Việc nghiên cứu sự vận dụng chính sách kế toán tại doanh nghiệp sẽ giúp các đối tượng sử dụng thông tin kế toán có những đánh giá khách quan hơn kết quả hoạt động kinh doanh của doanh ng
Trang 1NGÔ LÊ PHƯƠNG THÚY
NGHIÊN CỨU VIỆC VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH
KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN
THIẾT KẾ XÂY DỰNG ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.30 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Đình Khôi Nguyên
Đà Nẵng – Năm 2012
Trang 2dẫn của TS Trần Đình Khôi Nguyên.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Ngô Lê Phương Thúy
Trang 3QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 43.2 Ví dụ minh họa về ghi nhận doanh thu và chi phí sản
xuất dở dang phát sinh trong kỳ 81
Trang 5sơ đồ Tên sơ đồ Trang
2.2 Tổ chức bộ máy kế toán ở công ty 33
Trang 6MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Báo cáo tài chính là sự phản ánh trung thực nhất về tình hình hoạt động tài chính cũng như thực trạng vốn hiện thời của doanh nghiệp BCTC đóng vai trò rất quan trọng cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp Đối tượng
sử dụng các thông tin trên BCTC rất đa dạng, nhà quản lý doanh nghiệp cần các thông tin nhằm phục vụ cho công tác điều hành và chỉ đạo hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính của toàn doanh nghiệp Các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp cần các thông tin trên BCTC nhằm các mục đích khác nhau Chẳng hạn, chủ sở hữu quan tâm đến nguồn vốn của mình được sử dụng có hiệu quả không, các tổ chức tín dụng xem xét khả năng tài chính của doanh nghiệp trước khi quyết định cho vay Chính vì vậy, mức độ trung thực và hợp
lý của các thông tin được phản ánh trên BCTC luôn là vấn đề được các doanh nghiệp chú trọng
Ở Việt nam, BCTC được lập dựa trên cơ sở các chính sách và chuẩn mực kế toán, các thông tư hướng dẫn Trên thực tế, các doanh nghiệp có thể lựa chọn và vận dụng linh hoạt các chính sách kế toán tùy theo từng bối cảnh, thời điểm để điều chỉnh các thông tin trên BCTC nhằm đạt được mục tiêu mang tính chủ quan của họ
Việc nghiên cứu sự vận dụng chính sách kế toán tại doanh nghiệp sẽ giúp các đối tượng sử dụng thông tin kế toán có những đánh giá khách quan hơn kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó đưa ra quyết định đúng đắn đồng thời giúp ban quản trị và kế toán doanh nghiệp nhìn thấy được các ưu khuyết điểm và tìm cách hoàn thiện việc vận dụng các chính sách
kế toán để đảm bảo tuân thủ theo pháp luật mà vẫn đảm bảo mục tiêu của công ty
Trang 7Công ty CP Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng (CDC) có lịch sử thành lập và phát triển hơn 30 năm và là một trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực tư vấn thiết kế ở khu vực Miền Trung và Tây Nguyên Các thông tin trình bày trên báo cáo kế toán của công ty có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đặc biệt trong xu thế công ty dự định niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Nó một mặt phải đảm bảo được tính hữu ích đối với nhiều đối tượng sử dụng, nhất là trong lĩnh vực đấu thầu, đồng thời phải đáp ứng được yêu cầu phát triển
và quản lý nền kinh tế, hòa hợp với thông lệ quốc tế Thực tiễn cho thấy, hệ thống báo cáo kế toán của công ty đang bộc lộ nhiều hạn chế, trước hết là sự chưa rõ ràng và nhất quán của Ban quản trị công ty trong mục tiêu quản trị lợi nhuận, việc vận dụng các chính sách kế toán ở công ty chủ yếu còn theo thói quen và phục vụ cho mục đích chính là tính thuế chứ chưa quan tâm đến việc phản ánh chính xác và trung thực các thông tin tài chính và thực tế tình hình hoạt động của công ty, các thông tin trên thuyết minh BCTC của công ty còn nhiều mục chưa rõ ràng, ảnh hưởng đến độ tin cậy của các thông tin trên BCTC với các nhà đầu tư và các tổ chức tài chính khác Chính vì vậy, tác giả quyết
định chọn đề tài “Nghiên cứu việc vận dụng chính sách kế toán tại Công ty
CP Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng” nhằm giúp công ty hoàn thiện việc
vận dụng chính sách kế toán trong việc lập và trình bày BCTC, phản ánh được thông tin tài chính ở mức độ đáng tin cậy nhất và đáp ứng được các yêu cầu của nhà quản trị trong ngắn hạn và dài hạn
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở khái quát lý luận về chính sách kế toán ở Việt Nam, luận văn hướng đến tìm hiểu thực trạng áp dụng chính sách kế toán tại Công ty CP
tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng Qua đó đề xuất các biện pháp nhằm hoàn thiện việc vận dụng chính sách kế toán tại công ty
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trang 8- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về thực trạng việc vận dụng các chính sách kế toán tại Công ty CP Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng Trong đó chủ yếu tập trung vào các chính sách kế toán liên quan đến ghi nhận doanh thu và chi phí của hợp đồng xây dựng, dự phòng nợ phải thu khó đòi, tài sản cố định, chi phí lãi vay, các khoản hạch toán liên quan đến công ty con Đó là các chính sách mà qua quá trình nghiên cứu thực tế tại công ty, tác giả nhận thấy nhiều điểm vướng mắc.
- Phạm vi nghiên cứu: Chính sách kế toán tại Công ty CP Tư vấn thiết
kế xây dựng Đà Nẵng trong giai đoạn từ sau khi công ty tiến hành cổ phần hóa (từ năm 2008 đến năm 2011)
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để nghiên cứu tình hình vận dụng chính sách kế toán tại công ty CP Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện, luận văn
sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên sâu và so sánh, tổng hợp đối chiếu Đối tượng được phỏng vấn là kế toán trưởng và Ban giám đốc công ty, nhằm nắm bắt mục tiêu tài chính và khả năng sử dụng thông tin BCTC cho công tác điều hành cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn các chính sách kế toán tại công ty; từ đó, qua những kinh nghiệm làm việc trực tiếp tại công ty cùng với các thông tin trên số liệu sổ sách, sẽ đối chiếu với cơ sở lý thuyết nhằm đánh giá việc vận dụng những chính sách kế toán tại công ty
5 BỐ CỤC ĐỀ TÀI
Bố cục của luận văn gồm có 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chính sách kế toán trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng vận dụng các chính sách kế toán tại Công ty CP
Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng
Chương 3: Hoàn thiện công tác vận dụng chính sách kế toán tại Công
ty CP Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng
Trang 96 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Chính sách kế toán được đề cập trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam
từ khi hệ thống chuẩn mực kế toán được ban hành vào năm 2001 và ngày càng là mối quan tâm của ngày càng nhiều đối tượng, vì mỗi lựa chọn chính sách kế toán sẽ ảnh hưởng đến số liệu và thông tin trên BCTC của doanh nghiệp Doanh nghiệp có quyền lựa chọn các chính sách kế toán cho phù hợp với đặc điểm công ty, yêu cầu quản trị lợi nhuận của nhà quản trị, chính sách thuế của nhà nước, thông tin cung cấp ra bên ngoài và chính khả năng của kế toán viên Mục đích chính của luận văn là nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong công ty CP Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng nhằm đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện việc vận dụng chính sách kế toán trong công ty nghiên cứu
Dưới đây là một số tài liệu có liên quan được sử dụng để phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài:
- TS Trần Đình Khôi Nguyên (2012), “Bàn luận về chính sách kế toán
trong doanh nghiệp” Vấn đề được đặt ra là cơ sở lý thuyết và định hướng
xây dựng nhằm tổ chức vận dụng chính sách kế toán trong thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam Từ cơ sở lý thuyết về chính sách kế toán và mối liên hệ với lý thuyết kinh tế, cụ thể là mâu thuẫn đại diện và sự bất cân xứng thông tin, tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng của việc công bố minh bạch chính sách kế toán cho những người sử dụng thông tin Tác giả cũng nghiên cứu việc vận dụng chính sách kế toán trong các doanh nghiệp ở Việt Nam và đưa ra kết luận hiện tượng bất cân xứng thông tin tồn tại trên BCTC của hầu hết các công ty, kể cả các công ty niêm yết, điều này làm nhà đầu tư không hiểu rõ thực hư con số trên BCTC được công bố Từ đó tác giả
đề ra giải pháp về khung cơ sở để xây dựng chính sách kế toán tại doanh nghiệp
Trang 10- TS Trần Đình Khôi Nguyên (2010), “Bàn về mô hình các nhân tố ảnh
hưởng đến vận dụng chế độ kế toán trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ” Tác
giả đã thu thập thông tin thông qua bảng câu hỏi, kết quả điều tra thử nghiệm nhằm nghiên cứu những chuẩn mực kế toán nào thường sử dụng phổ biến ở các doanh nghiệp và nhận thức của kế toán viên, cán bộ thuế về các nhân tố ảnh hưởng đến việc công tác kế toán hàng ngày ở doanh nghiệp như thế nào Kết quả đã chỉ ra những hạn chế về trình độ của kế toán viên cùng với sự tác động của hệ thống luật pháp đã ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng chuẩn mực; công tác kế toán ở các doanh nghiệp chỉ chú trọng cho mục đích kê khai thuế, sự thay đổi cơ chế quản lý doanh nghiệp từ cơ quan thuế cũng được xem
là một nhân tổ ảnh hưởng đến việc vận dụng chế độ kế toán, chi phí cho công tác kế toán vẫn chưa được đánh giá cao trong việc trong việc ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán và việc vận dụng các chuẩn mực
- V Gopalakrishnan (1994), “Accounting choise dicisions and
unlevered firms: further evidence on debt/equity hypothesis” Trong tài liệu,
tác giả đề cập đến 2 giả thuyết là (1) lý thuyết nợ / vốn chủ sở hữu: nếu các yếu tố khác không thay đổi, tỷ lệ nợ / VCSH của công ty càng lớn thì càng nhiều khả năng các quản lý của công ty lựa chọn thủ tục kế toán nhằm chuyển đổi thu nhập báo cáo từ kỳ tương lai về kỳ hiện tại; và (2) giả thuyết quy mô: nếu các yếu tố khác không thay đổi, quy mô của công ty càng lớn thì càng nhiều khả năng các nhà quản lý công ty lựa chọn các thủ tục kế toán nhằm trì hoãn thu nhập báo cáo từ kỳ hiện tại sang kỳ tương lai Tác giả đã đưa ra mô hình, tiến hành chọn mẫu và kiểm nghiệm nhằm đưa ra kết luận về cách các doanh nghiệp không dùng vốn vay lựa chọn khấu hao và phương pháp kế toán hàng tồn kho Kết quả cho thấy, nếu các yếu tố khác không đổi, đòn bẩy càng cao thì khả năng một công ty lựa chọn phương pháp khấu hao đường thẳng và tính giá hàng tồn kho theo phương pháp nhập trước xuất trước càng lớn, quy
Trang 11mô công ty càng lớn thì khả năng chọn phương pháp khấu hao đường thẳng tính giá hàng tồn kho theo phương pháp nhập trước xuất trước càng thấp Nghiên cứu của tác giả chỉ ra mức độ ảnh hưởng của đặc thù doanh nghiệp đến việc lựa chọn các chính sách kế toán, thông thường, một công ty sẽ kết hợp nhiều chính sách kế toán khác nhau.
- Nguyễn Thị Kim Oanh (2012), “Đánh giá sự vận dụng các chính sách
kế toán tại Công ty CP lương thực và thực phẩm Quảng Nam”, và Lê Thị Chi
(2012), “Hoàn thiện chính sách kế toán tại công ty CP vật tư tổng hợp Phú
Yên”- Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu các
chính sách kế toán đang vận dụng tại công ty CP lương thực và thực phẩm Quảng Nam và công ty CP vật tư tổng hợp Phú Yên thông qua phương pháp phỏng vấn, xem xét số liệu, đối chiếu với các chuẩn mực kế toán Các chính sách kế toán được trình bày là các chính sách liên quan chủ yếu đến hoạt động của công ty như các chính sách về hàng tồn kho, TSCĐ, lập dự phòng nợ phải thu khó đòi, ghi nhận doanh thu… Kết quả chỉ ra, các chính sách kế toán đang được áp dụng tại công ty nhằm né tránh thuế, tuy nhiên để đảm bảo mục tiêu ROE hợp lý, công ty cũng vận dụng một số chính sách để quản trị lợi nhuận chẳng hạn hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, hoàn nhập dự phòng nợ phải thu khó đòi, thay đổi thời gian phân bổ chi phí trả trước Bộ phận kế toán vẫn chưa có sự chú trọng đến việc sử dụng các chính sách kế toán đã hợp
lý hay chưa, chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà quản trị… Từ đó, các tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc xây dựng chính sách kế toán tại công ty như thay đổi cách tính giá trị hàng xuất kho cho từng loại mặt hàng, thống nhất phương pháp lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, hoàn nhập
dự phòng, hoàn thiện việc công bố các thông tin liên quan đến chính sách kế toán trên thuyết minh BCTC… Tuy nhiên các nghiên cứu trên vẫn chưa khảo sát được toàn diện tất cả các chính sách kế toán đang được áp dụng ở công ty,
Trang 12cũng như chưa phân tích kỹ các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương pháp và chính sách kế toán ở doanh nghiệp.
Dựa trên nền tảng kiến thức từ những nghiên cứu trên đây cùng với những kinh nghiệm thực tế trong thời gian làm việc tại Công ty CP Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng, luận văn tiến hành thu thập số liệu, sổ sách, nghiên cứu và đánh giá việc vận dụng chính sách kế toán tại công ty, đánh giá những
ưu điểm và hạn chế Từ đó, hỗ trợ cho nhà quản trị định hướng trong việc lựa chọn các chính sách kế toán phù hợp với các mục tiêu ngắn và dài hạn, đảm bảo tuân thủ các quy định chuẩn mực và cung cấp thông tin đáng tin cậy cho các đối tác
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH
KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN
Theo chuẩn mực kế toán số 29 ban hành và công bố theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15 tháng 02 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì thuật ngữ “Chính sách kế toán” được định nghĩa là các nguyên tắc, cơ sở
và phương pháp kế toán cụ thể được công ty áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC
Khái niệm trên cho thấy Chính sách kế toán có những đặc trưng sau:
Chính sách kế toán bao gồm những nguyên tắc kế toán Nguyên tắc kế
toán được hiểu là các qui định, các thủ tục cho việc ghi nhận, đo lường các yếu tố của BCTC để việc lập BCTC đạt được mục tiêu dễ hiểu, đáng tin cậy
và dễ so sánh Các nguyên tắc nền tảng cho các BCTC được gọi là là những nguyên tắc kế toán được thừa nhận (Generally Accepted Accounting Principles- GAAP) Các nguyên tắc này bao gồm một số khái niệm, nguyên tắc, phương pháp tiến hành và những yêu cầu cho việc đánh giá, ghi chép và báo cáo các hoạt động, các sự kiện và các nghiệp vụ có tính chất tài chính của một doanh nghiệp Đây là những nguyên tắc chung có tính chất bắt buộc đối với tất cả các doanh nghiệp, như nguyên tắc kỳ kế toán, nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc giá gốc, nguyên tắc nhất quán, nguyên tắc thận trọng, cơ sở dồn tích Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng có thể vận dụng các nguyên tắc để thay đổi các thông tin cung cấp ra bên ngoài nhằm đáp ứng mục tiêu của nhà quản trị, chẳng hạn như: Nhà quản trị quyết định chuyển dịch về sau hoặc ghi nhận sớm hơn một số loại chi phí sẽ làm giảm hoặc tăng chi phí của niên độ hiện hành Những loại chi phí này có thể được ghi nhận vào kỳ phát sinh hoặc
Trang 14phân bổ cho một số kỳ theo nguyên tắc phù hợp, từ đó sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ
Chính sách kế toán bao gồm những lựa chọn trong công tác kế toán tùy theo đặc thù và yêu cầu quản lý của mỗi đơn vị Do thực tiễn luôn đa dạng
nên các chuẩn mực kế toán luôn cho phép một không gian mở mà mỗi đơn vị
có thể lựa chọn một cách thức đo lường phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp mình Việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp khác nhau trong một chính sách kế toán sẽ làm thay đổi thông tin trình bày trên các BCTC hay thông tin cung cấp ra bên ngoài nhằm hướng đến mục đích thuế hoặc lợi tức cho cổ đông Chẳng hạn doanh nghiệp lựa chọn phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho (bình quân, nhập trước - xuất trước, nhập sau - xuất trước, đích danh) sẽ ảnh hưởng đến ghi nhận giá vốn hàng bán, và từ đó, ảnh hưởng đến lợi nhuận báo cáo trong kỳ; lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ (đường thẳng, số dư giảm dần, sản lượng)… Mỗi lựa chọn sẽ gây ảnh hưởng đến chi phí khác nhau và dẫn đến lợi nhuận cũng khác nhau
Chính sách kế toán bao gồm các ước tính kế toán Ước tính kế toán là
các khoản mục trên BCTC mà giá trị của chúng được ước tính chứ không thể
đo lường một cách chính xác bằng các công thức toán học, điều này là do chuẩn mực không thể bao quát hóa mọi vấn đề phát sinh ở các đơn vị cơ sở Các ước tính được sử dụng trong kế toán nhằm đảm bảo cho thông tin tài chính phản ánh một cách trung thực, đúng bản chất và hợp lý tình hình tài chính, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Các ước tính kế toán phát sinh
do hệ quả của việc vận dụng các khái niệm và nguyên tắc kế toán được chấp nhận phổ biến Mức độ sử dụng các ước tính trong kế toán phụ thuộc nhiều vào hệ thống các nguyên tắc kế toán là nền tảng xây dựng chuẩn mực kế toán của mỗi nước, phù hợp với mức độ phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó
Trang 15Theo hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, các ước tính kế toán phổ biến bao gồm 2 loại Một là ước tính liên quan đến các khoản mục đã phát sinh như khấu hao tài sản cố định, phân bổ chi phí trả trước, ước tính doanh thu được ghi nhận theo hợp đồng xây dựng, các khoản
dự phòng tổn thất tài sản (dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng đầu tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi…) Hai là, ước tính liên qua đến các khoản mục chưa phát sinh, như các khoản dự phòng phải trả về bảo hành sản phẩm, dự phòng tái cơ cấu doanh nghiệp, chi phí trả trước… Để đưa ra các ước tính này, người lập BCTC phải sử dụng các “xét đoán nghề nghiệp” Vì
là các xét đoán nên mang nặng tính chủ quan, khó có một tiêu chuẩn nào để đánh giá tính hợp lý cả Chính vì vậy, tính tin cậy của các ước tính kế toán là một vấn đề được người sử dụng BCTC đặc biệt quan tâm
1.2 VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN
Đối với kế toán viên: Chính sách kế toán là cơ sở để thực hiện các công
việc đo lường và công bố thông tin kế toán phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị và qui định của pháp luật
Đối với nhà quản trị: Chính sách kế toán là phương tiện để kiểm soát
hoạt động của công ty bằng những mong muốn điều chỉnh lợi nhuận Từ đó các nhà quản trị có thể định hướng hoạt động, đưa ra phương thức nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, chính sách tài trợ cho phù hợp, lập kế hoạch cho hoạt động của doanh nghiệp
Đối với cơ quan thuế: Thông qua chính sách kế toán được công bố, là
cơ sở để kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý trong các qui định về kế toán; đối chiếu với các qui định của thuế để có những điều chỉnh, kiểm tra việc chấp hành các chế độ tài chính và xác định đúng đắn các khoản nghĩa vụ phải trả cho nhà nước
Đối với các đối tượng khác: Thông qua chính sách kế toán để đánh giá
Trang 16hoạt động của đơn vị, tính trung thực trong việc cung cấp thông tin tài chính của doanh nghiệp Những người chủ sở hữu doanh nghiệp sẽ quan tâm đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, khả năng điều hành của nhà quản trị, những nhà đầu tư trong tương lai sẽ quan tâm đến sự an toàn của lượng vốn đầu tư, mức độ sinh lời, khả năng hoàn vốn để quyết định có nên đầu tư không
Chính vì vậy việc vận dụng chính sách kế toán trong doanh nghiệp cũng được quan tâm vì nó ảnh hưởng đến số liệu trình bày trên BCTC của doanh nghiệp trong kỳ Doanh nghiệp có thể vận dụng linh hoạt các chính sách kế toán nhằm quản trị lợi nhuận, điều chỉnh các thông tin kế toán để phục vụ mục đích chủ quan của mình Việc nghiên cứu sự vận dụng chính sách kế toán giúp làm rõ hơn chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp các đối tượng đánh giá khách quan hơn về thực trạng của doanh nghiệp và đưa ra các quyết định đúng đắn
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP
1.3.1 Nhu cầu về thông tin kế toán của người sử dụng
Ngày nay, các thông tin về tài chính doanh nghiệp đang ngày càng trở nên cần thiết và hữu ích cho các đối tượng không chỉ bên trong mà còn cả bên ngoài doanh nghiệp để ra các quyết định tối ưu Việc lựa chọn các chính sách
kế toán của doanh nghiệp được cân nhắc để đảm bảo nhu cầu về thông tin của các đối tượng sử dụng BCTC khác nhau
- Đối với các nhà đầu tư: Trong một nền kinh tế mà nguồn vốn chủ yếu huy động qua thị trường vốn thì vai trò của các nhà đầu tư được đặc biệt quan tâm Việc cung cấp các thông tin tài chính minh bạch cho các nhà đầu tư góp phần giảm thiểu rủi ro do “thông tin không cân xứng” và công cụ truyền đạt của doanh nghiệp đến các nhà đầu tư về tình hình tài chính của mình là các
Trang 17BCTC Khi thông tin trình bày trên BCTC của doanh nghiệp có ảnh hưởng
đến quyết định của các nhà đầu tư vào doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ vận dụng chính sách kế toán để có thể cung cấp thông tin tích cực về doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư
- Đối với ngân hàng: Để phục vụ cho mục đích vay vốn, doanh nghiệp phải công bố thông tin cho ngân hàng và các tổ chức tín dụng Ngân hàng sẽ phân tích BCTC và các chỉ tiêu tài chính nhằm xác định thực trạng tài chính của doanh nghiệp, thông qua đó thấy được nhu cầu vốn của dự án, xem xét khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp để đưa ra mức cho vay hợp lý Điều này dẫn đến động cơ điều chỉnh các thông tin trên BCTC của doanh nghiệp theo chiều hướng tích cực để đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng
- Đối với cơ quan thuế: Ở thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, cung cấp thông tin cho cơ quan thuế luôn là một vấn đề được quan tâm hàng đầu Các doanh nghiệp ở Việt Nam hầu như còn gặp khó khăn trong việt phân định rõ ràng giữa chi phí thuế và chi phí kế toán, thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán Mục tiêu của doanh nghiệp chủ yếu vẫn là đối phó với cơ quan thuế, từ đó dẫn đến xu hướng áp dụng những chính sách kế toán phù hợp với quy định của luật thuế
Chất lượng của thông tin tài chính được quyết định bởi các yếu tố chính sau:
- Hệ thống kế toán mà doanh nghiệp đang áp dụng trong việc ghi chép giao dịch và lập BCTC Một hệ thống kế toán được xây dựng và ban hành phù hợp với nền kinh tế thị trường sẽ tạo nền tảng để các BCTC phản ánh một cách nhất quán và đầy đủ về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dựa trên các quy ước và nguyên tắc được công nhận rộng rãi Tuy nhiên, các chế độ kế toán dù được cập nhật thường xuyên cũng khó có thể theo kịp sự phát triển của thị trường, vì vậy nhiều nghiệp vụ kinh
Trang 18tế - tài chính khi được hạch toán theo chế độ kế toán hiện hành có thể không phản ánh đúng bản chất thực của nghiệp vụ.
- Tính minh bạch trong việc lập và trình bày BCTC Các BCTC được kiểm toán hoặc soát xét thường có tính minh bạch cao hơn so với các BCTC chưa được kiểm toán hoặc chưa được soát xét Khi BCTC đã được kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần thì điều này có nghĩa là dựa trên các thủ tục kiểm toán, kiểm toán viên xác nhận rằng các BCTC đã phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp dựa trên chế độ kế toán mà doanh nghiệp đang áp dụng
Việc cung cấp các thông tin kế toán còn phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty Theo Steven C Hall và Stammerjohan, khi doanh nghiệp đang trong thời kỳ sa thải lớn thì các nhà quản lý có động cơ sử dụng lựa chọn kế toán để quản lý thu nhập [12, tr.23] Lựa chọn kế toán làm giảm thu nhập trong giai đoạn hiện tại sẽ cho phép các báo cáo thu nhập trở nên thuận lợi hơn trong tương lai Ngoài ra, để tránh tác động tiêu cực của việc sa thải trên tinh thần của nhân viên còn lại, công ty cần chứng minh sự cần thiết phải sa thải (vì hoàn cảnh tài chính khó khăn nên không có sự lựa chọn nào khác) và có thể báo cáo các khoản thu nhập được cải thiện sau đó để giảm bớt lo ngại sa thải thêm Việc hiểu biết về các hành vi kế toán của doanh nghiệp xung quanh quyết định sa thải lớn sẽ giúp các đối tượng hiểu rõ hơn
về tình hình tài chính thực sự của doanh nghiệp
1.3.2 Đặc thù của doanh nghiệp
Việc sử dụng các chính sách kế toán để điều chỉnh thông tin trình bày trên BCTC phụ thuộc vào hình thức sở hữu về vốn của các doanh nghiệp Theo V Gopalakrishnan, các công ty không sử dụng vốn vay có xu hướng lựa chọn phương pháp kế toán tăng thu nhập nhiều hơn so với các đối tác có sử
Trang 19dụng vốn vay [13, tr.33-34] Hai giả thuyết được thử nghiệm rộng rãi trong các tài liệu về lựa chọn kế toán là (1) lý thuyết nợ / vốn chủ sở hữu: nếu các yếu tố khác không thay đổi, tỷ lệ nợ / VCSH của công ty càng lớn thì càng nhiều khả năng các quản lý của công ty lựa chọn thủ tục kế toán nhằm chuyển đổi thu nhập báo cáo từ kỳ tương lai về kỳ hiện tại; và (2) giả thuyết quy mô: nếu các yếu tố khác không thay đổi, quy mô của công ty càng lớn thì càng nhiều khả năng các nhà quản lý công ty lựa chọn các thủ tục kế toán nhằm trì hoãn thu nhập báo cáo từ kỳ hiện tại sang kỳ tương lai.
Các doanh nghiệp có đặc thù khác nhau thì sẽ vận dụng các chính sách
kế toán khác nhau để điều chỉnh thông tin trên BCTC Nếu doanh nghiệp có hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn thì sẽ vận dụng chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho để điều chỉnh thông tin, như: phương pháp tính giá xuất kho của hàng tồn kho, việc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Nếu doanh nghiệp sản xuất thì sẽ vận dụng các chính sách liên quan đến việc đánh giá sản phẩm dở dang, doanh nghiệp xây lắp sẽ quan tâm đến chính sách ước ước lượng phần trăm công việc hoàn thành để ghi nhận doanh thu và chi phí… Thông thường doanh nghiệp sẽ vận dụng kết hợp nhiều chính sách kế toán để điều chỉnh thông tin
1.3.3 Mục tiêu quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp
Quản trị lợi nhuận là hành động điều chỉnh lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ
kế toán Tùy theo mục tiêu khác nhau của các nhà quản trị, có thể là điều chỉnh lợi nhuận nhằm tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, cũng có thể là tăng lợi nhuận để thu hút vốn đầu tư, bán cổ phiếu ra thị trường,…mà
họ sẽ lựa chọn điều chỉnh giảm hoặc tăng lợi nhuận Khi tình hình kinh doanh tốt đẹp, doanh nghiệp đạt lợi nhuận cao hơn so với kế hoạch, ban lãnh đạo có thể để dành lợi nhuận cho năm sau Ngược lại, khi khó khăn, doanh nghiệp
Trang 20không đạt lợi nhuận theo kế hoạch hoặc thua lỗ, xu hướng đẩy chi phí sang năm sau nhằm giảm lỗ cũng xuất hiện Mục đích của họ là muốn có BCTC tốt đúng thời điểm, tạo niềm tin cho nhà đầu tư vào triển vọng của công ty.
Kế toán được xem là một công cụ của người quản lý để kiểm tra, giám sát mọi hoạt động và vận hành doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả Việc vận dụng các chính sách kế toán khác nhau sẽ cho phép nhà quản trị công ty điều chỉnh các thông tin trình bày trên BCTC của công ty từ kỳ này sang kỳ khác
Từ đó sẽ làm cho một số thông tin trình bày trên các BCTC của công ty được phản ánh theo chủ ý của các nhà quản trị công ty Đồng thời việc vận dụng các chính sách kế toán khác nhau có thể giúp các nhà quản trị có thể làm đẹp các BCTC khi cần thiết
a Mục tiêu tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
Việc vận dụng các thủ thuật kế toán trong việc ghi nhận doanh thu và chi phí kinh doanh để “làm đẹp” BCTC thường được các doanh nghiệp sử dụng để thỏa mãn kỳ vọng của nhà đầu tư trong điều kiện kinh doanh không thuận lợi hoặc để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, bán cổ phiếu ra thị trường Mặt khác, khi nhà quản trị cần những thông tin của kế toán để cung cấp cho các đối tác thì cũng có thể yêu cầu kế toán vận dụng các chính sách kế toán sao cho thông tin cung cấp có lợi nhất cho doanh nghiệp Vì thế, nhà đầu tư cần phải thận trọng nhận định hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tìm hiểu thêm thông tin và so sánh các chỉ số tài chính của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành để có cái nhìn toàn diện và hợp lý hơn
b Mục tiêu về thuế thu nhập doanh nghiệp
Các nguyên tắc kế toán được vận dụng để xác định lợi nhuận chịu thuế
Từ đó, các phương pháp kế toán được sử dụng để xác định lợi nhuận kế toán gần như là các phương pháp được sử dụng để xác định lợi nhuận chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Lợi nhuận chịu thuế chính là lợi nhuận kế toán được
Trang 21điều chỉnh lại một số khoản chi phí được cho là không hợp lý, hợp lệ Mối quan hệ chặt chẽ này cho thấy rằng, khi một nhà quản trị thực hiện hành động quản trị lợi nhuận kế toán, trong mức độ nào đó lợi nhuận chịu thuế cũng bị ảnh hưởng Hay nói cách khác, nhà quản trị có thể thực hiện hành động quản trị lợi nhuận để tiết kiệm thuế thu nhập khi có cơ hội Nếu mức thuế suất của thuế thu nhập doanh nghiệp thay đổi thì các doanh nghiệp có xu hướng vận dụng các chính sách kế toán sao cho mức thuế phải nộp là ít nhất, hoặc nếu mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp không thay đổi thì các doanh nghiệp cũng sẽ vận dụng các chính sách kế toán sao cho số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp hiện tại ít hơn so với tương lai để sử dụng khoản thuế chậm nộp đầu tư vào các nhu cầu khác của doanh nghiệp.
c Các thủ thuật tăng giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Để thực hiện công tác quản trị lợi nhuận theo mục tiêu của nhà quản lý,
kế toán có thể vận dụng linh hoạt các chính sách kế toán chẳng hạn như:
- Ghi nhận trước doanh thu và lợi nhuận đối với các hoạt động có thời gian dài Thủ thuật này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp xây dựng Doanh thu sản phẩm hợp đồng xây dựng phải mất nhiều năm nên doanh nghiệp được phép ghi nhận định kỳ, dựa trên ước tính chủ quan của bên nghiệm thu, doanh nghiệp tiến hành viết hoá đơn và ghi nhận doanh số cũng như lợi nhuận Thời gian thi công kéo dài suốt nhiều năm tài chính là cơ
sở để thực hiện thủ thuật này Doanh nghiệp có thể chuyển doanh thu và lợi nhuận từ năm sau về năm hiện tại và ngược lại
- Lợi dụng các ước tính kế toán Bằng cách lợi dụng các ước tính kế toán như: các khoản dự phòng, chi phí trả trước, chi phí trích trước và khấu hao tài sản cố định, doanh nghiệp có thể tăng hoặc giảm chi phí theo ước muốn chủ quan để có được con số lợi nhuận mong muốn Chẳng hạn với khấu hao, theo quy định, danh mục tài sản cố định tại doanh nghiệp buộc phải thực
Trang 22hiện khấu hao trong khoảng thời gian tối đa và tối thiểu và đây là cơ sở để lựa chọn nhằm tăng hoặc giảm chi phí có thể với chi phí khấu hao.
- Lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí và các ước tính kế toán Nhà quản trị có thể dịch chuyển một vài chi phí từ niên độ này về các niên
độ sau hoặc ngược lại sẽ làm giảm hoặc tăng chi phí của niên độ hiện hành,
từ đó lợi nhuận được điều chỉnh tăng hoặc giảm đi Ví dụ: việc lựa chọn phương pháp phân bổ giá trị công cụ dụng cụ xuất dùng nhiều kỳ, phân bổ chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, việc xác định mức trích trước chi phí bao gồm trích trước chi phí bảo hành, trích trước chi phí tiền lương công nhân sản xuất nghỉ phép, lựa chọn thời điểm nào ghi nhận các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá chứng khoán, khi nào các khoản dự phòng này được hoàn nhập với mức trích lập bao nhiêu và mức hoàn nhập bao nhiêu
1.3.4 Trình độ chuyên môn của kế toán
Việt Nam đang trong tiến trình đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc nền kinh tế, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần đa sở hữu, vận hành theo
cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập Để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, phải có một bộ máy kế toán đủ mạnh để cung cấp cho nhà quản trị những thông tin chính xác, kịp thời cho việc ra quyết định sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên hiện nay, nguồn lực kế toán, kiểm toán chất lượng cao đang thực sự khan hiếm Trình độ đào tạo đại học của Việt Nam nói chung và đào tạo về chuyên ngành kế toán, kiểm toán nói riêng vẫn còn quá yếu kém so với thế giới Nếu trong một doanh nghiệp đội ngũ kế toán còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm sẽ gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp như hạch toán chi phí sai lệch, ghi nhận doanh thu chưa chính xác,….sẽ dẫn đến tình trạng tạo ra lãi hoặc lỗ sai lệch Từ đó, ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh
Trang 23nghiệp làm cho doanh nghiệp mất phương hướng kinh doanh dẫn đến phá sản.
Trình độ của kế toán viên sẽ ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn chính sách kế toán để tối đa hóa lợi ích của doanh nghiệp Thực tế là các kế toán viên không cần quan tâm đến nội dung của chuẩn mực mà chỉ quan tâm đến các thông tư hướng dẫn do Bộ tài chính ban hành Nhiều kế toán viên chỉ vận dụng các chính sách kế toán theo thói quen, để công việc được nhẹ nhàng nhất chứ chưa thực sự thỏa mãn được nhu cầu của nhà quản trị trong việc quản trị lợi nhuận và điều chỉnh các thông tin trên BCTC Do vậy, đây được xem là một trong những rào cản ảnh hưởng đến việc vận dụng các chuẩn mực kế toán
Nhiều kế toán chưa hiểu một cách đúng đắn giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế, kế toán vẫn xem số liệu kế toán là nguồn thông tin cho cơ quan thuế và do đó, số liệu kế toán phải phản ánh phù hợp với các quy định về thuế Thay vì tập trung vào việc trình bày trung thực và hợp lý tình hình tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp thì hiện nay công tác kế toán ở các doanh nghiệp hầu hết chỉ chú trọng cho mục đích kê khai thuế Trong nhiều trường hợp, kế toán chỉ mới quan tâm đến mục đích thuế, nên bỏ qua rất nhiều sự lựa chọn về chính sách kế toán có thể áp dụng
Kế toán được xem như một phương tiện giúp cho doanh nghiệp theo dõi thường xuyên tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình: Quá trình sản xuất, theo dõi thị trường… Nhờ đó, người quản lý điều hành trôi chảy các hoạt động, quản lý hiệu quả, kiểm soát nội bộ tốt, quản lý được hiệu quả công việc, vạch ra định hướng hoạt động cho tương lai Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, kế toán được vận dụng như là một phương tiện để kê khai thuế theo quản lý của nhà nước, chứ nhiều chủ doanh nghiệp chưa thật sự quan tâm đến vai trò quản lý của kế toán Vấn đề nhận thức của chủ doanh nghiệp về vai
Trang 24trò của chuẩn mực kế toán cũng như khả năng sử dụng thông tin BCTC cho công tác điều hành sẽ tác động đến hành vi của kế toán viên Nếu chủ doanh nghiệp có yêu cầu càng cao về thông tin kế toán thì buộc kế toán viên phải tự nâng cao trình độ của mình đồng thời quan tâm đến việc vận dụng chính sách
kế toán để xử lý thông tin tài chính tốt hơn
1.4 CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN ÁP DỤNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.4.1 Chính sách kế toán về tài sản cố định
a Nguyên tắc ghi nhận tài sản cố định
TSCĐ được ghi nhận theo nguyên tắc giá gốc Nguyên giá TSCĐ hữu hình là toàn bộ chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra để có được TSCĐ tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng theo dự tính Các chi phí phát sinh sau ngày ghi nhận ban đầu được tăng nguyên giá TSCĐ nếu các khoản chi phí này chắc chắn làm tăng lợi ích kinh tế trong tương lai do sử dụng tài sản Chi phí phát sinh khi ghi nhận chi phí ban đầu không thỏa mãn điều kiện này thì được ghi nhận vào chi phí trong kỳ Xác định nguyên giá trong một số trường hợp sau đây:
- Nguyên giá TSCĐ hữu hình do các nhà thầu xây dựng bao gồm giá trị công trình hoàn thành bàn giao, các chi phí liên quan trực tiếp khác
- Nguyên giá TSCĐ hữu hình do tự làm, tự xây dựng bao gồm chi phí xây dựng, chi phí sản xuất thực tế phát sinh cộng chi phí lắp đặt và chạy thử
Nguyên giá TSCĐ vô hình là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ
ra để có được TSCĐ đó tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào sử dụng theo dự kiến
Doanh nghiệp cần phân biệt các chi phí ban đầu liên quan đến TSCĐ
vô hình, chẳng hạn chi phí từ khâu thiết kế, triển khai, xây dựng đến khâu chuẩn bị đưa tài sản vào trạng thái sử dụng được, chi phí nào được tăng
Trang 25nguyên giá, chi phí nào ghi tăng chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ Việc phân biệt này ảnh hưởng đến chi phí phát sinh trong kỳ, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp
b Lựa chọn chính sách khấu hao tài sản cố định
* Đối với khấu hao TSCĐ hữu hình:
Giá trị phải khấu hao của TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng Phương pháp khấu hao phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp Số khấu hao của từng kỳ được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong
kỳ, trừ khi chúng được tính vào giá trị của các tài sản khác Có 3 phương pháp khấu hao TSCĐ bao gồm:
+ Phương pháp khấu hao đường thẳng
+ Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần
+ Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm
Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong 3 phương pháp trên để tính và trích khấu hao TSCĐ Tùy thuộc vào đặc điểm của TSCĐ, đặc tính hao mòn, cách thức sử dụng TSCĐ để tạo ra lợi ích kinh tế, mục tiêu quản trị của doanh nghiệp và chính sách quản lý của nhà nước mà doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp Vì việc trích khấu hao TSCĐ sẽ được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ nên lựa chọn phương pháp khấu hao sẽ cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ Cụ thể như doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần sẽ làm gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận trong những năm đầu, hoặc áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng sẽ làm cho phần khấu hao được ghi nhận vào chi phí liền đều qua các năm sử dụng…
* Đối với khấu hao TSCĐ vô hình:
Trang 26Giá trị phải khấu hao của TSCĐ vô hình được phân bổ một cách có hệ thống trong suốt thời gian sử dụng hữu ích ước tính hợp lý của nó Thời gian tính khấu hao của TSCĐ vô hình tối đa là 20 năm Việc tính khấu hao được bắt đầu từ khi đưa TSCĐ vô hình vào sử dụng Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ vô hình có thể vượt quá 20 năm khi có những bằng chứng tin cậy
Phương pháp khấu hao do doanh nghiệp xác định để áp dụng cho TSCĐ phải được thực hiện nhất quán, trừ khi có sự thay đổi trong cách thức
sử dụng tài sản đó Doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản, nếu trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ, doanh nghiệp xét thấy có thể thay đổi cách thức ước tính về lợi ích kinh tế trong tương lai mà doanh nghiệp dự tính thu được Thời gian sử dụng hữu ích có thể tăng lên do đầu tư thêm chi phí làm tăng năng lực của tài sản so với năng lực hoạt động được đánh giá ban đầu
Lựa chọn phương pháp khấu hao và ước tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ sẽ ảnh hưởng đến giá trị khấu hao cần trích lập từ đó ảnh hưởng đến chi phí trong kỳ báo cáo Chính vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp cần cân nhắc tính toán mức độ khấu hao hợp lý để đảm bảo thời gian thu hồi lượng vốn đầu tư vào tài sản cố định, chủ động trong việc đổi mới nhanh chóng máy móc thiết bị, hiện đại hóa quy trình sản xuất kinh doanh
c Chính sách sửa chữa tài sản cố định
Để đảm bảo hoạt động bình thường và ổn định, duy trì năng lực hoạt động cho TSCĐ, doanh nghiệp thường tiến hành sửa chữa, bảo dưỡng tài sản
cố định Tùy theo quy mô sửa chữa TSCĐ, chi phí sửa chữa TSCĐ được phân thành 2 loại:
- Sửa chữa thường xuyên, bảo dưỡng: Sửa chữa thường xuyên tài sản
cố định là loại sửa chữa có đặc điểm, mức độ hư hỏng nhẹ nên kỹ thuật sửa
Trang 27chữa đơn giản, công việc sửa chữa có thể do doanh nghiệp tự thực hiện, thời gian sửa chữa ngắn, chi phí sửa chữa phát sinh ít nên được hạch toán toàn bộ một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Sửa chữa lớn: là loại sửa chữa có mức độ hư hỏng nặng, thời gian sửa chữa dài, chi phí sửa chữa phát sinh nhiều hoặc theo yêu cầu kỹ thuật đảm bảo nâng cao năng lực sản xuất và hoạt động của TSCĐ Đặc điểm của sửa chữa lớn TSCĐ là thời gian tiến hành sửa chữa lớn thường dài, chi phí sửa chữa phát sinh nhiều
+ Nếu doanh nghiệp có kế hoạch sửa chữa lớn ngay từ đầu năm thì doanh nghiệp có thể trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ theo kế hoạch Mức chi phí trích trước được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong
kỳ sẽ làm gia tăng chi phí trong kỳ từ đó làm giảm lợi nhuận của kỳ báo cáo Đây cũng là một trong số các lựa chọn mà các nhà quản trị doanh nghiệp có thể sử dụng để điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của họ
+ Nếu doanh nghiệp không có kế hoạch trích trước thì doanh nghiệp sẽ phân bổ dần chi phí sửa chữa lớn vào chi phí trong kỳ Kế toán có thể lựa chọn số kỳ phân bổ tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị, mức phân bổ chi phí sửa chữa trong từng kỳ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ đó
+ Việc sửa chữa lớn TSCĐ có tính chất nâng cấp làm tăng giá trị sử dụng của TSCĐ thì những chi phí thỏa mãn điều kiện làm tăng nguyên giá TSCĐ thì được phép điểu chỉnh tăng nguyên giá TSCĐ Những chi phí không
đủ điều kiện ghi tăng nguyên giá thì được phân bổ dần vào chi phí
1.4.2 Chính sách kế toán về hàng tồn kho
a Lựa chọn phương pháp xác định giá trị hàng xuất kho
Trang 28Theo chuẩn mực số 02 - Hàng tồn kho, việc tính giá trị hàng xuất kho được áp dụng theo một trong các phương pháp sau: thực tế đích danh; bình quân gia quyền; nhập trước, xuất trước; nhập sau, xuất trước.
* Phương pháp giá thực tế đích danh: Theo phương pháp này sản
phẩm, vật tư, hàng hoá xuất kho thuộc lô hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lô hàng đó để tính Đây là phương án tốt nhất, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán; chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế của nó Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương pháp này
* Phương pháp giá bình quân: Theo phương pháp này giá trị của từng
loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ Phương pháp bình quân có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng , phụ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp Phương pháp này là khá đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ Tuy nhiên lại có nhược điểm lớn là công tác kế toán dồn vào cuối kỳ ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác Hơn nữa, phương pháp này chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ
* Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO): Phương pháp này áp
dụng dựa trên giả định là hàng được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng còn lại cuối kỳ là hàng được mua hoặc sản xuất ở thời điểm cuối kỳ Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán có ý nghĩa
Trang 29thực tế hơn Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại Theo phương pháp này, doanh thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hoá
đã có được từ cách đó rất lâu Đồng thời nếu số lượng chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên rất nhiều
*Phương pháp nhập sau - xuất trước (LIFO): Phương pháp này giả
định là hàng được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là những hàng được mua hoặc sản xuất trước đó Như vậy với phương pháp này chi phí của lần mua gần nhất sẽ tương đối sát với trị giá vốn của hàng thay thế Việc thực hiện phương pháp này sẽ đảm bảo được yêu cầu của nguyên tắc phù hợp trong kế toán Tuy nhiên, trị giá vốn của hàng tồn kho cuối kỳ có thể không sát với giá thị trường của hàng thay thế
Tùy theo đặc điểm hàng tồn kho, mục tiêu của nhà quản trị mà doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp tính giá trị hàng xuất kho khác nhau Việc lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho sẽ liên quan trực tiếp đến giá vốn hàng bán ra, từ đó có thể làm gia tăng hoặc giảm chi phí, ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ và các chỉ tiêu trên BCTC Vì vậy việc lựa chọn phương pháp nào phải được công khai trên các báo cáo và phải sử dụng nhất quán trong niên độ kế toán, không thay đổi tuỳ tiện để đảm bảo nguyên tắc nhất quán trong kế toán
b Chính sách kế toán liên quan đến tính giá thành của sản phẩm
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, việc tính giá thành sản phẩm có liên
hệ mật thiết với câu hỏi: có sản phẩm dở dang hay không vào thời điểm lập BCTC và sản phẩm dở dang được xác định như thế nào? Đây là vấn đề rất khó vì không dễ dàng xác định giá trị dở dang, và phải cân đối lợi ích – chi phí khi xác định khoản mục này Xác định giá trị sản phẩm dở dang được xem
Trang 30là một ước tính kế toán và là một yếu tố của chính sách kế toán trong doanh nghiệp sản xuất Việc ước tính giá trị sản phẩm dở dang có thể bao gồm những trường hợp sau:
- Ước tính giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Ước tính giá trị sản phẩm dở dang theo phần trăm hoàn thành sản lượng tương đương
- Ước tính giá trị sản phẩm dở dang theo giá thành định mức
Với mỗi phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang khác nhau thì giá trị sản phẩm dở dang sẽ khác nhau Chẳng hạn nếu doanh nghiệp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì giá trị sản phẩm dở dang chỉ tính trên giá trị nguyên vật liệu, ngược lại nếu doanh nghiệp đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương thì giá trị sản phẩm dở dang đều được đánh giá trên ba loại chi phí: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Như vậy trong cùng một lượng sản phẩm dở dang nếu đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì giá trị sản phẩm dở dang sẽ nhỏ hơn so với phương pháp khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương Khi giá trị sản phẩm dở dang nhỏ thì giá thành sản phẩm sẽ cao, dẫn tới giá vốn của hàng bán cao, lợi nhuận sẽ giảm và ngược lại
Doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ, ước tính mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang để điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ Việc lựa chọn và ước tính này sẽ ảnh hưởng đến giá thành sản xuất, từ đó sẽ ảnh hưởng tới giá vốn hàng bán trong kỳ Nếu doanh nghiệp xác định phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang không hợp lý thì sẽ ảnh hưởng đến chỉ tiêu về sản phẩm dở dang, thành phẩm, chi phí giá vốn
Trang 31trên BCTC Từ đó ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận cũng như chi phí thuế TNDN.
c Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Vào thời điểm cuối năm tài chính, doanh nghiệp sẽ xem xét giá trị thuần
có thể thực hiện được của hàng tồn kho trên thị trường để xác định mức lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là
số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng
Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho sẽ làm cho chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ tăng lên, từ đó ảnh hưởng tới lợi nhuận Việc đưa ra các khoản chi phí tiêu thụ ước tính là tùy thuộc vào ý kiến chủ quan của doanh nghiệp Đây là một trong những ước tính kế toán nên chuẩn mực luôn tạo ra các khoảng không cho doanh nghiệp tự do lựa chọn Cuối kỳ kế toán năm tiếp theo, doanh nghiệp phải thực hiện đánh giá mới về giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho cuối năm đó Trường hợp cuối kỳ kế toán năm nay, nếu khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập thấp hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối kỳ kế toán năm trước thì số chênh lệch lớn hơn phải được hoàn nhập để đảm bảo cho giá trị của hàng tồn kho phản ánh trên báo cáo tài chính là theo giá gốc (nếu giá gốc nhỏ hơn giá trị thuần có thể thực hiện được) hoặc theo giá trị thuần có thể thực hiện được (nếu giá gốc lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được) Việc hoàn nhập hay trích lập thêm dự phòng trong năm tiếp theo cũng tùy thuộc vào mức lựa chọn theo ý muốn chủ quan của các nhà quản trị
1.4.3 Chính sách kế toán về các khoản phải thu
Doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh cũng ít nhiều thực hiện chính sách bán chịu hoặc thu tiền sau khi giao hàng Doanh thu bán chịu trong doanh nghiệp phát sinh sẽ làm gia tăng khoản nợ phải thu Đó là số tiền mà
Trang 32khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh từ kết quả bán hàng và cung cấp dịch
vụ Khi doanh nghiệp thực hiện chính sách bán chịu sẽ làm phát sinh chi phí
và lợi ích Lợi ích chủ yếu là tăng doanh thu và cuối cùng là tăng lợi nhuận Ngược lại, sẽ bị lỗ nếu như phát sinh khoản nợ phải thu khó đòi Một khi chi phí quản lý phát sinh liên quan đến khoản thu tiền bán chịu, thì sẽ phát sinh thêm một chi phí khác do khách hàng thanh toán tiền nợ chậm trả cho doanh nghiệp Về nguyên tắc, doanh nghiệp phải gánh chịu toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến khoản nợ trong thời gian chờ đợi thanh toán Đó là chi phí liên quan đến số tiền nợ phải thu khó đòi - số tiền mà một vài khách hàng nợ không thể hoặc không sẵn lòng chi trả Kế toán doanh nghiệp thường xác định những khoản chi phí chủ yếu cho việc bán chịu khoản nợ phải thu khó đòi như là một khoản chi phí khi doanh nghiệp lập dự phòng nợ phải thu khó đòi
Theo thông tư số 13/2006/TT-BTC về hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng thì doanh nghiệp được phép lập dự phòng phải thu khó đòi, doanh nghiệp phải dự kiến mức tổn thất có thể xảy ra hoặc tuổi nợ quá hạn của các khoản nợ và tiến hành lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi; hoặc đối với nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử hoặc đang thi hành án… thì doanh nghiệp dự kiến mức tổn thất không thu hồi được
để trích lập dự phòng Thông tư quy định về mức trích lập dự phòng như sau:
+ 30% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 3 tháng đến dưới 1 năm.+ 50% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm.+ 70% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 2 năm đến dưới 3 năm.+ Đối với nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế
đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử hoặc
Trang 33đang thi hành án thì doanh nghiệp dự kiến mức tổn thất không thu hồi được
để trích lập dự phòng
Dự phòng nợ phải thu khó đòi là một khoản ước tính kế toán, nó thường liên quan đến việc ghi nhận các yếu tố chi phí và thu nhập trên báo cáo kết quả kinh doanh và có thể ảnh hưởng đến thuế TNDN đối với ngân sách nhà nước Việc trích lập dự phòng tại doanh nghiệp dựa vào dự kiến mức tổn thất không thu hồi được Do đó doanh nghiệp có thể dự kiến mức tổn thất cao hay thấp là tùy vào nhận thức chủ quan của kế toán Để điều chỉnh lợi nhuận thì doanh nghiệp có thể lựa chọn thời điểm và mức dự phòng cần lập của phải thu khó đòi; thời điểm khoản dự phòng này được hoàn nhập hay xóa
sổ và mức hoàn nhập Theo đó, lợi nhuận của công ty trong kỳ cũng thay đổi dựa theo sự thay đổi của chi phí
1.4.4 Chính sách kế toán về doanh thu
Do trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu liên quan đến ghi nhận doanh thu cho hợp đồng xây dựng nên tác giả tập trung nghiên cứu về chuẩn mực kế toán số 15- Hợp đồng xây dựng
Theo quy định của chuẩn mực kế toán số 15, doanh thu và chi phí của
hợp đồng xây dựng được ghi nhận theo 2 trường hợp sau:
- Trường hợp hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo tiến độ kế hoạch, khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được ước tính một cách đáng tin cậy, thì doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành do nhà thầu tự xác định vào ngày lập BCTC mà không phụ thuộc vào hóa đơn thanh toán theo tiến độ
kế hoạch đã lập hay chưa và số tiền ghi trên hóa đơn là bao nhiêu
- Trường hợp hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo giá trị khối lượng thực hiện, khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được xác định một cách đáng tin cậy và được khách hàng xác nhận, thì doanh
Trang 34thu và chi phí liên quan đến hợp đồng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành được khách hàng xác nhận trong kỳ được phản ánh trên hóa đơn đã lập.
Kết quả của hợp đồng được ước tính một cách đáng tin cậy khi đồng thời thỏa mãn 4 điều kiện sau:
- Tổng doanh thu của hợp đồng tính toán được một cách đáng tin cậy;
- Doanh nghiệp thu được lợi ích kinh tế từ hợp đồng;
- Chi phí để hoàn thành hợp đồng và phần công việc đã hoàn thành tại thời điểm lập BCTC được tính toán một cách đáng tin cậy;
- Các khoản chi phí liên quan đến hợp đồng có thể xác định được rõ ràng và tính toán được một cách đáng tin cậy để tổng chi phí thực tế của hợp đồng có thể so sánh được với tổng dự toán
Phần công việc đã hoàn thành được xác định theo một trong ba phương pháp sau, tùy thuộc vào bản chất của dịch vụ cũng như bản chất của hợp đồng:
- Tỷ lệ phần trăm (%) giữa chi phí đã phát sinh của phần công việc đã hoàn thành tại một thời điểm so với tổng chi phí dự toán của hợp đồng;
- Đánh giá phần công việc đã hoàn thành;
- Tỷ lệ phần trăm (%) giữa khối lượng xây lắp đã hoàn thành so với tổng khối lượng xây lắp phải hoàn thành của hợp đồng
Việc ước lượng phần trăm công việc hoàn thành phụ thuộc vào nhận định của doanh nghiệp Do mang tính chất chủ quan nên phương pháp này cho phép doanh nghiệp ghi nhận mức doanh thu lớn hơn hoặc nhỏ hơn thực tế theo tỷ lệ ước tính tiến độ thực hiện hợp đồng Kế toán có thể ghi nhận tăng doanh thu trong kỳ so với thực tế bằng cách đánh giá phần công việc hoàn thành, tỷ lệ % giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với khối lượng công việc phải hoàn thành hoặc tỷ lệ % chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ tăng lên Hoặc
Trang 35ngược lại có thể ghi nhận doanh thu giảm đi Việc xác định mức doanh thu ghi nhận trong kỳ sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán trong kỳ, từ đó có thể làm cho lợi nhuận kế toán tăng lên hoặc giảm đi.
1.4.5 Chính sách kế toán về chi phí
a Chi phí trả trước, chi phí phải trả
Các khoản chi phí trả trước, chi phí phải trả, hay còn gọi là chi phí theo
dự toán, được vận dụng để đảm bảo nguyên tắc kế toán theo cơ sở dồn tích Các khoản chi phí này cũng là một ước tính kế toán có thể lựa chọn linh hoạt
để điều chỉnh thông tin trên BCTC Tùy thuộc vào thời gian phân bổ chi phí trả trước dài hay ngắn, thời điểm và mức trích trước chi phí phải trả, sẽ dẫn đến chi phí phát sinh khác nhau Do đó thông tin trên BCTC có thể tăng hoặc giảm tùy vào mức chi phí được ghi nhận vào chi phí trong kỳ
b Chính sách kế toán về chi phí đi vay
Chi phí đi vay gồm có: Lãi tiền vay ngắn hạn, lãi tiền vay dài hạn, kể
cả lãi tiền vay trên các khoản thấu chi; Phần phân bổ các khoản chiết khấu hoặc phụ trội phát sinh liên quan đến những khoản vay do phát hành trái phiếu; Phần phân bổ các khoản chi phí phụ phát sinh liên quan tới quá trình làm thủ tục vay; Chi phí tài chính của tài sản thuê tài chính Chi phí đi vay phải ghi nhận vào chi phí sản xuất - kinh doanh trong kỳ khi phát sinh, trừ khi: Chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang được tính vào giá trị của tài sản đó (được vốn hoá) khi doanh nghiệp chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai do sử dụng tài sản
đó và chi phí đi vay có thể xác định được một cách đáng tin cậy
Vốn hoá chi phí đi vay vào giá trị tài sản dở dang được bắt đầu khi thoả mãn đồng thời những điều kiện sau: chi phí cho việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang bắt đầu phát sinh; chi phí đi vay phát sinh; hoạt động cần thiết trong việc chuẩn bị đưa tài sản dở dang vào sử dụng hoặc bán đang
Trang 36được tiến hành Việc vốn hoá chi phí đi vay sẽ được tạm ngừng lại trong các giai đoạn mà quá trình đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang bị gián đoạn, trừ khi sự gián đoạn đó là cần thiết, sẽ chấm dứt khi các hoạt động chủ yếu cần thiết cho việc chuẩn bị đưa tài sản dở dang vào sử dụng hoặc bán đã hoàn thành Chi phí đi vay phát sinh sau đó sẽ được ghi nhận là chi phí sản xuất - kinh doanh trong kỳ.
Kế toán cần phải phân định rõ chi phí lãi vay nào được đưa vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ, chi phí nào được vốn hóa, thời điểm nào vốn hóa, thời điểm nào chấm dứt việc vốn hóa Việc phân biệt này ảnh hưởng đến lợi nhuận của kỳ báo cáo vì nếu tất cả các khoản chi phí đi vay phát sinh trong kỳ đều được ghi nhận vào chi phí tài chính từ đó sẽ làm cho chi phí trong kỳ tăng lên dẫn đến giảm lợi nhuận Với thủ thuật vốn hóa, chi phí kinh doanh được ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán thay vì được đưa vào Kết quả hoạt động kinh doanh một cách hợp lý Ví dụ: Chi phí lãi vay trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản được đưa vào vận hành trong kỳ Thông thường các chi phí lãi vay ngân hàng của giai đoạn trước khi công trình đi vào hoạt động sẽ được vốn hóa vào giá trị công trình Chi phí lãi vay sau thời điểm này phải được ghi nhận vào chi phí kinh doanh trong kỳ Để công trình đi vào hoạt động chính thức, doanh nghiệp phải trải qua nhiều công đoạn kiểm nghiệm, chạy thử và bàn giao Bằng nhiều lập luận khác nhau, doanh nghiệp có thể vốn hóa một phần chi phí lãi vay vào giá trị công trình, thay vì ghi nhận chi phí này vào kết quả kinh doanh trong kỳ theo đúng bản chất của nó Cách làm này sẽ giảm được chi phí hoạt động và tăng lợi nhuận sau thuế
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về các chính sách kế toán như: Khái niệm, vai trò cũng như các mục tiêu của doanh nghiệp trong việc lựa chọn các chính sách kế toán Luận văn cũng giới thiệu một số chính sách kế toán có liên quan trực tiếp đến đặc thù hoạt động
Trang 38của công ty đang nghiên cứu cũng như các lựa chọn của kế toán trong từng chính sách nhằm mục tiêu quản trị lợi nhuận, chính sách thuế của Nhà nước, thông tin cung cấp ra bên ngoài và chính khả năng của các kế toán viên
Trên cơ sở lý thuyết của chương 1, chương 2 tiến hành nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác vận dụng chính sách kế toán trong việc lập BCTC tại công ty CP Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng
TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN THIẾT KẾ XÂY DỰNG
ĐÀ NẴNG 2.1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY
2.1.1 Lịch sử thành lập và hoạt động
Trang 39Công ty CP Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng xuất thân là Viện Thiết
kế và Quy hoạch, được thành lập ngày 16/3/1976 Trải qua nhiều lần đổi tên
và chia tách, năm 1992, công ty trở thành doanh nghiệp nhà nước với tên là Viện Thiết kế Quy hoạch và Xây dựng Quảng Nam Đà Nẵng theo quyết định
số 2893/QĐ -UB ngày 09/10/1992 của UBND tỉnh QNĐN Năm 1995, UBND tỉnh QNĐN ra quyết định số 66/QĐ-UB ngày 19/01/1995 đổi tên Viện Thiết kế Quy hoạch và Xây dựng QNĐN thành Công ty Tư vấn Thiết kế Xây dựng QNĐN Năm 1997, sau khi tỉnh QNĐN được tách thành hai đơn vị hành chính trực thuộc trung ương, UBND TP Đà Nẵng đã ra quyết định số 5467/QĐ-UB ngày 31/12/1997 đổi tên Công ty Tư vấn Thiết kế Xây dựng QNĐN thành Công ty Tư vấn Thiết kế Xây dựng Đà Nẵng Từ 02/01/2008, Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Xây dựng Đà Nẵng được hình thành, chuyển đổi từ Công ty Tư vấn Thiết kế Xây dựng Đà Nẵng theo quyết định số 5362/QĐ-UBND ngày 10/7/2007 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của công ty
Ngành nghề kinh doanh của công ty gồm có: Tư vấn đầu tư và xây dựng Lập quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết Lập báo cáo các nghiên cứu tiền khả thi Lập dự án đầu tư xây dựng và thiết kế cơ sở Khỏa sát địa hình , địa chất công trình, khoan giếng ngầm Đánh giá tác động môi trường Thiết
kế kỹ thuật và tổng dự toán Thiết kế bản vẽ thi công và dự toán chi tiết các
Trang 40công trình xây dựng Thiết kế hệ thống điện các công trình dân dụng và công nghiệp Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi thủy điện, cấp thoát nước, hệ thống phòng cháy, chữa cháy, hệ thống xử lý nước, chất thải và môi trường Thí nghiệm, siêu âm kiểm tra cọc khoan nhồi, cấu kiện bê tông xi măng và mối hàn kim loại
BAN KIỂM SOÁT
XƯỞNG KẾT CẤU
P KHẢO SÁT ĐỊA
CHẤT
P THÍ NGHIỆM VẬT LIỆU