồm có:

Những giáo viên thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ em dưới 3

tuổi tại các nhóm/lớp nhà trẻ gọi là giáo viên nhà trẻ

Những giáo viên thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 - 6

tuổi tại các nhóm/ lớp mẫu giáo gọi là giáo viên mẫu giáo

Giáo viên mầm non thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em theo đúng quy chế chuyên môn và chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ

em được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, đảm bảo an toàn tuyệt đối tính mạng của trẻ

* Tiêu chí đánh giá chất lượng giáo viên giáo viên mầm non:

• Tỷ lệ giáo viên theo từng trình độ đào tạo

• Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn

• Tỷ lệ trẻ/giáo viên

• Tỷ lệ giáo viên/tổng số cán bộ

Trang 36

• Thái độ với đồng nghiệp

• Phương pháp nuôi dạy trẻ,trong đó bao gồm cả:

+ Số lượng trẻ nhập học; thông tin dữ liệu về trẻ;

+ Dữ liệu đánh giá sự phát triển của trẻ

• Kỹ năng sư phạm

• Sự sáng tạo

• Phẩm chất nhân cách người giáo viên

• Bồi dưỡng, kỹ năng, kiến thức của giáo viên

b Phát triển đội ngũ cán bộ, nhân viên quản lý giáo dục mầm non

Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo viên mầm non bao gồm cả gia tăng số lượng và chất lượng của đội ngũ giáo viên trong một thời gian xác định

Trong trường mầm non còn có hiệu trưởng, hiệu phó, giáo viên dạy các môn năng khiếu (âm nhạc, tạo hình, thể dục…)cô nuôi, các cô/bác nhà bếp, lao công, bảo vệ…

- Hiệu trưởng, hiệu phó là những người được đào tạo chuyên môn ngành Giáo dục mầm non có trình độ nhất định ( tốt nhất từ đại học trở lên),

đã qua kinh nghiệm công tác làm giáo viên ở lớp mầm non (để có kinh nghiệm chuyên môn), có năng lực quản lý và tham gia các lớp học về quản lý giáo dục

- Giáo viên giảng dạy những môn năng khiếu Trong trường mầm non

có nhiều hoạt động cần đến giáo viên được đào tạo chuyên môn sâu Các giáo viên này có thể là giáo viên trong biên chế của trường hoặc có thể là giáo viên được mời theo tiết dạy Thường thì ở những trường chất lượng cao có thể có giáo viên dạy âm nhạc, để đảm nhận việc tổ chức các hoạt động giáo dục âm

nhạc của trường

- Cô nuôi trẻ là người giúp giáo viên chính thức trong các công việc

Trang 37

chung của lớp, chủ yếu là nuôi dưỡng, chăm sóc vệ sinh cho trẻ…có thể qua đào tạo ở trình độ sơ cấp hoặc chưa qua đào tạo chuyên ngành nuôi dạy trẻ, nhưng có nguyện vọng làm công việc chăm sóc, giáo dục trẻ lâu dài

* Yêu cầu đối với cán bộ quản lí trường mầm non

Nhiệm vụ của trường mầm non đòi hỏi người cán bộ quản lí về trách nhiệm cá nhân rất cao trong tiến trình hoạt động hiện hành cũng như bước phát triển tương lai của trường Sản phẩm lao động của người cán bộ quản lí trường mầm non có ảnh hưởng đến xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa Đặc trưng công tác quản lí trường mầm non đòi hỏi các nhà quản lí không chỉ là người có học vấn toàn diện, có phẩm chất đạo đức tốt mà còn biết tìm ra con đường phát triển của trường, có năng lực và uy tín thúc đẩy sự phát triển Những yếu tố đó phải được kết hợp hài hòa, bền vững trong nhân cách của người quản lí [11]

* Bồi dưỡng và phát triển đội ngũ đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý

Bồi dưỡng và phát triển đội ngũ đáp ứng ngày càng cao về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ là nhiệm vụ quan trọng phải làm thường xuyên của cán

bộ quản lý trường mầm non, nhằm giúp đội ngũ giáo viên, cán bộ nhân viên không ngừng nâng cao trình độ, năng lực công tác, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp

Công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ phải được kế hoạch hóa bằng các mục tiêu cụ thể và biện pháp rõ ràng, trở thành một bộ phận quan trọng trong kế hoạch năm học, kế hoạch dài hạn của trường Chương trình kế hoạch bồi dưỡng phải được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích đầy đủ tình hình đội ngũ, yêu cầu khách quan của ngành, của xã hội về trình độ năng lực đối với giáo viên mầm non và nhu cầu học tập của các thành viên trong trường, xu hướng phát triển của nhà trường trong thời gian tới Chương trình bồi dưỡng đội ngũ cần đảm bảo sự thống nhất giữa bồi dưỡng tư tưởng chính

Trang 38

trị, chuyên môn, nghiệp vụ và các nhiệm vụ đặt ra từ thực tiễn Tận dụng những thành tựu mới nhất của khoa học giáo dục mầm non và những kinh nghiệm tiên tiến điển h́nh trong quá tŕnh bồi dưỡng Kết hợp chặt chẽ việc bồi dưỡng theo kế hoạch của trường và tự bồi dưỡng bản thân cán bộ giáo viên Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành viên có nhu cầu học tập nâng cao trình độ và có kế hoạch tự học tập, tự bồi dưỡng nghiêm túc [11]

* Thực hiện các chế độ chính sách đối với người lao động

Hiệu trưởng các trường mầm non có trách nhiệm nắm vững những quy định về chế độ tiền lương và các chế độ chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỉ luật đối với người lao động để đảm bảo quyền lợi cho mọi thành viên trong nhà trường

Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghiêm túc kỉ luật lao động của mọi cán bộ giáo viên Thực hiện đầy đủ, kịp thời, công bằng các chế

độ chính sách đối với người lao động Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ bằng nhiều biện pháp tích cực, hữu hiệu để họ an tâm, phấn khởi, gắn

bó với công việc, đủ sức khỏe để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Khuyến khích, động viên cán bộ, giáo viên nổ lực thi đua đạt các danh hiệu trường tiên tiến, tiên tiến xuất sắc, giáo viên giỏi, chiến sĩ thi đua Những cá nhân, tập thể lập thành tích xuất sắc phải được khen thưởng kịp thời, được xét nâng bậc lương trước thời hạn theo quy định của Chính phủ Hiệu trưởng nhà trường phải nắm vững các quy định và khai thác triệt để những nguồn kinh phí dành cho việc khen thưởng, đồng thời xây dựng các mức khen thưởng thích hợp nhằm tạo động lực khuyến khích cán bộ giáo viên phấn đấu vươn lên đạt nhiều thành tích Cán bộ giáo viên vi phạm nội quy, quy chế, vi phạm các quy định của pháp luật, nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm để thi hành kỉ luật theo các hình thức từ thấp đến cao như: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức, buộc thôi việc

Trang 39

Đề bạt, khen thưởng, kỉ luật cán bộ giáo viên đều phải đảm bảo khách quan, công bằng, kịp thời Những biên bản đánh giá chất lượng công việc của

cá nhân là một trong những cơ sở quan trọng cho việc đề đạt, khen thưởng và

kỷ luật cán bộ Kỉ luật là một trong những hình thức giáo dục có tác dụng ngăn ngừa vi phạm, điều chỉnh hành vi của đối tượng quản lý nhưng chỉ áp dụng khi thấy thật cần thiết [11]

Tóm lại, đội ngũ giáo viên, cán bộ công nhân viên trong trường mầm non là những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chăm sóc – giáo dục trẻ và xây dựng nhà trường, họ có vai trò quyết định đối với chất lượng giáo dục của trường Vai trò quan trọng đó đòi hỏi đội ngũ giáo viên, cán bộ công nhân viên phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ năng lực sư phạm, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, ổn định và đồng bộ cơ cấu, đảm bảo phục vụ các yêu cấu trước mắt và lâu dài của trường

Quản lý đội ngũ trong trường mầm non trước hết phải quan tâm xây dựng tập thể sư phạm vững mạnh Một tập thể sư phạm được coi là vững mạnh phải là một tập thể đoàn kết, thân ái mọi thành viên có trách nhiệm giúp

đỡ nhau cùng tiến bộ Tập thể có bầu không khí ấm cúng, có dư luận lành mạnh, có tính chất tổ chức kỷ luật chặt chẽ, thực hiện nghiêm chỉnh đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục mầm non Giáo viên hết lòng thương yêu trẻ, đối xử công bằng với trẻ, làm việc nhiệt tình và có trách nhiệm cao, luôn

có ý thức phấn đấu vươn lên về mọi mặt, đảm bảo chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ và có uy tín đối với phụ huynh, đối với cộng đồng

* Tiêu chí phản ánh đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục mầm non

- Số lượng cán bộ quản lý mầm non

- Trình độ đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non

1.2.4 Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục mầm non, người ta phải

Trang 40

nâng cao trên nhiều mặt Mỗi một tổ chức là một bộ máy gồm nhiều yếu tố cấu thành nên nó Bộ máy vận hành tốt hay chưa tốt là do từng bộ phận đã thực hiện chức năng của mình như thế nào và kết hợp với nhau ra sao để tạo nên hiệu quả công việc, có cùng hướng đến mục đích và sứ mạng của tổ chức

ấy hay không

Nếu như mục đích, nội dung chương trình giáo dục mầm non mang tính chất chung của toàn hệ thống giáo dục mầm non thì nhân tố quy định sự khác biệt của các quy trình giáo dục mầm non tại các cơ sở khác nhau bắt đầu từ việc xác định tầm nhìn, sứ mạng của cơ sở nhà trường, cũng như việc triển khai tổ chức và quản lí theo điều kiện cụ thể của cơ sở Tầm nhìn và sứ mạng của một tổ chức là những khái niệm còn khá mới mẻ đối với nhiều cơ sở giáo dục Việt Nam cần phải hướng tới chuẩn giáo dục khu vực và quốc tế Một tổ chức không có tầm nhìn và sứ mạng sẽ là một tổ chức chưa chú ý đến sự cam kết với xã hội về chất lượng và tương lai của mình

Sau hơn 25 năm đổi mới, để đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, chất lượng và hiệu quả giáo dục mầm non phản ánh bằng các tiêu chí sau:

a Sự phát triển của trẻ em

Theo quan điểm về sự phát triển của trẻ em

- Trẻ lớn khôn thông qua 2 quá trình: tăng trưởng và phát triển

Tăng trưởng là quá trình trong đó các bộ phận của cơ thể được thay đổi

về số đo (kích thước, số lượng) Phát triển là quá trình trong đó có sự hình thành và hoàn thiện, đa dạng hóa, phức tạp hóa các chức năng của con người( như trẻ lần lượt biết đi, chạy, biết nói, biết suy nghĩ…) và sự phát triển mang tính tổng thể Hai quá trình trên khác biệt nhau nhưng phụ thuộc vào nhau và diễn ra trong suốt quá trình liên tục trẻ phản ứng, thích ứng với những điều kiện bẩm sinh và những điều kiện của môi trường sống

Ngày đăng: 18/11/2017, 14:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đào Thanh Âm - Trịnh Dân – Nguyễn Thị Hòa – Đinh Văn Vang (2004), Giáo dục học mầm non, Nxb Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non
Tác giả: Đào Thanh Âm - Trịnh Dân – Nguyễn Thị Hòa – Đinh Văn Vang
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm
Năm: 2004
[3] Biểu đồ tăng trưởng cho bé 0 – 72 tháng, Theo WHO – 2007 chuẩn phát triển trể em Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu đồ tăng trưởng cho bé 0 – 72 tháng
[4] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Chương trình giáo dục mầm non, Nxb Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục mầm non
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2009
[5] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Hướng dẫn xây dựng phát triển ngành Giáo dục – Đào tạo năm 2010 và kế hoạch 5 năm 2011 - 2015, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn xây dựng phát triển ngành Giáo dục – Đào tạo năm 2010 và kế hoạch 5 năm 2011 - 2015
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2010
[6] Bùi Quang Bình (2010), Giáo trình kinh tế vĩ mô, Nxb Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế vĩ mô
Tác giả: Bùi Quang Bình
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2010
[7] Bùi Quang Bình (2010), Giáo trình kinh tế phát triển, Nxb Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế phát triển
Tác giả: Bùi Quang Bình
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2010
[9] Cục Thống kê Bình Định (2010), Bình Định 10 năm phát triển kinh tế - xã hội (2001 – 2010), Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình Định 10 năm phát triển kinh tế - xã hội (2001 – 2010)
Tác giả: Cục Thống kê Bình Định
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2010
[10] Cục Thống kê Bình Định (2010), Niên giám thống kê năm 2009, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2009
Tác giả: Cục Thống kê Bình Định
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2010
[11] Phạm Thị Châu (2008), Giáo trình quản lí giáo dục mầm non, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lí giáo dục mầm non
Tác giả: Phạm Thị Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
[12] Đại học kinh tế Đà Nẵng (2009), Dự báo phát triển kinh phát triển xã hội, Đại học kinh tế Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo phát triển kinh phát triển xã hội
Tác giả: Đại học kinh tế Đà Nẵng
Năm: 2009
[13] Đề án “Phát triển GDMN giai đoạn 2006 - 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển GDMN giai đoạn 2006 - 2015
[14] Đỗ Ngọc Đạt (2007), Đề cương bài giảng thống kê giáo dục, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng thống kê giáo dục
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
[15] Lê Tràng Định (2003), Kinh tế học giáo dục, Nxb Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kinh tế học giáo dục
Tác giả: Lê Tràng Định
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm
Năm: 2003
[16] Lê Thị Mai Hoa – Trần Văn Dần (2008), Giáo trình phòng bệnh và đảm bảo an toàn cho trẻ mầm non, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phòng bệnh và đảm bảo an toàn cho trẻ mầm non
Tác giả: Lê Thị Mai Hoa – Trần Văn Dần
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2008
[17] Trần Thị Hiệp, Bùi Thị Lâm, Hoàng Thị Nho, Trần Thị Minh Thành (2010), Giáo trình Can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
Tác giả: Trần Thị Hiệp, Bùi Thị Lâm, Hoàng Thị Nho, Trần Thị Minh Thành
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2010
[18] Hồ Lam Hồng (2011), Nghề giáo viên mầm non, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề giáo viên mầm non
Tác giả: Hồ Lam Hồng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
[20] Nguyễn Khoa Lân – Lê Thị Nam Thuận (2009), Giáo trình môi trường và con người, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình môi trường và con người
Tác giả: Nguyễn Khoa Lân – Lê Thị Nam Thuận
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2009
[21] Nguyễn Văn Lũy – Trần Thị Tuyết Hoa (2010), Giáo trình Giáo tiếp với trẻ em, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giáo tiếp với trẻ em
Tác giả: Nguyễn Văn Lũy – Trần Thị Tuyết Hoa
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2010
[22] Luật Giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nxb chính trị quốc gia – sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia – sự thật
[23] Nguyễn Thị Quỳnh Mai – Nguyễn Thị Hạnh (2009), Giáo án tham khảo chương trình giáo dục nhà trẻ, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo án tham khảo chương trình giáo dục nhà trẻ
Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh Mai – Nguyễn Thị Hạnh
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2009

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w