Trên cơ sở kinh nghiệm thực tập tại công ty, tác giả rút ra được những vướng mắc của kế toán khi công ty áp dụng chính sách kế toán hiện tại, từ đó kết hợp với mục tiêu tài chính của doa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Đoàn Thị Hoài Linh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cần thiết của đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học thực tiễn 3
6.Tổng quan nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 8
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN 8
1.1.1 Khái niệm chính sách kế toán 8
1.1.2 Các đặc trưng của chính sách kế toán 9
1.2 VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN 11
1.3 MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC NGHIÊN CỨU VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA ĐƠN VỊ 12
1.3.1 Thông tin trên thị trường 12
1.3.2 Mục tiêu quản trị lợi nhuận 15
1.3.3 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 17
1.3.4 Trình độ chuyên môn của kế toán 18
1.4 CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN ÁP DỤNG TRONG DOANH NGHIỆP 19
1.4.1 Chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho 20
1.4.2 Chính sách kế toán về tài sản cố định 24
1.4.3 Chính sách kế toán về giao dịch bằng ngoại tệ 27
1.4.4 Chính sách kế toán về nợ phải trả 29
1.4.5 Chính sách kế toán về doanh thu 29
Trang 51.4.6 Chính sách kế toán về chi phí đi vay 31
CHƯƠNG 2 THỰC TẾ VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG SẢN THỰC PHẨM QUẢNG NGÃI 34
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG SẢN THỰC PHẨM QUẢNG NGÃI 34
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển: 34
2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý tại Công ty Cổ phần nông sản thực phẩm Quảng Ngãi: 38
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty Cổ phần nông sản Thực phẩm Quảng Ngãi 41
2.2 THỰC TRẠNG VIỆC VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG SẢN THỰC PHẨM QUẢNG NGÃI 43
2.2.1 Chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho 43
2.2.2 Chính sách kế toán liên quan tài sản cố định 48
2.2.3 Chính sách kế toán liên quan với giao dịch bằng ngoại tệ 52
2.2.4 Chính sách kế toán liên quan đến nợ phải trả 53
2.2.5 Chính sách ghi nhận doanh thu 54
2.2.6 Chính sách kế toán về chi phí đi vay 56
2.2.7 Chính sách liên quan công bố thông tin 56
2.3 MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC NGHIÊN CỨU VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY NÔNG SẢN THỰC PHẨM QUẢNG NGÃI 57
2.3.1 Đặc thù công ty 57
2.3.2 Thông tin trên thị trường 57
2.3.3 Mục tiêu của nhà quản trị 58
2.3.4 Khả năng của kế toán 58
Trang 62.4 ĐÁNH GIÁ VIỆC VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG SẢN THỰC PHẨM QUẢNG NGÃI
59
2.4.1 Ưu điểm 59
2.4.2 Nhược điểm 60
CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CTCP NÔNG SẢN THỰC PHẨM QUẢNG NGÃI 62
3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG SẢN THỰC PHẨM QUẢNG NGÃI 62
3.2 CĂN CỨ ĐỂ HOÀN THIỆN VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG SẢN THỰC PHẨM QUẢNG NGÃI 63
3.2.1 Mục tiêu của nhà quản trị 63
3.2.2 Năng lực của nhân viên kế toán 65
3.3 HOÀN THIỆN VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG SẢN THỰC PHẨM QUẢNG NGÃI 65
3.3.1 Chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho 65
3.3.2 Chính sách kế toán tài sản cố định 68
3.3.3 Chính sách về chi phí trả trước 72
3.3.4 Chính sách về chi phí đi vay 73
3.3.5 Các chính sách kế toán khác có liên quan 73
3.4 HOÀN THIỆN CÔNG BỐ THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC Báo cáo tài chính
CBCNV Cán bộ công nhân viên
CP Cổ phần
CPH Cổ phần hóa
DNTN Doanh nghiệp tƣ nhân
GTGT Giá trị gia tăng
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TSCĐ Tài sản cố định
HTK Hàng tồn kho
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số hiệu
nông sản thực phẩm Quảng Ngãi
39
Trang 10MỞ ĐẦU
1.Tính cần thiết của đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp trong tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và trong cả nước nói chung đang bước vào một cuộc chiến thật sự khốc liệt, có nhiều cơ hội kinh doanh mở ra nhưng cũng đầy ắp những rủi ro Hiện nay, báo cáo tài chính được nhiều đối tượng sử dụng vì nó phản ánh tổng quát nhất về tình trạng tài chính của doanh nghiệp Chính vì vậy mức độ trung thực và hợp lý trên BCTC luôn là vấn đề được các doanh nghiệp chú trọng
Ở nước ta, báo cáo tài chính được lập dựa trên các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các thông tư hướng dẫn, mà các chuẩn mực kế toán chính là đều kiện để các doanh nghiệp lựa chọn và vận dụng linh hoạt các chính sách
kế toán nhằm quản trị lợi nhuận theo từng mục tiêu khác nhau Tuy nhiên, một hiện tượng tồn tại ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ là thường chạy số liệu vào cuối năm để điều chỉnh lợi nhuận, hoặc kế toán ở các doanh nghiệp thực hiện chỉ theo mục đích tính thuế, Do vậy, báo cáo tài chính của công ty khi công bố phần nào thể hiện ý chí của người chủ doanh nghiệp Đây chính là áp lực đối với bộ phận kế toán của doanh nghiệp, vì vậy nghiên cứu vận dụng chính sách kế toán phù hợp với đơn vị là rất cần thiết
Chính sách kế toán được đề cập trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam
từ khi hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam vừa được ban hành vào năm
2001 và ngày càng là mối quan tâm của nhiều đối tượng sử dụng chính sách
kế toán nói chung và sử dụng báo cáo tài chính nói riêng Trên cơ sở kinh nghiệm thực tập tại công ty, tác giả rút ra được những vướng mắc của kế toán khi công ty áp dụng chính sách kế toán hiện tại, từ đó kết hợp với mục tiêu tài chính của doanh nghiệp tài chính của doanh nghiệp, đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty để xây dựng chính sách kế toán phù hợp hơn
Trang 11Công ty cổ phần Nông sản thực phẩm Quảng Ngãi là một trong những doanh nghiệp sản xuất bột mỳ xuất khẩu lớn trên toàn quốc Với hoạt động kinh doanh đa dạng, với nhiều cơ sở ở nhiều nơi nên nghiên cứu vận dụng chính sách kế toán cần phải xem xét Mặc dù đơn vị này đã hoạt động và đã
có chính sách kế toán đƣợc công bố trên thuyết minh BCTC nhƣng có một số
mục chƣa đƣợc rõ ràng Chính vì lí do đó tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên
cứu vận dụng chính sách kế toán tại Công ty cổ phần nông sản thực phẩm Quảng Ngãi ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2.Mục đích nghiên cứu
luận văn tìm hiểu và đánh giá thực trạng vận dụng chính sách kế toán tại Công ty Cổ phần nông sản thực phẩm Quảng Ngãi Từ đó, luận văn đề ra các giải pháp hoàn thiện việc vận dụng chính sách kế toán cho phù hợp với các yêu cầu quản lý và đặc thù hoạt động tại Công ty
Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu các câu hỏi sau:
- Mục tiêu của nhà quản trị tác động đến việc vận dụng chính sách kế toán tại Công ty nhƣ thế nào ?
- Sự tuân thủ trong thực hiện chính sách kế toán hiện nay tại Công ty nhƣ thế nào ?
- Công ty hoàn thiện chính sách kế toán nào để đáp ứng mục tiêu của nhà quản lý ?
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Luận văn tìm hiểu về việc vận dụng các chính
sách kế toán hiện tại; tập trung tìm hiểu, nghiên cứu về các mục tiêu của nhà
Trang 12quản trị, đặc điểm kinh doanh chủ yếu tại Công ty cổ phần nông sản thực phẩm Quảng Ngãi
- Phạm vi nghiên cứu: Tác giả tập trung nghiên cứu vận dụng chính sách Công ty cổ phần Nông sản thực phẩm Quảng Ngãi trong giai đoạn 2012-
2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp để giải quyết mục tiêu nghiên cứu Do
đề tài liên quan đến một doanh nghiệp cụ thể trong một giai đoạn 2012-2013 nên phương pháp cụ thể như sau:
- Chọn cách tiếp cận nghiên cứu tình huống tại Công ty Cổ phần nông sản thực phẩm Quảng Ngãi bằng việc xem xét các chính sách kế toán công bố qua thuyết minh BCTC 2 năm 2012-2013 Sau đó, luận văn sẽ khảo sát các số liệu kế toán để chứng thực các chính sách kế toán đó tại đơn vị Các phỏng vấn sâu với kế toán trưởng, lãnh đạo công ty sẽ giúp giải thích các tương đồng hoặc xung đột giữa chính sách kế toán và mục tiêu quản lý
- Kết hợp sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, suy luận để nghiên cứu, dánh giá vận dụng chính sách kế toán tại công ty cổ phần nông sản Quảng Ngãi Qua đó, nghiên cứu vận dụng chính sách kế toán phù hợp các mục tiêu tài chính, đặc điểm kinh doanh hiện tại và trong thời gian tới công
ty
5 Ý nghĩa khoa học thực tiễn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục luận văn bao gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chính sách kế toán trong các doanh nghiệp Chương 2: Thực tế vận dụng chính sách kế toán tại Công ty Cổ phần Nông sản thực phẩm Quảng Ngãi
Chương 3: Hoàn thiện vận dụng chính sách kế toán tại Công ty Cổ phần Nông sản thực phẩm Quảng Ngãi
Trang 136.Tổng quan nghiên cứu
Chính sách kế toán được đề cập trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam
từ khi hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam vừa được ban hành vào năm
2001 và ngày càng là mối quan tâm của nhiều đối tượng sử dụng chính sách
kế toán nói chung và sử dụng BCTC nói riêng, vì với mỗi sự lựa chọn chính sách kế toán khác nhau sẽ làm ảnh hưởng đến số liệu và thông tin của doanh nghiệp trên BCTC, đồng thời do doanh nghiệp có quyền lựa chọn các chính sách kế toán cho phù hợp với đặc điểm của công ty, từ đó kết hợp với mục tiêu tài chính của doanh nghiệp, đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty để nghiên cứu chính sách kế toán phù hợp hơn
Sau đây là một số tài liệu có liên quan được sử dụng để phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu TS.Trần Đình Khôi Nguyên (2010), “Bàn về mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng chế độ kế toán trong các doanh nghiệp vừa
và nhỏ” đã thu thập thông tin qua bảng câu hỏi, kết quả điều tra thử nghiệm nhằm nghiên cứu những chuẩn mực kế toán nào thường sử dụng phổ biến ở các doanh nghiệp và nhận thức của kế toán viên, cán bộ thuế và các nhân tố ảnh hưởng đến việc công tác kế toán hàng ngày ở doanh nghiệp như thế nào Kết quả đã chỉ ra những hạn chế về trình độ của kế toán viên cùng với sự tác động của hệ thống pháp luật đã ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng chuẩn mực; công tác kế toán ở các doanh nghiệp chỉ chú trọng cho mục đích kê khai thuế, sự thay đổi cơ chế quản lý doanh nghiệp từ cơ quan thuế cũng được xem
là một nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chế độ kế toán, chi phí cho công tác kế toán vẫn chưa được đánh giá cao trong việc ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán và việc vận dụng các chuẩn mực kế toán
TS Trần Đình Khôi Nguyên (2011), “Các nhân tố ảnh hưởng vận dụng
chuẩn mực kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Đà Nẵng”, Tạp chí
Trang 14phát triển kinh tế, số 252, tr.9-15 Tác giả đã thu thập thông tin qua bảng câu
hỏi, kết quả điều tra thử nghiệm nhằm nghiên cứu những chuẩn mực kế toán nào thường được sử dụng phổ biến và những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chuẩn mực sử dụng phổ biến là liên quan đến doanh thu, tài sản cố định, hàng tồn kho, trình bày báo cáo tài chính; đồng thời hạn chế của trình độ kế toán viên cùng với sự tác động của hệ thống pháp luật đã ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán
Mai Thị Hạnh (2013), “Xây dựng chính sách kế toán tại Chi nhánh
Công ty cổ phần Nam Việt Úc tại Đà Nẵng”, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng Tác giả đã nghiên cứu thực trạng chính sách kế toán tại Chi nhánh
Công ty cổ phần Nam Việt Úc tại Đà Nẵng với hoạt động kinh doanh sản xuất, thương mại, thi công nội thất nhà Việc nghiên cứu thông qua phương pháp phỏng vấn, so sánh, tổng hợp đối chiếu với chuẩn mực kế toán Tác giả nêu lên các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng chính sách kế toán của doanh nghiệp gồm yếu tố đặc điểm kinh doanh, yếu tố mục tiêu quản lý và yếu tố trình độ kế toán Trong đề tài có trình bày các nội dung về các chính sách kế toán chung; các chính sách kế toán chủ yếu gồm chính sách hàng tồn kho, tài sản cố định, nợ phải thu, doanh thu, chi phí; các chính sách liên quan công bố thông tin trên Thuyết minh báo cáo tài chính tại công ty Kết quả cho thấy mục tiêu quản trị tại công ty là tối thiểu hóa chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, trì hoãn việc nộp thuế GTGT phải nộp trong kỳ Mặt khác, bộ phận kế toán vẫn chưa chú trọng việc vận dụng chính sách kế toán hợp lý, chưa đáp ứng nhu cầu nhà quản trị Từ đó, tác giả đề xuất xây dựng một số chính sách
kế toán tại công ty như thay đổi phương pháp tính giá hàng xuất kho, phân loại lại vật tư, hàng hóa theo chức năng và giá trị, lập dự phòng giảm giá hàng
Trang 15tồn kho, lập dự phòng nợ phải thu khó đòi, xây dựng các chính sách liên quan công bố thông tin
Nguyễn Thị Kim Oanh (2012), “Đánh giá sự vận dụng các chính sách
kế toán tại công ty lương thực và thực phẩm Quảng Nam”, và Lê Thị Chi (2012), “Hoàn thiện chính sách kế toán tại công ty CP vật tư tổng hợp Phú
Yên” – Luận văn thạc sỹ, Đại học Đà Nẵng Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu
các chính sách kế toán đang vận dụng tại công ty CP lương thực và thực phẩm Quảng Nam và công ty CP vật tư tổng hợp Phú Yên thông qua phương pháp phỏng vấn, xem xét số liệu, đối chiếu với các chuẩn mực kế toán Các chính sách kế toán được trình bày là các chính sách liên quan chủ yếu đến hoạt động của công ty như các chính sách về hàng tồn kho, TSCĐ, lập dự phòng khoản nợ phải thu khó đòi, ghi nhận doanh thu, ghi nhận chi phí, Kết quả chỉ ra, các chính sách kế toán đang được áp dụng tại công ty nhằm né tránh thuế, tuy nhiên để đảm bảo mục tiêu lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hợp
lý, công ty cũng vận dụng một số chính sách để quản trị lợi nhuận
Bộ phận kế toán vẫn chưa có sự chú trọng đến việc sử dụng các chính sách kế toán đã hợp lý hay chưa, đã đáp ứng được nhu cầu của nhà quản trị hay chưa? Từ đó, các tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc nghiên cứu chính sách kế toán tại công ty như thay đổi cách tính giá trị hàng xuất kho cho từng mặt hàng, thống nhất phương pháp lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, hoàn nhập dự phòng, hoàn thiện việc công bố các thông tin liên quan đến các chính sách kế toán trên thuyết minh BCTC Tuy nhiên các nghiên cứu trên vẫn chưa nghiên cứu được toàn diện tất cả các chính sách kế toán đang được áp dụng ở công ty, đồng thời chưa phân tích sâu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương pháp và chính sách kế toán ở doanh nghiệp
Trang 16Ngô Lê Phương Thúy (2012), “Nghiên cứu việc vận dụng chính sách
kế toán tại công ty CP Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng” – Luận văn thạc
sỹ, Đại học Đà Nẵng Tác giả đi sâu nghiên cứu việc vận dụng các chính sách
kế toán tại công ty CP Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng, chủ yếu các chính sách kế toán về TSCĐ, nợ phải thu, ghi nhận doanh thu, ghi nhận chi phí, qua
đó tác giả rút ra những ưu và nhược điểm của việc vận dụng đó Đồng thời tác giả xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng các chính sách kế toán Sau đó, tác giả đưa ra các chính sách kế toán cho doanh nghiệp để khắc phục các nhược điểm dựa trên cở sở lý thuyết về các chuẩn mực kế toán được pháp luật quy định và dựa trên trình độ của kế toán viên
Tóm lại, tất cả các luận văn trên đây nghiên cứu về chính sách kế toán chỉ mới dừng lại ở gốc độ phản ảnh thực trạng rồi đưa ra giải pháp hoàn thiện, hoặc phản ánh thực trạng lựa chọn chính sách kế toán là do ảnh hưởng của cơ quan thuế, chưa có nghiên cứu nào từ việc nghiên cứu thực trạng, mục tiêu tài chính, đặc điểm sản xuất kinh doanh của đơn vị rồi nghiên cứu chính sách kế toán cụ thể phù hợp với mục tiêu tài chính, đặc điểm kinh doanh, những tồn tại hiện tại và yêu cầu của Ban quản lý đơn vị
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN 1.1.1 Khái niệm chính sách kế toán
Theo chuẩn mực kế toán số 29, ban hành và công bố theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15 tháng 02 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ tài chính thuật ngữ “Chính sách kế toán” được định nghĩa là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được công ty áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính
Khi quyết định việc lựa chọn và sử dụng chính sách kế toán cụ thể trong báo cáo tài chính người đứng đầu trong doanh nghiệp phải xem xét việc diễn giải này có giúp cho người sử dụng hiểu được cách thức phản ánh các nghiệp vụ giao dịch trong kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp
Các chính sách kế toán doanh nghiệp thường đưa ra gồm: Ghi nhận doanh thu; Hợp nhất công ty con và công ty liên kết; Hợp nhất kinh doanh; Các liên doanh; Ghi nhận và phân bổ khấu hao tài sản cố định, phân bổ chi phí trả trước và các khoản chi phí đi vay và các khoản chi phí khác; hàng tồn kho; các khoản dự phòng; Các chuẩn mực kế toán khác sẽ quy định một cách cụ thể việc trình bày chính sách kế toán trong các lĩnh vực trên
Mỗi doanh nghiệp cần xem xét bản chất hoạt động và chính sách của mình để trình bày loại hình doanh nghiệp trên báo cáo tài chính Khi một doanh nghiệp thực hiện những nghiệp vụ ở nước ngoài có những giao dịch bằng ngoại tệ, thì những người sử dụng sẽ mong đợi có phần diễn giải về các chính sách kế toán đối với việc ghi nhận các khoản lãi và lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái và việc dự phòng rủi ro hối đoái
Trang 18Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng có thể linh hoạt lựa chọn các chính sách kế toán phù hợp cho mình.Việc diễn giải các chính sách không được quy định trong các chuẩn mực kế toán hiện hành, nhưng được lựa chọn và áp dụng phù hợp phải nằm trong khuôn khổ quy định của pháp luật
1.1.2 Các đặc trưng của chính sách kế toán
Qua khái niệm cho thấy chính sách kế toán có những đặc trưng sau:
Chính sách kế toán bao gồm những nguyên tắc kế toán cụ thể: Nguyên
tắc kế toán được hiểu là các quy định, các thủ tục cho việc ghi nhận, đo lường
các yếu tố của BCTC để việc lập BCTC đạt được độ tin cậy cao, dễ hiểu và
dễ so sánh Các nguyên tắc nền tảng cho BCTC được gọi là các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận (Generally Accepted Accounting Principles – GAAP) Đây là những nguyên tắc chung có tính chất bắt buộc đối với tất cả các doanh nghiệp, như: nguyên tắc kỳ kế toán, nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc giá gốc, nguyên tắc nhất quán, nguyên tắc thận trọng, cơ sở dồn tích… Các doanh nghiệp có thể vận dụng các nguyên tắc một cách linh hoạt nhưng nằm trong giới hạn cho phép để thay đổi các thông tin cung cấp ra bên ngoài nhằm đáp ứng mục tiêu của nhà quản trị, như: Chuyển sau các kỳ sau hoặc ghi nhận sớm hơn một số loại chi phí, như vậy sẽ làm giảm hoặc tăng chi phí của niên độ hiện tại Những loại chi phí này có thể được ghi nhận vào kỳ phát sinh hoặc phân bổ cho một số kỳ theo nguyên tắc phù hợp, từ đó sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ
Chính sách kế toán bao gồm những lựa chọn trong công tác kế toán tùy theo đặc thù và yêu cầu quản lý của mỗi đơn vị Do đặc điểm sản xuất kinh
doanh mỗi doanh nghiệp là khác nhau nên các chuẩn mực kế toán luôn cho phép các doanh nghiệp lựa chọn một cách thức đo lường phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của đơn vị mình Việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp khác nhau trong một chính sách kế toán sẽ làm thay đổi thông
Trang 19tin trình bày trên BCTC nhằm hướng đến các lợi ích khác nhau của doanh nghiệp như: thuế, lợi tức cổ đông, thu hút nhà đầu tư, vay vốn ngân hàng,…
Ví dụ như: Với mỗi phương pháp xác định giá trị hàng xuất kho khác nhau (Bình quân, nhập trước – xuất trước, nhập sau – xuất trước, thực tế đích danh, giá kế hoạch) sẽ có kết quả giá vốn hàng bán khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận báo cáo trong kỳ; lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ khác nhau (Đường thẳng, sản lượng, số dư điều chỉnh,…) sẽ cho giá trị khấu hao TSCĐ khác nhau trong kỳ và sẽ làm cho lợi nhuận trong kỳ báo cáo khác nhau giữa các phương pháp lựa chọn,…
Chính sách kế toán bao gồm các ước tính kế toán Ước tính kế toán là
các khoản mục trên BCTC mà giá trị của chúng được ước tính chứ không thể
đo lường một cách chính xác, điều này là do chuẩn mực không thể cụ thể hóa được tất cả các vấn đề phát sinh ở các đơn vị với tất cả các lĩnh vực Các ước tính được sử dụng trong kế toán nhằm đảm bảo cho thông tin trên BCTC phản ánh một cách trung thực, đúng bản chất và hợp lý tình hình tài chính, tình hình kinh doanh của đơn vị Mức độ sử dụng các ước tính trong kế toán phụ thuộc nhiều vào các nguyên tắc kế toán là nền tảng xây dựng chuẩn mực kế toán của mỗi nước, phù hợp với mức độ phát triển kinh tế xã hội của quốc gia
Trang 20- Thứ hai: Ước tính liên quan đến các khoản mục chưa phát sinh như: Các khoản dự phòng về bảo hành sản phẩm, chi phí trả trước, dự phòng về tái
cơ cấu doanh nghiệp,…
Để đưa ra các ước tính này, người lập BCTC phải sử dụng các “xét đoán nghề nghiệp” Vì xét đoán nên các ước tính này thường mang tính chủ quan, người sử dụng BCTC khó có sở sở để đánh giá tính hợp lý nên tính tin cậy các ước tính kế toán là vấn đề mà người sử dụng BCTC đặc biệt quan tâm
1.2 VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN
- Đối với các đối tượng bên trong doanh nghiệp:
+ Đối với kế toán viên: Chính sách kế toán là cơ sở giúp các kế toán viên thực hiện các công việc như đo lường đối tượng kế toán và các nguyên tắc công bố thông tin kế toán trên báo cáo tài chính phù hợp với quy định pháp luật
+ Đối với nhà quản trị: Do doanh nghiệp có tính tự chủ trong việc sử dụng các nguồn lực của mình nên nhà quản trị cần có thông tin để hoạch định,
tổ chức và kiểm soát toàn bộ tài sản và hoạt động kinh doanh của mình Chính sách kế toán là phương tiện giúp nhà quản trị kiểm tra, kiểm soát tình hình biến động và sử dụng nguồn lực trong hoạt động kinh doanh Từ đó, giúp nhà quản trị có thể xây dựng các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trong hoạt động kinh doanh Ngoài ra, thông qua chính sách kế toán, nhà quản trị có thể điều chỉnh lợi nhuận theo mong muốn nhằm đạt được những mục tiêu của nhà quản trị
- Đối với các đối tượng ngoài doanh nghiệp:
+ Đối với cơ quan thuế, tổ chức kiểm toán độc lập: Thông qua chính sách kế toán được công bố của doanh nghiệp, là cơ sở để kiểm tra tình hình tuân thủ pháp luật kế toán của các doanh nghiệp, đánh giá về tính trung thực
và hợp lý của thông tin kế toán phản ánh trên báo cáo tài chính
Trang 21+ Đối với nhà đầu tư, ngân hàng, các tổ chức tín dụng: Thông qua chính sách kế toán cũng như thông tin trên báo cáo tài chính, giúp để đánh giá thực trạng tài chính, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Qua đó, có thể đưa ra những quyết định tài trợ, đầu tư vốn thích hợp đối với từng doanh nghiệp nhằm bảo toàn vốn và tối đa hóa lợi ích của mình
Những phân tích trên cho thấy, việc vận dụng chính sách kế toán có vai trò quan trọng vì nó ảnh hưởng đến thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp Trong điều kiện kinh tế thị trường, nhận thức đúng đắn vai trò này là rất cần thiết để vận dụng và lựa chọn các chính sách
kế toán ở mỗi doanh nghiệp vừa đảm bảo nhu cầu thông tin cho quản lý nội
bộ, vừa đảm bảo nhu cầu thông tin cho các đối tượng bên ngoài
1.3 MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC NGHIÊN CỨU VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA ĐƠN VỊ
1.3.1 Thông tin trên thị trường
Khi nhu cầu về thông tin trên báo cáo tài chính có tính chất quyết định đối với doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ vận dụng chính sách kế toán để đưa
ra những thông tin có lợi nhất cho doanh nghiệp
- Đối với các nhà đầu tư: Trong một nền kinh tế mà nguồn vốn chủ yếu huy động qua thị trường vốn thì vai trò của các nhà đầu tư được đặc biệt quan tâm Việc cung cấp các thông tin tài chính minh bạch cho các nhà đầu tư góp phần giảm thiểu rủi ro và công cụ truyền đạt thông tin tình hình tài chính của doanh nghiệp đến các nhà đầu tư chính là báo cáo tài chính Khi thông tin trình bày trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến quyết định các nhà đầu tư vào doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ vận dụng chính sách kế toán nhằm cung cấp thông tin trên báo cáo tài chính là tích cực về doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư
Trang 22- Đối với ngân hàng: Trước khi cho doanh nghiệp vay vốn, ngân hàng tiến hành xem xét mục đích sử dụng vốn vay của doanh nghiệp qua kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai, đồng thời ngân hàng cũng phân tích các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính nhằm xác định tình hình tài chính của doanh nghiệp, thông qua đó thấy được nhu cầu vốn của dự án, xem xét khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp và khả năng trả nợ của doanh nghiệp trong tương lai để đưa ra mức cho vay hợp lý nhất Điều này dẫn đến động cơ điều chỉnh lợi các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính nhằm làm cho thông tin trên BCTC theo hướng tích cực để đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng
- Đối với cơ quan thuế: Việc cung cấp thông tin về nghĩa vụ của doanh nghiệp thông qua báo cáo tài chính là một vấn đề được hầu hết các doanh nghiệp quan tâm Các doanh nghiệp ở Việt Nam hầu như chưa phân biệt rõ được giữa chi phí tính thuế và chi phí kế toán, lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế Mục tiêu của các doanh nghiệp chủ yếu là đối phó với cơ quan thuế, điều này dẫn đến xu hướng các doanh nghiệp thường áp dụng những chính sách kế toán sao cho cuối cùng là lợi nhuận thấp nhất để tiết kiệm được chi phí thuế
Chất lượng thông tin trên BCTC của doanh nghiệp thường bị ảnh hưởng bới các nhân tố sau:
- Chính sách kế toán mà doanh nghiệp đang áp dụng để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và lập BCTC Ở một nền kinh tế có hệ thống kế toán bao gồm các chính sách kế toán được ban hành và xây dựng phù hợp với nền kinh tế đó thì sẽ tạo ra nền tảng cho BCTC các doanh nghiệp trong nền kinh tế phản ánh một cách nhất quán và đầy đủ về tình hình tình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dựa trên các quy ước và nguyên tắc được công nhận trong hệ thống kế toán đó Mặc dù chế độ kế toán thường xuyên được thay đổi và cập nhật cho phù hợp với xu thế phát triển nền
Trang 23kinh tế thị trường, song khó có thể đáp ứng kịp theo sự phát triển của thị trường, vì vậy có một số nghiệp vụ kinh tế - tài chính hoạch toán theo chế độ
kế toán hiện tại vẫn không đáp ứng được bản chất của nghiệp vụ
- Tính minh bạch trong việc lập và trình bày BCTC: Theo Cooke (1989) và Rafournier (1995) khi nghiên cứu về các công ty tại Thụy Điển thì
có mối quan hệ giữa quy mô của doanh nghiệp với mức độ công bố thông tin Theo đó, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ thường ít tiết lộ thông tin kế toán hơn, đồng thời việc lựa chọn chính sách kế toán và công bố thông tin dựa trên năng lực cá nhân của họ và tùy từng đối tượng sử dụng BCTC như: ngân hàng, thuế,…
Tại Việt Nam, các BCTC được kiểm toán thì cung cấp thông tài chính đáng tin cậy hơn các BCTC chưa được kiểm toán, kế toán luôn cân nhắc nhu cầu thông tin giữa các bên để lựa chọn chính sách kế toán cho phù hợp
- Việc cung cấp thông tin kế toán còn phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty Theo Steven C.Hall và Stammerjohan, khi doanh nghiệp đang thời kỳ sa thải lớn thì các nhà quản lý thường có động cơ sử dụng chính sách kế toán để quản lý thu nhập [12, tr.33], lựa chọn chính sách
kế toán làm giảm thu nhập trong giai đoạn hiện tại sẽ cho phép báo cáo thu nhập thuận tiện hơn trong tương lai Ngoài ra, để tránh tác động tiêu cực của việc sa thải trên tinh thần nhân viên còn lại, công ty cần chứng minh sự cần thiết phải sa thải (vì hoàn cảnh tài chính khó khăn nên không có sự lựa chọn nào khác) và có thể báo cáo thu nhập được cải thiện hơn sau đó để giảm bớt phải sa thải thêm Như vậy, việc hiểu biết về hành vi kế toán hiện tại xung quanh quyết định sa thải sẽ giúp các đối tượng hiểu rõ hơn về tình hình tài chính thực sự của doanh nghiệp
Trang 241.3.2 Mục tiêu quản trị lợi nhuận
Theo Healy và Wahlen (1998), quản trị lợi nhuận xảy ra khi nhà quản trị
sử dụng để điều chỉnh trong báo cáo tài chính và trong nội dung nghiệp vụ kinh tế để làm thay đổi báo cáo tài chính hoặc đánh lừa các bên liên quan về hoạt động công ty phụ thuộc vào số liệu báo cáo kế toán [19]
Theo Scott (2009) thì quản trị lợi nhuận là sự lựa chọn của nhà quản trị trong chính sách kế toán hoặc hành động ảnh hưởng đến lợi nhuận, để đạt được một số mục tiêu cụ thể báo cáo lợi nhuận [24]
Hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị nhằm đến những mục tiêu chính sau đây:
- Tiền lương, tiền thưởng dành cho nhà quản trị: Tiền lương, tiền thưởng
là một trong những lý do khiến các nhà quản lý công ty thực hiện điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt được lợi ích của chính họ Chế độ lương thưởng dựa vào kết quả tài chính đã tạo nên động cơ thúc đẩy nhà quản lý điều chỉnh lợi nhuận nhằm mang lại lợi ích có lợi nhất cho họ Các nghiên cứu thực nghiệm của Healy (1985); Holthausen et al (1995) đã kết luận rằng, khi lợi nhuận thực tế (chưa bị điều chỉnh) lớn hơn giới hạn trên của mức lợi nhuận để nhận được tiền thưởng, nhà quản trị sử dụng các chính sách kế toán để điều chỉnh giảm lợi nhuận năm hiện hành và dịch chuyển một phần lợi nhuận sang năm sau nhưng vẫn nằm trong mức lợi nhuận đạt được tiền thưởng [3] Tiếp tục nghiên cứu của EI-Habashy (2004) cho thấy nhà quản lý có “kế hoạch lương thưởng” từ công ty sẽ thích thông qua chính sách kế toán làm tăng thu nhập hơn so với nhà quản lý không có “kế hoạch lương thưởng” từ công ty [17]
- Vì lợi ích của chủ sở hữu: Mục tiêu hoạt động chung của các doanh
nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận hoặc tối đa hóa giá trị thị trường của cổ phiếu nhằm giúp gia tăng giá trị của chủ sở hữu (cổ đông) Để đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, cổ đông thường hoạch định các mục tiêu tài chính
Trang 25trong ngắn hạn và dài hạn Các mục tiêu tài chính thường thể hiện qua chỉ tiêu tài chính là: EPS, ROA, ROE… Thông thường cổ đông giao nhà quản lý những trách nhiệm phải hoàn thành các chỉ tiêu tài chính Sức ép phải hoàn thành chỉ tiêu tài chính tạo ra áp lực lớn mà có thể khiến cho nhà quản lý vận dụng chính sách kế toán và căn cứ tình hình thực tế kinh doanh để điều chỉnh lợi nhuận so với kế hoạch đã đề ra Nghiên cứu của Ilia D Dichev et al (2013) khảo sát 169 giám đốc tài chính của các công ty đại chúng niêm yết trên thị trường Mỹ, kết quả lý do ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty là đứng đầu trong các lý do dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận [21]
- Tối thiểu chi phí thuế: Tối thiểu chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
cũng góp phần gia tăng lợi ích cho chủ sở hữu (cổ đông) Đối với các công ty
có quy mô lớn (thông thường là các công ty đại chúng niêm yết trên thị trường chứng khoán) thì mức thu nhập chịu thuế thường rất lớn và như vậy chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp cũng rất lớn Việc điều chỉnh thu nhập chịu thuế thông qua quản trị lợi nhuận giúp công ty tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp và tăng lợi nhuận sau thuế của công ty xảy ra khi
có cơ hội Nhà quản lý có thể vận dụng chính sách kế toán để chuyển dịch một phần lợi nhuận của năm này sang năm sau khi có sự thay đổi chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Thảo (2011) các công ty niêm yết Việt Nam có xu hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận chịu thuế năm 2008 nhằm mục tiêu tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp trong trường hợp thuế suất năm 2008 là 28% giảm xuống còn 25% từ năm
2009 [12]
Để thực hiện quản trị lợi nhuận nhằm đạt được các mục tiêu, nhà quản lý
có thể có các hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua vận dụng chính sách kế toán như sau:
Trang 26- Điều chỉnh lợi nhuận thông qua thay đổi phương pháp kế toán: là cách
thức thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận bị hạn chế bởi nguyên tắc nhất quán
và các quy định công bố thông tin Bản thân việc thay đổi phương pháp kế toán áp dụng chỉ đem lại tác động đến lợi nhuận báo cáo của kỳ kế toán có sự thay đổi đó Cụ thể, công ty có thể làm thay đổi lợi nhuận công bố khi thay đổi lựa chọn phương pháp tính giá trị hàng tồn kho, phương pháp khấu hao tài sản cố định, phương pháp ghi nhận doanh thu và chi phí trong hợp đồng xây dựng
- Điều chỉnh lợi nhuận thông qua thực hiện các ước tính kế toán: Các
ước tính kế toán có thể làm tăng hoặc giảm chi phí theo ước muốn chủ quan
để có được lợi nhuận mong muốn được nhà quản lý áp dụng thường xuyên Tuy nhiên, cũng cần phân biệt giữa ước tính kế toán một lần và ước tính kế toán mỗi kỳ Ước tính kế toán một lần được áp dụng một lần khi nghiệp vụ phát sinh, chẳng hạn: ước tính thời gian khấu hao tài sản cố định, ước tính số lần phân bổ hay mức phân bổ của chi phí trả trước, ước tính chi phí bảo hành công trình xây lắp Ước tính kế toán mỗi kỳ được thực hiện vào cuối mỗi kỳ
kế toán, chẳng hạn: ước tính chi phí bảo hành sản phẩm, ước tính tỷ lệ hoàn thành công trình xây lắp và cung cấp dịch vụ, ước tính giá trị sản phẩm dở dang, ước tính khoản phải thu khó đòi để lập dự phòng, ước tính khoản giá trị hàng tồn kho bị giảm giá để lập dự phòng
1.3.3 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Việc sử dụng các chính sách kế toán để điều chỉnh thông tin trên BCTC phụ thuộc vào hình thức sở hữu vốn của doanh nghiệp Theo V.Gopalakrishnan, các công ty không sử dụng vốn vay thường lựa chọn phương pháp kế toán làm tăng thu nhập nhiều hơn so với các doanh nghiệp có
sử dụng vốn vay [13, tr.33-34] Hai giả thuyết được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu về lựa chọn chính sách kế toán là: (1) Lý thuyết nợ/vốn chủ sở
Trang 27hữu: nếu các yếu tố khác không thay đổi, tỷ lệ nợ/vốn chủa sở hữu các công
ty càng lớn thì càng nhiều khả năng quản lý các công ty chọn phương pháp kế toán nhằm chuyển đổi thu nhập báo cáo từ kỳ tương lai về kỳ hiện tại; và (2) Giả thuyết về quy mô: nếu các yếu tố khác không đổi, quy mô của công ty càng lớn thì càng nhiều khả năng các nhà quản lý công ty lựa chọn các phương pháp kế toán nhằm trì hoãn thu nhập báo cáo từ kỳ hiện tại sang các
kỳ sau
Các doanh nghiệp có đặc điểm kinh doanh khác nhau thì sẽ vận dụng chính sách kế toán khác nhau để điều chỉnh thông tin trên BCTC Chẳng hạn, các doanh nghiệp có hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản thì sẽ vận dụng chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho để điều chỉnh, như: phương pháp tính giá xuất kho của hàng tồn kho, việc tríc lập dự phòng giảm giá của hàng tồn kho; nếu doanh nghiệp có giá trị TSCĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp thì sẽ vận dụng chính sách kế toán liên quan đến TSCĐ, như: phương pháp trích khấu hao TSCĐ, phân bổ chi phí trả trước (nếu không trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ), chi phí phải trả (nếu trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ) để điều chỉnh thông tin; nếu doanh nghiệp sản xuất thì sẽ vận dụng các chính sách kế toán liên quan đến việc đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ; các doanh nghiệp xây lắp sẽ quan tâm đến chính sách ước lượng phần trăm công việc hoàn thành (với các hợp đồng ghi nhận doanh thu theo tiến độ kế hoạch) để ghi nhận doanh thu và chi phí,… Thông thường doanh nghiệp thường vận nhiều chính sách kế toán để điều chỉnh thông tin trên BCTC phù hợp với mục đích của doanh nghiệp
1.3.4 Trình độ chuyên môn của kế toán
Hiện nay, nguồn lực kế toán, kiểm toán chất lượng cao đang thực sự khan hiếm Trình độ đào tạo kế toán, kiểm toán của Việt Nam nói chung còn quá yếu, thiếu thực tiển so với thế giới Nếu trong một đơn vị, đội ngũ kế toán
Trang 28còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm sẽ gây khó khăn cho đơn vị rất nhiều, như ghi nhận doanh thu sai, chi phí sai lệch,… Điều này ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp đi không đúng hướng và dẫn đến phá sản
Trình độ kế toán viên ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn chính sách kế
quan tâm đến nội dung các chuẩn mực mà chỉ quan tâm đến các thông tư hướng dẫn do Bộ tài chính ban hành Nhiều kế toán viên chỉ vận dụng các chính sách kế toán theo thói quen để công việc được nhẹ nhàng nhất chứ chưa thực sự thỏa mãn được nhu cầu của nhà quản trị trong việc quản trị lợi nhuận
và điều chỉnh thông tin trên báo cáo tài chính Do vậy, đây được xem là rào cản lớn ảnh hưởng đến việc vận dụng các chuẩn mực kế toán
Trên thực tế, nhiều kế toán vẫn chưa hiểu được đúng đắn giữa lơi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế, kế toán vẫn xem số liệu kế toán chủ yếu
là nguồn thông tin cho cơ quan thuế, do đó số liệu kế toán phải phản ánh phù hợp với các quy định về thuế Thay vì tập trung vào việc trình bày trung thực
và hợp lý tính hình tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp thì kế toán hầu hết chỉ chú trọng cho mục đích kê khai thuế Trong nhiều trường hợp, kế toán chỉ mới quan tâm đến mục đích tính thuế, nên bỏ qua rất nhiều sự lựa chọn về chính sách kế toán có thể áp dụng
Do đó, để kế toán viên phải nâng cao trình độ của mình, đồng thời quan tâm đến việc vận dụng chính sách kế toán để xử lý thông tin tài chính tốt thì chủ doanh nghiệp phải có yêu cầu cao về thông tin kế toán
1.4 CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN ÁP DỤNG TRONG DOANH NGHIỆP
Chọn lựa chính sách kế toán là việc cân nhắc nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán về các nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán mà
Trang 29doanh nghiệp có thể áp dụng trong các trường hợp khác nhau nhằm phục vụ cho mục đích chủ quan của nhà quản trị
1.4.1 Chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho
* Nguyên tắc kế toán chung:
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02, hàng tồn kho được tính theo
giá gốc Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm
và trạng thái hiện tại
* Lựa chọn phương pháp kế toán
Hệ thống quản lý HTK:Hàng tồn kho được quản lý theo hai phương
pháp kê khai thường xuyên và kiểm kê định kỳ
Phương pháp tính giá hàng xuất kho: Theo chuẩn mực số 02 - Hàng tồn
kho, việc tính trị giá xuất kho được áp dụng 1 trong 4 phương pháp sau: phương pháp nhập trước – xuất trước, phương pháp nhập sau – xuất trước, phương pháp thực tế đích danh, phương pháp bình quân gia quyền Với mỗi phương pháp mà đơn vị áp dụng sẽ ảnh hưởng khác nhau tới các chỉ tiêu trên các báo cáo tài chính
Phương pháp thực tế đích danh: là phương án tốt nhất trong các phương pháp tính giá xuất kho, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán; chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh trên báo cáo tài chính đúng theo giá trị thực tế của nó Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng
ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương pháp này
Trang 30Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị của từng loại hàng tồn kho được mua vào hoặc sản xuất trong kỳ Phương pháp bình quân được tính theo mỗi thời kỳ hay sau mỗi lần nhập hàng, tùy thuộc vào tình hình của doanh nghiệp Phương pháp này có ưu điểm đơn giản, dễ tính toán nhưng trị giá hàng xuất không chịu ảnh hưởng của sự thay đổi giá cả trong kỳ hiện tại Vì vậy, phương pháp này làm cho chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh không sát với giá thực tế
Phương pháp nhập trước xuất trước: cho kết quả số liệu trong bảng cân đối kế toán là sát nhất với giá phí hiện tại so với các phương pháp tính giá hàng tồn kho khác Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán có ý nghĩa thực tế hơn Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại
Phương pháp nhập sau xuất trước: phương pháp này chi phí của lần mua gần nhất sẽ tương đối sát với trị giá vốn của hàng thay thế Việc thực hiện phương pháp này sẽ đảm bảo đựơc yêu cầu của nguyên tắc phù hợp trong kế toán Tuy nhiên, trị giá vốn của hàng tồn kho cuối kỳ có thể không sát với giá thị trường của hàng thay thế
Việc lựa chọn phương pháp tính giá hàng tồn kho sẽ có ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý trong việc trình bày giá trị hàng tồn kho trên báo cáo tài chính và kết quả lãi, lỗ của các hoạt động của một doanh nghiệp
Với ý nghĩa đó, trên cơ sở ưu nhược điểm của từng phương pháp tính giá trị hàng tồn kho, đặc điểm và yêu cầu quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp, kế toán mỗi doanh nghiệp xác định phương pháp tính giá hàng tồn kho phù hợp cho mục tiêu của doanh nghiệp mình
Trang 31* Ước tính kế toán
Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho:Theo chuẩn mực số 02 – Hàng
tồn kho, vào thời điểm cuối năm tài chính, doanh nghiệp sẽ xem xét giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho trên thị trường để xác định mức lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần
có thể thực hiện được của chúng
Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho sẽ làm cho chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ tăng lên, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận Việc đưa ra các khoản chi phí tiêu thụ ước tính là tùy thuộc vào ý kiến chủ quan của doanh nghiệp Đây là một trong những ước tính kế toán nên chuẩn mực luôn tạo ra các khoảng không cho doanh nghiệp tự do lựa chọn Cuối kỳ kế toán năm tiếp theo, doanh nghiệp phải thực hiện đánh giá mới về giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho cuối năm đó Trường hợp cuối kỳ kế toán năm nay, nếu khoảng dự phòng hàng tồn kho phải lập thấp hơn khoảng dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối kỳ kế toán năm trước thì số chênh lệch lớn hơn phải được hoàn nhập để được đảm cho giá trị của hàng tồn kho phản ánh trên báo cáo tài chính là theo giá gốc (nếu giá gốc có thể nhỏ hơn giá thuần có thể thực hiện được) hoặc giá trị thuần có thể thực hiện được (nếu giá gốc lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được)
Việc hoàn nhập hay trích lập thêm dự phòng trong năm tiếp theo cũng tùy thuộc vào mức lựa chọn theo ý muốn chủ quan của các nhà quản trị Mỗi
sự lựa chọn này đều ảnh hưởng trực tiếp đến việc ghi nhận chi phí và dự phòng giảm giá hàng tồn kho trong kỳ từ đó ảnh hưởng khoản mục tài sản và lợi nhuận trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp
Đánh giá sản phẩm dở dang trong các doanh nghiệp sản xuất:
Trang 32Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến, còn đang nằm trong quá trình sản xuất, để xác định được giá thành của một sản phẩm doanh nghiệp phải tiến hành ước tính giá trị sản phẩm dở dang Để ước tính được giá trị sản phẩm dở dang doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ như:
+ Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (vật liệu chính) tiêu hao
+ Đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương
+ Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức
Cho dù chọn lựa theo cách thức nào, nhưng cách thức tính toán thể hiện một chính sách đo lường của doanh nghiệp, đảm bảo tính trung thực của thông tin về sản phẩm dở dang
Việc lựa chọn các phương pháp khác nhau sẽ làm ảnh hưởng đến gía thành của sản phẩm khác nhau vì:
Giá trị sản phẩm
dở dang cuối kỳ Với mỗi phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang khác nhau thì giá trị sản phẩm dở dang sẽ khác nhau Cụ thể như doanh nghiệp đánh giá sản phẩm
dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì giá trị sản phẩm dở dang chỉ tính trên giá trị nguyên vật liệu còn các chi phí chế biến khác xem như không ảnh hưởng không tính, ngược lại nếu doanh nghiệp đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương thì giá trị sản phẩm dở dang đều được đánh giá trên ba loại chi phí: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Như vậy trong cùng một lượng sản phẩm dở dang nếu đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì giá trị sản phẩm dở dang sẽ nhỏ hơn so với
Trang 33phương pháp khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương Điều này cho thấy khi giá trị sản phẩm dở dang bé thì giá thành sản phẩm cao và giá vốn của hàng bán cao dẫn đến lợi nhuận sẽ giảm và ngược lại
Như vậy, nếu doanh nghiệp xác định phương pháp đánh giá sản phẩm
dở dang không hợp lý sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về sản phẩm dở dang, thành phẩm, chi phí giá vốn trên báo cáo tài chính Từ đó ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp
1.4.2 Chính sách kế toán về tài sản cố định
* Nguyên tắc kế toán chung
TSCĐ được ghi nhận theo nguyên tắc giá gốc Nguyên giá TSCĐ hữu hình là toàn bộ chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra để có được TSCĐ tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào sử dụng Các chi phí phát sinh sau ngày ghi nhận ban đầu được tăng nguyên giá TSCĐ nếu các khoản chi phí này chắc chắn làm tăng lợi ích kinh tế trong tương lai do sử dụng tài sản Xác định nguyên giá trong một số trường hợp sau đây
- Nguyên giá TSCĐ hữu hình do các nhà thầu xây dựng bao gồm giá trị công trình hoàn thành bàn giao, các chi phí liên quan trực tiếp khác
- Nguyên giá TSCĐ vô hình là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp phải
bỏ ra để có được TSCĐ đó tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào sử dụng
- Một tài sản được xem là TSCĐ nếu thỏa mãn đồng thời cả bốn điều kiện sau:
+ Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó
+ Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên
+ Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy
+ Có đủ tiêu chuẩn theo quy định hiện hành(30.000.000 đồng trở lên)
Trang 34* Lựa chọn phương pháp kế toán
- Theo chuẩn mực số 03 – Tài sản cố định hữu hình Đối với khấu hao
TSCĐ hữu hình: Giá trị khấu hao của TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách
có hệ thống trong thời gian sử dụng hữu ích của tài sản Phương pháp khấu hao phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp Số khấu hao của từng kỳ được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
Có 3 phương pháp trích khấu hao TSCĐ bao gồm:
+ Phương pháp khấu hao đường thẳng
+ Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần
+ Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm
Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong ba phương pháp trên để tính
và trích khấu hao TSCĐ Tùy thuộc vào đặc điểm của TSCĐ, hoạt động sản xuất kinh doanh và mục đích của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp Bởi lẽ việc trích khấu hao TSCĐ sẽ được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ Do đó, lựa chọn phương pháp khấu hao sẽ cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ Cụ thể như doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần sẽ làm gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận trong những năm đầu, hoặc áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng sẽ làm cho phần khấu hao được ghi nhận vào chi phí liền đều qua các năm sử dụng,…
- Theo chuẩn mực số 04 – Tài sản cố định vô hình và thông tư số 203/2009 – Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định Đối với khấu hao TSCĐ vô hình: Giá trị phải khấu hao của TSCĐ vô hình được phân bổ một cách có hệ thống trong suốt thời gian sử dụng hữu ích ước tính hợp lý của nó Thời gian tính khấu hao của TSCĐ vô hình tối đa là
20 năm Việc tính khấu hao được bắt đầu từ khi đưa TSCĐ vô hình vào sử
Trang 35dụng Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ vô hình có thể vượt quá 20 năm khi có những bằng chứng tin cậy
Việc trích khấu hao TSCĐ vô hình được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ Do vậy, lựa chọn phương pháp khấu hao và ước tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ sẽ ảnh hưởng đến giá trị khấu hao cần trích lập từ đó ảnh hưởng đến chi phí trong kỳ báo cáo
Doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản, nếu trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ vô hình, doanh nghiệp xét thấy có thể thay đổi cách thức ước tính
về lợi ích kinh tế trong tương lai mà doanh nghiệp dự tính thu được Do đó,
có thể thay đổi phương pháp khấu hao
Ngoài ra, nếu thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản khác biệt lớn so với các ước tính trước đó thì thời gian khấu hao phải được thay đổi tương ứng hoặc thời gian sử dụng hữu ích có thể tăng lên do đầu tư thêm chi phí làm tăng năng lực của tài sản so với năng lực hoạt động được đánh giá ban đầu Tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể doanh nghiệp có thể lựa chọn thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian sử dụng hữu ích của tài sản, việc lựa chọn này nằm trong giới hạn cho phép Tuy nhiên, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí ghi nhận trong kỳ để xác định lợi nhuận kỳ báo cáo
Vì vậy, việc lựa chọn phương pháp trích khấu hao của tài sản cố định hữu hình và vô hình của doanh nghiệp đều làm ảnh hưởng trực tiếp đến khoản mục tài sản trong tổng tài sản và nguồn vốn của bảng cân đối kế toán và lợi nhuận của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
* Ước tính kế toán liên quan đến công tác sửa chữa TSCĐ
Để đảm bảo hoạt động bình thường và ổn định, duy trì năng lực hoạt động cho TSCĐ, doanh nghiệp thường tiến hành sửa chữa, bảo dưỡng tài sản
Trang 36cố định Tùy theo quy mô sửa chữa TSCĐ, chi phí sửa chữa TSCĐ được phân thành hai loại
- Sửa chữa nhỏ: là loại sửa chữa có mức độ hư hỏng nhẹ, thời gian sửa chữa ngắn, chi phí sửa chữa phát sinh ít Do vậy, toàn bộ chi phí sửa chữa doanh nghiệp hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ
Sửa chữa lớn: là loại sửa chữa có mức độ hư hỏng nặng, thời gian sửa chữa dài, chi phí phát sinh sửa chữa nhiều hoặc theo yêu cầu kỹ thuật đảm bảo nâng cao năng lực sản xuất và hoạt động của TSCĐ Đặc điểm của sửa chữa lớn TSCĐ là thời gian tiến hành sửa chữa lớn thường dài, chi phí sửa chữa phát sinh nhiều
Nếu doanh nghiệp có kế hoạch sửa chữa lớn ngay từ đầu năm thì doanh nghiệp có thể trích trước chi phí sửa chửa lớn TSCĐ theo kế hoạch Mức chi phí trích trước được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ sẽ làm gia tăng chi phí trong kỳ từ đó làm giảm lợi nhuận của kỳ báo cáo Đây cũng
là một trong số các lựa chọn mà các nhà quản trị doanh nhiệp có thể sử dụng
để điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của họ
Nếu doanh nghiệp không có kế hoạch trích trước thì doanh nghiệp sẽ phân bổ dần chi phí sửa chữa lớn vào chi phí trong kỳ Kế toán có thể lựa chọn số kỳ phân bổ tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị, mức phân bổ chi phí sửa chữa trong từng kỳ sẻ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ đó
Như vậy, chính sách phân bổ (trích trước) chi phí sửa chữa TSCĐ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.3 Chính sách kế toán về giao dịch bằng ngoại tệ
Thông thường khi phát sinh giao dịch bằng ngoại tệ doanh nghiệp đồng thời với việc theo dõi số nguyên tệ còn phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ
Trang 37giá thực tế bình quân liên ngân hàng Việc quy đổi ra đồng Việt Nam tất yếu sẽ phát sinh chênh lệch tỷ giá hối đoái Chênh lệch này được chia ra các giai đoạn
- Giai đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh
- Giai đoạn hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản(giai đoạn trước hoạt động)
Theo chuẩn mực kế toán số 10 “Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái” khi phát sinh giao dịch bằng ngoại tệ, phần chênh lệch tỷ giá hối đoái được xử lý như sau:
Trong giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản của doanh nghiệp mới thành lập, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh khi thanh toán các khoản mục tiền tệ
có gốc ngoại tệ để thực hiện đầu tư xây dựng và chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính được phản ánh luỹ kế, riêng biệt trên Bảng Cân đối kế toán Khi hoàn thành đầu tư xây dựng cơ bản đưa vào sử dụng thì chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong giai đoạn đầu tư xây dựng được phân bổ dần vào thu nhập hoặc chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian tối đa là 5 năm
Trong giai đoạn sản xuất, kinh doanh, kể cả việc đầu tư xây dựng để hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp đang hoạt động, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh khi thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ và đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính sẽ được ghi nhận là thu nhập, hoặc chi phí trong năm tài chính
Khi doanh nghiệp phát sinh các nghiệp vụ xuất ngoại tệ, tỷ giá xuất ngoại tệ được xác định theo 1 trong 4 phương pháp bao gồm: phương pháp nhập trước – xuất trước, phương pháp nhập sau – xuất trước, phương pháp thực tế đích danh và phương pháp bình quân gia quyền Khi doanh nghiệp áp dụng phương pháp khác nhau sẽ dẫn đến tỷ giá xuất ngoại tệ khác nhau Vì thế, tùy theo tỷ giá ngoại tệ trên thị trường và tùy từng điều kiện cụ thể, doanh
Trang 38nghiệp có thể lựa chọn phương pháp này hoặc phương pháp khác Việc lựa chọn các phương pháp nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá xuất ngoại tệ hạch toán trong kỳ Từ đó, có thể ảnh hưởng đến doanh thu hoặc chi phí phát sinh trong kỳ và làm cho lợi nhuận tăng lên hoặc giảm đi Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh trong
kỳ của doanh nghiệp
1.4.4 Chính sách kế toán về nợ phải trả
Các khoản phải trả ở đây chỉ xem xét các khoản nợ xảy ra không theo
dự tính ban đầu mà phải ước tính thường xuyên để xác định sự giảm sút về kinh tế có thể xảy ra hay không như: dự phòng trợ cấp mất việc làm, dự phòng phải trả, … Đây là các khoản nợ không chắc chắn về thời gian và giá trị Vì vậy mà phải có phương pháp ước tính: ước tính giá trị hợp lý về khoản chi phí, ước tính về kết quả và ảnh hưởng tài chính thông qua đánh giá của ban giám đốc hoặc nhiều phương pháp đánh giá để ghi nhận giá trị các khoản mục không chắc chắn Điều này tùy thuộc cách đánh giá của nhà quản trị, nếu các khoản dự phòng này do doanh nghiệp ước tính lớn làm cho chi phí kinh doanh trong kỳ cao và lợi nhuận của doanh nghiệp giảm xuống Vì vậy việc xác định các khoản nợ này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khoản mục nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán và lợi nhuận của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.5 Chính sách kế toán về doanh thu
Với tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong đơn vị, kế toán ghi nhận doanh thu phải tuân theo nguyên tắc phù hợp với các chi phí đã chi ra
* Đối với các khoản doanh thu về sản xuất, kinh doanh, thương mại và thu nhập khác thì việc ghi nhận doanh thu tuân theo chuẩn mực kế toán số 14 – Doanh thu và thu nhập khác
Trang 39- Chuẩn mực này áp dụng trong kế toán các khoản doanh thu và thu nhập khác phát sinh từ các giao dịch và nghiệp vụ: Bán hàng; cung cấp dịch vụ; tiền lãi, và lợi nhuận được chia; các khoản thu nhập khác ngoài các giao dịch và nghiệp vụ tạo ra doanh thu kể trên
- Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả 5 điều kiện sau:
+ Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua
+ Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người
sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
+ Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng
+ Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
- Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy
Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng cân đối kế toán của kỳ đó Phần công việc hoàn thành được xác định theo một trong ba phương pháp tùy thuộc vào bản chất của
dịch vụ:
+ Đánh giá phần công việc hoàn thành
+ So sánh tỷ lệ % giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với tổng khối lượng công việc phải hoàn thành
+ Tỷ lệ % chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ
Phần công việc hoàn thành không phụ thuộc vào các khoản thanh toán
Trang 40định kỳ hay các khoản ứng trước của khách hàng
Một trong ba phương pháp xác định phần công việc hoàn thành để ghi nhận doanh thu trong kỳ phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị Các nhà quản trị có thể ghi nhận tăng doanh thu trong kỳ so với thực tế bằng cách đánh giá phần công việc hoàn thành, tỷ lệ % giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với khối lượng công việc phải hoàn thành hoặc tỷ lệ % chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ tăng lên Hoặc ngược lại có thể ghi nhận doanh thu giảm đi Việc xác định mức doanh thu ghi nhận trong kỳ sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận
kế toán trong kỳ, từ đó có thể làm cho lợi nhuận kế toán tăng lên hoặc giảm
đi Điều này sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến báo cáo tài chính trong kỳ của doanh nghiệp
1.4.6 Chính sách kế toán về chi phí đi vay
Chi phí đi vay bao gồm lãi tiền vay và các chi phí khác phát sinh liên quan trực tiếp đến các khoản vay của doanh nghiệp, bao gồm: lãi tiền vay, chi phí phát sinh liên quan đến thủ tục vay, trả lãi vay định kỳ về thuê tài chính, Đối với các khoản chi phí đi vay phát sinh trong kỳ doanh nghiệp cần phân biệt khoản chi phí nào được vốn hóa vào nguyên giá TSCĐ, khoản chi phí nào không được phép và chỉ được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ Việc phân biệt này ảnh hưởng đến lợi nhuận của kỳ báo cáo
vì giả thuyết rằng tất cả các khoản chi phí đi vay phát sinh trong kỳ đều được ghi nhận vào chi phí tài chính từ đó sẽ làm cho chi phí trong kỳ tăng lên dẫn đến giảm lợi nhuận Điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp Việc xác định khoản chi phí đi vay nào được vốn hóa, khoản nào không được vốn hóa, thời điểm nào vốn hóa, thời điểm nào chấm dứt việc vốn hóa ranh giới xác định này doanh nghiệp có thể lựa chọn Ví dụ, chi phí đi vay liên quan đến việc xây dựng một xưởng sản xuất sẽ được vốn