Vì vậy, việc thực hiện công tác quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng tín dụng luôn là mục tiêu hàng đầu của các ngân hàng trong suốt quá trình hoạt động.. Ngoài ra
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
VŨ THỊ MINH TÂM
HOÀN THIỆN DANH MỤC CHO VAY
TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN NGỌC VŨ
Đà Nẵng – Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Vũ Thị Minh Tâm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DANH MỤC CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động cho vay 7
1.1.2 Vai trò của hoạt động cho vay 8
1.1.3 Phân loại cho vay 11
1.1.4 Nguyên tắc của hoạt động cho vay 13
1.2 DANH MỤC CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 14
1.2.1 Khái niệm danh mục cho vay, cơ cấu danh mục cho vay 14
1.2.2 Rủi ro danh mục cho vay của Ngân hàng thương mại 19
1.2.3 Mục tiêu của quản lý danh mục cho vay 20
1.2.4 Hiệu quả quản lý danh mục cho vay 21
1.2.5 Nội dung quản lý danh mục cho vay 22
1.2.6 Những nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý danh mục cho vay 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DANH MỤC CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH
BÌNH ĐỊNH QUA 03 NĂM 2010 – 2012 35
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH 35
2.1.1 Giới thiệu tổng quan về hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bình Định 35
2.1.2 Môi trường kinh doanh 39
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh qua 03 năm 2010 – 2012 41
2.2 THỰC TRẠNG DANH MỤC CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH 47
2.2.1 Cơ cấu danh mục cho vay 47
2.2.2 Rủi ro danh mục cho vay 55
2.2.3 Hiệu quả kinh doanh của danh mục cho vay 61
2.2.4 Thực trạng công tác quản trị tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bình Định từ 2010 đến 2012 63
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ DANH MỤC CHO VAY VÀ QUẢN TRỊ DANH MỤC CHO VAY TẠI BIDV BÌNH ĐỊNH 70
2.3.1 Thành tựu 70
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN DANH MỤC CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH 78
3.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 78
3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định 78
Trang 63.1.2 Định hướng kinh doanh của chi nhánh ngân hàng TMCP Đầu tư
và Phát triển Bình Định 78
3.1.3 Định hướng danh mục cho vay tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bình Định trong thời gian đến 80
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN DANH MỤC CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BÌNH ĐỊNH 82
3.2.1 Điều chỉnh cơ cấu danh mục cho vay 82
3.2.2 Hoàn thiện tổ chức công tác quản trị danh mục cho vay 84
3.2.3 Hoàn thiện công tác thiết lập danh mục cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bình Định 86
3.2.4 Giải pháp hoàn thiện công tác giám sát theo dõi, tái xét, đánh giá tổng thể danh mục và điều chỉnh quy mô và cơ cấu danh mục cho vay sau tái xét 87
3.2.5 Giải pháp bổ trợ 90
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 91
3.3.1 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 91
3.3.2 Kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 95
KẾT LUẬN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BIDV Việt Nam : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
BIDV Bình Định : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Bình Định
CBQHKH : Cán bộ quan hệ khách hàng
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
Trang 92.4 Biểu đồ tỷ lệ % cơ cấu cho vay phân theo ngành kinh tế
tại BIDV Bình Định từ năm 2010 đến năm 2012 48 2.5 Biểu đồ tỷ lệ % cơ cấu cho vay phân theo loại hình doanh
nghiệp tại BIDV Bình Định từ năm 2010 đến năm 2012 49 2.6 Biểu đồ dư nợ cho vay phân theo hình thức bảo đảm tại
2.7 Biểu đồ tỷ lệ % cơ cấu cho vay phân theo thời hạn tín
dụng tại BIDV Bình Định từ năm 2010 đến năm 2012 52 2.8 Biểu đồ tỷ lệ nợ xấu tại BIDV Bình Định từ năm 2010
2.9 Biểu đồ chênh lệch lãi suất bình quân cho vay và huy
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây phát triển khá nhanh và
ổn định, nhu cầu vốn đầu tư tăng để mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế cao, theo đó dư nợ tín dụng ngân hàng có
xu hướng gia tăng mạnh Tuy nhiên, đi kèm với việc phát triển, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đang phải gánh chịu sức ép rất lớn, vừa phải đáp ứng nhu cầu của khách hàng, vừa đối mặt với những thử thách không nhỏ về đối thủ cạnh tranh và phạm vi hoạt động Danh mục cho vay của nhiều ngân hàng thiếu sự đa dạng hóa, tập trung rủi ro cao Vì vậy, việc thực hiện công tác quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng tín dụng luôn là mục tiêu hàng đầu của các ngân hàng trong suốt quá trình hoạt động Ngoài
ra, trong quá trình kinh doanh luôn tiềm ẩn những rủi ro mà nhà quản trị doanh nghiệp khó lường trước được; thực trạng này đòi hỏi các ngân hàng phải nhạy bén trong việc nhận định rủi ro để có sự điều chỉnh kịp thời danh mục cho vay, hạn chế thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng mình, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận trong hoạt động cho vay, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bình Định (BIDV Bình Định) là một trong những NHTM có thị phần lớn nhất của tỉnh Trong những năm gần đây, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đang ngày càng đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động cho vay và đóng góp đáng kể cho nền kinh tế thông qua việc cấp vốn cho một loạt các công trình kinh tế trên cả nước, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của BIDV Bình Định, đơn vị kinh doanh trực thuộc chủ yếu khu vực Miền Trung Và trong cơ cấu tín dụng của BIDV Bình Định, tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp ngành xây dựng – doanh nghiệp lớn còn chiếm tỷ trọng chủ yếu Tuy nhiên, trong xu
Trang 11thế toàn cầu hóa nền kinh tế, ngoài nguồn thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng cao thì nguồn thu từ những hoạt động dịch vụ hiện đại cũng chiếm vai trò quan trọng đối với mỗi ngân hàng Và đối tượng khách hàng chính mang lại nguồn thu này là các DNVVN, cá nhân, hộ gia đình Điều đó bắt buộc các ngân hàng phải xem xét lại toàn bộ hoạt động của mình trong đó đặc biệt là việc quản lý, hoàn thiện danh mục cho vay khi mà Chi nhánh mới chỉ tập trung vào việc quản lý từng khoản vay riêng lẻ chưa kết hợp với việc xây dựng để hoàn thiện toàn bộ hệ thống DMCV, nhằm có sự phát triển đúng đắn về hoạt động tín dụng, khắc phục những hạn chế, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của Ngân hàng
Chính vì thế, việc nghiên cứu công tác này và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện danh mục cho vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bình Định là rất cấp thiết bối cảnh tăng trưởng mạnh về tín dụng nhưng phải đảm bảo chất lượng tín dụng Đó cũng chính là lý do em đã thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Hoàn thiện danh mục cho vay tại Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bình Định”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về danh mục danh mục cho vay của NHTM
- Đánh giá thực trạng danh mục cho vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bình Định qua 03 năm 2009 -2011 Xác định những kết quả đạt được, tồn tại trong công tác này và nguyên nhân của những tồn tại trong thời gian qua
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện danh mục cho vay tại Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bình Định trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận liên quan đến danh mục
Trang 12cho vay và thực tiễn danh mục cho vay tại BIDV Bình Định
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trong phạm vi khách hàng của BIDV Bình Định
+ Về nội dung: công tác hoàn thiện danh mục cho vay tại BIDV
+ Về đánh giá thực trạng: giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2011
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp để thống kê, so sánh và tổng hợp để làm sáng tỏ các vấn
đề và tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện danh mục cho vay tại BIDV Bình Định
Nguồn thông tin dữ liệu được lấy từ nhiều nguồn bao gồm: thông tin, số liệu của BIDV Bình Định
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về danh mục cho vay của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng danh mục cho vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bình Định qua 03 năm 2009 -2011
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện danh mục cho vay tại Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bình Định
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Giai đoạn 2008 – 2011, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới bùng nổ đã tác động tiêu cực đến các thành phần kinh tế nước ta Thêm vào đó là sự cạnh tranh ngành ngân hàng ngày càng gay gắt đã ảnh hưởng đến việc chọn lọc khách hàng, tiềm ẩn nhiều rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng Và thông thường ngân hàng chỉ đặt ra chỉ tiêu kế hoạch tổng dư nợ hằng năm cho toàn ngân hàng chứ chưa đặt ra cụ thể cho vay đối với từng
Trang 13lĩnh vực, sản phẩm Bên cạnh đó, việc kiểm soát quy mô và cơ cấu danh mục cho vay của Ngân hàng hiện nay cũng chưa chủ động, chủ yếu căn cứ trên nhu cầu vốn của khách hàng, khả năng nguồn vốn của ngân hàng Xác định quản lý danh mục cho vay là nội dung hết sức quan trọng trong công tác quản
lý rủi ro cho vay Quản lý danh mục cho vay cần được giám sát thường xuyên theo lãnh vực đầu tư, mặt hàng, khách hàng, nhóm khách hàng liên quan, từng sản phẩm tín dụng xem có phù hợp với chính sách tín dụng và tình hình thực
tế đã đề ra đối với danh mục cho vay của Ngân hàng Vì vậy, việc hoàn thiện danh mục cho vay đã dành được nhiều sự quan tâm và đánh giá của nhiều học giả Luận văn sử dụng một số kết quả nghiên cứu dưới đây để làm nền tảng lý luận và minh chứng cho những nhận định được trình bày trong luận văn Cụ thể như sau:
(1) Đề tài khoa học cấp ngành “Giải pháp chuyển dịch cơ cấu tín dụng của hệ thống ngân hàng phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển Kinh tế -
Xã hội giai đoạn 2010-2015” của TS Trần Thị Hồng Hạnh - Phó Vụ trưởng,
Vụ Tín dụng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: xác định cơ cấu TD chính là
tỷ trọng dư nợ TD được nhìn nhận, đánh giá theo các tiêu chí khác nhau nhằm phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Vì vậy, cơ cấu TD là một phạm trù khá rộng, nó có liên quan mật thiết với phạm trù cơ cấu kinh tế Cơ cấu TD có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau với cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế quyết định cơ cấu TD và cơ cấu TD phục
vụ cho mục tiêu, định hướng phát triển của cơ cấu kinh tế; cơ cấu TD có tác động trở lại đối với cơ cấu kinh tế TD là một “kênh” đầu tư vốn quan trọng (đặc biệt là Việt Nam) trong nền kinh tế quốc dân Việc tăng cường hay hạn chế (thực chất là điều chỉnh cơ cấu TD) sẽ góp phần vào việc thúc đẩy hoặc là kìm hãm sự phát triển của ngành, lĩnh vực kinh tế đó Nghiên cứu một cách đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn cơ cấu TD NH Việt Nam, từ đó đề ra các
Trang 14giải pháp chuyển dịch cơ cấu TD của hệ thống NH theo hướng chất lượng, hiệu quả, phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2010-2015 là hết sức cấp thiết
(2) Luận án tiến sĩ kinh tế đề tài “Quản trị danh mục cho vay tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” của tác giả Bùi Diệu Anh:
- Trên cơ sở tập hợp lý luận nền tảng về phương pháp quản trị danh mục chủ động trong nền kinh tế hiện đại, sau khi so sánh với thực trạng quản trị danh mục cho vay tại Việt Nam, luận án đề xuất áp dụng phương pháp quản trị danh mục chủ động tại các NHTMCP Việt Nam nhằm hạn chế những tác động xấu của phương pháp quản trị thụ động đâng được áp dụng tại một số ngân hàng TMCP Việt Nam hiện nay Tính chủ động thể hiện ngay từ khi thiết lập danh mục, cho đến khi giám sát và điều chỉnh danh mục nhằm đạt mục tiêu đã hoạch định Có thể nói quản trị chủ động là xu thế khách quan trong hoạt động ngân hàng, xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế mạnh mẽ và môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt
- Luận án đề xuất xây dựng mô hình đo lường rủi ro danh mục cho vay tại các ngân hàng TMCP Mô hình giúp các ngân hàng TMCP định lượng chính xác mức độ rủi ro trên danh mục cho vay của ngân hàng mình, trên cơ
sở đó tính toán tổn thất để trích lập dự phòng rủi ro
(3) Luận văn thạc sĩ đề tài “Quản trị danh mục cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam” của tác giả Nguyễn Hữu Khánh: Hệ thống hóa và làm rõ nội dung, vai trò của quản trị danh mục cho vay, xác định việc quản trị danh mục cho vay ngân hàng là giải pháp hữu hiệu thúc đẩy các hoạt động nghiệp vụ tín dụng ngân hàng khác, khăc phục những hạn chế của hoạt động tín dụng, nâng cao sức cạnh tranh
(4) Luận án tiến sĩ kinh tế “ Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam” của tác
Trang 15giả Lê Thị Huyền Diệu: Nội dung đề tài này chủ yếu xem xét rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng dưới góc độ rủi ro giao dịch, chưa đề cập đến rủi ro danh mục
(5) Luận án tiến sĩ “ Quản trị tài sản có tại ngân hàng Công thương Việt Nam” của tác giả Đào Thị Chinh: Nội dung của đề tài đề cập đến quản trị trong hoạt động ngân hàng nhưng là quản trị chung về tài sản có Tín dụng với góc độ là một trong các loại tài sản có được luận án đề cập ở mức độ nhất định, hầu như không liên quan đến danh mục cho vay của ngân hàng
(6) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành “ Phương pháp quản trị rủi ro thị trường tại các NHTM Việt Nam” do tiến sĩ Phạm Duy Hùng chủ nhiệm: Nội dung đề tài đề cập rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại nhưng không luận bàn đến danh mục và rủi ro danh mục
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DANH MỤC CHO VAY
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động cho vay
a Khái niệm hoạt động cho vay
+ Cho vay: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng
cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời
gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Theo khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010)
+ Cấp tín dụng: là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử
dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác
(Theo khoản 10 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010)
b Đặc điểm của hoạt động cho vay
- Là quan hệ thị trường, theo hợp đồng NHTM có danh mục sản phẩm cho vay đa dạng nhất Ngân hàng với tư cách là người cho vay được quyền kiểm soát việc sử dụng vốn vay của người đi vay
- Là hoạt động chủ yếu đối với hầu hết các ngân hàng Khoản mục cho vay chiếm quá nữa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 tổng thu của NHTM nên cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM để tạo ra thu nhập
- Rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục các khoản cho vay Các hoạt động tín dụng ngân hàng thường hứng chịu rủi ro cho một người mà ngân hàng tin tưởng cho họ vay vốn Rủi ro có thể gây nên sự phá sản của ngân hàng Rủi ro trong hoạt động tín dụng giảm cũng
Trang 17có nghĩa là lợi nhuận của ngân hàng tăng lên
- Thu nhập từ các khoản cho vay là tiền lãi mà người đi vay trả cho ngân hàng Chỉ có tiền lãi thu được từ cho vay mới bù nổi chi phí tiền gởi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh, chi phí quản lý, các khoản phí và chi phí rủi ro đầu tư
- Kinh tế càng phát triển, lượng cho vay của các ngân hàng cũng tăng nhanh và loại hình cho vay cũng trở nên đa dạng
- Cho vay của ngân hàng là lĩnh vực khá phức tạp và thường xuyên
thay đổi theo những biến chuyển của môi trường kinh tế
Do vậy, đối với hoạt động tín dụng, vấn đề mà các ngân hàng quan tâm chính và thường xuyên trăn trở là:
(1) Sẽ cho ai vay,
(2) Sẽ đầu tư vào lĩnh vực nào (đối tượng đầu tư),
(3) Lợi tức có cao không
(4) Và có an toàn không
1.1.2 Vai trò của hoạt động cho vay
a Vai trò của hoạt động cho vay đối với nền kinh tế
Trên cơ sở những chức năng vốn có của mình, tín dụng ngân hàng có vai trò rất to lớn đối với nền kinh tế xã hội thể hiện ở nhiều mặt:
- Tín dụng ngân hàng là động lực thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển,
là công cụ thúc đẩy quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng, thông qua việc cung ứng vốn kịp thời đầy đủ và linh hoạt cho mọi tổ chức cá nhân Nguồn vốn phục vụ cho quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng có thể được cung ứng từ nhiều nguồn khác nhau như tự tích lũy, ngân sách nhà nước cấp phát, liên doanh, vay ngân hàng, Trong đó vay ngân hàng đóng vai trò quan trọng nhất Bởi vì nguồn vốn này được cung ứng đầy đủ, kịp thời và nhanh chóng nhất Mặt khác, sử dụng vốn vay ngân hàng có tác dụng thúc
Trang 18đẩy các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn bởi vì tính chất của nguồn vốn này là hoàn trả đầy đủ và đúng hạn
- Tín dụng ngân hàng góp phần thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh
tế Thông qua định hướng đầu tư tín dụng với các chính sách nhất định tín dụng ngân hàng có tác dụng rất to lớn đến điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với chính sách và định hướng phát triển kinh tế xã hội của nhà nước trong từng thời kì nhất định Thực trạng nền kinh tế nước ta trong giai đoạn đổi mới
cơ chế kinh tế là một minh chứng rất rõ nét Với một chính sách tín dụng hợp
lý kết hợp với các chính sách tài chính tiền tệ khác, trong một thời gian ngắn nền kinh tế nước ta đã chuyển từ một nền kinh tế lạc hậu với một cơ chế bất hợp lý trở thành một nước có đà tăng trưởng mạnh Định hướng đầu tư cho nền kinh tế đúng như đường lối mà Đảng đã vạch ra: coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, tập trung sức phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
- Tín dụng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế và tăng cường chế độ hạch toán kế toán Nguyên tắc họat động của tín dụng là hòan trả đúng hạn đầy đủ và có lãi Vì thế khi bất kỳ một đơn vị kinh tế xã hội nào có nhu cầu vay vốn tín dụng, điều đầu tiên họ nghĩ đến là phải tính toán hiệu quả sử dụng vốn vay ở đây đòn bẩy lãi suất có ý nghĩa rất to lớn và là động lực thúc đẩy chế độ hạch toán kế toán, nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế
- Tín dụng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và điều hòa lưu thông tiền mặt Hoạt động tín dụng tạo ra tiền ghi sổ; việc sử dụng tiền ghi sổ được thực hiện thông qua việc ghi chép trên sổ sách kế toán ngân hàng; điều này làm giảm đi một lương tiền mặt đáng kể trong lưu thông Các chi phí liên quan đến phát hành tiền, quản lý và lưu thông tiền được giảm bớt Mặt khác chính khối lượng tiền có mặt trong lưu thông ít đi đã làm dễ dàng hơn cho công tác quản ký và điều
Trang 19hòa lưu thông tiền mặt
- Tín dụng góp phần tăng cường và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Thông qua nguồn vốn đầu tư của tín dụng ngân hàng mà các hoạt đông ngoại thương phát triển, các hoạt động liên doanh góp vốn, các hoạt động có tính đa quốc gia phát triển, Đó chính là điều kiện và cơ hội để mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế
b Vai trò của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp
- Kích thích tính năng động linh hoạt của các doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh đáp ứng yêu cầu hội nhập
Ngày nay, khi thông tin và công nghệ thông tin không ngừng thay đổi
và phát triển một cách rất nhanh chóng, các doanh nghiệp luôn đứng trước yêu cầu cần phải thay đổi cho phù hợp Điều đó, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi máy móc, kỹ thuật, nâng cấp nhà xưởng, đổi mới sản phẩm…và ngân hàng chính là kênh cung cấp vốn tốt nhất cho các doanh nghiệp Theo đó, đã mang đến cho doanh nghiệp cơ hội nhằm đổi mới kích thích tính năng động của doanh nghiệp, đáp ứng cho sản xuất kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh tạo tiền đề cho sự phát triển
- Điều hoà vốn, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế
Ngân hàng là chiếc cầu nối giữa những người có vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế với những người cần vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh, tiêu dùng… Trên cơ sở huy động nguồn vốn trong dân cư hay đi vay các tổ chức kinh tế khác, ngân hàng cho vay với các cá nhân, tổ chức kinh tế đang cần vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh
Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu thiếu vốn Nhờ nguồn vốn mà ngân hàng cho vay doanh nghiệp không những đảm bảo quá trình sản xuất mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng
Trang 20công nghệ hiện đại để hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Từ đó, các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng Do vậy, tín dụng ngân hàng đã biến các phương tiện hoạt động có hiệu quả, thu hút nhanh chóng các vật tư, lao động, những tiềm năng sẵn có khác vào quá trình sản xuất
1.1.3 Phân loại cho vay
a Theo thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay là khoản thời gian mà vốn vay được cấp phát lần đầu
cho đến khi vốn vay được hoàn trả sau cùng
- Cho vay ngắn hạn: Thời hạn cho vay đến một năm và được sử dụng
để bổ sung, bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân
- Cho vay trung hạn: Thời hạn cho vay từ trên 01 năm đến 05 năm dùng
để đầu tư mua sắm TSCĐ, cải tiến đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng SXKD, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh
- Cho vay dài hạn: Thời hạn cho vay từ trên 5 năm Loại cho vay này dùng để đáp ứng các nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới
b Theo đối tượng đầu tư
- Tín dụng vốn cố định: Các khoản cho vay để hình thành vốn cố định trong các doanh nghiệp
- Tín dụng vốn lưu động: Các khoản cho vay để hình thành vốn lưu động
Đây là hai loại vốn cơ bản trong một doanh nghiệp có đặc điểm luân chuyển khác nhau vì vậy việc hình thành chúng bằng nguồn vốn tín dụng cũng rất khác nhau Phân loại tín dụng theo tiêu thức này giúp ngân hàng xây
Trang 21dựng phương pháp cho vay, thu nợ, tính toán thời hạn nợ, kiểm tra đảm bảo
nợ vay phù hợp
c Theo mục đích sử dụng vốn của người đi vay
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng nhà ở, đất đai hay bất động sản trong lĩnh vực thương mại, công nghiệp, dịch vụ
- Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại, công nghiệp, dịch vụ
- Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu
- Cho các định chế tài chính vay như cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác
- Cho vay cá nhân là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền và các khoảng cho vay để trang trãi các chi phí thông thường của đời sống thông qua việc phát hành thẻ tín dụng
- Cho thuê: cho thuê của các định chế tài chính bao gồm thuê vận hành
và thuê tài chính Tài sản cho thuê thường là bất động sản và động sản chủ yếu là máy móc thiết bị
d Theo hình thức đảm bảo tiền vay
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là hình thức cho vay mà số tiền được cấp ra dựa trên tài sản đảm bảo (cầm cố, thế chấp)
- Cho vay có đảm bảo không bằng tài sản: là hinh thức cho vay không
có tài sản thế chấp, cầm cố mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay
Trang 22e Theo phương pháp hoàn trả
- Cho vay có thời hạn là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng bao gồm như cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ (cho vay phi trả góp), cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể (cho vay trả góp) hoặc cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà việc trả nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay hoặc cho vay theo kỹ thuật thấu chi
- Cho vay không có thời hạn cụ thể là loại cho vay mà ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng trả nợ bất cứ lúc nào hoặc khách hàng tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý (theo hợp đồng)
f Theo mối quan hệ giữa ngân hàng với người vay
- Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu
và họ trực tiếp trả nợ vay ngân hàng
- Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước, chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như chiết khấu thương phiếu, mua các phiếu bán hàng tiêu dùng, máy móc nông nghiệp trả góp hay mua nợ
g Theo hình thức cho vay
- Cho vay bằng tiền
- Cho vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền
- Cho vay qua chữ ký (tín dụng chấp nhận, bảo lãnh, tín dụng chứng từ)
1.1.4 Nguyên tắc của hoạt động cho vay
a Vốn vay phải hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả vốn và lãi
Hoàn trả vốn,lãi đủ và đúng như cam kết là nguyên tắc cơ bản nhất trong kinh doanh của NHTM Dòng tiền vào của ngân hàng phải đáp ứng đủ nhu cầu dòng tiền ra của ngân hàng trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn Đây là nền tảng cho hoạt động của ngân hàng Vì vậy khách hàng vay phải
Trang 23tuân thủ nguyên tắc này một cách triệt để
b Vốn vay phải có mục đích, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả
Nguyên tắc này thể hiện qua các yêu cầu:
- Mục đích vay phải tường minh, thể hiện rõ trên văn bản cam kết giữa ngân hàng và khách hàng
- Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp
- Khách hàng phải sử dụng vốn đúng với mục đích đã thỏa thuận
Nguyên tắc này đảm bảo ngân hàng chỉ cho vay đối với các nhu cầu hợp pháp, đảm bảo lợi ích kinh tế vĩ mô, đồng thời đảm bảo lợi ích kinh
doanh của ngân hàng
c Vay vốn phải có bảo đảm
Đảm bảo tiền vay ngân hàng nghĩa là đảm bảo chắc chắn trả nợ và lãi vay như cam kết Ngoài nguồn trả chính thức theo thỏa thuận, người đi vay phải chứng minh nguồn trả nợ dự phòng Nguồn trả nợ dự phòng có thể được minh chứng qua toàn bộ năng lực tài chính của người đi vay (hay của người bảo lãnh), hoặc qua tài sản cụ thể của người đi vay (hay của người bảo lãnh) Thực chất của nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho nguyên tắc đầu tiên
1.2 DANH MỤC CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm danh mục cho vay, cơ cấu danh mục cho vay
- Danh mục (tài sản/đầu tư): là những tài sản thuộc sở hữu của một tổ
chức hoặc của một người và được quản lý chung nhằm đến các mục tiêu đầu
tư cụ thể
- Danh mục cho vay: Danh mục cho vay của ngân hàng là một tập hợp
các khoản cho vay thuộc sở hữu của ngân hàng, được sắp xếp theo các tiêu thức khác nhau, được cơ cấu theo một tỷ lệ nhất định, phục vụ cho các mục đích quản trị ngân hàng Các tiêu chí này có thể là: thời hạn khoản vay, đối
Trang 24tượng khách hàng, hình thức đảm bảo tiền vay, mục đích sử dụng vốn, khu vực địa lý, chất lượng khoản vay
Danh mục cho vay là công cụ để nhà quản trị định hướng cho hoạt động cấp tín dụng, nhằm đảm bảo tính lành mạnh, mức độ chuyên môn hóa, tính đa dạng của tài sản cho vay, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro ở mức độ tối đa và đạt được lợi nhuận như mong muốn Với ý nghĩa đó, danh mục cho vay tồn tại dưới dạng kế hoạch và được quản lý thực hiện trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng Thông qua kế hoạch danh mục cho vay kế hoạch, các nhà quản trị đưa ra con số dự kiến tỷ trọng dư nợ của từng ngành kinh tế, khu vực địa lý…chiếm trong tổng thể danh mục
- Cơ cấu cho vay của Ngân hàng:
Cơ cấu cho vay của Ngân hàng là tỷ trọng dư nợ cho vay từng bộ phận trong tổng dư nợ, các bộ phận này được xem xét theo nhiều tiêu chí khác nhau (theo địa lý, theo kỳ hạn, mục đích, loại hình doanh nghiệp, ngành nghề, quy mô, mức rủi ro,…) Các bộ phận này tạo thành danh mục cho vay của ngân hàng
- Cơ cấu danh mục cho vay:
Là việc phân loại bao gồm sắp xếp từng khoản cho vay đơn lẻ thành tỷ
lệ cho vay theo những tiêu chí xác định, như phân ngành kinh tế, khu vực địa
lý, hay loại hình sản phẩm cho vay (ngắn hạn hay dài hạn) Tỷ lệ trong danh mục cho vay thể hiện sự đa dạng hoá mà ngân hàng muốn thực hiện đối với hoạt động cho vay
Dưới đây là một số tiêu thức các ngân hàng có thể sử dụng khi xây dựng/thiết kế danh mục cho vay:
Trang 25Bảng 1.1 Cơ cấu danh mục cho vay của Ngân hàng thương mại
1 Danh mục cho vay theo thời hạn
1.1 Cho vay ngắn hạn
1.2 Cho vay trung hạn
1.3 Cho vay dài hạn
2 Danh mục cho vay theo ngành kinh tế
2.1 Cho vay ngành công nghiệp
2.2 Cho vay ngành nông nghiệp
2.3 Cho vay ngành xây dựng
2.4 Cho vay ngành giao thông vận tải
2.5 Cho vay tiêu dùng
3 Danh mục cho vay theo khu vực địa lý
3.1 Khu vực miền Bắc
3.2 Khu vực miền Trung
3.3 Khu vực miền Nam
4 Danh mục cho vay theo đối tượng khách hàng
4.1 Doanh nghiệp sở hữu nhà nước
4.2 Công ty TNHH & Cổ phần
4.3 Công ty 100% vốn nước ngoài
4.4 Công ty liên doanh
Trang 265.1 Cho vay nội tệ
5.2 Cho vay ngoại tệ
6 Danh mục cho vay lĩnh vực đầu tư
6.1 Cho vay sản xuất
Trong đó:
- Cho vay nông nghiệp
- Cho vay công nghiệp
- Cho vay thương mại
- Cho vay giao thông vận tải
6.2 Cho vay phi sản xuất
Trong đó:
- Cho vay kinh doanh chứng khoán
- Cho vay kinh doanh địa ốc
- Cho vay tiêu dùng
7 Danh mục cho vay theo tính chất đảm bảo
7.1 Cho vay có đảm bảo
7.2 Cho vay không có đảm bảo
8 Danh mục cho vay theo hình thức/phương
thức thực hiện
8.1 Cho vay ứng trước
8.2 Chiết khấu giấy tờ có giá
8.3 Cho thuê tài chính
Trang 27* Danh mục cho vay theo thời hạn:
Danh mục cho vay của ngân hàng có thể được xây dựng theo tiêu chí thời hạn, trong đó tỷ trọng các loại cho vay ngắn hạn; trung hạn và dài hạn được thiết kế hợp lý, thể hiện mối quan hệ giữa cơ cấu thời hạn của sử dụng vốn và cơ cấu thời hạn của nguồn vốn, nhằm hạn chế các loại rủi rô thanh khoản, rủi ro lãi suất, đảm bảo tuân thủ quy định của luật pháp
* Danh mục cho vay theo ngành kinh tế:
Danh mục cho vay theo ngành kinh tế hình thành một định hướng cần thiết cho quá trình đầu tư tín dụng của ngân hàng Những ngành nào cần tập trung, mở rộng, những ngành nào cần tiết giảm….sẽ được thể hiện thông qua
tỷ trọng các định mức của từng ngành trong tổng thể dư nợ của danh mục Danh mục cho vay theo ngành kinh tế bộc lộ rõ quan điểm của ngân hàng: tập trung vào các lĩnh vực chuyên môn hóa hay là đa dạng hóa cho vay
* Danh mục cho vay theo khu vực địa lý:
Việc xây dựng tỷ trọng khoản mục cho vay theo khu vực địa lý thể hiện quan điểm của ngân hàng trong việc hình thành thị trường mục tiêu, phù hợp với điều kiện về cơ sở vật chất, mạng lưới hoạt động cũng như năng lực kiểm soát của đội ngũ nhân viên cho vay Trong quá trình giám sát danh mục cho vay theo khu vực địa lý, ngân hàng sẽ đánh giá hiệu quả đầu tư của từng khu vực trong tương quan so sánh với các khu vực khác, từ đó sẽ đưa ra những điều chỉnh thích hợp, đảm bảo mục tiêu đã hoạch định
* Danh mục cho vay theo đối tượng khách hàng:
Mỗi một đối tượng khách hàng sẽ có những đặc điểm khác nhau vì vậy
để định hướng cho việc đầu tư an toàn và hiệu quả, các ngân hàng luôn có sự phân chia hợp lý tỷ trọng các khoản mục cho vay theo đối tượng khách hàng, đảm bảo sự an toàn cần thiết ở góc độ toàn danh mục
Ngoài các tiêu chí trên thì ngân hàng còn sử dụng một số tiêu chí khác
Trang 28trong xây dựng, thiết kế danh mục cho vay, chẳng hạn như: danh mục cho vay theo hình thức đảm bảo, danh mục cho vay theo loại hình doanh nghiệp (theo tính chất sở hữu)….Trong đó, DM cho vay theo ngành, khu vực địa lý, đối tượng khách hàng là trọng tâm của các giải pháp đa dạng hóa danh mục cho vay
1.2.2 Rủi ro danh mục cho vay của Ngân hàng thương mại
Cơ cấu rủi ro danh mục cho vay của ngân hàng thương mại:
Trong các loại rủi ro của kinh doanh ngân hàng, rủi ro của hoạt động cho vay được xem là loại rủi ro chính yếu, xuất phát từ vị trí quan trọng của cho vay trong tổng tài sản cũng như trong nguồn lợi nhuận thu được của ngân hàng
Rủi ro danh mục bao gồm: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
* Rủi ro nội tại:
Có thể nói rủi ro nội tại rất đa dạng phong phú và có tính tất yếu, không thể triệt tiêu vì nó thuộc về bản tính vốn có của đối tượng mà ngân hàng đầu
tư Các biện pháp của ngân hàng chỉ có thể giúp kiểm soát từ đó hạn chế nó
mà thôi Việc thẩm định kỹ lưỡng, quyết định cho vay chính xác tránh cho vay đối với những chủ thể, ngành, hình thức cho vay có độ rủi ro nội tại cao, quan tâm cho vay nhiều hơn với những đối tượng có độ rủi ro nội tại thấp, có thể giúp ngân hàng tăng mức độ an toàn cho danh mục cho vay của mình
* Rủi ro tập trung:
Theo đinh nghĩa của Ủy ban Basel “ Rủi ro tập trung là bất kỳ rủi ro đơn lẻ hoặc nhóm rủi ro nào có khả năng tạo ra tổn thất đủ lớn liên quan đế mức vốn của ngân hàng, tài sản có của ngân hàng hoặc tổng tổn thất của ngân hàng”
Hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản của hầu hết các ngân hàng nên rủi ro tập trung trên danh mục cho vay cũng là loại rủi ro cơ bản nhất trong
Trang 29phạm vi một ngân hàng Đây là loại rủi ro xuất phát từ thiếu đa dạng trong danh mục cho vay của ngân hàng Vì vậy, khi định hướng xây dựng danh mục cho vay, ngoài việc xây dựng tỷ trọng hợp lý của các khoản vay đảm bảo tính
đa dạng, ngân hàng còn đưa ra các giới hạn an toàn so với mức vốn tự có, so với tổng dư nợ hoặc so với giá trị tổn thất của toàn danh mục, sao cho thiệt hại tài chính nếu xảy ra vẫn nằm trong khả năng chịu đựng của từng ngân hàng Việc đa dạng hóa được xem là mấu chốt để giảm thiểu rủi ro tập trung, khi thực hiện đa dạng hóa phải thỏa mãn được vấn đề sau:
- Danh mục bao gồm một số lượng lớn những khoản vay có giá trị tương đối nhỏ, sao cho biến cố rủi ro nếu xảy ra thì tổn thất mà một khoản vay mang lại không tác động quá lớn đến giá trị danh mục
- Những khoản vay trên danh mục phải có tính độc lập, ít phụ thuộc với nhau, tức là khả năng vỡ nợ của một khoản vay trên danh mục không ảnh hưởng tới khả năng vỡ nợ của các khoản vay còn lại
1.2.3 Mục tiêu của quản lý danh mục cho vay
- Quản lý danh mục cho vay không phải là loại bỏ triệt để mọi rủi ro của danh mục, mà cần phải biết đánh giá, lựa chọn rủi ro nào và mức độ nào
có thể chấp nhận được Mục tiêu cơ bản của quản lý danh mục cho vay là tối
đa hóa lợi nhuận trong phạm vi rủi ro có thể chấp nhận được Hơn nữa, khi xem xét quản lý danh mục cần có cái nhìn về lợi nhuận và rủi ro trên tổng thể danh mục chứ không phải trên từng khoản cho vay riêng lẻ Song cho dù danh mục cho vay có được đánh giá là rất hiệu quả cũng không thể luôn duy trì cố định Bởi lẽ, hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn được tiến hành liên tục trong điều kiện môi trường kinh doanh luôn biến động không ngừng Cho nên, việc quản lý danh mục cho vay không thể xem xét cho vay trong trạng thái tỉnh Nhà quản trị ngân hàng một mặt cần duy trì danh mục cho vay hiện
có, một mặt phải luôn quan tâm xem xét vấn đề ngày một mở rộng hơn nữa
Trang 30danh mục cho vay của ngân hàng mà vẫn đảm bảo tính hiệu quả Để làm được như vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải vận dụng những nguyên tắc, phương pháp và kỹ thuật quản trị khác nhau để xây dựng bộ máy cho vay và kiểm soát cho vay của ngân hàng; xác lập các hệ thống phân tích, điều tra tín dụng của ngân hàng; xác định và thống nhất các tiêu chuẩn về đảm bảo an toàn trong cho vay
- Quản lý danh mục cho vay còn mang lại cho nhà quản trị ngân hàng
sự chủ động trong việc lựa chọn và điều chỉnh khách hàng cho vay, thị trường
và sản phẩm cho vay phù hợp với năng lực tài chính và quy mô của ngân hàng mình, nhằm tăng cường lựa chọn một danh mục cho vay tốt đảm bảo hiệu quả chất lượng tài sản có của ngân hàng, vì chất lượng tài sản có là nguyên nhân chính dẫn đến các vụ đỗ vỡ ngân hàng Thông thường điều này xuất phát từ việc quản lý không đầy đủ trong chính sách cho vay của ngân hàng – cả trước kia cũng như hiện nay Nếu thị trường biết rằng chất lượng tài sản kém thì sẽ tạo áp lực lên trạng thái nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng và điều này có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản, hoặc dẫn đến tình trạng đổ xô đi rút tiền của ngân hàng Vì vậy, quản lý tốt một danh mục cho vay đồng nghĩa với việc quản lý tốt rủi ro tín dụng, có hai phương pháp quản lý rủi ro tín dụng đó là phương pháp phóng tránh và kiểm soát tổn thất Phương pháp phòng tránh bao gồm việc xây dựng các chính sách xác định cụ thể những lĩnh vực hay hoạt động nào được coi là phù hợp và nên đầu tư Còn phương pháp kiểm soát tổn thất tín dụng là chú ý đến việc duy trì mức độ đa dạng hóa trong cấu trúc của danh mục cho vay, các chuẩn mực cấp tín dụng đúng đắn,
sử dụng quy trình hiệu quả để giám sát tài sản bảo đảm
1.2.4 Hiệu quả quản lý danh mục cho vay
Quản lý danh mục cho vay của một ngân hàng được cho là có hiệu quả khi nó có thể hạn chế được rủi ro đến mức thấp nhất đồng thời mang lại cho
Trang 31ngân hàng một khoản thu nhập vững chắc Như vậy, để đo lường hiệu quả quản trị danh mục cho vay thì phải đo lường được mức độ rủi ro và thu nhập
mà danh mục đó mang lại Mà ở đây rủi ro và thu nhập của danh mục cho vay
là tổng hợp từ chính rủi ro và thu nhập của từng khoản vay cụ thể mang lại đã được hệ thống hóa theo từng tiêu thức phân loại trong danh mục cho vay Có một phương pháp mà các nhà q uản trị ngân hàng thường vận dụng là đánh giá thu nhập dự tính và chi phí dự tính bao gồm chi phí trực tiếp, gián tiếp đến khoản cho vay và dự phòng rủi ro tổn thất tín dụng có thể xảy ra đối với mỗi khoản vay,đó là thiết lập hệ thống kế toán chi phí hay phân tích hàm chi phí FCA; điều này mang lại cho nhà quản trị ngân hàng cái nhìn chi tiết hơn về thu nhập ròng từ một khoản chovay cụ thể mang lại cho ngân hàng hay từ loại hình cho vay mang lại từ đó cho thấy tổng thể của cả một danh mục cho vay hiện nay mà ngân hàng đang quản lý
1.2.5 Nội dung quản lý danh mục cho vay
a Thiết lập danh mục cho vay
Một trong những phương pháp quan trọng nhất mà một ngân hàng có thể vận dụng để đảm bảo rằng các khoản cho vay của ngân hàng thỏa mãn được các tiêu chuẩn của cơ quan quản lý ngân hàng là phải thiết lập một chính sách cho vay bằng văn bản, thể hiện qua chính sách tín dụng Chính sách tín dụng là hệ thống các biện pháp liên quan đến việc khuếch trương hay hạn chế tín dụng để đạt được mục tiêu đã hoạch định và hạn chế rủi ro, bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Thông qua chính sách tín dụng, hướng dẫn cho cán bộ tín dụng các thủ tục, các bước cần thiết thực thi các hoạt động và trách nhiệm của họ Đồng thời, nó giúp ngân hàng hướng tới một danh mục cho vay có hiệu quả, có thể đạt được nhiều mục tiêu, xác định phương hướng sử dụng vốn của mình để tạo ra các tài sản có có chất lượng cao, ít rủi ro, đáp ứng được yêu cầu của nhà quản lý
Trang 32* Nội dung cơ bản của chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng phải thể hiện được tiêu chuẩn đối với danh mục cho vay và mức tăng trưởng tín dụng dự kiến của ngân hàng (nêu lên các đặc điểm của một danh mục cho vay chất lượng cao như: loại hình, thời gian đáo hạn, quy mô, chất lượng của các khoản cho vay) Đồng thời đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ, vai trò kinh doanh trong khu vực thị trường của ngân hàng như: chỗ đứng trên thị trường, khả năng sinh lợi mong muốn, duy trì lòng tin của công chúng Định lượng mục tiêu tăng trưởng, mục tiêu thu nhập (tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gởi hay tổng tài sản)
Ngoài ra, chính sách tín dụng thể hiện chiến lược quản lý rủi ro: (i) xác định tỷ lệ cho vay mong muốn trong danh mục cho vay Tỷ lệ trong danh mục cho vay thể hiện sự đa dạng hoá mà ngân hàng muốn thực hiện đối với hoạt động cho vay; (ii) xác định quy mô tối đa mà ngân hàng sẵn sàng cho 1 khách hàng vay hay quy mô tối đa mà Ngân hàng sẵn sàng cho 1 nhóm khách hàng vay; (iii) nêu lên các loại hình cho vay mà ngân hàng áp dụng; (iv) những khách hàng vay mà ngân hàng cho là không mong muốn đề cập đến Và thể hiện chiến lược về khả năng thanh khoản của ngân hàng Đây là nhân tố gây trở ngại đến hoạt động cho vay bởi khả năng thanh khoản được xác định một phần bởi cơ cấu thời hạn trong danh mục cho vay và quy mô mong muốn của danh mục cho vay
Nội dung chính sách tín dụng đưa ra những tiêu chuẩn tín dụng:
+ Loại hình cho vay: Chính sách tín dụng chính thức phải quy định các loại hình cho vay mà ngân hàng cho là cần thiết, những loại hình cho vay mà ngân hàng cho là cần hạn chế và những loại hình cho vay mà ngân hàng không cho phép
+ Lãnh vực, ngành nghề, khu vực địa lý: Chính sách tín dụng chính thức phải xác định rõ khu vực kinh doanh Khu vực này có thể hiểu là khu
Trang 33vực địa lý hoặc lãnh vực, ngành nghề cho vay
+ Tài sản thế chấp: Chính sách tín dụng chính thức phải xác định rõ những loại hình thế chấp được chấp nhận và không được chấp nhận Và Chính sách tín dụng cũng cần quy định về những trường hợp cấm đối với những khoản vay mà không có đảm bảo Chất lượng và khả năng thanh khoản của tài sản thế chấp phải được xác minh và các hệ số liên quan đến giá trị khoản vay so với giá trị tài sản thế chấp được áp dụng
* Cơ sở thiết lập danh mục cho vay
Một là: Căn cứ vào xu hướng của nền kinh tế mà các ngân hàng sẽ thiết
lập danh mục cho vay với loại hình cho vay và tỷ trọng của từng loại cho thích hợp
Hai là: Đặc điểm thị trường nơi ngân hàng hoạt động Mỗi ngân hàng
phải có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng trong thị trường tín dụng của mình và phần lớn danh mục cho vay đều bắt nguồn từ thị trường này
Ba là: Quy mô ngân hàng Đây là nhân tố quan trọng quyết định cấu
trúc danh mục cho vay của từng ngân hàng Nói chung, ngân hàng không thể cung cấp các loại cho vay vượt quá khả năng, nguồn lực của mình
Bốn là: Mục tiêu của ngân hàng Nếu ngân hàng hướng tới mục tiêu gia
tăng lợi nhuận, thì danh mục cho vay của ngân hàng sẽ đa dạng hơn với các điều kiện khi cho vay đi kèm thông thoáng hơn, so với ngân hàng đang đặt ra mục tiêu an toàn lên hàng đầu
Năm là: Trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên Vì
chính nhân viên tín dụng là người trực tiếp xử lý các thông tin liên quan đến khoản vay, trực tiếp đánh giá khả năng hoàn trả của nợ vay Nếu sự sai lầm có
hệ thống và xuất phát từ sự thiếu phù hợp giữa chất lượng nhân viên với cơ cấu cho vay sẽ dẫn đến nguy cơ đổ vỡ cả danh mục
Trang 34Sáu là: Cơ cấu cho vay của một ngân hàng còn phụ thuộc vào tương
quan giữa thu nhập dự tính từ các khoản cho vay mang lại Nhìn chung, một ngân hàng muốn cung cấp những khoản cho vay mang tỷ lệ thu nhập cao nhất sau khi đã trừ đi toàn bộ chi phí và rủi ro tổn thất tín dụng mang lại
Một danh mục cho vay được xem là hiệu quả khi mà xét trên tổng thể danh mục đó, lợi nhuận mang lại cho ngân hàng là tối đa nhưng đồng thời rủi
ro phải ở mức thấp nhất, có thể kiểm soát được Một danh mục không có rủi
ro cũng có nghĩa là không tạo ra lợi nhuận, vì vậy mục tiêu của ngân hàng hoặc là (i) hướng tới một danh mục đạt lợi nhuận kỳ vọng cao nhất (tối đa hóa lợi nhuận) cùng với mức độ rủi ro danh mục xác định; (ii) hoặc là một danh mục có lợi nhuận xác định (có thể chưa phải là cao nhất) và rủi ro danh mục ở mức thấp nhất (tối thiều hóa rủi ro) Ngoài ra, việc thiết lập danh mục cho vay cần thiết phải hướng tới đó là giới hạn tổn thất của toàn danh mục trong khả năng chịu đựng của mỗi ngân hàng, nói khác đi là ngân hàng phải xác định tổn thất mục tiêu cho danh mục cho vay của mình
Bên cạnh đó, một danh mục cho vay hiệu quả hay không còn biểu hiện
ở các loại cho vay và cơ cấu của các loại đó trong toàn danh mục Sự kém đa dạng trong các loại hình cho vay mà ngân hàng cung cấp đồng nghĩa với sự tiềm ẩn rủi ro và có thể khiến cho ngân hàng mất đi cơ hội mở rộng tín dụng bằng các loại hình tín dụng khác Như vậy, mỗi một cách kết hợp khác nhau của các loại tài sản/cho vay sẽ mang lại một cơ cấu danh mục cho vay khác nhau, nếu nhà đầu tư hoặc ngân hàng biết kết hợp nhiều loại tài sản/cho vay khác nhau trên một danh mục, hay nói khác đi là có sự đa dạng hóa trong đầu
tư tài sản/cho vay, thì rủi ro của cả danh mục sẽ thấp hơn so với rủi ro của các loại tài sản/cho vay riêng biệt tổng hợp lại
Bằng việc xây dựng danh mục cho vay kế hoạch và giám sát thực hiện trong suốt quá trình hình thành và phát triển danh mục cho vay, các ngân hàng
Trang 35có thể tạo ra một danh mục tài sản cho vay tối ưu, có đủ sức mạnh nội tại để chống lại những tác động từ phía môi trường bên ngoài
Trong thực tế, để thiết kế danh mục cho vay, ngân hàng đồng thời dựa vào nhiều yếu tố nội sinh và ngoại sinh Tập hợp các yếu tố đó tạo nên những kịch bản khác nhau, tác động tới hoạt động của ngân hàng Các ngân hàng sẽ tùy thuộc vào mục tiêu, các yếu tố dự báo và điều kiện riêng của mình để lựa chọn những phương án danh mục theo ngân hàng là tối ưu
b Giám sát theo dõi, tái xét, đánh giá tổng thể danh mục và điều chỉnh quy mô và cơ cấu danh mục cho vay sau tái xét
- Giám sát danh mục cho vay:
Để đảm bảo cho danh mục được hình thành một cách hiệu quả, thì phần việc tiếp theo khâu hoạch định là tổ chức thực hiện và giám sát danh mục
Quá trình giám sát danh mục cho vay được thực hiện thường xuyên tại
cơ sở và do bộ phận quản lý rủi ro thực hiện, sau đó trình lên ban điều hành,
để từ đó có các quyết sách hợp lý, đúng thời điểm
Nội dung giám sát bao gồm: giám sát danh mục cho vay đối với từng lĩnh vực, sản phẩm và cơ cấu đã được thống nhất Bên cạnh giám sát việc thực hiện danh mục cho vay, bộ phận quản lý còn phải theo dõi kiểm soát quy mô,
cơ cấu của danh mục Xuất phát từ mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, danh mục cho vay của ngân hàng luôn chịu nhiều áp lực gia tăng quy mô và thay đổi cơ cấu Tuy nhiên, cùng với xu hướng này rất có thể dẫn đến gia tăng rủi ro nhiều hơn cho ngân hàng Chính vì vậy, luôn tồn tại nhu cầu phải giới hạn quy mô của toàn danh mục cho vay sao cho hợp lý, ở mức mà có thể đảm bảo được mục tiêu lợi nhuận rủi ro của danh mục có thể kiểm soát được trong khả năng của ngân hàng Đồng thời cần phải cân nhắc kỹ trước khi đưa ra quyết định thay đổi cơ cấu danh mục cho vay, tránh chạy theo nhu cầu thị trường mà thay đổi cơ cấu danh mục cho vay một cách không kiểm soát, dẫn đến tình trạng lựa
Trang 36chọn loại cho vay và tỷ trọng của nó trong danh mục vượt quá khả năng ngân hàng hoặc làm cho danh mục mất cân đối, thiếu đa dạng Điều này sớm muộn
gì cũng dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng
Giám sát danh mục cho vay được thực hiện khi danh mục cho vay thực
tế đã hình thành Giám sát danh mục có các ý nghiã sau:
+ Nhằm phát hiện kịp thời những khách hàng xin vay vượt quá tỷ trọng của loại tài sản cho vay đã được xây dựng, có biện pháp loại bỏ những khoản vay đó mà không ảnh hưởng đến mối quan hệ của ngân hàng đối với khách hàng xin vay Mặt khác, giám sát cũng nhằm phát hiện kịp thời những dấu hiệu cảnh báo của một danh mục cho vay có mức độ rủi ro cao, tạo điều kiện cho nhà quản trị nhận định đúng về chất lượng tổng thể danh mục cho vay, từ
đó có các biện pháp điều chỉnh thích hợp Mục tiêu của các điều chỉnh này là giảm thiểu rủi ro tập trung, thay đổi cơ cấu danh mục theo hướng có lợi nhất, đảm bảo mục tiêu kinh doanh mà ngân hàng đã chọn lựa
+ Giám sát để điều chỉnh cơ cấu danh mục Khi môi trường và các điều kiện hoạt động của ngân hàng thay đổi, buộc ngân hàng phải có phương án điều chỉnh thích hợp, nhưng vẫn đảm bảo đạt mục tiêu đã hoạch định
Trong giai đoạn giám sát, ngoài các yếu tố định tính được nhận dạng, ngân hàng nhất thiết phải tính toán đo lường mức độ rủi ro danh mục thông qua các công cụ định lượng, đó là các mô hình đo lường nội bộ mà ngân hàng
đã sử dụng ngay từ khi thiết kế danh mục Trên thế giới hiện còn nhiều loại
mô hình đo lường rủi ro do các ngân hàng, tổ chức tài chính áp dụng Tất cả các mô hình đo lường rủi ro này đều bắt đầu từ độ tin cậy cho trước, xác định dạng phân phối xác suất tổn thất, sau đó sử dụng mô hình thống kê toán để
mô tả phân phối xác suất tổn thất, trên cơ sở đó sẽ tính được chính xác mức
độ tổn thất mà ngân hàng phải đương đầu gánh chịu Việc định lượng chính xác mức tổn thất trên danh mục cho vay, sẽ giúp ban điều hành tìm biện pháp
Trang 37điều chỉnh cơ cấu danh mục, đảm bảo tổn thất không vượt quá khả năng giới hạn của ngân hàng
- Tái xét danh mục cho vay và đánh giá tổng thể danh mục cho vay Việc tái xét được tiến hành trên một vài hoặc tất cả các khoản cho vay đang tiến hành trong danh mục cho vay của ngân hàng Mục tiêu cụ thể của tái xét này là nhằm nhận định khả năng hoàn trả nợ vay, cũng như chất lượng tài sản đã thế chấp và khả năng của doanh nghiệp đi vay, sớm phát hiện những thiếu sót trong quy trình cho vay, những khoản cho vay có vấn đề Thông thường việc tái xét các khoản cho vay sẽ do một bộ phận độc lập kiểm tra thực hiện và những khoản cho vay lớn và chất lượng thấp được kiểm tra thường xuyên nhất Kết quả của quá trình tái xét này sẽ cho phép ngân hàng phân hạng các khoản cho vay đưa ra một nhận định chung về danh mục cho vay của ngân hàng và theo đó, ngân hàng sẽ có biện pháp xử lý thích hợp
Bên cạnh đó, việc tái xét danh mục cho vay còn phải xem xét cả việc tổ chức cho vay hiện tại của ngân hàng Vì nó sẽ ảnh hưởng lớn đến sự thay đổi của danh mục cho vay so với danh mục đề ra ban đầu và do đó ảnh hưởng tới chất lượng danh mục cho vay
- Điều chỉnh quy mô và cơ cấu danh mục cho vay sau tái xét
Thực tế môi trường hoạt động của ngân hàng luôn có nhiều biến động, cho nên danh mục cho vay của ngân hàng cũng phải được điều chỉnh thích hợp Mặt khác, hoạt động cho vay của ngân hàng là một dạng dịch vụ vì vậy không tránh khỏi việc cho vay hướng tới thỏa mãn các nhu cầu của thị trường Điều này đôi khi mâu thuẩn với yêu cầu đa dạng hóa để phân tán rủi ro, về lâu dài gây bất lợi cho sự an toàn trên danh mục cho vay của ngân hàng
Đối với cơ cấu danh mục cho vay, chủ yếu ngân hàng sẽ điều chỉnh theo hướng giảm tỷ trọng cho vay đối với các loại hình cho vay mà tỷ lệ rủi ro trong loại hình đó được đánh giá là cao Ngoài ra, ngân hàng cũng sẽ điều
Trang 38chỉnh tăng tỷ trọng ở những ngành mà ngân hàng đánh giá là có tiềm năng cao, có khả năng mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng Bên cạnh việc điều chỉnh tăng, giảm tỷ trọng của các loại cho vay trong danh mục, danh mục cho vay cũng phải được điều chỉnh sao cho có thể khai thác triệt để lợi ích của đa dạng hóa Còn đối với quy mô danh mục cho vay, ngân hàng sẽ điều chỉnh dựa trên tổng tài sản, tổng số tiền gửi, tổng vốn tự có hiện tại của ngân hàng Trường hợp ngân hàng lớn và các nguồn tiền gửi ổn định thì có thể mở rộng
tỷ lệ cho vay, mở rộng kỳ hạn vay, nếu như các điều kiện kinh tế và chính sách chung cho phép Nói chung việc điều chỉnh quy mô và cơ cấu danh mục cho vay sau tái xét như thế nào, tùy thuộc vào hiệu quả của công tác tái xét danh mục cho vay Nếu đánh giá chính xác thực trạng của danh mục cho vay hiện tại thì việc điều chỉnh mới có thể mang lại hiệu quả, mới có thể đạt được các yêu cầu và mục tiêu của ngân hàng
1.2.6 Những nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý danh mục cho vay
Trong bất kỳ hoạt động nào của nền kinh tế việc chịu sự tác động của các nhân tố bên ngoài và bên trong nhất thiết xảy ra đó là điều tất yếu, quá trình xác định được các nhân tố sẽ giúp chúng ta tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong khi thực hiện để mang lại hiệu quả Mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng cũng không nằm ngoài mục tiêu đó Việc tìm kiếm, phân tích, giải quyết tốt các nhân tố có ảnh hưởng đến công tác xây dựng và quản lý danh mục cho vay, chính những nhân tố tác động này sẽ giúp ngân hàng tìm ra các giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn kế hoạch kinh doanh của mình nhằm đảm bảo an toàn, hiệu quả
a Những nhân tố từ phía ngân hàng thương mại
- Khả năng lập kế hoạch, thiết kế danh mục cho vay
Việc lập kế hoạch và thiết kế danh mục phải được dựa trên những dự
Trang 39báo chính xác về các điều kiện của nền kinh tế, các diễn biến của thị trường trong thời gian xây dựng danh mục cho vay và đồng thời xuất phát từ các điều kiện thực tế của ngân hàng tại thời điểm lập kế hoạch Nếu ngân hàng có bộ phận dự báo thông tin kinh tế hoạt động hiệu quả, sẽ đảm bảo cho tính khả thi của danh mục mà ngân hàng xây dựng Do việc thiết kế danh mục đòi hỏi sự linh hoạt uyển chuyển, không cứng nhắc, phù hợp với những thay đổi có thể xảy ra trong nền kinh tế Do vậy, có thể có nhiều phương án danh mục được xây dựng, điều này sẽ dễ dàng hơn cho ngân hàng trong quá trình giám sát và điều chỉnh cơ cấu danh mục sau giám sát, đảm bảo thực hiện mục tiêu kinh doanh đã hoạch định
- Các điều kiện nội lực của ngân hàng
+ Khả năng huy động vốn (dân cư, nền kinh tế, liên ngân hàng…)
Để mở rộng cho vay phải đảm bảo khả năng đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triển trong từng thời kỳ, do vậy để mở rộng cho vay trước tiên phải huy động được nguồn vốn từ nền kinh tế và dân cư Nguồn vốn càng nhiều thì khả năng đáp ứng vốn cho nền kinh tế - xã hội càng được đảm bảo đầy đủ Nguồn vốn huy động tăng trưởng qua các năm cũng thể hiện sự tăng trưởng
và phát triển của ngân hàng thương mại trong quá trình cạnh tranh, đó cũng là nền tảng cho việc mở rộng cho vay
+ Nhu cầu sử dụng vốn của nền kinh tế (doanh nghiệp, dân cư…)
Trong lĩnh vực hoạt động của mình khi ngân hàng cùng với việc huy động tốt thì việc sử dụng vốn làm sao có hiệu quả và chất lượng đó là yếu tố quan trọng mà ngân hàng phải nghĩ đến Với việc nghiên cứu thị trường, nắm bắt được nhu cầu của khách hàng trong quá trình cho vay nhằm hỗ trợ cho khách hàng sản xuất kinh doanh đồng thời đây là nguồn thu chủ yếu để chi trả cho huy động vốn, một ngân hàng uy tín khi đáp ứng đầy đủ yếu tố huy động
và sử dụng vốn một cách có hiệu quả và chất lượng
Trang 40+ Mạng lưới hoạt động của Ngân hàng (Điểm giao dịch, Phòng Giao dịch) cũng như trình độ của nhân đội ngũ quản trị viên, nhân viên ngân hàng
có tác động trực tiếp đến khả năng hoạt động của ngân hàng đó Một Ngân hàng có mạng lưới hoạt động rộng lớn có cơ hội phát triển càng cao, dễ dàng đáp ứng được nhiều yêu cầu của khách hàng Mạng lưới chi nhánh của ngân hàng phủ khắp các địa phương, với khả năng kiểm soát rộng cũng có thể thúc đẩy sự đa dạng hóa về khu vực địa lý trên danh mục cho vay Yếu tố con người luôn quyết định sự thành bại của bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào, bất kỳ doanh nghiệp nào Cán bộ tín dụng (cho vay) là người đầu tiên tiếp xúc với khách hàng, hướng dẫn các thủ tục cho vay, tiếp cận các nhu cầu vay vốn, tư vấn các vấn đề liên quan đến tài chính, đến dự án đầu tư, thẩm định hồ sơ vay vốn và đề xuất cho vay hay từ chối cho vay Do vậy, trình độ, năng lực, đạo đức của những cán bộ làm công tác cho vay có ảnh hưởng rất lớn và là nhân
tố quan trọng liên quan đến khả năng mở rộng cho vay, chất lượng, hiệu quả của cho vay Trình độ nhân viên tốt còn giúp ngân hàng tiếp cận công nghệ tiên tiến một cách mau chóng, kịp thời giúp duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh cho đơn vị, hạn chế rủi ro Đây là những yếu tố có tác động không nhỏ đến việc xây dựng và thực hiện danh mục cho vay, vì vậy các ngân hàng phải cân nhắc một cách thận trọng ngay từ khi xây dựng danh mục mục tiêu, thiết lập chính sách cũng như thiết kế danh mục cho vay
b Các nhân tố thuộc về môi trường
- Môi trường kinh tế
Hoạt động cho vay của ngân hàng luôn được đánh giá là đòn bẫy cho
sự phát triển kinh tế cuả một quốc gia Trong khâu hoạch định, thiết kế danh mục, các ngân hàng phải hướng tới những ngành kinh tế chủ lực, mũi nhọn, những ngành kinh tế được Chính phủ, chính quyền địa phương ưu tiên tập trung phát triển trong từng thời kỳ nhất định Một danh mục cho vay được