1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Mở rộng cho thuê tài chính tại chi nhánh công ty cho thuê tài chính II tại Khánh Hoà - Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn Việt Nam.

105 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc trưng của các nước này là sự tiến bộ mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghiệp, do đó CTTC là một hình thức tài trợ được các nước này quan tâm hàng đầu, có khả năng vượt qua đầu tư theo hìn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

PHẠM CÔNG THANH

MỞ RỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH

II TẠI KHÁNH HÒA – NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng, Năm 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

PHẠM CÔNG THANH

MỞ RỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH

II TẠI KHÁNH HÒA – NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng

Mã số : 60.34.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hòa Nhân

Đà Nẵng, Năm 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Công Thanh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu của đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu 3

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 6

1.1 TỔNG QUAN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH 6

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển dịch vụ cho thuê tài chính trên thế giới 6

1.1.2 Khái niệm cho thuê tài chính 6

1.1.3 Đặc điểm cho thuê tài chính 7

1.1.4 Các phương thức cho thuê tài chính 8

1.1.5 Lợi ích, hạn chế của cho thuê tài chính 11

1.1.6 Phân biệt cho thuê tài chính đối với loại hình tài trợ vốn khác 17

1.2 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 19

1.2.1 Nội dung về mở rộng cho thuê tài chính 19

1.2.2 Các tiêu chí đánh giá về hoạt động mở rộng cho thuê tài chính: 20 1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng CTTC 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MỞ RỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA CHI NHÁNH CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II TẠI KHÁNH HÒA - NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 26

Trang 5

2.1 SƠ LƯỢC VỀ CHI NHÁNH CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II

TẠI KHÁNH HÒA 26

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 26

2.1.2 Chức năng, vai trò và vị trí 29

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý của ALCII-KH 30

2.2 THỰC TRẠNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA ALCII-KH QUA 6 NĂM ( 2007-2012) 32

2.2.1 Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hòa năm 2012 và 6 tháng đầu năm 2013 32

2.2.2 Khái quát về Chi nhánh Công ty cho thuê tài chính II tại Khánh Hòa 36

2.2.3 Thực trạng tăng trưởng về quy mô giai đoạn 2007-2012 37

2.2.4 Đa dạng hóa cơ cấu tài sản cho thuê, đối tượng khách hàng và địa bàn hoạt động 44

2.2.5 Tăng trưởng về thu nhập của ALCII-KH giai đoạn 2007-2012 60 2.2.6 Thực trạng công tác kiểm soát rủi ro tại ALCII-KH 67

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG MỞ RỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CHI NHÁNH KHÁNH HÒA 73

2.3.1 Những mặt làm được 73

2.3.2 Những nguyên nhân làm hạn chế công tác mở rộng cho thuê tài chính tại ALCII-KH 76

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA 79 CHI NHÁNH CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II TẠI 79

KHÁNH HÒA TRONG NHỮNG NĂM TIẾP THEO 79

3.1 CÁC ĐỊNH HƯỚNG VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA ALCII - KH 79

3.1.1 Định hướng chung của ALCII 79

Trang 6

3.1.2 Định hướng của ALCII-KH 79

3.2 GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA CHI NHÁNH TRONG THỜI GIAN TỚI 80

3.2.1 Đa dạng sản phẩm đầu tư, quảng bá sản phẩm 80

3.2.2 Mở rộng đối tượng khách hàng cho thuê 82

3.2.3.Tăng cường thực hiện nghiệp vụ huy động vốn 82

3.2.4 Nâng cao chất lượng thẩm định dự án, quản trị rủi ro 84

3.2.5 Nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng 87

3.2.6 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên 88

3.3 ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 89

3.3.1 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 89

3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 90

3.3.3 Kiến nghị với Bộ Tài chính 91

3.3.4 Đối với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 91

3.3.5 Đối với Công ty cho thuê tài chính II – NHNo&PTNT VN 92

KẾT LUẬN 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ALCII Công ty cho thuê tài chính II - Ngân hàng Nông

nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

ALCII-KH Chi nhánh Công ty cho thuê tài chính II tại Khánh

Hòa

CIC Trung tâm Thông tin Tín dụng Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam

CTTC Cho thuê tài chính

DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

DNTN Doanh nghiệp tư nhân

DNN&V Doanh nghiệp nhỏ và vừa

GTVT Giao thông vận tải

GTGT Giá trị gia tăng

KTKSNB Kiểm tra kiểm soát nội bộ

NHNN VN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 8

PTVT Phương tiện vận tải

Trang 9

2.3 Dư nợ bình quân khách hàng thuê giai đoạn 2007-2012 41

2.4 Tình hình tăng trưởng số lượng hợp đồng cho thuê giai

2.7 Cơ cấu dư nợ phân theo địa bàn giai đoạn 2007-2012 57

2.8 Cơ cấu nguồn vốn hoạt động của chi nhánh giai đoạn

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cho thuê tài chính (CTTC) là một trong những kênh cung cấp vốn quan trọng đối với nền kinh tế trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, nhất là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, loại hình doanh nghiệp chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam Sự phát triển của kênh dẫn vốn mới này là một dấu hiệu đáng mừng cho sự phát triển của thị trường tín dụng nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói chung Cho thuê tài chính ngày càng thể hiện tính ưu việt của mình, nó ngày càng chứng tỏ là một hình thức tài trợ hiệu quả, thích hợp cho các doanh nghiệp Bên cạnh dịch vụ ngân hàng truyền thống, cho thuê tài chính đang ngày càng được nhiều người biết đến, là sự lựa chọn mới của các doanh nghiệp khi có nhu cầu đầu tư vào phương tiện sản xuất

Với các ưu thế nổi bật như thủ tục đơn giản, không cần tài sản thế chấp, không sẵn vốn tự có cho thuê tài chính hiện đang là loại hình dịch vụ được

ưa chuộng trên thế giới, đặc biệt là tại các nước đang phát triển Danh mục tài sản cho thuê tài chính ngày càng đa dạng hơn, từ các thiết bị đơn lẻ đến những dây chuyền đồng bộ, phức tạp, từ những tài sản có giá trị trung bình đến các tài sản có giá trị lớn…

Sau gần 09 năm thành lập và hoạt động, Chi nhánh Công ty cho thuê tài chính II tại Khánh Hòa –Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT VN) đã có nhiều đóng góp trong việc phát triển hoạt động cho thuê tài chính trên địa bàn Chi nhánh quản lý bao gồm tỉnh Khánh Hòa và các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Tuy nhiên, do nghiệp vụ cho thuê tài chính còn mới mẻ, thị trường tín dụng khu vực cạnh tranh khốc liệt và một số nguyên nhân khách quan và chủ quan khác, đến thời điểm hiện tại thị trường và thị phần CTTC của Chi nhánh chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ

Trang 11

cấu dư nợ tín dụng của tỉnh Khánh Hòa và các tỉnh khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên

Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài “Mở rộng hoạt động cho thuê tài chính tại Chi nhánh công ty cho thuê tài chính II tại Khánh Hòa – Ngân

hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam” để nghiên cứu và thực

hiện luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Khái quát chung về hoạt động cho thuê tài chính nhằm nghiên cứu và

hệ thống hóa các vấn đề lý luận về cho thuê tài chính và mở rộng cho thuê tài chính

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho thuê tài chính tại Chi nhánh Công ty cho thuê tài chính II tại Khánh Hòa – Ngân hàng nông nghiệp

và phát triển nông thôn Việt Nam

- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị mục đích mở rộng cho thuê tài chính tại Chi nhánh Công ty cho thuê tài chính II tại Khánh Hòa – NHNo&PTNT Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: toàn bộ các vấn đề liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính tại Chi nhánh Công ty cho thuê tài chính II tại Khánh Hòa – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp thống kê, thu thập, tổng hợp và so

Trang 12

sánh để phân tích đánh giá các vấn đề từ nguồn số liệu của Chi nhánh Công ty cho thuê tài chính II tại Khánh Hòa cung cấp

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và các nội dung có liên quan khác, nội dung luận văn gồm 3 chương sau:

Chương 1 Lý luận cơ bản về mở rộng cho thuê tài chính

Chương 2 Thực trạng mở rộng cho thuê tài chính tại Chi nhánh Công

ty cho thuê tài chính II tại Khánh Hòa - NHNo&PTNT Việt Nam giai đoạn

2007 - 2012

Chương 3 Giải pháp mở rộng cho thuê tài chính tại Chi nhánh Công ty cho thuê tài chính II tại Khánh Hòa - NHNo&PTNT Việt Nam

6 Tổng quan tài liệu

Để chuẩn bị kiến thức và nội dung cần thiết trong quá trình nghiên cứu

và viết luận văn Tác giả đã tìm hiểu một số đề tài các học viên cao học khóa trước đã nghiên cứu:

- Luận văn thạc sĩ: “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê tài chính trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng của Chi nhánh Công ty cho thuê tài chính II - NHNo&PTNT Việt Nam - tại Đà Nẵng” của học viên

cao học Võ Văn Tấn khóa K20 – Đại học Đà Nẵng Luận văn gồm những nội dung cơ bản như sau:

+ Chương 1: Tổng quan về hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê tài chính

+ Chương 2: Thực trạng công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê tài chính tại Chi nhánh Công ty cho thuê tài chính II - NHNo&PTNT Việt Nam - tại Đà Nẵng giai đoạn 2006 – 2010:

Mặc dù đã được triển khai đồng bộ nhiều biện pháp và khá hiệu quả song công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê tài chính tại

Trang 13

ALCII-DN trong giai đoạn 2006 - 2010 vẫn còn nhiều bất cập, nợ xấu phát sinh khó xử lý do tập trung đầu tư quá nhiều vào một lĩnh vực, do kinh tế suy thoái làm cho khách hàng thuê tài chính gặp nhiều khó khăn, chính sách tín dụng, cơ chế chính sách về cho thuê tài chính còn nhiều bất cập

+ Chương 3: Các giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê tài chính tại Chi nhánh Công ty cho thuê tài chính II

- NHNo&PTNT Việt Nam - tại Đà Nẵng

- Luận văn thạc sĩ: “Giải pháp mở rộng tín dụng tiêu dùng tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Đà Nẵng” của học viên cao

học Lưu Thị Minh Hà khóa K19 – Đại học Đà Nẵng: luận văn gồm 03 chương:

+ Chương 1: Nêu được lý luận mở rộng tín dụng tiêu dùng của Ngân hàng thương mại, các vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng như: khái niệm về tín dụng ngân hàng, vai trò của tín dụng ngân hàng, phân loại tín dụng ngân hàng, tín dụng tiêu dùng Các chỉ tiêu phản ánh việc mở rộng tín dụng tiêu dùng của các ngân hàng thương mại Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng cho vay tiêu dùng của ngân hàng

+ Chương 2: Phản ánh thực trạng mở rộng tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Chi nhánh Đà Nẵng ( SCB Đà Nẵng): Chi nhánh được thành lập từ 2007, theo số liệu thực hiện từ (2007-2009) tăng trưởng tín dụng năm sau cao hơn năm trước (năm 2008 so 2007 tăng 32,79%, năm 2009 so 2008 tăng 45,44%) Riêng lĩnh vực cho vay tiêu dùng cũng tăng dần qua các năm, chiếm tỷ trọng lớn nhất là lĩnh vực cho vay mua, xây dựng

và sửa chữa nhà ở Nêu các kết quả đạt được và các tồn tại hạn chế

+ Chương 3: Nêu được các định hướng, chiến lược phát triển và các giải pháp để mở rộng tín dụng tiêu dùng của SCB Đà Nẵng trong thời gian tới

Trang 14

- Luận văn thạc sĩ: “Chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng tại Công ty cho thuê tài chính II - Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam” của học viên cao học Phạm Nhật Truyền - Đại học mở

bán công Thành phố Hồ Chí Minh Các vấn đề cơ bản thể hiện trong luận văn

+ Chương 1: Lý do chọn đề tài nghiên cứu là để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng là yếu tố quan trọng và ưu tiên bậc nhất đối với công ty cho thuê tài chính II

+ Chương 2: Cơ sở lý thuyết về việc đánh giá chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn khách hàng

+ Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: tổng hợp, phân tích, thống kê, điều tra, tham khảo ý kiến chuyên gia để thiết kế bảng câu hỏi dạng thang đo Likert, điều tra 300 - 350 doanh nghiệp hiện đang giao dịch với Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

và sử dụng phần mềm SPSS for Windows11.5 để phân tích dữ liệu

+ Chương 4: Kết quả nghiên cứu: khách hàng đánh giá tương đối thấp đối với chính sách kinh doanh Kết quả khảo sát ý kiến khách hàng về mức độ hài lòng đối với chất lượng cho thuê tài chính tại ALCII cũng cho thấy: có 61% khách hàng hài lòng, 30% không ý kiến và chỉ có 9% là chưa thật sự hài lòng

+ Chương 5: Kết luận và kiến nghị

- Và một số văn bản NHNN, NHNo, ALCII, tài liệu, luận văn khác

Trang 15

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH

1.1 TỔNG QUAN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển dịch vụ cho thuê tài chính trên thế giới

Cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ vốn trung dài hạn ra đời từ rất sớm Theo các thư tịch cổ, các giao dịch cho thuê tài sản đã xuất hiện khoảng gần 2000 năm trước Công Nguyên, tại thành phố Sumerians thuộc nước Iraq ngày nay

Hiện nay, hoạt động CTTC đã trở thành hình thức tài trợ phổ biến trên thế giới Tại các nước công nghiệp phát triển, vai trò của hoạt động cho thuê trong việc đầu tư máy móc thiết bị ngày càng quan trọng Đặc trưng của các nước này là sự tiến bộ mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghiệp, do đó CTTC là một hình thức tài trợ được các nước này quan tâm hàng đầu, có khả năng vượt qua đầu tư theo hình thức tín dụng ngân hàng Đối với các nước đang phát triển, cho thuê tài sản vẫn còn là một hình thức đầu tư vốn khá mới mẻ Mặc

dù còn mới như vậy, nhưng hoạt động cho thuê tài sản đã có những ảnh hưởng rất lớn đến thị trường vốn trong nước, góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế các nước này phát triển Hình thức cho thuê chủ yếu là CTTC, còn cho thuê vận hành chưa được phát triển mạnh Sự hình thành và phát triển các công ty CTTC ở các nước đang phát triển và đang được Nhà nước sở tại khuyến khích và có nhiều chính sách ưu đãi thích hợp

1.1.2 Khái niệm cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính là hình thức tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng thuê tài sản giữa bên cho thuê và bên đi thuê Khi kết thúc thời hạn thuê, quyền sở hữu tài sản được chuyển sang cho bên thuê hoặc bên thuê được quyền chọn mua tài sản thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng

Trang 16

thuê Trong thời hạn cho thuê, các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng

Theo ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC – The International Acounting Standards Committee) loại hình cho thuê nào thỏa mãn bốn tiêu thức sau được gọi là cho thuê tài chính:

- Quyền sở hữu tài sản thuê được tự động chuyển giao cho bên thuê khi thời hạn thuê kết thúc và bên thuê đã thanh toán đủ tiền thuê theo quy định

- Hợp đồng cho thuê có quy định bên thuê có quyền chọn mua tài sản theo giá tượng trưng khi thời hạn cho thuê kết thúc và bên thuê đã thanh toán

đủ tiền thuê theo quy định

- Thời hạn cho thuê chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản (trừ trường hợp tài sản thuê đã qua sử dụng) (Riêng ở Mỹ quy định thời hạn cho thuê lớn hơn 75% đời sống hữu dụng của tài sản nhưng tối đa không quá 30 năm Ở Việt Nam thời hạn cho thuê tối thiểu 60% và tối đa không quá thời gian khấu hao tài sản theo thông tư số 203/2009/TT-BTC của Bộ tài chính).[5]

- Giá trị hiện tại của các khoản tiền thuê tối thiểu bằng hoặc lớn hơn giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm ký hợp đồng thuê.( Riêng ở Mỹ quy định bằng hoặc lớn hơn 90% giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm thuê)

1.1.3 Đặc điểm cho thuê tài chính

Một giao dịch cho thuê tài chính phải thoả mãn một trong những điều kiện sau đây:

- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, Bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được trực tiếp thuê theo sự thỏa thuận của hai bên

- Khi kết thúc thời gian cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền

ưu tiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài

Trang 17

sản thuê tại thời điểm mua lại

- Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê (trừ trường hợp tài sản cho thuê đã qua sử dụng)

- Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng

Ngoài ra, cho thuê tài chính còn có các đặc điểm sau (tuỳ vào mỗi nước

có thêm những quy định riêng về tài sản cho thuê, đối tượng cho thuê, đối tượng thuê):

- Tài sản thuê là động sản hoặc bất động sản do bên cho thuê mua hoặc sản xuất ra

- Bên cho thuê là các tổ chức, cá nhân được luật pháp bảo hộ và nắm giữ quyền sở hữu tài sản đối với tài sản cho thuê

- Bên cho thuê không phải chịu các chi phí như: Chi phí vận hành, bảo trì, bảo hiểm, rủi ro mà các chi phí này do Bên thuê chịu

- Bên thuê không có quyền huỷ ngang hợp đồng thuê

1.1.4 Các phương thức cho thuê tài chính

Đứng trên giác độ người đi thuê và người cho thuê, cho thuê tài chính được chia thành 7 loại sau:

a Cho thuê tài chính thuần

Bên cho thuê mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của bên thuê để tài trợ cho bên thuê Bên cho thuê thường là các công ty cho thuê trực thuộc các định chế tài chính, hoặc các công ty cho thuê độc lập Bên thuê thường là các tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu thuê tài sản để sử dụng Bên cho thuê là người thanh toán toàn bộ giá trị mua bán tài sản thuê và là người chủ sở hữu tài sản thuê về mặt pháp lý Bên thuê là người nhận tài trợ và có quyền sử

Trang 18

dụng tài sản, hưởng dụng những lợi ích do tài sản đem lại Nhà cung cấp là hãng sản xuất máy móc thiết bị hoặc là người cung cấp thiết bị

b Mua và cho thuê lại

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các DN không tránh khỏi lúc gặp khó khăn tạm thời về vốn lưu động, đặc biệt đối với các DN nhỏ và vừa hoặc các DN mới thành lập Hơn nữa, các DN này rất khó tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng Trong khi DN đang có sẵn những tài sản cố định khác, mà những tài sản này không thể đem bán vì nó phục vụ cho hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Trong trường hợp đó, các DN có thể lựa chọn hình thức “Bán và tái thuê” Với loại hình này, DN đã giải quyết được cùng một lúc 2 bài toán khó đó là: vừa có được nguồn vốn lưu động đáp ứng nhu cầu kinh doanh, vừa có tài sản để tiếp tục phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong trường hợp này, bên cho thuê mua tài sản đang thuộc sở hữu của Bên thuê và cho Bên thuê thuê lại chính tài sản của mình Như vậy, Bên cho thuê từ chỗ là người mua trở thành chủ sở hữu và cho thuê tài sản Bên thuê từ chỗ là chủ sở hữu ban đầu trở thành người bán

và thuê lại tài sản đó

c Cho thuê giáp lưng

Trong loại CTTC này, được sự đồng ý của bên cho thuê, bên thuê thứ nhất sẽ cho bên thuê thứ hai thuê lại tài sản mà họ thuê từ bên cho thuê Hình thức này được áp dụng chủ yếu trong phương thức cho thuê vận hành, hoặc được áp dụng khi bên thuê thứ nhất không còn nhu cầu thuê tài sản nữa Nhưng do không thể huỷ ngang hợp đồng với bên cho thuê nên bên thuê thứ nhất phải tìm cách để cho thuê lại tài sản đó Làm như vậy có thể khai thác tối

đa hiệu quả hoạt động của tài sản

Mặc dù hình thức cho thuê tài chính có thể tài trợ được cho cả những doanh nghiệp mà ngân hàng hoặc công ty tài chính chưa có độ tin tưởng cao,

Trang 19

nhưng không có nghĩa là tài trợ cho bất cứ đối tượng nào Vì vậy, trong nhiều trường hợp, người cần tài sản muốn đi thuê nhưng vì lý do nào đó (có thể là

họ đã không thực hiện đúng những hợp đồng kinh tế trong quá khứ như hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng cho thuê, có thể là hoạt động yếu kém theo cách đánh giá của tổ chức tài chính ) nên không thể thuê được trực tiếp từ các công ty cho thuê và trong trường hợp đó họ sẽ sử dụng phương thức cho thuê giáp lưng Theo phương thức này, thông qua sự đồng ý của Bên cho thuê, Bên

đi thuê thứ nhất cho Bên đi thuê thứ hai thuê lại tài sản đó Thực chất, Bên đi thuê thứ nhất chỉ là bên trung gian giữa Bên cho thuê và Bên đi thuê thứ hai, nhưng về mặt pháp lý thì Bên đi thuê thứ nhất phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện hợp đồng với Bên cho thuê Với phương thức cho thuê này, mặc dù doanh nghiệp không đủ điều kiện để trực tiếp thuê của Bên cho thuê vẫn có thể thuê được tài sản để sử dụng cho sản xuất kinh doanh

d Cho thuê trả góp

Loại CTTC này xuất phát từ chính sách khuyến mãi của các công ty sản xuất lớn nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm Khi người mua không trả đủ tiền mua tài sản, người bán chỉ chuyển giao quyền sử dụng tài sản, giữ lại quyền sở hữu tài sản trong một thời gian nhất định, thay vì giao hết các quyền này như trước đây Biện pháp này giúp cho các nhà sản xuất tránh được những nguy cơ của việc bán tín dụng Hình thức bán trả góp này dần phát triển thành hình thức tài trợ cho thuê trong khi vẫn giữ những tính chất của hoạt động bán trả góp Do đó, người ta thường gọi đây là hình thức tài trợ cho thuê mang tính chất trả góp, hoặc là hình thức bán trả góp mang tính chất cho thuê

e Cho thuê hợp tác

Loại cho thuê này xuất phát từ thực tế các công ty CTTC gặp hạn chế

về nguồn vốn không đủ khả năng tài trợ cho khách hàng có nhu cầu đầu tư tài

Trang 20

sản có giá trị lớn, giới hạn cho thuê đối với một khách hàng của các công ty CTTC Trong loại này có sự tham gia của bốn bên: Bên cho thuê, bên thuê, nhà cung cấp và nhà cho thuê Theo đó, bên cho thuê sẽ đi vay để mua tài sản cho thuê Vật thế chấp là quyền sở hữu tài sản cho thuê và các khoản tiền mà bên thuê trả trong tương lai Người cho thuê sẽ được trả hoàn trả từ các khoản tiền thuê mà bên thuê trả Thường thì bên cho thuê yêu cầu bên thuê trả trực tiếp cho người cho thuê Sau khi trả hết nợ vay, những khoản tiền thuê còn lại

sẽ được trả cho bên cho thuê Các mối quan hệ cũng như các trách nhiệm và quyền lợi của bên thuê trong phương thức này không có sự khác biệt so với loại CTTC thuần

f Cho thuê liên kết

Loại cho thuê này cũng giống với loại CTTC thuần Nhưng khác biệt ở chỗ có sự tham gia cho thuê của nhiều bên (hay còn gọi là đồng tài trợ cho thuê) Các đặc điểm trong loại này cũng không khác gì so với loại hình CTTC thuần

g Cho thuê trực tiếp

Bên cho thuê sử dụng tài sản sẵn có của mình trực tiếp cho thuê Bên cho thuê thường là các nhà sản xuất lớn, hoặc các định chế tài chính sử dụng tài sản của mình để tài trợ cho bên thuê Trong loại cho thuê này chỉ có hai bên tham gia là bên cho thuê và bên thuê Tài sản cho thuê thường có giá trị không quá lớn, thường là các loại máy móc, thiết bị đơn lẻ Các nhà sản xuất

sử dụng phương thức này để đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của mình

Họ có thể mua lại những máy móc đã lạc hậu để chế tạo và cung cấp những máy móc khác hiện đại hơn

1.1.5 Lợi ích, hạn chế của cho thuê tài chính

a Lợi ích của cho thuê tài chính

Lợi ích đối với nền kinh tế

Trang 21

- Một trong những nguyên nhân thúc đẩy hoạt động cho thuê tài chính phát triển mạnh mẽ trên thế giới, nhất là đối với những nền kinh tế đang phát triển là do những lợi ích mà chúng mang lại cho nền kinh tế nói chung và cho các bên tham gia vào hình thức tài trợ tín dụng này Nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào cũng đều cần những nguồn vốn tài trợ Đối với quốc gia có nền kinh tế đang trong thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế, nhu cầu về vốn rất lớn cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa Để làm được việc đó, việc đổi mới công nghệ và thiết bị, máy móc… là yếu tố rất quan trọng Bởi vì các doanh nghiệp sản xuất nhiều MMTB đã bị hư hỏng, lỗi thời đẫn đến năng suất thấp, giá thành cao, chất lượng sản phẩm kém Để cạnh tranh được trên thị trường, doanh nghiệp cần phải được đầu tư trang bị phương tiện sản xuất để nâng cao sản lượng, chất lượng hàng hóa giành ưu thế trong nước và xuất khẩu

- Cho thuê tài chính gắn chặt với trang bị và đổi mới máy móc, công nghệ và mở rộng sản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc khu vực dân doanh Sự đa dạng và phong phú về loại hình tài sản cho thuê của hoạt động CTTC đã đáp ứng được nhu cầu vốn riêng biệt cho từng doanh nghiệp trong việc đầu tư đổi mới trang thiết bị sản xuất

và mở rộng quy mô sản xuất Đặc biệt thông qua hình thức CTTC có thể thu hút một lượng vốn lớn từ các tổ chức kinh tế, dân cư các hình thức huy động vốn trung, dài hạn hoặc liên doanh với nước ngoài để tạo ra kênh dẫn vốn từ bên ngoài vào cho nền kinh tế

- Ngoài ra hoạt động CTTC còn góp phần thức đẩy tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ cho nền kinh tế, góp phần đa dạng hóa các tổ chức tài chính, cung ứng nguồn vốn tín dụng trung, dài hạn cho nền kinh tế, là cơ sở cho việc tạo lập thị trường vốn vững chắc sau này

- Nhu cầu đầu tư đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam luôn đòi hỏi phải cần nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó vốn là một trong

Trang 22

những nhân tố quan trọng góp phần không nhỏ vào quá trình công nghiệp hóa

- hiện đại hóa đất nước Có nhiều kênh dẫn vốn như vốn tự có của doanh nghiệp, vốn phát hành trái phiếu, cổ phiếu, vốn vay tín dụng ngân hàng…, tuy nhiên kênh dẫn vốn từ cho thuê tài chính là rất phù hợp đối với các dự án khả thi mang tính trung và dài hạn bởi vì đây là nguồn vốn ổn định giúp doanh nghiệp chủ động trong việc hoạch định sản xuất kinh doanh và cân đối các nguồn tài chính phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất

- CTTC góp phần đổi mới công nghệ, cải tiến khoa học kỹ thuật Thông qua hoạt động CTTC, vốn được đầu tư thông qua các máy móc thiết bị tiên tiến, hiện đại, đưa các thiết bị này đến với các doanh nghiệp, từ đó giúp các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung nâng cao được trình độ sản xuất, sản lượng, chất lượng hàng hóa giành ưu thế trong sản xuất trong nước

và hàng hóa xuất khẩu, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Hoạt động CTTC góp phần đa dạng hoá các tổ chức tài chính, cung ứng vốn tín dụng trung - dài hạn cho nền kinh tế, là cơ sở tạo lập thị trường vốn vững chắc sau này

Lợi ích đối với bên cho thuê

- Trong suốt thời hạn cho thuê, bên cho thuê vẫn nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Do đó, bên cho thuê có quyền chiếm hữu lại tài sản nếu xét thấy bên đi thuê có hành vi vi phạm hợp đồng cho thuê tài chính đến mức không thể thỏa thuận lại được

- CTTC giúp Bên cho thuê có thể linh hoạt trong kinh doanh Trong thời gian diễn ra giao dịch thuê mua, vốn tài trợ được thu hồi dần dựa trên chu

kỳ kinh doanh và hiệu quả hoạt động của Bên thuê, từ đó cho phép Bên cho thuê có được vốn để có thể tái đầu tư vào trong các hoạt động kinh doanh sinh lợi, ổn định hoạt động và tăng thêm cơ hội mở rộng đầu tư cho thuê mới

Trang 23

- Trường hợp xảy ra rủi ro khi Bên thuê không thanh toán được các khoản tiền thuê theo Hợp đồng đã ký kết Tài sản cho thuê có thể nhanh chóng được xử lý thu hồi và bán thanh lý hoặc cho bên khác thuê tiếp để thu hồi nợ tiền thuê mà không cần chờ sự phán quyết của tòa án do Bên cho thuê nắm quyền chủ sở hữu tài sản, hầu hết các tài sản cho thuê chuyển nhượng nhanh chóng, dễ bán do đó các Công ty cho thuê tài chính cũng giảm bớt thiệt hại trong quá trình thu hồi xử lý nợ

- Trong thời gian cho thuê, các rủi ro gắn liền với quyền sở hữu tài sản được chuyển sang Bên thuê, do đó Bên thuê phải có trách nhiệm bảo quản, gìn giữ tài sản thuê, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại (nếu có) cho Bên cho thuê khi tài sản thuê bị hư hỏng, mất mát, phải chịu các chi phí liên quan trong việc sử dụng, sửa chữa và bảo dưỡng tài sản

- Tài sản cho thuê tài chính được bảo hiểm toàn bộ, phí bảo hiểm do Bên thuê chịu trách nhiệm thanh toán trong suốt thời hạn thuê, do đó tài sản cho thuê được an toàn trong suốt quá trình cho thuê tài chính Trong trường hợp có tổn thất xảy ra, bên cho thuê vẫn được bảo đảm bồi hoàn bởi đơn vị bảo hiểm

Lợi ích đối với người thuê

- Bên thuê không phải thế chấp cho bên cho thuê vì tài sản thuê vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê trong suốt thời hạn thuê Bên cạnh đó, các tài sản cho thuê đều được bảo hiểm rủi ro bởi các công ty bảo hiểm, và đây là điều kiện bắt buộc trong hợp đồng CTTC Trong các trường hợp bất khả kháng, tài sản bị hư hỏng, rủi ro xảy ra thì cả hai bên cho thuê và bên thuê đều không bị ảnh hưởng đến quyền lợi của mình

Chính vì không phải thế chấp nên người đi thuê có những thuận lợi như thủ tục nhanh chóng, tiết kiệm được khoản tiền đầu tư vào các tài sản thế chấp

Trang 24

- Bên thuê được quyền tự do lựa chọn loại máy móc thiết bị thuê, nhà sản xuất, nhà cung ứng, các điều kiện giao nhận, lắp đặt, bảo hành… theo ý mình mà không phải chịu bất kỳ sự ràng buộc nào của bên cho thuê Điều này giúp cho bên thuê có được đúng tài sản mà mình yêu cầu với chi phí hợp lý…

- Bên thuê có thể được thuê tài chính nhiều loại động sản đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh Trong đó có những loại tài sản không thuộc đối tượng cho vay của các tổ chức tín dụng mặc dù nó phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc ngân hàng hạn chế cho vay ( phương tiện vận tải, hệ thống máy vi tính, máy lạnh, phương tiện văn phòng…)

- CTTC không có sự phân biệt các thành phần kinh tế đối với bên thuê Đây là một đặc điểm khá thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân, các DNN&V, các hộ kinh doanh gia đình Vì đối với các thành phần kinh tế này, khi thực hiện vay ngân hàng thường phải chịu những thủ tục, những đòi hỏi, ràng buộc khắt khe hơn so với các DNNN

- Những doanh nghiệp không thoả mãn đươc yêu cầu cho vay của ngân hàng vẫn có thể thực hiện thuê tài chính Những DNN&V, DNNQD thường không đáp ứng được các yêu cầu cấp tín dụng của ngân hàng do chưa có đủ

uy tín, không có tài sản thế chấp, tình hình tài chính eo hẹp nên không được các ngân hàng cho vay như mong muốn Trong khi CTTC lại không yêu cầu thế chấp, không phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh do tài sản cho thuê vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê, với các điều kiện linh hoạt hơn nên những DNNQD, DNN&V không đủ điều kiện vay vốn được từ ngân hàng vẫn có thể tìm đến dịch vụ CTTC

- CTTC giúp các doanh nghiệp đi thuê tránh được tình trạng ứ đọng vốn trong tài sản cố định Ngoài ra, trong trường hợp cần vốn lưu động để kinh doanh, doanh nghiệp có thể dùng phương thức bán và tái thuê lại tài sản

Trang 25

hiện có thuộc sở hữu của doanh nghiệp và chưa phải chịu ràng buộc pháp lý nào Nghiệp vụ này giúp doanh nghiệp vừa có vốn để kinh doanh lại vừa có

tài sản để sử dụng

b Hạn chế của cho thuê tài chính

Bên thuê không phải là chủ sở hữu tài sản nên chỉ có thể được quyền

sử dụng theo như hợp đồng cho thuê mà không được sử dụng tài sản đó để thế chấp cho các chủ nợ khác mặc dù lúc đó nợ thuê tài chính đã trả được phần lớn Điều này hạn chế bên thuê tiếp cận với nguồn vốn khác trong khi đã gần

như trả xong món nợ cũ

Bên thuê ít được chủ động trong việc sử dụng các tài sản thuê vì họ

chỉ được sử dụng tài sản thuê theo như hợp đồng thuê tài chính đã ký kết Họ không được tự ý thay đổi vị trí lắp đặt máy móc, không được thay đổi kết cấu,

hình dạng máy móc… khi chưa có sự đồng ý của bên cho thuê

Cho thuê tài chính là nghiệp vụ mới, ngoài kiến thức về nghiệp vụ

ngân hàng còn cần có kiến thức của nghiệp vụ khác như: kiến thức chuyên môn kỹ thuật về tài sản cho thuê, kiến thức về nghiệp vụ bảo hiểm, nhập khẩu hàng hoá, chính sách thuế Trong khi cán bộ mới được đào tạo chủ yếu về hoặc là kiến thức ngân hàng hoặc là quản lý kinh tế và nhiều chuyên ngành khác, đã thể hiện bất cập trong quá trình tác nghiệp, chất lượng cho thuê chưa cao, quản lý dự án chưa chặt chẽ, sai sót phát sinh trong xử lý nghiệp vụ còn nhiều Đây chính là những hạn chế chủ quan làm ảnh hưởng tới việc mở rộng

và phát triển nghiệp vụ này

Sự cạnh tranh của các công ty tài chính và các tổ chức tín dụng khác

ngày càng trở lên gay gắt cả ở khu vực thành thị và nông thôn Sự cạnh tranh khốc liệt này không chỉ trong việc huy động vốn mà còn trong việc tìm kiếm đầu ra cho tín dụng ngân hàng Các ngân hàng thương mại nới lỏng các điều kiện cho vay, thực hiện thế chấp tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay,

Trang 26

cho vay tín chấp; thành lập các chi nhánh ở các khu vực có môi trường đầu tư

thuận lợi, có tiềm năng kinh tế lớn càng làm cho cạnh tranh trong đầu tư vốn

gay gắt hơn

Những quy định của luật pháp còn những bất cập khiến cho chi phí

cũng như rủi ro của hoạt động này tăng lên Pháp luật Việt Nam hiện nay hạn

chế rất nhiều hoạt động của các công ty CTTC cả về huy động vốn, nghiệp vụ

cho thuê và xử lý tài sản cho thuê tài chính, sự thiếu thống nhất đồng bộ về

thực thi pháp luật giữa các cơ quan thuế, công an, tư pháp và các công ty cho

thuê tài chính Chính điều này làm tăng thêm chi phí, thời gian cũng như làm

cho hoạt động của công ty đạt hiệu quả chưa cao và gia tăng thêm tính rủi ro,

không khuyến khích mở rộng đầu tư

1.1.6 Phân biệt cho thuê tài chính đối với loại hình tài trợ vốn khác

Công ty cho thuê tài chính là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, khác

với các ngân hàng thương mại thông thường, chức năng chính của công ty

cho thuê tài chính là sử dụng vốn của mình hoặc vốn đi vay để mua các tài

sản thiết bị theo yêu cầu của bên đi thuê để bên thuê sử dụng trong một thời

gian nhất định với điều kiện phải bảo quản, sử dụng tài sản thiết bị theo hợp

đồng, an toàn và hiệu quả và phải thanh toán tiền thuê định kỳ kịp thời đầy đủ

cho công ty cho thuê tài chính Khi kết thúc hợp đồng thuê bên thuê được

quyền mua tài sản thiết bị, kéo dài thời hạn cho thuê hoặc trả lại thiết bị cho

thuê cho các công ty cho thuê tài chính So sánh một số tiêu chí với các loại

hình tín dụng khác:

Trang 27

Cho thuê tài chính Tín dụng trung hạn-

dài hạn Tín dụng trả góp 1.Chủ thể cấp vốn:

Công ty cho thuê tài chính

chuyên trách

Ngân hàng thương mại

NHTM, Công ty tài chính, Quỹ tiết kiệm, Quỹ tín dụng

tài sản: Người cho thuê là

người chủ sở hữu tài sản và

chuyển quyển sở hữu đối

với người đi thuê khi kết

thúc hợp đồng

Người vay vốn được

sở hữu tài sản mua được

Người vay vốn được

sở hữu tài sản mua được

4.Tính chất tài sản: Tài sản

cho thuê tài chính rất đa

dạng, từ những khoản nợ

nhỏ như thiết bị văn

phòng, cho đến máy bay,

tàu thủy

Vốn tín dụng thường

sử dụng cho dự án đầu tư, MMTB, dây chuyền sản xuất, mua

ô tô, nhà, …

Vốn tín dụng thường

sử dụng cho việc tiêu dùng: mua ô tô, nhà, vật dụng

5.Thời gian hoàn trả vốn

tài trợ: Trung và dài hạn Trung và dài hạn Trung và dài hạn

Trang 28

1.2 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH

1.2.1 Nội dung về mở rộng cho thuê tài chính

Đối với mỗi lĩnh vực sản xuất kinh doanh mở rộng là xu thế tất yếu để tồn tại và phát triển Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống tài chính tiền tệ, ngân hàng cũng không ngừng phát triển và mở rộng về quy mô đầu tư, chiếm lĩnh thị phần nhằm mục đích ổn định kinh doanh, gia tăng lợi nhuận, tạo uy tín và vị thế cạnh tranh trong kinh doanh Tuy nhiên việc mở rộng đầu

tư cũng luôn đi kèm với sự gia tăng rủi ro

Cho thuê tài chính của Việt Nam xuất hiện từ năm 1996, cho đến thời điểm hiện tại đã có 12 Công ty CTTC được cấp phép hoạt động Đây là một hình thức tài trợ vốn hoàn toàn mới mẻ đối với khách hàng, do đó trong suốt gần 15 năm hoạt động tính đến thời điểm hiện tại, quy mô về mạng lưới, khách hàng và nguồn vốn chủ sở hữu và tổng tài sản quản lý còn chiếm một

tỷ trọng khiêm tốn, kết quả hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả chưa cao, còn tiềm ẩn nhiều rủi ro phát sinh so với các tổ chức tín dụng và các loại hình công ty tài chính khác của Việt Nam

Để đạt được mục tiêu mở rộng hoạt động cho thuê tài chính thì các công ty cho thuê tài chính phải có chiến lược trong ngắn hạn và dài hạn, hoạt động kinh doanh phải gắn liền với định hướng và chính sách của Chính phủ, của ngành ngân hàng cũng như sự tăng trưởng của nền kinh tế và các yếu tố tác động bên ngoài Mở rộng cho thuê tài chính là tăng trưởng về quy mô làm gia tăng dư nợ cho thuê, cho thuê rộng rãi trên các địa bàn hoạt động, đa dạng các loại hình tài sản cho thuê, song song với việc mở rộng là tăng trưởng

về doanh thu và lợi nhuận cũng như đảm bảo công tác quản trị, gia tăng về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên để đáp ứng cho công tác mở rộng hoạt động cho thuê

Việc mở rộng hoạt động cho thuê tài chính là quá trình gia tăng về quy

Trang 29

mô cho thuê, phục vụ nhu cầu đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị của khách hàng thuê và làm gia tăng lợi ích của công ty cho thuê tài chính Mở rộng cho thuê tài chính cũng gắn liền với việc quản lý chất lượng tín dụng, công ty cho thuê tài chính phải có các công cụ kiểm soát rủi ro hữu hiệu: hành lang pháp

lý chặt chẽ và mang tính thống nhất, các công ty cho thuê tài chính phải tuân thủ các quy định và quy trình cho thuê tài chính về thẩm định và phê duyệt dự

án, tỷ lệ vốn tham gia vào dự án cho thuê, quản lý và giám sát chặt chẽ tài sản, sử dụng tài sản thuê đúng mục đích, quản lý dòng tiền của doanh nghiệp

để thu hồi nợ gốc và lãi tiền thuê

1.2.2 Các tiêu chí đánh giá về hoạt động mở rộng cho thuê tài chính:

a Nhóm tiêu chí về mở rộng quy mô

- Tiêu chí tăng trưởng dư nợ cho thuê: Dư nợ cho thuê phản ánh kết

quả hoạt động cho thuê tài chính tại một thời điểm, căn cứ vào số liệu dư nợ cho ta biết công ty CTTC có thực hiện mở rộng việc CTTC hay không Tăng trưởng dư nợ cho thuê được thể hiện qua tăng hoặc giảm về số tuyệt đối và tỷ

lệ năm sau so với năm trước liền kề Việc tăng trưởng dư nợ cho thuê chỉ có ý nghĩa tính tích cực về doanh số, không phản ánh tính hiệu quả của hoạt động cho thuê tài chính

- Tiêu chí tăng trưởng về số lượng khách hàng: số lượng khách hàng

giao dịch và đang dư nợ tại công ty CTTC hàng năm, số lượng khách hàng tăng giảm phản ánh việc mở rộng hay thu hẹp CTTC của các công ty CTTC

Số lượng khách hàng giao dịch thuê tài chính là kết quả của công tác tiếp cận khách hàng, tuyên truyền và quảng bá hình thức cho thuê tài chính

- Tiêu chí dư nợ bình quân khách hàng: Chỉ tiêu dư nợ bình quân của

một khách hàng qua các năm đánh giá được việc tăng hoặc giảm suất đầu tư của công ty CTTC đối với một khách hàng Tiêu chí này phụ thuộc nhiều vào

Trang 30

đối tượng khách hàng, loại hình tài sản đầu tư cho thuê của các công ty cho thuê tài chính, chính sách và chiến lược kinh doanh từng thời kỳ, có thể chịu

sự tác động của môi trường bên ngoài như chính sách của chính phủ, sự cạnh tranh của các tổ chức tín dụng khác, môi trường kinh tế vĩ mô

b Tiêu chí đa dạng hóa hay tính hợp lý về cơ cấu tài sản cho thuê

Động sản là đối tượng đầu tư của công ty CTTC, việc phân tích cơ cấu

về tài sản phản ánh công ty CTTC đầu tư vào loại hình tài sản nào là thế mạnh, có chính sách quản trị và phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra trường hợp đầu tư quá lớn vào một đối tượng tài sản

c Mức tăng trưởng về thu nhập cho thuê tài chính

Đây là tiêu chí quan trọng đối với công ty cho thuê tài chính, phản án hiệu quả của việc đầu tư cho thuê tài chính, các số liệu doanh thu, lợi nhuận, tăng trưởng lợi nhuận qua các năm đánh giá công ty CTTC kinh doanh hiệu quả hay gặp khó khăn

d Tiêu chí con người bảo đảm chất lượng dịch vụ cho thuê

Việc mở rộng cho thuê tài chính, tăng trưởng về quy mô tín dụng, tăng trưởng về số lượng khách hàng thuê cũng như mở rộng thị phần cho thuê tài chính gắn liền với việc tăng số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên của tổ chức tín dụng Kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty cho thuê tài chính có yếu tố không nhỏ từ đội ngũ cán bộ công nhân viên Lao động phải có đủ trình độ chuyên môn, tâm huyết với nghề, có bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp, ngoài ra phải đảm bảo đáp ứng được số lượng lao động để thực hiện các phần hành công việc khác nhau trong mô hình hoạt động của các công ty CTTC

e Nhóm tiêu chí phản ánh kiểm soát rủi ro

- Tiêu chí giảm tỷ lệ nợ xấu: Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3,4,5

theo quy định của NHNN tại QĐ 493/2005/QĐ-NHNN Chỉ tiêu này cao hay

Trang 31

thấp phản ánh thực trạng và hiệu quả của hoạt động cho thuê của công ty CTTC Tỷ lệ nợ xấu cao đồng nghĩa với hoạt động của công ty CTTC không hiệu quả, gặp khó khăn và ngược lại Việc xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng tốn kém nhiều thời gian, tiền bạc, cần sự phối hợp và hỗ trợ nhiều các

cơ quan chức năng mới có thể mang lại hiệu quả Do đó việc hạn chế phát sinh nợ xấu là công cụ quản trị quan trọng đối với các công ty cho thuê tài chính

- Tiêu chí trích lập dự phòng rủi ro: Dự phòng rủi ro là khoản tiền được

trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng [5] DPRR gồm dự phòng chung và dự phòng cụ thể, việc trích lập dự phòng

và xử lý rủi ro thực hiện theo quy định của NHNN Việt Nam

- Tiêu chí tỷ lệ ký cược đảm bảo hợp đồng thuê tài chính: Tiền ký cược

là khoản tiền của khách hàng trên tài khoản của công ty CTTC Khoản ký cược có ý nghĩa đảm bảo thực hiện hợp đồng và giảm thiệt hại khi có rủi ro xảy ra

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng CTTC

a Các nhân tố bên ngoài

Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: Trong các năm qua Việt Nam

luôn được xếp vào các quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế tương đối cao và

ổn định trong khu vực cũng như trên thế giới Mục tiêu của chính phủ là đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp hóa – hiện đại hóa Đó là một trong các điều kiện để dịch vụ cho thuê tài chính phát triển góp phần trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Chính sách tiền tệ: Cơ chế chính sách của Chính phủ, Ngân hàng

nhà nước về chính sách tiền tệ: như tốc độ tăng trưởng tín dụng, lãi suất, tỷ

Trang 32

giá… cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chiến lược mở rộng dịch vụ cho thuê tài chính của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam

Văn hóa – xã hội: CTTC là một loại hình dịch vụ khá mới mẻ, doanh

nghiệp, người dân thường quen với tín dụng truyền thống của ngân hàng, còn thiếu thông tin và nghi ngại tham gia một loại hình tín dụng mới Vì vậy để

mở rộng cho thuê tài chính cần quảng bá rộng rãi hơn nữa đến khách hàng các lợi ích và hiệu quả của việc đầu tư tài sản cố định qua hình thức CTTC so với

tín dụng thông thường

Luật pháp: Hành lang pháp lý vững chắc, sự phối hợp linh hoạt và

hiệu quả giữa các cơ quan chức năng như Bộ tài chính, NHNN, Bộ công an,

Bộ tư pháp, Bộ GTVT… là cơ sở để mở rộng đầu tư cho thuê tài chính

Đối thủ cạnh tranh: Bản chất CTTC cũng là hoạt động đầu tư tín

dụng trung và dài hạn do đó việc cạnh tranh của công ty CTTC cũng không kém phần khốc liệt với các tổ chức tín dụng khác, với các công ty tài chính và giữa các công ty CTTC với nhau Giải quyết được mâu thuẫn này thì sự mở

rộng hoạt động CTTC mới khả thi

Sản phẩm thay thế: các tổ chức tín dụng và công ty cho thuê tài

chính cũng có các sản phẩm đầu tư tương tự như cho thuê tài chính, vì vậy việc mở rộng hoạt động cho thuê tài chính cũng cần tính đến sự cạnh tranh

khốc liệt từ các sản phẩm thay thể của các tổ chức tài chính, tín dụng khác

b Các nhân tố bên trong

Chính sách đầu tư cho thuê tài chính

Chính sách đầu tư cho thuê tài chính bao gồm các yếu tố như hạn mức cho thuê đối với một khách hàng, đối tượng tài sản cho thuê, lãi suất cho thuê, chính sách ưu đãi đối với từng nhóm khách hàng các nhân tố trên có tác động đến việc mở rộng cho thuê tài chính Nếu áp dụng một chính sách phù hợp, linh hoạt sẽ thu hút được khách hàng trong việc mở rộng đầu tư cho thuê

Trang 33

Nguồn vốn cho thuê

Khó khăn lớn nhất của các công ty cho thuê tài chính là nguồn vốn để đầu tư cho thuê Với những quy định hiện hành của Chính phủ và NHNN Việt Nam về cơ chế hoạt động của công ty CTTC thì nguồn vốn huy động bên ngoài gặp nhiều khó khăn Trên thực tế hiện nay các công ty CTTC chủ yếu hoạt động dựa trên nguồn vốn vay lại của ngân hàng mẹ do đó phát sinh tăng chi phí sử dụng vốn, bị khống chế về hạn mức, lãi suất đầu ra cao nên việc đầu tư mở rộng cho thuê tài chính còn gặp nhiều khó khăn Vì vậy để gia tăng hiệu quả trong việc mở rộng đầu tư cho thuê cần có giải pháp hữu hiệu trong công tác huy động vốn

Quy trình cho thuê

Để thực hiện một hợp đồng cho thuê tài chính phải tiến hành các bước cần thiết từ khi tiếp nhận hồ sơ đề nghị thuê, thẩm định dự án, quyết định cho thuê, ký kết hợp đồng cho thuê, hợp mua bán tài sản, bàn giao tài sản, theo dõi quản lý tài sản, thu hồi nợ tiền thuê được thực hiện theo quy trình và có

sự kết hợp giữa các bên Vì vậy một quy trình cho thuê phù hợp, nhanh gọn nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ tính pháp lý và an toàn tài sản, khả thi trong việc thu hồi nợ là yếu tố cần thiết trong việc thu hút khách hàng và mở rộng đầu tư cho thuê

Công nghệ

Trong thời kỳ công nghệ hiện đại được áp dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, đối với lĩnh vực tài chính ngân hàng công nghệ đóng vai trò rất quan trọng trong hầu hết các mảng hoạt động kinh doanh và phục

vụ cho công tác quản lý, giám sát và góp phần không nhỏ vào kết quả hoạt động kinh doanh Do đó đối với các tổ chức tín dụng trong đó có các công ty cho thuê tài chính việc đầu tư hệ thống thiết bị công nghệ tiên tiến hiện đại góp phần không nhỏ trong các hoạt động từ việc khai thác thông tin, đầu tư

Trang 34

cho thuê, quản lý theo dõi khách hàng, theo dõi tài sản cho thuê, rút ngắn thời gian công việc, phục vụ tích cực trong công tác quản trị và đưa ra các giải pháp xử lý kịp thời

Con người

Cùng với yếu tố công nghệ, con người đóng góp không nhỏ vào hiệu quả của các công ty cho thuê tài chính Một đội ngũ cán bộ lãnh đạo, nhân viên có đủ năng lực trình độ, có lòng say mê nhiệt huyết trong công việc, có đạo đức nghề nghiệp sẽ làm nên thành công của công ty cho thuê tài chính trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh, quản lý các khoản đầu tư cho thuê

và hiệu quả mang lại Vì vậy yếu tố con người trong hoạt động của các công

ty cho thuê tài chính cần phải được coi trọng từ khâu tuyển dụng, đạo tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức trong suốt qúa trình công tác Một tổ chức tín dụng hoạt động hiệu quả và ổn định trong dài hạn thì khâu quản trị nhân sự luôn được quan tâm hàng đầu và là yếu tố quyết định trong chiến lược kinh doanh của đơn vị

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MỞ RỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA CHI NHÁNH CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II

TẠI KHÁNH HÒA - NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

2.1 SƠ LƯỢC VỀ CHI NHÁNH CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II TẠI KHÁNH HÒA

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Sự ra đời và phát triển cho thuê tài chính ở Việt Nam

Từ sau năm 1990, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam nhanh

và khá ổn định Một trong những nguyên nhân tạo nên sự tăng trưởng đó là do

chính sách đầu tư phát triển kinh tế đã được mở cửa Nhu cầu đầu tư trong nước tăng cao Tuy đã có được các nguồn tín dụng khá lớn từ các tổ chức tài chính, song các doanh nghiệp vẫn rất khó khăn trong việc đầu tư máy móc, thiết bị sản xuất

Trong bối cảnh đó, hoạt động CTTC càng thể hiện rõ vai trò là một kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng cho các doanh nghiệp CTTC có thể khắc phục được những nhược điểm, những khó khăn vướng mắc gặp phải khi các doanh nghiệp đi vay vốn bằng tiền từ các tổ chức tín dụng khác

Từ năm 1993, Công ty tài chính Quốc gia (IFC) đã tư vấn cho NHNN Việt Nam nghiên cứu và soạn thảo các quy chế về CTTC nhằm đưa công nghệ CTTC vào Việt Nam

Ở Việt Nam cho thuê tài chính đã manh nha từ lâu nhưng trên thị trường ra đời Công ty cho thuê tài chính Quốc tế Việt Nam (VILC) thành lập năm 1996 là Công ty liên doanh giữa Ngân hàng công thương Việt Nam và 04 đối tác nước ngoài Tiếp sau đó là hàng loạt các công ty cho thuê được thành

Trang 36

lập Cho đến nay đã có 12 công ty cho thuê tài chính được Ngân hàng nhà nước cấp giấy phép hoạt động

Nhìn chung thị trường cho thuê Việt Nam mới hình thành còn rất non trẻ, tuy nhiên lượng cầu rất to lớn đã tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty cho thuê hoạt động, từng bước phát triển và chiếm lĩnh thị trường Là một quốc gia đang phát triển, trước mắt cũng như lâu dài rất cần nguồn vốn lớn để đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội Do đó, hàng hoá trên thị trường tập trung vào các loại máy móc, thiết bị, nhà xưởng phục vụ sản xuất, phục vụ đầu tư xây dựng, tiềm năng còn rất lớn Tuy nhiên do hệ thống pháp lý chuyên biệt chưa đầy đủ dẫn tới môi trường kinh doanh cho thuê tài chính có khá nhiều rủi ro nên việc tiến hành hoạt động tài trợ cần phải hết sức thận trọng

Sự cần thiết cho thuê tài chính ở Việt Nam

Một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên kết quả đó là chính sách đầu tư phát triển kinh tế đã được mở rộng Bên cạnh các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài như: ODA, WB, ADB, vốn liên doanh các doanh nghiệp còn được các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước cho vay hàng ngàn tỷ đồng để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, việc cho vay vốn của các tổ chức tín dụng đối với các doanh nghiệp đặc biệt là vốn trung, dài hạn để trang bị, đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại Từ thực tế hoạt động của hệ thống các Công ty CTTC tại Việt Nam cho thấy: hoạt động cho thuê tài chính là một trong những hình thức tài trợ vốn trung dài hạn quan trọng cho các doanh nghiệp để đầu tư mới, thay thế máy móc thiết bị và công nghệ sản xuất lạc hậu CTTC có thể khắc phục được những khó khăn, vướng mắc gặp phải khi các doanh nghiệp vay vốn bằng tiền ở các tổ chức tín dụng, đó là:

- Thứ nhất, điều kiện doanh nghiệp phải có tài sản thế chấp khi vay vốn

Trang 37

- Thứ năm, doanh nghiệp được dùng phương pháp khấu hao nhanh đối với tài sản đi thuê Theo quy định hiện nay thời gian khấu hao nhanh của tài sản thuê tài chính có thể rút ngắn bằng 60% thời gian khấu hao theo quy định của Bộ Tài Chính đối với tài sản cố định mua về tại các doanh nghiệp

 Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam ( NHNo&PTNT VN):

Ngày 14/07/1998, Thống đốc NHNNVN ban hành Quyết định số 239/1998/QĐ-NHNN5 về việc thành lập Công ty CTTCII-NHNo&PTNT Việt Nam

Công ty CTTC II-NHNo&PTNT VN là một pháp nhân, là doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập của NHNo&PTNT VN, được NHNo&PTNT VN cấp vốn điều lệ, có quyền tự chủ kinh doanh và tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh và những cam kết của mình, có con dấu riêng, được tổ chức theo Luật doanh nghiệp Nhà nước

và Pháp luật về Ngân hàng và Công ty tài chính cùng các quy định của pháp luật hiện hành

- Tên gọi đầy đủ bằng tiếng Việt: Công ty cho thuê tài chính II - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

- Địa chỉ trụ sở chính: 422, Trần Hưng Đạo, Quận 5, TP Hồ Chí Minh

Trang 38

- Vốn điều lệ : 350 tỷ đồng

- Địa bàn hoạt động: khi thành lập từ tỉnh Quảng Bình trở vào các tỉnh phía Nam, hiện nay địa bàn hoạt động trên Toàn quốc

- Thời gian hoạt động: 70 năm kể từ ngày cấp giấy phép hoạt động

 Chi nhánh Công ty cho thuê tài chính II tại Khánh Hòa

Ngày 17/08/2004, Chi nhánh Công ty CTTCII tại Khánh Hòa (viết tắt

là ALCII-KH), được thành lập theo Quyết định số 304/QĐ/HĐQT-TCCB của Chủ tịch Hội đồng Quản trị NHNo&PTNT VN Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đơn vị kinh tế trực thuộc doanh nghiệp nhà nước số: 3716000023

do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Khánh Hòa cấp Đây là chi nhánh thứ 06 của Công ty CTTCII và là doanh nghiệp đầu tiên kinh doanh nghiệp vụ CTTC tại khu vực các tỉnh Nam Trung Bộ - Tây Nguyên

Trụ sở hoạt động hiện nay : lô 91- 95 – đại lộ Nguyễn Tất Thành – thành phố Nha Trang – tỉnh Khánh Hòa

Địa bàn hoạt động của Chi nhánh gồm 8 tỉnh NTB&TN: Khánh Hòa, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Phú Yên, Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kom Tum

2.1.2 Chức năng, vai trò và vị trí

a Chức năng của Chi nhánh

- Cho thuê tài chính

- Mua và cho thuê lại tài sản theo hình thức cho thuê tài chính

- Tư vấn những vấn đề có liên quan đến nghiệp vụ cho thuê tài chính

- Thực hiện các dịch vụ uỷ thác, quản lý tài sản và bảo lãnh liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính

- Các hoạt động khác khi được ngân hàng nhà nước cho phép

b Vai trò của Chi nhánh

Hiện nay, hoạt động CTTC đã trở thành hình thức tài trợ phổ biến trên thế giới Tại các nước công nghiệp phát triển, vai trò của hoạt động cho thuê

Trang 39

trong việc đầu tư máy móc thiết bị ngày càng quan trọng Sự hình thành và phát triển các công ty CTTC ở các nước đang phát triển đang được Nhà nước

sở tại khuyến khích và có nhiều chính sách ưu đãi thích hợp

c Vị trí của Chi nhánh

Trong hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế VN tăng trưởng nhanh và khá

ổn định Tốc độ tăng trưởng GDP từ năm 1990 đến nay liên tục đạt khoảng 6,5%-9,5% Nguyên nhân quan trọng tạo nên tình hình đó là do chính sách đầu tư phát triển kinh tế được mở rộng, đa dạng hoá nguồn vốn Tuy nhiên trên thực tế, việc tiếp cận được với nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn trung - dài hạn từ các Ngân hàng gặp không ít khó khăn về thủ tục, tài sản thế chấp, điều kiện … Để giải quyết tình trạng trên, hoạt động tài trợ của các công ty CTTC là một sự lựa chọn mới cho các doanh nghiệp này

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý của ALCII-KH

Tổ kiểm tra kiểm soát nội bộ

Trang 40

luật về mọi hoạt động của chi nhánh Trong điều hành hoạt động Giám đốc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ thủ trưởng, đi đôi với việc phát huy trách nhiệm cá nhân các thành viên trong ban giám đốc và các trưởng, phó phòng chuyên môn nghiệp vụ

b Các Phó giám đốc Chi nhánh

Là người hỗ trợ cho Giám đốc trong công tác quản trị Chi nhánh, là người chịu trách nhiệm điều hành một số công tác theo sự phân công của Giám đốc, chịu trách nhiệm trước Giám đốc, trước pháp luật về các nhiệm vụ, công việc được giao.Tham mưu cho giám đốc các lĩnh vực chuyên môn được giao

c Phòng kinh doanh

Thực hiện các chức năng, nhiệm vụ sau:

- Tham mưu, đề xuất định hướng, chiến lược phát triển, xây dựng các

kế hoạch hoạt động kinh doanh ngắn hạn, dài hạn của Chi nhánh và đề ra các giải pháp thực hiện

- Thực hiện nghiệp vụ cho thuê tài chính và các nghiệp vụ kinh doanh khác theo quy định

d Phòng Tài chính - Kế toán

Thực hiện các chức năng, nhiệm vụ sau:

- Tổ chức thực hiện chế độ hạch toán kế toán và quản lý tài chính theo các quy định của nhà nước và pháp luật, điều lệ của Công ty cho thuê tài chính II và hướng dẫn của NHNo&PTNT Việt Nam

- Hành chính quản trị, tổ chức cán bộ và đào tạo, lao động tiền lương

e Tổ kiểm tra kiểm soát nội bộ (Tổ KTKSNB)

Chức năng, nhiệm vụ thực hiện: giám sát, kiểm tra kiểm soát các chuyên đề về tài chính kế toán, cho thuê tài chính, công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo tại Chi nhánh

Ngày đăng: 18/11/2017, 14:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w