Đó là một hệ thống thông tin chi tiết, rời rạc, nặng tính ngẫu nhiên, không có tính hệ thống, chưa tạo được sự kết nối, chưa mang tính ổn định, chưa thực sự kết tinh thành những báo cáo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS Đoàn Ngọc Phi Anh
Đà Nẵng – Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nguyễn Sĩ Hiếu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục của đề tài 2
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 6
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOAN TRÁCH NHIỆM 6
1.1.1 Khái niệm kế toán trách nhiệm 6
1.1.2 Bản chất của kế toán trách nhiệm 7
1.1.3 Chức năng của kế toán trách nhiệm 7
1.2 PHÂN CẤP QUẢN LÝ 8
1.2.1 Khái niệm về phân cấp quản lý 8
1.2.2 Ý nghĩa của phân cấp quản lý 8
1.2.3 Các nguyên tắc phân cấp quản lý trong doanh nghiệp 9
1.2.4 Quan hệ giữa phân cấp quản lý và kế toán trách nhiệm 9
1.3 NỘI DUNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 11
1.3.1 Xác định các trung tâm trách nhiệm 11
1.3.2 Xác định các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá trách nhiệm các trung tâm trách nhiệm 13
1.3.3 Báo cáo trách nhiệm của các trung tâm trách nhiệm 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN PYMEPHARCO 23
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN PYMEPHARCO 23
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 23
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty 26
2.1.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật và tổ chức quản lý tại Công ty 27
2.1.4 Đặc điểm tổ chức kế toán tại Công ty 35
2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN PYMEPHARCO 36
2.2.1 Phân cấp quản lý tại Công ty 36
2.2.2 Thực trạng kế toán trách nhiệm tại Công ty 39
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG TY 58
2.3.1 Ưu điểm 58
2.3.2 Hạn chế 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PYMEPHARCO 61
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 61
3.1.1 Về nhận thức kế toán trách nhiệm 61
3.1.2 Về phân cấp quản lý trong Công ty 62
3.1.3 Về tổ chức bộ máy kế toán 62
3.1.4 Về sự phù hợp giữa kế toán trách nhiệm với đặc điểm của Công ty 63
3.2 NHỮNG NỘI DUNG HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM CÔNG TY CỔ PHẦN PYMEPHARCO 63
3.2.1 Tổ chức các trung tâm trách nhiệm tại Công ty 64 3.2.2 Phân loại chi phí nhằm phục vụ cho kế toán trách nhiệm của
Trang 6Công ty 66
3.2.3 Xây dựng tài khoản phục vụ cho kế toán trách nhiệm của Công ty 71
3.2.4 Hoàn thiện công tác lập dự toán trong điều kiện tổ chức kế toán trách nhiệm của Công ty 74
3.2.5 Hoàn thiện hệ thống báo cáo thành quả của các trung tâm trách nhiệm của Công ty 77
3.2.6 Tổ chức bộ máy vận hành kế toán trách nhiệm của Công ty 87
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 89
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp
KPCĐ : Kinh phí công đoàn SX-KD : Sản xuất – kinh doanh TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh TSCĐ : Tài sản cố định
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Bảng kế hoạch tiêu thụ Trung tâm cung ứng thuốc Trần
2.2 Dự toán tiêu thụ Trung tâm cung ứng thuốc Trần Hưng
2.3 Báo cáo thực hiện doanh thu Trung tâm cung ứng thuốc
2.4 Bảng phân tích tình hình thực hiện doanh thu của Trung
tâm cung ứng thuốc Trần Hưng Đạo Quý IV/2012 44 2.5 Kế hoạch sản xuất Phân xưởng thuốc tiêm Quý IV / 2012 48 2.6 Định mức chi phí nguyên Vật liệu trực tiếp 49 2.7 Kế hoạch chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Phân xưởng
2.8 Kế hoạch chi phí sản xuất chung Phân xưởng thuốc tiêm
2.13 Báo cáo chi phí bán hàng và QLDN Quý IV/2012 55 2.14 Báo cáo giá trị hàng xuất kho Quý IV / 2012 56
Trang 92.15 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Quý IV/ 2012 57 3.1 Bảng phân loại chi phí tại Công ty theo cách ứng xử 67
3.5 Bảng phân tích chi phí nguyên vật liệu trực tiếp đối với
3.6 Bảng phân tích tình hình thực hiện doanh thu Quý
IV/2012 của Trung tâm cung ứng thuốc Trần Hưng Đạo 82 3.7 Báo cáo tình hình tiêu thụ của Công ty Quý IV/2012 83 3.8 Báo cáo lợi nhuận tại Công ty Quý IV/2012 85 3.9 Báo cáo lợi nhuận toàn Công ty Quý IV/2012 86 3.10 Báo cáo trách nhiệm tại Trung tâm đầu tư Quý IV/2012 87
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi Việt Nam thực hiện chính sách “Đổi mới” từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỉ trước, nền kinh tế đã có những chuyển biến rõ rệch, kinh tế Việt Nam hội nhập sâu vào kinh tế khu vực và thế giới, mở ra nhiều
cơ hội thuận lợi và không ít những thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Công ty Cổ phần PYMepharco nói riêng Để nắm bắt cơ hội và vượt qua thử thách trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay, các doanh nghiệp cũng như Công ty Cổ phần PYMepharco một mặt phải quan tâm đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng và hạ giá thành… Mặt khác phải quan tâm đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp Đây là một trong những vấn đề bức thiết quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Đổi mới quản trị doanh nghiệp sẽ tạo động lực thúc đẩy sự thay đổi
hệ thống kế toán, kế toán quản trị trong các doanh nghiệp, đặc biệt là kế toán trách nhiệm, một công cụ hữu hiệu giúp nhà quản trị doanh nghiệp có thể quản lý, điều hành hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh
Kế toán trách nhiệm được nghiên cứu và giảng dạy trong một số trường đại học ở Việt Nam vào những năm 1990, tuy nhiên mức độ ứng dụng kế toán trách nhiệm vào thực tiễn trong các doanh nghiệp chưa được phổ biến và còn nhiều hạn chế
Nghiên cứu tại Công ty Cổ phần PYMepharco (Công ty Cổ phần Dược Phú Yên) cho thấy Công ty chuyên sản xuất, kinh doanh dược phẩm, dụng cụ
y tế với phạm vi trên cả nước và hiện tại Công ty đang phải cạnh tranh rất khốc liệt với nhiều công ty cùng ngành trong nước Chính vì vậy yêu cầu để
có thể đạt hiệu quả cao Công ty phải kiểm soát chi phí, đảm bảo chất lượng tốt, hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra Tuy nhiên, hiện tại Công ty đã bước
Trang 12đầu xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế cần được hoàn thiện Xuất phát từ những yêu cầu trên, từ thực trạng kế toán trách nhiệm của Công ty và mục đích nhằm hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Công ty, tác giả đã chọn đề tài: “Kế toán trách nhiệm tại Công ty Cổ phần PYMepharco” làm Luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp;
- Phân tích, đánh giá thực trạng kế toán trách nhiệm tại Công ty Cổ phần PYMepharco;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Công ty Cổ phần PYMepharco
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu kế toán trách nhiệm tại Công ty Cổ phần PYMepharco
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu giới hạn trong Công ty Cổ phần PYMepharco Đây là một Công ty có qui mô lớn, cơ cấu tổ chức phân thành nhiều cấp, gồm nhiều chi nhánh, cửa hàng trực thuộc Luận văn sẽ nghiên cứu từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất của Công ty
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được vận dụng chủ yếu trong luận văn là phương pháp định tính kết hợp với quan sát, khảo sát thực tế tại đơn vị để từ
đó phân tích tổng hợp các vấn đề lý luận, thực trạng và xác lập các quan điểm, phương hướng, giải pháp cụ thể hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Công ty
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP
Trang 13CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PYMEPHARCO
CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN PYMEPHARCO
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
- Tình hình áp dụng kế toán quản trị nói chung cũng như kế toán trách nhiệm nói riêng trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay chỉ là bước đầu
và có thể xem đây là kết quả của sự tác động mang tính khách quan và chủ quan từ quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, đổi mới chính sách kế toán, đổi mới tư duy quản trị doanh nghiệp của nhà quản trị Đó là một hệ thống thông tin chi tiết, rời rạc, nặng tính ngẫu nhiên, không có tính hệ thống, chưa tạo được sự kết nối, chưa mang tính ổn định, chưa thực sự kết tinh thành những báo cáo nhằm đánh giá trách nhiệm quản trị trong nội bộ công ty.[11]
- Nội dung kế toán trách nhiệm là đề tài được nhiều tác giả nghiên cứu với những góc độ khác nhau, cụ thể:
+ Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị lãnh (2004) “ Hoàn thiện tổ
chức kế toán trách nhiệm tại các doanh nghiệp dệt trên địa bàn thành phố Đà nẵng”, tác giả đã trình bày phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức kế
toán trách nhiệm tại các doanh nghiệp dệt trên địa bàn thành phố Tuy nhiên, những đề xuất về kế toán trách nhiệm trong công trình này là những đề xuất mang tính cơ bản của hệ thống kế toán trách nhiệm, trong bối cảnh kế toán trách nhiệm bắt đầu được nghiên cứu tại Việt Nam
+ Đề tài “Hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Công ty cao su miền
Trung - Quảng Bình” của tác giả Lương Đình Của, luận văn đã hệ thống hoá
những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán trách nhiệm, làm cơ sở để đánh giá thực trạng công tác kế toán trách nhiệm cũng như nghiên cứu đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Công ty Trong đó, đề tài đã đề xuất
Trang 14những giải pháp chính như thiết lập hệ thống kế toán trách nhiệm, xây dựng
hệ thống báo cáo cho nhà quản trị cũng như hệ thống chỉ tiêu đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm tại Công ty Ngoài ra, đề tài còn đề xuất sử dụng phiếu cân đối để đánh giá thành quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm trong Công ty
+ Đề tài “Tổ chức công tác kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH
một thành viên Cảng Đà Nẵng” của tác giả Lê Thị Thu Hiền, đề tài đã khái
quát những nét cơ bản về kế toán trách nhiệm từ những khái niệm, bản chất
và nội dung cơ bản của kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp, đến mối quan hệ giữa kế toán trách nhiệm với sự phân cấp quản lý tài chính Trên cơ
sở đó, đề tài đã tiến hành xây dựng các trung tâm trách nhiệm; xác định các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể cho từng trung tâm trách nhiệm hợp lý với sự phân cấp quản lý; tổ chức và xây dựng các báo cáo thành quả và đưa ra một
số chỉ tiêu đánh giá thành quả của các bộ phận Mục đích là hướng các bộ phận vào việc hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức, bên cạnh đó nó sẽ giúp cho nhà quản trị có cơ sở để đưa ra chính sách khen thưởng kịp thời, động viên, khích lệ các bộ phận
+ Trong bài báo “Kế toán trách nhiệm – Vũ khí của công ty lớn”
của tác giả Nguyễn Xuân Trường, đã phân tích những lợi ích khi vận dụng mô hình kế toán trách nhiệm Theo tác giả, mô hình quản lý kế toán trách nhiệm được xem là vũ khí của công ty lớn, giúp phát huy tối đa nguồn lực trong doanh nghiệp, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và được tác giả ví dụ cụ thể ở tập đoàn Abbott
Nhìn chung, các đề tài trên đã hệ thống những lý luận cơ bản về kế toán trách nhiệm, xác định đặc điểm và nội dung tổ chức kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp như đặc điểm tổ chức, nội dung tổ chức, lập các báo cáo nội
bộ Từ đó đánh giá những mặt đạt được và những mặt còn hạn chế trong công
Trang 15tác tổ chức kế toán trách nhiệm tại các doanh nghiệp Xây dựng một mô hình quản lý và đánh giá được việc thực hiện của các cấp trong công ty từ cấp thấp đến cấp cao nhất và đưa ra những phương án tổ chức các trung tâm trách nhiệm sao cho có hiệu quả Tuy nhiên, các giải pháp chưa cụ thể, chưa mang tính ứng dụng cao, đồng thời việc vận dụng kế toán trách nhiệm là khác nhau trong từng doanh nghiệp tùy thuộc vào đặc điểm sản xuất, tổ chức sản xuất, quản lý tại mỗi công ty Hiện chưa có một đề tài về kế toán trách nhiệm được nghiên cứu tại Công ty Cổ phần PYMepharco, vì vậy, dựa trên cơ sở lý luận
về kế toán trách nhiệm, tham khảo những đề tài, bài báo có liên quan, tác giả
đã chọn luận văn “Kế toán trách nhiệm tại Công ty Cổ phần PYMEPHARCO”
nhằm mong muốn sẽ khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán trách nhiệm, từ bản chất, mối quan hệ giữa phân cấp quản lý với kế toán trách nhiệm, đến việc tổ chức các trung tâm trách nhiệm và đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm Trên cơ sở đó, đề tài sẽ đánh giá thực trạng công tác kế toán nói chung và công tác kế toán trách nhiệm tại Công ty nói riêng, đồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Công ty, như tổ chức các trung tâm trách nhiệm, thiết kế hệ thống tài khoản gắn với các trung tâm trách nhiệm, tổ chức hệ thống báo cáo, các chỉ tiêu đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM
1.1.1 Khái niệm kế toán trách nhiệm [4]
Trong quá trình quản lý, các cá nhân được giao quyền ra quyết định và chịu trách nhiệm thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nào đó của tổ chức Với xu hướng quy mô ngày càng phát triển của các tổ chức, phân quyền trong một tổ chức là tất yếu Phân quyền trong tổ chức tạo nên cơ cấu phức tạp, đòi hỏi cấp trên phải theo dõi, đánh giá được kết quả thực hiện của cấp dưới và cấp dưới phải biết được mục tiêu, vị trí hoạt động của họ trong tổ chức Vì thế, một tổ chức có sự phân quyền cần thiết phải xây dựng công cụ
để đánh giá, nối kết thành quả quản lý của từng cá nhân, bộ phận trong tổ chức và công cụ đó chính là kế toán trách nhiệm
Trong doanh nghiệp, kế toán trách nhiệm là một công cụ được thiết lập
để ghi nhận, cung cấp thông tin về kết quả, hiệu quả hoạt động của các bộ phận, các đơn vị trong doanh nghiệp để từ đó đánh giá, nối kết các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp với mục tiêu chung của doanh nghiệp đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động đúng định hướng, trật tự và hiệu quả
Vậy kế toán trách nhiệm là công việc được thực hiện không thể tách rời các trung tâm trách nhiệm Các trung tâm này được hình thành thông qua việc phân cấp quản lý Theo đó, để thực hiện các chức năng quản lý của mình, người quản lý cấp cao phải thể hiện được đúng đắn quyền lực của mình, phải gây được ảnh hưởng và sức thuyết phục đối với nhân viên, đồng thời phải tiến hành phân cấp, ủy quyền cho cấp dưới nhằm giúp cấp dưới có thể điều hành các công việc thường xuyên tại bộ phận mà họ quản lý
Trang 171.1.2 Bản chất của kế toán trách nhiệm [5]
Hệ thống kế toán trách nhiệm được thiết lập để có thể ghi nhận, đo lường kết quả hoạt động của từng bộ phận trong tổ chức, trên cơ sở đó lập các báo cáo thực hiện nhằm phục vụ cho các nhà quản lý kiểm soát được hoạt động và chi phí của họ Nói cách khác, kế toán trách nhiệm là một phương pháp kế toán thu thập và báo cáo các thông tin dự toán và thực tế về các “đầu vào” và “đầu ra” của các trung tâm trách nhiệm
Kế toán trách nhiệm đo lường, đánh giá trách nhiệm quản lý và kết quả hoạt động của từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp Việc đánh giá này thường được dựa trên hai tiêu chí đó là hiệu quả và hiệu năng
Hiệu quả: có được khi đạt được mục tiêu đặt ra mà chưa kể đến việc sử dụng tài nguyên như thế nào, nó được xác định bằng cách so sánh giữa kết quả đạt được và mục tiêu đặt ra cho trung tâm trách nhiệm đó Nói cách khác,
đó chính là mức độ mà trung tâm trách nhiệm hoàn thành mục tiêu của mình
Hiệu năng: là tỷ lệ giữa đầu ra so với đầu vào của trung tâm trách nhiệm hoặc đó là tỷ lệ giữa kết quả thực tế đạt được so với nguồn tài nguyên thực tế mà trung tâm trách nhiệm đã sử dụng để tạo ra kết quả đó
Như vậy, để có thể đánh giá được hiệu quả và hiệu năng của các trung tâm trách nhiệm, chúng ta phải lượng hóa được đầu vào và đầu ra của các trung tâm trách nhiệm Trên cơ sở đó sẽ xác định được các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá kết quả hoạt động của từng trung tâm cụ thể
1.1.3 Chức năng của kế toán trách nhiệm
Kế toán trách nhiệm là một phương pháp phân chia cấu trúc của một
tổ chức thành những trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lường biểu hiện của chúng Nói cách khác, kế toán trách nhiệm là một “công cụ” để đo lường kết quả hoạt động của một khu vực nào đó trong tổ chức, qua đó giúp nhà
Trang 18quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau Chức năng của Kế toán trách nhiệm được thể hiện ở những khía cạnh sau đây: [4]
- Kế toán trách nhiệm giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của toàn bộ tổ chức
- Kế toán trách nhiệm cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lượng
về kết quả hoạt động của những nhà quản lý bộ phận
- Kế toán trách nhiệm được sử dụng để đo lường kết quả hoạt động của các nhà quản lý, do đó nó ảnh hưởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này
- Kế toán trách nhiệm thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo phương cách phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn bộ tổ chức
1.2 PHÂN CẤP QUẢN LÝ
1.2.1 Khái niệm về phân cấp quản lý
Phân cấp quản lý là sự phân tán quyền cho cấp dưới, dẫn đến sự phân định rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm trong quản lý cho cấp dưới dựa trên
cơ sở cấu trúc phân quyền mà nhà quản trị đã lựa chọn Hệ thống kế toán trách nhiệm gắn liền với sự phân cấp quản lý, nếu không có sự phân cấp quản
lý thì sẽ không tồn tại hệ thống kế toán trách nhiệm
1.2.2 Ý nghĩa của phân cấp quản lý
- Phân cấp quản lý trong doanh nghiệp hợp lý sẽ làm cho vốn của doanh nghiệp được phân phối gắn với nhu cầu và khả năng quản lý, sử dụng vốn ở từng cấp, từng bộ phân, từ đó quyền ra quyết định trong kinh doanh cũng được phân chia thích hợp cho từng cấp, phát huy tính chủ động, sáng tạo trong việc quản lý và sử dụng vốn
- Phân cấp quản lý làm cho hiệu suất quản lý của doanh nghiệp được
Trang 19nâng cao Cụ thể đối với cấp trên thì không phải tham gia giải quyết quá nhiều công việc, sự vụ hàng ngày, tập trung được thời gian và trí tuệ vào công việc lớn của doanh nghiệp Đối với cấp dưới, phân cấp quản lý phù hợp sẽ tạo được thế chủ động, sáng tạo cũng như trách nhiệm quyền hạn của người quản
lý đối với đơn vị mình
- Phân cấp quản lý là tiền đề cho hạch toán nội bộ, giúp phân định rõ việc quản lý tài chính giữa các cấp, giúp cho công tác tổ chức hạch toán kế toán được thuận lợi và phù hợp hơn với từng mô hình doanh nghiệp cụ thể
- Phân cấp quản lý cũng làm cho mọi cá nhân trong đơn vị ý thức và quan tâm hơn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực của đơn vị, làm cho hiệu quả chung của đơn vị được nâng cao
1.2.3 Các nguyên tắc phân cấp quản lý trong doanh nghiệp
- Đảm bảo quản lý và sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp đúng qui định
- Đảm bảo quyền tự chủ và năng động, phù hợp với những điều kiện của đơn vị cấp dưới trong việc quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh
- Đảm bảo toàn doanh nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ chiến lược kinh doanh và đạt hiệu quả cao
1.2.4 Quan hệ giữa phân cấp quản lý và kế toán trách nhiệm
Hệ thống kế toán trách nhiệm chỉ tồn tại, hoạt động có hiệu quả nhất trong các tổ chức phân quyền, ở đó quyền ra quyết định và trách nhiệm được trải rộng trong toàn tổ chức Các cấp quản lý khác nhau được quyền ra quyết định và chịu trách nhiệm trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của họ Khi quy mô của doanh nghiệp càng lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh càng phức tạp thì đòi hỏi doanh nghiệp phải phân tán thành nhiều bộ phận, nhiều
Trang 20cấp quản lý khác nhau Lúc này, sự phân quyền cho các đơn vị, các bộ phận
sẽ được thực hiện nhiều hơn và nhà quản trị cần xác định mức độ phức tạp của tổ chức để từ đó thực hiện sự phân quyền cho phù hợp
Mức độ độc lập của từng đơn vị, bộ phận trong doanh nghiệp phản ánh mức độ phân quyền của doanh nghiệp, sự độc lập ở mỗi đơn vị, bộ phận càng nhiều chứng tỏ sự phân quyền trong doanh nghiệp càng lớn và khi việc phân cấp quản lý được hợp lý sẽ là cơ sở hình thành kế toán trách nhiệm của một đơn vị Giữa kế toán trách nhiệm và phân cấp quản lý có sự tác động qua lại, liên quan lẫn nhau ở mặt tích cực và cũng có mặt tiêu cực
a Tác động tích cực
- Người quản lý có thể giảm bớt khối lượng công việc và san sẻ cho người khác, từ đó có thể tiết kiệm thời gian làm việc của mình và có thể tập trung vào thực hiện các mục tiêu lớn hơn cho doanh nghiệp
- Phân cấp quản lý sẽ phục vụ cho việc ra quyết định có tính chính xác cao hơn
- Phân cấp quản lý gắn liền với việc xác định quyền hạn và trách nhiệm ở từng cấp một cách rõ ràng nên có cơ sở khi đánh giá kết quả hoạt động của từng đơn vị, bộ phận, tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục các sai phạm
- Sự phân quyền trong quản lý rõ ràng giúp các bộ phận có thể chủ động trong tiếp cận các thông tin và phản hồi thông tin cho nhà quản trị cấp trên được đầy đủ và kịp thời
- Tạo môi trường thuận lợi phát triển những nhà quản lý cấp thấp hơn
- Khuyến khích nhân viên nỗ lực với trách nhiệm được giao
b Tác động tiêu cực
- Do sự phân cấp quản lý tạo nên sự độc lập tương đối giữa các bộ phận, từ đó các nhà quản lý ở các bộ phận thường không quan tâm đến ảnh
Trang 21hưởng của các quyết định của họ đến các bộ phận khác trong tổ chức
- Việc phân cấp quản lý dẫn đến sự tách bạch về quyền lợi và trách nhiệm giữa các bộ phận, có thể dẫn đến sự cạnh tranh thành tích giữa các bộ phận, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của toàn doanh nghiệp
1.3 NỘI DUNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM
Nội dung cơ bản để thực hiện hệ thống kế toán trách nhiệm bao gồm những vấn đề cụ thể như sau:
- Xác định các trung tâm trách nhiệm;
- Xác định các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá trách nhiệm quản trị
bộ phận;
- Xác định báo cáo trách nhiệm của từng trung tâm trách nhiệm
1.3.1 Xác định các trung tâm trách nhiệm
Trung tâm trách nhiệm là một chức năng hay một bộ phận trong một tổ chức, đặt dưới sự lãnh đạo của một nhà quản trị hoặc một cấp quản lý, chịu trách nhiệm trực tiếp với kết quả của chức năng hay bộ phận đó Trong một
tổ chức có thể được xác lập bởi bốn loại trung tâm trách nhiệm cơ bản sau: [4]
a Trung tâm chi phí
Trung tâm chi phí là một loại trung tâm trách nhiệm thể hiện phạm vi
cơ bản của hệ thống xác định chi phí, là điểm xuất phát của các hoạt động như: Lập dự toán chi phí, phân loại chi phí thực tế phát sinh, so sánh chi phí thực tế với định mức chi phí tiêu chuẩn Trung tâm chi phí gắn liền với cấp quản lý mang tính chất tác nghiệp, trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ, hoặc gián tiếp phục vụ kinh doanh Theo đó, người quản lý chỉ chịu trách nhiệm hoặc chỉ có quyền kiểm soát đối với chi phí phát sinh ở bộ phận mình, không
có quyền đối với việc tiêu thụ và đầu tư vốn Trung tâm chi phí được chia thành hai dạng:
- Trung tâm chi phí định mức: là trung tâm chi phí mà các yếu tố chi
Trang 22phí và các mức hao phí về các nguồn lực sử dụng để sản xuất một đơn vị sản phẩm, dịch vụ đều được xây dựng định mức cụ thể Nhà quản trị trung tâm chi phí định mức có trách nhiệm kiểm soát chi phí thực tế phát sinh để vẫn đảm bảo kế hoạch sản xuất cũng như đảm bảo kế hoạch chi phí cho từng đơn
vị sản phẩm, dịch vụ và tính cho toàn bộ Đối với trung tâm này thì hiệu suất được đo lường bởi mối liên hệ giữa đầu vào và đầu ra, còn tính hiệu quả được
đo lường bằng mức độ trung tâm đạt được sản lượng mong muốn tại những mức độ về chất lượng và thời gian đã định
- Trung tâm chi phí dự toán: là trung tâm chi phí mà các yếu tố được dự toán và đánh giá căn cứ trên nhiệm vụ được giao tính chung, không thể xác định cụ thể cho từng đơn vị sản phẩm hoặc cho từng công việc của trung tâm Nhà quản trị trung tâm chi phí này có trách nhiệm kiểm soát chi phí thực tế phát sinh sao cho phù hợp với chi phí dự toán, đồng thời đảm bảo thực hiện nhiệm vụ được giao Đặc điểm của trung tâm chi phí này là các đầu ra không thể đo lường bằng các chỉ tiêu tài chính, hoặc không có sự liên hệ rõ ràng giữa các chi phí đã được sử dụng để tạo ra các kết quả đầu ra tương ứng Đánh giá hiệu quả của trung tâm này thường bằng cách so sánh chi phí giữa dự toán ngân sách đã định và thực tế thực hiện Tuy nhiên, cách so sánh này chỉ cho kết quả tương đối, nên cần phải kết hợp một số chỉ tiêu phi tài chính về mức
độ và chất lượng của các dịch vụ mà các trung tâm này cung cấp
b Trung tâm doanh thu
Là trung tâm trách nhiệm mà người quản lý chỉ có trách nhiệm với doanh thu cần tạo ra, không chịu trách nhiệm với lợi nhuận và vốn đầu tư Trung tâm doanh thu có quyền quyết định công việc bán hàng trong khung giá
cả cho phép để tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp Trong trường hợp này nhà quản lý có thể ra quyết định loại sản phẩm nào cần sản xuất, sản xuất như thế nào, mức độ chất lượng, giá cả, hệ thống phân phối và bán hàng Nhà quản lý
Trang 23phải quyết định các nguồn lực sản xuất được phân bổ như thế nào giữa các sản phẩm, điều đó cũng có nghĩa là họ phải đạt được sự cân bằng trong việc phối hợp giữa các yếu tố giá cả, sản lượng, chất lượng và chi phí
Trung tâm này thường được gắn với bậc quản lý cấp trung hoặc cấp cơ
sở, đó là các bộ phận kinh doanh trong đơn vị như các chi nhánh tiêu thụ, khu vực tiêu thụ
c Trung tâm lợi nhuận
Là loại trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị phải chịu trách nhiệm với kết quả sản xuất và tiêu thụ của trung tâm
Loại trung tâm trách nhiệm này thường được gắn với bậc quản lý cấp trung, đó là giám đốc điều hành trong công ty, các đơn vị kinh doanh trong tổng công ty như các công ty phụ thuộc, các chi nhánh
d Trung tâm đầu tư
Là loại trung tâm trách nhiệm gắn với bậc quản lý cấp cao như Hội đồng quản trị công ty, các công ty con độc lập Đó là sự tổng quát hóa của các trung tâm lợi nhuận, trong đó khả năng sinh lời gắn với các tài sản được
sử dụng để tạo ra lợi nhuận đó Một trung tâm trách nhiệm được xem là trung tâm đầu tư khi nhà quản trị của trung tâm đó không những quản lý chi phí và doanh thu mà còn quyết định lượng vốn để tiến hành quá trình đó
1.3.2 Xác định các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá trách nhiệm các trung tâm trách nhiệm [4]
a Quan điểm đánh giá trách nhiệm các trung tâm trách nhiệm
Để đo lường đánh giá các trung tâm trách nhiệm, có hai loại chỉ tiêu cơ bản thường được sử dụng là chỉ tiêu hiệu quả và chỉ tiêu hiệu năng
Chỉ tiêu hiệu quả (kết quả) là mức độ các trung tâm trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ đề ra, có thể là số tuyệt đối hoặc tương đối Ví dụ như nhà quản lý đặt ra doanh thu cần đạt cho trung tâm doanh thu, mức tỷ lệ hòa vốn
Trang 24của trung tâm lợi nhuận, mức thực hiện thực tế so với kế hoạch của mỗi bộ phận
Chỉ tiêu hiệu năng là tỷ lệ so sánh giữa tổng đầu ra và tổng đầu vào của một trung tâm trách nhiệm Nó cho thấy kết quả thực tế đạt được so với các nguồn lực được sử dụng để tạo ra kết quả đó, có nghĩa là xác định mức trung bình kết quả mang lại trên mỗi đơn vị đầu vào Ví dụ như chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn, trên tài sản Ngược lại, tỷ lệ so sánh giữa đầu vào và đầu ra cho ta trung bình số lượng đầu vào tiêu hao trên mỗi đơn vị đầu ra, như tỷ lệ chi phí trên mỗi sản phẩm làm được, chi phí vốn
b Phương pháp đánh giá trách nhiệm các trung tâm trách nhiệm
Đánh giá trách nhiệm quản trị của các cấp quản lý cũng như việc đo lường thành quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm, bằng cách lấy kết quả thực hiện của các trung tâm trách nhiệm, so sánh đối chiếu với số liệu dự toán ban đầu trên cả hai mặt hiệu quả và hiệu năng Do đầu ra và đầu vào của mỗi trung tâm trách nhiệm khác nhau, vì vậy các chỉ tiêu đo lường cho từng loại trung tâm cũng khác nhau
- Đánh giá thành quả của trung tâm chi phí:
Đối với trung tâm chi phí cần được phân biệt làm hai dạng đó là trung tâm chi phí tiêu chuẩn và trung tâm chi phí dự toán Thông tin chủ yếu sử dụng để đánh giá thành quả của các nhà quản trị ở trung tâm chi phí là chi phí
có thể kiểm soát bởi từng nhà quản trị đối với bộ phận do mình phụ trách Bằng phương pháp so sánh chi phí thực tế với chi phí dự toán, nhà quản trị có thể biết được chênh lệch nào là thuận lợi, chênh lệch nào là bất lợi Chênh lệch nào do biến động của khối lượng hoạt động, chênh lệch nào do thành quả kiểm soát chi phí mang lại
Nhà quản trị trung tâm chi phí có trách nhiệm điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh ở trung tâm sao cho đạt được kế hoạch được giao, đồng thời
Trang 25đảm bảo chi phí thực tế phát sinh không vượt quá chi phí tiêu chuẩn (hoặc dự toán) Do vậy, khi đánh giá trách nhiệm quản trị cũng như đo lường kết quả hoạt động của loại trung tâm này, chúng ta cần đánh giá hai chỉ tiêu cơ bản sau:
+ Có hoàn thành nhiệm vụ được giao về sản lượng sản xuất kinh doanh hay không?
+ Chi phí thực tế phát sinh có vượt quá định mức tiêu chuẩn (hoặc dự toán) hay không?
Trường hợp hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh nhưng chi phí thực tế vượt quá định mức (dự toán), thì sẽ tiến hành phân tích xác định nguyên nhân để làm cơ sở đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp một cách chính xác hơn
- Đánh giá thành quả của trung tâm doanh thu:
Trách nhiệm của nhà quản trị ở trung tâm doanh thu là tổ chức tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ sao cho đạt được doanh thu trong kỳ nhiều nhất của bộ phận do mình kiểm soát Theo đó, chúng ta sẽ đối chiếu doanh thu thực tế đạt được so với doanh thu dự toán của bộ phận, xem xét tình hình thực hiện dự toán tiêu thụ, trên cơ sở đó phân tích sai biệt doanh thu do ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan, như đơn giá bán, khối lượng tiêu thụ và cơ cấu sản phẩm tiêu thụ
Do đầu ra của trung tâm doanh thu được lượng hóa bằng tiền, nhưng đầu vào thì trung tâm này không chịu trách nhiệm về giá thành sản phẩm hay giá vốn hàng bán Trong khi đó chi phí phát sinh tại trung tâm thì không thể
so sánh được với doanh thu của trung tâm, vì vậy để đo lường hiệu năng hoạt động của trung tâm này, chúng ta sẽ so sánh giữa chi phí thực tế và chi phí dự toán của trung tâm
Trang 26- Đánh giá thành quả của trung tâm lợi nhuận:
Trách nhiệm của nhà quản trị ở trung tâm lợi nhuận là tổ chức hoạt động kinh doanh sao cho lợi nhuận đạt được là cao nhất Nhà quản trị trung tâm lợi nhuận được giao vốn và quyền quyết định trong việc sử dụng số vốn
đó để tạo ra lợi nhuận Do vậy, bên cạnh trách nhiệm phải tạo ra lợi nhuận cao, trung tâm lợi nhuận còn có trách nhiệm kiểm soát chi phí phát sinh Chính vì vậy, để đánh giá kết quả của trung tâm lợi nhuận, chúng ta cần đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu lợi nhuận, giá bán và lượng bán
+ Đối với chỉ tiêu lợi nhuận: cần xác định sai biệt giữa lợi nhuận thực hiện so với lợi nhuận kế hoạch được giao cả về số tuyệt đối lẫn tương đối
+ Do lợi nhuận tạo ra trong kỳ của doanh nghiệp là phần còn lại của doanh thu sau khi trừ chi phí phát sinh tương ứng tạo ra doanh thu đó, nên doanh thu và chi phí là hai nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận Để đánh giá chính xác kết quả của trung tâm lợi nhuận, chúng ta cần xác định phạm vi chi phí mà nhà quản trị trung tâm có thể kiểm soát được, rồi áp dụng phương pháp phân tích biến động chi phí như phương pháp áp dụng ở các trung tâm chi phí Riêng chỉ tiêu doanh thu, cần đánh giá ở các khía cạnh sau:
Trung tâm có đạt được mức tiêu thụ dự toán không?
Trung tâm có thực hiện giá bán đúng như dự toán hay không?
Trung tâm có thực hiện cơ cấu hàng bán đúng như dự toán hay không? Khi đánh giá chênh lệch giữa doanh thu thực hiện so với doanh thu dự toán ta cần tiến hành phân tích xác định các nhân tố ảnh hưởng, trên cơ sở đó xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan làm biến động doanh thu
+ Ngoài ra, còn có thể sử dụng các chỉ tiêu như số dư bộ phận, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất doanh thu trên chi phí để đánh giá thành quả hoạt động của các trung tâm lợi nhuận
Trang 27- Đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư:
Về bản chất có thể xem trung tâm đầu tư là một dạng mở rộng của trung tâm lợi nhuận, trong đó nhà quản trị có nhiều quyền hạn và trách nhiệm hơn, vì ngoài việc đưa ra các quyết định ngắn hạn như xác định cơ cấu sản phẩm, giá bán, chi phí sản phẩm, họ còn có quyền kiểm soát và đưa ra các quyết định về vốn đầu tư của doanh nghiệp Vì vậy, về mặt hiệu quả hoạt động của trung tâm đầu tư có thể được đo lường giống như trung tâm lợi nhuận, nhưng về hiệu năng hoạt động thì cần có sự so sánh lợi nhuận đạt được với tài sản hay giá trị đã đầu tư vào trung tâm Các chỉ tiêu cơ bản có thể sử dụng để đánh giá hiệu năng hoạt động của trung tâm đầu tư như: Tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI), lãi thặng dư (RI), giá thị trường của tài sản của doanh nghiệp
+ Tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI)
ROI là tỷ số giữa lợi nhuận thuần trên vốn đầu tư đã bỏ ra hay theo Du Pont thì ROI còn được phân tích là tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu nhân với vòng quay vốn đầu tư
Mục tiêu đầu tiên của việc sử dụng ROI là việc đánh giá hiệu quả đầu
tư của các trung tâm đầu tư và các doanh nghiệp với quy mô vốn khác nhau,
để phân tích xem nơi nào đạt hiệu quả cao nhất, từ đó làm cơ sở đánh giá thành quả quản lý
Mục tiêu thứ hai khi sử dụng ROI để tìm ra nhân tố tác động đến hiệu quả quản lý, nhằm tìm ra các giải pháp để làm cho kết quả hoạt động được tốt hơn Đó là các biện pháp cải thiện doanh thu, kiểm soát chi phí hay tính lại cơ cấu vốn đầu tư
ROI =
Vốn đầu tư = Doanh thu X Vốn đầu tư
Trang 28Hay: ROI = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu x Số vòng quay của vốn đầu tư Lợi nhuận sử dụng trong công thức là lợi nhuận thuần trước thuế thu nhập, lý do sử dụng lợi nhuận thuần là để phù hợp với doanh thu và vốn hoạt động đã tạo ra nó và để xác định vòng quay vốn Vốn hoạt động được sử dụng trong ROI ở điều kiện bình thường là vốn bình quân giữa đầu năm và cuối năm Nếu vốn trong năm biến động liên tục thì phải tính bình quân từng tháng
+ Lãi thặng dư (RI)
Lãi thặng dư (hay lợi tức còn lại) là khoản thu nhập của bộ phận hay toàn doanh nghiệp, được trừ đi chi phí sử dụng vốn mong đợi đã đầu tư vào
bộ phận đó Chỉ số này nhấn mạnh thêm khả năng sinh lời vượt trên chi phí vốn đã đầu tư vào một bộ phận hay toàn doanh nghiệp
Mục tiêu thứ nhất của việc sử dụng chỉ số RI là cho biết lợi nhuận thực
tế đã mang lại là bao nhiêu, sau khi trừ đi các khoản chi phí sử dụng vốn để
có được lợi nhuận trên
Mục tiêu thứ hai của việc sử dụng chỉ số RI là cho biết có nên đầu tư gia tăng hay không, mà khi sử dụng chỉ số ROI không đủ cơ sở để quyết định
Công thức: RI = P – R
Trong đó:
RI: Lãi thăng dư
P: Lợi tức của trung tâm đầu tư
R: Chi phí sử dụng vốn bình quân
Hay:
Lãi thặng dư (RI) = Lợi tức của trung tâm đầu tư – (Vốn đầu tư x Tỷ suất chi phí vốn)
Sử dụng chỉ tiêu lãi thặng dư làm thước đo kết quả bộ phận có ưu điểm
là đánh giá đúng kết quả của các trung tâm đầu tư, vì chỉ tiêu này đã đặt các trung tâm đầu tư lên cùng một mặt bằng so sánh Ngoài ra, lãi thặng dư còn
Trang 29khuyến khích các nhà quản trị bộ phận chấp nhận bất kỳ cơ hội kinh doanh nào, được dự kiến sẽ mang lại ROI cao hơn ROI bình quân
Tuy nhiên, RI cũng có nhược điểm là do RI là một chỉ tiêu được thể hiện bằng số tuyệt đối, nên không thể sử dụng RI để so sánh thành quả quản
lý của các nhà quản trị ở các trung tâm đầu tư có tài sản được đầu tư khác nhau Vì trong thực tế, nếu dùng RI đánh giá thì RI thường có khuynh hướng lạc quan nghiêng về những nơi có quy mô vốn lớn
Như vậy, để đánh giá kết quả trung tâm đầu tư, nhà quản trị cần sử dụng kết hợp các chỉ tiêu cơ bản như ROI, RI, với việc xem xét mức chênh lệch trong việc thực hiện các chỉ tiêu giữa thực tế so với kế hoạch
1.3.3 Báo cáo trách nhiệm của các trung tâm trách nhiệm
Thành quả của mỗi trung tâm trách nhiệm được tổng hợp định kỳ trên một báo cáo kế toán trách nhiệm (gọi tắt là báo cáo trách nhiệm) Báo cáo trách nhiệm của từng trung tâm sẽ phản ánh kết quả tài chính chủ yếu theo thực tế và theo dự toán, đồng thời chỉ ra các chênh lệch giữa kết quả thực tế
so với dự toán, theo từng chỉ tiêu được chuyển tải trong báo cáo phù hợp với từng loại trung tâm trách nhiệm Ví dụ, báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí gồm các khoản mục chi phí thực tế, chi phí dự toán và các khoản chênh lệch giữa chi phí thực tế so với dự toán; báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận là báo cáo tình hình thực hiện dự toán lợi nhuận theo hình thức số dư đảm phí, báo cáo thu nhập số dư bộ phận Như vậy báo cáo trách nhiệm chú trọng vào việc thực hiện các dự toán và phân tích các chênh lệch, vì thế để so sánh đánh giá các khoản chênh lệch này một cách phù hợp và đúng đắn, người ta thường sử dụng dự toán linh hoạt nhằm cung cấp một mức chuẩn cho việc so sánh, đánh giá tình hình thực hiện dự toán doanh thu, chi phí và lợi nhuận [5]
Căn cứ vào trách nhiệm báo cáo thì hệ thống báo cáo trách nhiệm được
Trang 30chia thành bốn nhóm báo cáo, ứng với bốn loại trung tâm trách nhiệm sau:
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm đầu tư
Các báo cáo của các trung tâm chi phí được trình bày theo các cấp quản
lý tương ứng với các bộ phận thuộc trung tâm Báo cáo sẽ được thực hiện theo luồng thông tin từ dưới lên trên và trách nhiệm chi tiết đến từng bộ phận
sẽ tuỳ thuộc vào cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của từng công ty [5]
Báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu là báo cáo nhằm đánh giá trách nhiệm và thành quả hoạt động, dựa trên báo cáo thực hiện doanh thu thực tế so với doanh thu dự toán ban đầu, đồng thời kèm theo phân tích ảnh hưởng của các nhân tố như giá bán, sản lương tiêu thụ, cơ cấu sản phẩm tiêu thụ, đến sự biến động của doanh thu của trung tâm Và cũng tương tự như trung tâm chi phí, mức độ chi tiết theo các cấp độ quản lý sẽ tùy thuộc vào cơ cấu tổ chức của công ty [5]
Nguyên tắc có thể kiểm soát được áp dụng cho quá trình báo cáo trách nhiệm của các trung tâm lợi nhuận Báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận là các báo cáo nhằm đánh giá trách nhiệm của trung tâm này dựa trên Báo cáo kết quả kinh doanh và thường được trình bày theo dạng số dư đảm phí, nhằm xác định số dư của từng bộ phận trong phạm vi được phân cấp và kiểm soát về chi phí, doanh thu của họ, đồng thời qua đó cũng đánh giá được phần đóng góp của từng bộ phận vào lợi nhuận chung của công ty [5]
Để đánh giá trách nhiệm của trung tâm đầu tư, nhà quản trị thường sử dụng báo cáo thông qua các chỉ tiêu cơ bản như: Tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI), Lãi thặng dư (RI) [5]
Tóm lại, Báo cáo trách nhiệm là sản phẩm cuối cùng và cao cấp nhất
Trang 31của hệ thống trách nhiệm, là một bộ phận quan trọng trong hệ thống báo cáo
kế toán quản trị doanh nghiệp Mỗi trung tâm trách nhiệm, mỗi bộ phận sẽ có báo cáo riêng mang tính chất đặc thù, trong đó nội dung báo cáo gắn liền với các chỉ tiêu nhằm đánh giá hoạt động của các trung tâm trách nhiệm hay bộ phận đó Trong thực tế không có mẫu biểu chính xác và chi tiết của một bảng báo cáo kết quả hoạt động của từng bộ phận trong các doanh nghiệp, mà vấn
đề này phụ thuộc vào từng tổ chức kinh tế, từng doanh nghiệp cụ thể và bản chất của trung tâm trách nhiệm [4]
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Ngày nay môi trường kinh doanh có sự chuyển biến và sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới tư duy và phương thức quản lý sao cho phù hợp điều kiện kinh tế, đặc điểm riêng từng qui mô trong doanh nghiệp Và quan trọng, cấp thiết nhất là tại các doanh nghiệp có quy mô lớn đòi hỏi phải có sự phân cấp và phân quyền quản lý hết sức rõ ràng, khoa học trên cơ sở nhanh chóng đổi mới phương thức quản lý phù hợp nhất của nhà quản trị doanh nghiệp Vì vậy kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị, ngày càng có vai trò và vị trí quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp được xây dựng dựa trên nền tảng một tổ chức phân quyền, là công cụ giúp cho nhà quản trị có thể theo dõi, quản lý, đánh giá thành quả sử dụng các nguồn lực thuộc quyền kiểm soát của các bộ phận, xác lập và nối kết sự phân cấp trong quản lý với mục tiêu chung của tổ chức
Chương 1 giới thiệu tổng quát về kế toán trách nhiệm nói chung và hệ thống báo cáo trách nhiệm nói riêng, làm cơ sở lý luận nghiên cứu cho các chương sau Trong đó mỗi doanh nghiệp có thể bao gồm bốn loại trung tâm trách nhiệm là trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và
Trang 32trung tâm đầu tư, mỗi trung tâm sẽ tương ứng với một cấp quản trị thích hợp, phụ thuộc vào quyền kiểm soát của nhà quản trị đối với trung tâm đó Căn cứ vào các chỉ tiêu đo lường thành quả các trung tâm trách nhiệm, vận dụng các công cụ kỹ thuật để đo lường sẽ đánh giá thành quả các trung tâm trách nhiệm Và cuối cùng, thể hiện những vấn đề đó trên báo cáo thành quả của từng trung tâm như báo cáo thành quả của trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư
Với tư duy quản lý chuyên môn hóa cùng với sự phát triển, liên kết ngày càng sâu rộng của các doanh nghiệp trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới, sự phân cấp, phân quyền quản lý là yêu cầu thiết yếu, vì vậy đây chính là nền tảng thực tiễn để áp dụng kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp Việt Nam
Trang 33CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN PYMEPHARCO
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN PYMEPHARCO
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Tên Công ty: Công ty Cổ phần PYMEPHARCO
Tên Tiếng Anh: PYMEPHARCO
Tên viết tắt: PMP LABS
Biểu tượng của Công ty:
Trụ sở : 166 – 170 Nguyễn Huệ, TP Tuy Hòa, Phú Yên
Giấy CNĐKKD: Số 3603000168 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Yên cấp ngày 03/05/2006, cấp thay đổi lần 3 ngày 07/11/2007
Vốn điều lệ đăng ký: 85.000.000.000 đồng (Tám mươi lăm tỷ đồng)
- Công ty cổ phần PYMepharco được thành lập từ cổ phần hóa Công ty Dược và Vật tư Y tế Phú Yên Tháng 07/1989, Công ty Cổ phần PYMepharco được UBND tỉnh Phú Yên cho phép thành lập với chức năng tổ chức, cung ứng thuốc tân dược và trang thiết bị y tế theo Quyết định số 94A/QĐ-UB ngày 23/07/1989, văn phòng Công ty đóng tại trụ sở 163 - 165 Lê Lợi, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
- Năm 1993, Công ty thành lập chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh Ngày 21/09/1993, Công ty được Bộ thương mại cấp phép xuất nhập khẩu trực tiếp chuyên ngành về y dược
- Đến 15/04/1998, Công ty thay đổi đăng ký kinh doanh trên cơ sở các
Trang 34ngành nghề kinh doanh cũ và bổ sung thêm các ngành nghề sau:
+ Xuất nhập khẩu mỹ phẩm và nguyên liệu hoá chất dùng sản xuất mỹ phẩm;
+ Xuất nhập khẩu thuốc thú y và nguyên liệu sản xuất thuốc thú y
- Tháng 10/2003, nhà máy dược phẩm PYMepharco đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (Good Manufacturing Practices - GMP) chính thức đi vào hoạt động với ba phân xưởng Beta – Lactam, Non – Beta Lactam, viên nang mềm Với phương châm chính sách: chất lượng cao, ổn định và đồng nhất, Công ty Cổ phần PYMepharco hướng tới hiệu quả tối ưu, do đó đã đầu
tư trang bị hệ thống máy móc hiện đại và công nghệ tiên tiến, cũng như tập trung lực lượng cán bộ khoa học đủ năng lực, trình độ chuyên môn cao
- Công ty Cổ phần PYMepharco là nhà sản xuất nhượng quyền cho các sản phẩm kháng sinh Cephalosporin của các công ty dược phẩm có uy tín như Orchid (Ấn Độ), SamchunDang (Hàn Quốc)… và đặc biệt là Công ty Stada (Đức) Nhà máy dược phẩm PYMepharco đạt tiêu chuẩn GMP hiện có gần
400 Sản phẩm được Bộ Y tế cấp số đăng ký lưu hành với sự phong phú về chủng loại và hình thức sản phẩm
- Ngày 17/01/2006, nhà máy được cấp giấy chứng nhận GMP của Tổ chức y tế Thế giới (WHO)
- Tháng 05/2006 Công ty chính thức chuyển đổi thành Công ty Cổ phần PYMepharco, viết tắt PMP LABS, với tổng giá trị tài sản hơn 231 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ là 24,5 tỷ đồng Chức năng kinh doanh chính là sản xuất thuốc tân dược; kinh doanh bán buôn, bán lẻ thuốc tân dược, hóa chất và trang thiết bị y tế; xuất nhập khẩu trực tiếp các loại thuốc tân dược, vật tư, hóa chất và trang thiết bị y tế, nguyên liệu sản xuất thuốc, mỹ phẩm, thuốc thú y
- Tháng 06/ 2007 Công ty tăng vốn điều lệ mới lên 85 tỷ đồng nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất, kinh doanh và đầu tư xây dựng các lĩnh
Trang 35vực khác như: Dự án Bệnh viện Quốc tế tại Phú Yên
- Tháng 4/2008, Công ty đã khánh thành Nhà máy thuốc tiêm gồm các dạng sản phẩm: thuốc ống, lọ bột, lọ đông khô và nhỏ mắt theo tiêu chuẩn WHO-GMP
- Với những phấn đấu không ngừng, Công ty đã đạt những thành quả đáng khích lệ như:
+ Năm 2002: Chính phủ trao tặng cờ thi đua cho đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua
+ Năm 2003: Là thành viên chính thức của Phòng Thương mại công nghiệp Việt nam (VCCI)
+ Năm 2004: Chủ tịch nước trao tặng Huân chương lao động hạng III cùng nhiều cờ khen thưởng của Bộ Y tế và tỉnh Phú Yên
+ Là thành viên chính thức của Hiệp hội sản xuất kinh doanh Dược Việt Nam
+ Năm 2005: Là một trong những nhà sản xuất Dược phẩm Việt Nam tiên phong trong việc áp dụng tiêu chuẩn WHO-GMP
+ Huy chương vàng Expo 2005, cúp vàng Expo 2007
+ Doanh nghiệp Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao 2006, 2007
+ Cúp vàng Thương hiệu Việt 2006, 2007
- Với kinh nghiệm tích lũy trong nhiều năm qua và tiềm lực vốn có, Công ty đã nhận được sự tín nhiệm của nhiều đối tác trong và ngoài nước Thương hiệu PYMEPHARCO đã tạo được vị thế vững chắc và có uy tín trên thị trường trong và ngoài nước
- Hiện nay Công ty có: 2 nhà máy (thuốc viên, thuốc tiêm) đạt tiêu chuẩn GMS-WHO; 8 Phòng ban; 10 chi nhánh đặt tại: TPHCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ, An Giang, Lâm Đồng, Nha Trang, Cà Mau; 11 cửa hàng đóng trên địa bàn thành phố Tuy Hòa và 273 đại lý phân phối phủ khắp các
Trang 36tỉnh thành toàn quốc
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty
a Chức năng
- Sản xuất kinh doanh các mặt hàng dược được sự cho phép của Bộ y tế
- Kinh doanh và cung cấp các loại thuốc tân dược, hóa chất, dụng cụ y
tế, vật tư và trang thiết bị y tế cho các bệnh viện, cơ sở y tế;
- Xuất nhập khẩu trực tiếp các loại dược phẩm, dược liệu, vật tư thiết
bị, phương tiện phục vụ y tế
b Nhiệm vụ
- Sản xuất kinh doanh theo đúng ngành nghề đã đăng ký;
- Nghiên cứu nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong và ngoài nước;
- Quản lý, sử dụng nguồn vốn, tài sản của Công ty một cách hiệu quả
và tạo thêm nguồn vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng chế độ chính sách;
- Tuân thủ các chính sách, chế độ quản lý kinh tế và quản lý xuất nhập khẩu của Nhà nước;
- Thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng mua bán, hợp tác đầu
tư với các tổ chức kinh tế quốc doanh, các thành phần kinh tế khác;
- Quản lý tốt cán bộ công nhân viên của Công ty theo đúng chính sách chế độ của Nhà nước và không ngừng cải thiện điều kiện lao động, sinh hoạt của cán bộ công nhân viên nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả trong quản lý;
- Làm tốt công tác bảo hộ và an toàn lao động, bảo vệ môi trường
- Định hướng hoạt động của Công ty trong thời gian đến:
+ Xây dựng Công ty Cổ phần PYMepharco thành một trong những công ty dược hàng đầu trong cả nước và khu vực;
+ Nâng cao chất lượng các mặt hàng thuốc tân dược, đa dạng hóa sản
Trang 37phẩm với giá thành rẻ nhằm tạo lợi thế trong cạnh tranh và uy tín sản phẩm trên thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài;
+ Mở rộng liên doanh liên kết với các công ty trong và ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng;
+ Góp phần bình ổn giá thuốc trên thị trường, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong tỉnh, tăng thu ngân sách và thực hiện các nhiệm
vụ do Nhà nước giao và nâng cao thu nhập và đời sống tinh thần cho người lao động;
+ Liên doanh, liên kết với các đối tác trong và ngoài nước nhằm mở rộng quy mô và đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh
2.1.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật và tổ chức quản lý tại Công ty
a Đặc điểm kinh tế kỹ thuật
- Mặt hàng sản xuất kinh doanh: Sản phẩm của Công ty khá đa dạng bao gồm các loại dược phẩm chữa bệnh, dược liệu Hiện nay, Công ty có gần
400 sản phẩm được Bộ Y Tế cấp số đăng ký lưu hành với sự phong phú về chủng loại và hình thức sản phẩm, bao gồm các sản phẩm liên doanh sản xuất nhượng quyền và các sản phẩm do Công ty sản xuất:
- Sản phẩm liên doanh: Công ty liên doanh với các công ty sản xuất dược nước ngoài hàng đầu như Stada GmbH Pharm (Đức), Orchid Healthcare Pharm (Ấn Độ), Synmedic Laboratories (Ấn Độ), Kwangmyung Pharm (Hàn Quốc), Samchundang Pharm (Hàn Quốc)… sản xuất nhượng quyền các sản phẩm thuốc kháng sinh và thuốc biệt dược Đặc biệt là Công
ty đã trở thành đối tác hàng đầu của hãng sản xuất dược phẩm hàng đầu thế giới là Stada GmbH Pharm – Đức – để sản xuất các loại thuốc kháng sinh đặc trị theo công nghệ và quy trình sản xuất của Stada như: Cephalexin, Cefuroxim, Cafadroxil, Cefixim, Cefaclor, Lincomycin, Nifedipin
Với việc sản xuất các sản phẩm thuốc đặc trị tại Việt Nam dưới hình
Trang 38thức nhượng quyền, Công ty đáp ứng nhu cầu của người dân về các sản phẩm thuốc đặc trị thay thế hàng ngoại nhập với giá thành thấp, giúp đảm bảo việc điều trị của bệnh nhân được thực hiện đúng yêu cầu và vẫn đạt hiệu quả cao
- Sản phẩm do Công ty sản xuất: Sản phẩm thuốc và biệt dược do Công ty nghiên cứu và sản xuất trên dây chuyền sản xuất hiện đại, tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn sản xuất của ngành y tế như GMP, GSP, GLP Nhà máy dược phẩm PYMepharco đạt tiêu chuẩn GMP-WHO với phân xưởng Beta – lactam, Non Beta – lactam, viên nang mềm Bên cạnh việc đầu
tư trang bị hệ thống máy móc hiện đại và công nghệ tiên tiến, Công ty cũng tập trung một lực lượng cán bộ khoa học đủ năng lực, trình độ chuyên môn cao không ngừng nghiên cứu cải tiến và cho ra đời những sản phẩm mới, đa dạng, đáp ứng nhu cầu chăm sóc y tế ngày càng cao của người dân
- Theo chức năng điều trị, sản phẩm của Công ty được chia thành các nhóm chính:
+ Nhóm thuốc kháng sinh;
+ Nhóm thuốc tác dụng trên hệ tiêu hoá và gan mật;
+ Nhóm thuốc tác dụng trên hệ tim mạch;
+ Nhóm thuốc tác dụng trên hệ thần kinh – cơ;
+ Nhóm thuốc điều trị dị ứng;
+ Nhóm thuốc tác dụng lên hệ nội tiết và chuyển hoá;
+ Nhóm thuốc tác dụng lên hệ tiết niệu – sinh dục;
+ Nhóm thuốc hoá trị liệu khác: thuốc diệt amib, thuốc giun sán; thuốc kháng virus;
+ Nhóm Vitamin và chất khoáng;
+ Nhóm thuốc bổ
- Đặc điểm nguyên vật liệu:
Nguyên vật liệu dùng trong hoạt động sản xuất của Công ty là các loại
Trang 39hóa chất, dược liệu, bao bì… yêu cầu phải đạt tiêu chuẩn theo quy định, bảo quản theo chế độ riêng
Nguồn nguyên liệu chính của Công ty được nhập khẩu từ các nhà sản xuất dược liệu nổi tiếng trên thế giới tại Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á với chất lượng và nguồn cung ứng của các loại dược liệu có tính ổn định Bao bì (nhôm, hộp) ưu tiên lựa chọn các nguồn cung cấp có uy tín trong nước như Công ty SX-KD XNK giấy, in và bao bì Liksin, Công ty Visingpack; Công ty TNHH bao bì Tấn Thành Nguyên vật liệu trực tiếp, chiếm tỷ trọng từ 40% đến 70% tùy thuộc vào cơ cấu giá thành của từng loại sản phẩm của Công ty Mặt khác, do Công ty không được chủ động trong việc tăng giá bán sản phẩm nên sự tăng giá của nguyên vật liệu tất yếu ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Vì vậy Công ty rất chú trọng công tác thu mua, bảo quản và sản xuất liên tục nhằm hạn chế các tổn thất do nguyên liệu không đạt yêu cầu gây ra
- Công nghệ sản xuất:
Theo chiến lược phát triển của Công ty, sản phẩm của Pymepharco vừa phục vụ thị trường nội địa vừa nhắm tới mục tiêu xuất khẩu sang các nước Do vậy, để bảo đảm yêu cầu quản lý chất lượng tương đương tiêu chuẩn các nước trên thế giới, Công ty quyết định lựa chọn dây chuyền công nghệ đạt tiêu chuẩn WHO-GMP, FDA-GMP, EURO-GMP cho việc sản xuất các sản phẩm thuốc tân dược
Công ty luôn chú trọng đến việc cải tiến và phát triển trình độ công nghệ dưới các hình thức nhận chuyển giao công nghệ, liên kết kỹ thuật công nghệ với các đối tác uy tín trên thế giới: Công ty Stada (Đức), Công ty Dược phẩm N.D.F (Tây Ban Nha) Công ty cũng thường xuyên tiến hành thuê chuyên gia tư vấn từ các quốc gia có nền sản xuất dược phẩm phát triển như các nước ở Châu Âu và Mỹ đến làm việc trực tiếp tại nhà máy Nhằm nâng
Trang 40cao khả năng nghiên cứu cải tiến sản phẩm, Công ty đã chủ động xây dựng R& F (Research & Formulation) liên kết với Stada JV (Đức) tại Việt Nam
So với các công ty sản xuất dược phẩm khác, Pymepharco chỉ chiếm một thị phần khiêm tốn trên thị trường Pymepharco là một Công ty trẻ, mới bắt đầu có thương hiệu và thực hiện việc tiếp thị sản phẩm đến người tiêu dùng trong vài năm trở lại đây Với hướng đi là trở thành nhà sản xuất tân dược hàng đầu Việt Nam, Công ty hết sức tập trung trong việc cung cấp các sản phẩm tân dược thuộc dòng điều trị và kháng sinh thường được nhập khẩu của nước ngoài có giá thành khá cao đối với người tiêu dùng Pymepharco cũng là một trong số ít cơ sở sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP trong tổng
số hơn 170 công ty sản xuất tân dược trong cả nước
Với việc sản xuất các sản phẩm tân dược có giá thành thấp, đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế và hiệu quả điều trị tương đương hàng ngoại nhập, Pymepharco là thương hiệu sản phẩm dược đã được giới chuyên môn và người tiêu dùng đánh giá cao trong những năm gần đây Cùng với việc được thị trường chấp nhận và tin tưởng, nhất là đối với những đơn vị sản xuất dược phẩm trong nước đạt được những chứng nhận chuyên môn của ngành, Pymepharco sẽ gia tăng thị phần trong những năm sắp tới
Là nhà sản xuất dược phẩm, Pymepharco đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quản lý chuyên biệt và các quy định khắc khe của Bộ Y tế và Tổ chức y tế thế giới như: GDP - Thực hành tốt phân phối thuốc (Good Distribution Practices), GPP - Thực hành tốt quản lý nhà thuốc (Good Pharmacy Practices), đã hình thành được hệ thống phân phối phủ rộng khắp lãnh thổ Việt Nam, từ Lạng Sơn đến Cà Mau Riêng tại tỉnh Phú Yên, mạng lưới này trải rộng chiếm 90% thị phần Công ty đã trúng thầu vào các bệnh viện lớn như: Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện 115, Bệnh viện Răng Hàm Mặt TW, Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh viện ĐH Y Dược 2… và các bệnh viện tuyến