Tuy nhiên, không phải các nhà quản lý điều hành nào cũng thấu hiểu được tầm quan trọng này, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả kiểm soát kế hoạch chi tiêu chưa cao, sử d
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kế toán tài chính là công cụ quản lý, giám sát chặt chẽ, có hiệu quả mọi hoạt động kinh tế, tài chính, cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực, kịp thời, đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý điều hành của cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân Tuy nhiên, không phải các nhà quản lý điều hành nào cũng thấu hiểu được tầm quan trọng này, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả kiểm soát kế hoạch chi tiêu chưa cao, sử dụng các nguồn kinh phí không đúng nội dung, mục đích, để xảy ra gian lận, sai sót, thất thoát tài sản, BCTC cung cấp thông tin chưa đầy đủ, kịp thời…
BHXH thành phố Đà Nẵng là đơn vị sự nghiệp, trực thuộc BHXH Việt Nam, với chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp (gọi chung là BHXH), BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện (gọi chung là BHYT) trên địa bàn thành phố theo quy định của BHXH Việt Nam và quy định của pháp luật BHXH thành phố Đà Nẵng chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam và chịu sự quản lý hành chính Nhà nước trên địa bàn thành phố của UBND thành phố Đà Nẵng
Với quy mô đối tượng ngày càng mở rộng theo Luật BHXH và Luật BHYT, trách nhiệm của BHXH thành phố Đà Nẵng nói riêng và của toàn ngành BHXH Việt Nam nói chung ngày càng nặng nề Trong năm 2011, tổng
số thu BHXH, BHYT, BHTN của BHXH thành phố Đà Nẵng là: 1.467 tỷ đồng, chi BHXH, BHYT, BHTN là: 1.676 tỷ đồng, chi QLBM là: 34,764 tỷ đồng So với năm 2010, tất cả các chỉ tiêu đều gia tăng rất lớn (trên 10%), đòi hỏi công tác kế toán tài chính cần phải có những chuyển biến tích cực để đảm bảo đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ
Song song với quy mô phát triển là hoạt động thu - chi tài chính tại
Trang 2BHXH thành phố Đà Nẵng diễn ra ngày một nhiều hơn với các nội dung thu - chi ngày càng đa dạng và phong phú Mặc dù công tác kế toán tài chính đã ngày càng được xem trọng nhưng vẫn còn một số hạn chế nhất định, nổi lên
một số vấn đề đáng lưu ý: Báo cáo tài chính chưa phản ánh được số dư tài khoản tổng hợp, công tác đối chiếu số dư tài khoản tiền gửi với các nguồn kinh phí và công nợ có liên quan chưa được quan tâm, phần mềm kế toán chưa được xem trọng công tác phân quyền và khai thác thông tin
Với những bất cập hiện có, công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố chưa thật sự là công cụ quản lý hiệu quả hoạt động tài chính tại đơn vị, thông tin trên báo tài chính chưa phản ánh đầy đủ tình hình tài chính của toàn ngành Đến thời điểm hiện tại, chưa có luận văn nào nghiên cứu đánh giá thực trạng về công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng nhằm hoàn thiện công tác này
Từ những lý do trên, hoàn thiện công tác kế toán tài chính là yêu cầu cấp thiết tại BHXH thành phố Đà Nẵng, đó chính là lý do tôi chọn đề tài
‘‘Hoàn thiện công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng”
làm luận văn thạc sỹ kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu thực trạng công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng
- Trên cơ sở các văn bản quy định của Nhà nước về kế toán tài chính có liên quan, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố
Trang 3Đà Nẵng, không bao gồm các BHXH quận, huyện trực thuộc, cụ thể:
+ Nghiên cứu nội dung tổ chức công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng: Tổ chức chứng từ kế toán, tổ chức tài khoản kế toán, tổ chức sổ kế toán, tổ chức lập BCTC;
+ Nghiên cứu công tác tổ chức lập, chấp hành và quyết toán dự toán chi NSNN tại BHXH thành phố Đà Nẵng;
+ Nghiên cứu công tác kiểm tra, đối chiếu số dư các tài khoản tiền gửi với số dư các nguồn kinh phí và công nợ có liên quan tại BHXH thành phố
4 Phương pháp nghiên cứu
Để phân tích, đánh giá được thực tiễn công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng nhằm xây dựng các giải pháp hoàn thiện công tác này, luận văn đã sử dụng các phương pháp: hệ thống, phân tích và tổng hợp,
từ đó so sánh và đối chiếu giữa thực tiễn công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng với những qui định của Luật kế toán, Chế độ kế toán ngành BHXH, những qui định khác của Nhà nước, của Ngành có liên quan đến công tác kế toán tài chính tại đơn vị
Ngoài ra, luận văn cũng đã sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp đối với các người có trách nhiệm tại BHXH thành phố Đà Nẵng:
- Đối với Giám đốc: Thu thập ý kiến nhận xét đánh giá chung về công tác kế toán tài chính tại đơn vị và quan điểm của Giám đốc trong công tác này
- Đối với Trưởng phòng KH-TC: Thu thập thông tin về các vấn đề liên
Trang 4quan trực tiếp đến công tác kế toán tài chính (công tác phân quyền sử dụng phần mềm kế toán, công tác bảo mật và an toàn dữ liệu kế toán) và những thông tin chung về công tác kế toán tài chính tại đơn vị
- Đối với Kế toán tổng hợp: Thu thập thông tin về việc sử dụng chi tiết phần mềm kế toán, cách vận hành phần mềm kế toán trong tất cả các chức năng công việc và những thông tin chi tiết về công tác kế toán tài chính tại đơn vị
- Đối với Trưởng phòng TC-HC: Thu thập thông tin về mối liên hệ với phòng KH-TC về việc theo dõi tiền lương và thanh toán tiền lương tại đơn vị Các vấn đề về việc mua sắm TSCĐ
Nguồn dữ liệu thu thập để phục vụ cho luận văn là các chứng từ, sổ sách, BCTC của một kỳ kế toán năm 2011 của BHXH thành phố Đà Nẵng, bao gồm cả số liệu tổng hợp toàn ngành (riêng BCTC là báo cáo năm 2011)
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Kế toán tài chính là công cụ rất quan trọng và không thể thiếu được trong hoạt động kinh tế, tài chính của tất cả các tổ chức kinh tế, sự nghiệp và quản lý điều hành của Nhà nước Trong lĩnh vực sự nghiệp công lập, công tác
kế toán tài chính chưa được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Trong phạm
Trang 5vi Đại học Đà Nẵng, một số nghiên cứu liên quan đến công tác này như:
- Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Đà Nẵng của Trần Thị Thanh Định
(2011) với đề tài: "Hoàn thiện tổ chức kế toán tại Trường Cao Đẳng Thương
mại" Luận văn này chủ yếu đề cập đến việc hoàn thiện tổ chức kế toán với
một số nội dung còn khuyến khuyết về: Hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và cách ghi chép; hệ thống sổ sách kế toán, báo cáo tài chính; tăng cường ứng dụng CNTT Ngoài ra luận văn còn có một số kiến nghị đối với Nhà nước và các cơ quan quản lý về một số vấn đề như: sửa đổi chế độ kế toán phải kịp thời với tình hình thực tế, phân loại tài khoản trong hệ thống tài khoản cho phù hợp liên quan đến nhóm tài khoản loại 3-Thanh toán
- Luận văn Thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng của Đoàn
Nguyên Hồng (2010) với đề tài: "Hoàn thiện công tác kế toán tài chính tại
bệnh viện hữu nghị Việt Nam-Cuba Đồng Hới" Luận văn này về cơ bản đã
phân tích đánh giá một cách tổng hợp về công tác kế toán cũng như công tác quản lý tài chính tại một đơn vị sự nghiệp công lập, cụ thể là Bệnh viện hữu nghị Việt Nam-Cu Ba Đồng Hới thuộc lĩnh vực sự nghiệp y tế Tuy nhiên, phần mềm kế toán ứng dụng được qui định bởi Bộ tài chính nhưng không thấy đề cập đến việc vận dụng một cách cụ thể như thế nào để có góc nhìn về một phần mềm kế toán được sử dụng trong một đơn vị sự nghiệp công lập
Mỗi luận văn như đã nêu, ở một khía cạnh khác nhau, một mặt nào đó
đã phản ánh cơ bản được ngành, lĩnh vực và đơn vị cụ thể mình đã nghiên cứu Tuy nhiên, công tác kế toán tài chính là một nội dung khá rộng, không chỉ riêng là hoạt động của phòng KH-TC mà liên quan đến các phòng chức năng khác nhau có liên quan, từ công tác quản lý tài chính đến công tác ứng dụng CNTT mà cụ thể là phần mềm kế toán Vì vậy, theo tác giả tìm hiểu về công tác kế toán tài chính của một ngành, lĩnh vực và đơn vị cụ thể nào đó cần phải đánh giá được một cách toàn diện và chi tiết mới phản ảnh được hết
Trang 6yêu cầu, nhiệm vụ của công tác này Nội dung đề cập đến công tác kế toán tài chính dưới góc độ chung cho các đơn vị sự nghiệp công lập có thể tham khảo một cách có chọn lọc và tổng hợp từ các luận văn như đã nêu để áp dụng cụ thể vào đơn vị mình nghiên cứu
Trong thực tế, đối với mỗi ngành, mỗi lĩnh vực đều có tính đặc thù khác nhau, vì vậy công tác kế toán tài chính sẽ có những nét riêng biệt Đến thời điểm hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng
Gắn với mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra là nghiên cứu Thực trạng công
tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng, luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở pháp lý là các qui định của Nhà nước
về công tác kế toán tài chính như Luật NSNN, Luật kế toán, Chế độ kế toán HCSN, Chế độ kế toán BHXH… và các giáo trình, tài liệu nghiên cứu có liên quan
Để hệ thống hóa được cơ sở lý luận của các vấn đề thực tiễn nghiên cứu, xác định được tài liệu cần lựa chọn, cũng như chọn lọc được những nội dung cần thiết từ tài liệu đã được chọn, tác giả đã chia hoạt động công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng thành những phần riêng biệt như: tổ chức chứng từ kế toán, tổ chức tài khoản kế toán, tổ chức sổ kế toán
và tổ chức lập báo cáo tài chính; các nghiệp vụ có liên quan đến công tác kế toán tài chính, ứng dụng phần mềm kế toán… Sau đó, tiến hành đi vào nghiên cứu chi tiết đối với từng phần, đối chiếu với cơ sở lý thuyết để thực hiện cho mục tiêu nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, nguồn tài liệu sử dụng luôn được xác định
là phải có tầm tham khảo đủ rộng để có thể bao quát tổng thể phạm vi của đề tài; mức độ tham khảo tài liệu phải có chiều sâu, nội dung phải đảm bảo đầy
Trang 7đủ chi tiết đến từng vấn đề cần nghiên cứu, đáp ứng được với yêu cầu của cấp
độ nghiên cứu và nhằm giải quyết được các vấn đề đã đặt ra; nội dung cơ sở
lý luận từ các nguồn tài liệu được chọn lọc chỉ đề cập đến những vấn đề có liên quan đến việc nghiên cứu; thông tin sử dụng để đánh giá các vấn đề có tính khách quan, luôn kịp thời, tránh trường hợp bị lạc hậu so với qui định, thông tin chuyên ngành về BHXH…
Công tác kế toán tài chính tại mỗi ngành, mỗi lĩnh vực trong các đơn vị
sự nghiệp công lập đều có những hoạt động mang tính đặc thù: Đặc thù về hoạt động tài chính, cung cấp dịch vụ công, mối liên hệ giữa các phòng chức năng, quan điểm của Lãnh đạo về công tác kế toán tài chính, vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán…, những vấn đề này có ảnh hưởng rất lớn đến công tác kế toán tài chính tại đơn vị, cũng như khả năng xảy ra những rủi ro trong hoạt động kế toán tài chính Vì vậy, nguồn tài liệu nghiên cứu cũng phải đề cập để hiểu rõ các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và ngành BHXH nói riêng để có cái nhìn tổng quát cũng như thấy được những nét khác biệt của ngành nghiên cứu
Để tiếp cận với các vấn đề khác biệt của ngành BHXH, tác giả đã thông qua việc thu thập và nghiên cứu chế độ kế toán BHXH, các văn bản liên quan đến hoạt động tài chính của ngành BHXH, của BHXH thành phố Đà Nẵng, kết hợp với việc phỏng vấn những người có trách nhiệm của đơn vị, tìm hiểu mối liên hệ giữa các phòng chức năng, tìm hiểu các phương thức quản lý tài chính liên quan đến hoạt động kế toán tài chính, đặc biệt chú trọng đến những hoạt động kế toán tài chính có tính chất rủi ro cao, tìm hiểu việc sử dụng phần mềm kế toán tại đơn vị
Nghiên cứu này thực hiện trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đang đẩy mạnh xã hội hóa và đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó có cải cách cơ chế quản lý tài chính Đối với ngành BHXH, ngày
Trang 820/01/2011 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số TTg thay thế cho Quyết định số 41/2007/QĐ-TTg ngày 29/3/2007 về quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam Quyết định này nhằm mục đích thực hiện tốt chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BHTN cũng như tổ chức thực hiện nhiệm vụ này đảm bảo theo qui định của pháp luật Đồng thời đổi mới cơ chế quản lý tài chính và biên chế đối với hoạt động của BHXH Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để tạo điều kiện đầu tư phát triển; tăng thu nhập, cải thiện đời sống CBCCVC và gắn trách nhiệm với lợi ích của CBCCVC trong hoạt động nghiệp vụ; trao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho thủ trưởng đơn vị trong sử dụng biên chế và kinh phí quản lý được giao nhằm thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn, nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao; thực hiện minh bạch và công khai tài chính theo qui định của pháp luật.
04/2011/QĐ-Với một số hạn chế nổi lên trong công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng cần khắc phục, cùng với việc phấn đấu thực hiện tốt các mục tiêu đặt ra trong cơ chế quản lý tài chính mới của ngành BHXH mà Thủ
tướng chính phủ đã ban hành, nghiên cứu nhằm Hoàn thiện công tác kế toán
tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng có thể nói là nhu cầu cấp thiết trong
giai đoạn hiện nay tại BHXH thành phố Đà Nẵng
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP1.1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1.1 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập là các tổ chức được cơ quan có thẩm quyền của Đảng, cơ quan Nhà nước và Tổ chức chính trị - xã hội thành lập và quản
lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản, hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định
Ngoài các đơn vị sự nghiệp công lập, Nhà nước còn khuyến khích phát triển các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập hoạt động trong các lĩnh vực xã hội hóa theo quy định của Nhà nước như: Giáo dục - đào tạo, dạy nghề; y tế; văn hoá; thể dục thể thao; môi trường; xã hội; dân số; gia đình; bảo vệ chăm sóc trẻ em Đơn vị sự nghiệp ngoài công lập do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
- nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân, nhóm cá nhân hoặc cộng đồng dân cư thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tự bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài NSNN và hoạt động theo quy định của pháp luật
1.1.2 Phân cấp quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập
Phân loại theo phân cấp quản lý tài chính trong cùng một ngành theo hệ thống ngành dọc từ trên xuống, đơn vị sự nghiệp có 3 loại sau:
- "Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách hàng năm do Thủ tướng Chính phủ hoặc UBND giao Đơn vị dự toán cấp I thực hiện phân bổ, giao dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới trực thuộc" [8, tr.3], chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán
Trang 10và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán, quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc theo quy định;
- "Đơn vị dự toán cấp II là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp I, được đơn vị dự toán cấp I giao dự toán và phân bổ dự toán được giao cho đơn vị dự toán cấp III (trường hợp được ủy quyền của đơn vị dự toán cấp I)" [8, tr.3], chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán, quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới theo quy định;
- "Đơn vị dự toán cấp III là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách, được đơn vị dự toán cấp I hoặc cấp II giao dự toán ngân sách" [8, tr.3], có trách nhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc (nếu có) theo quy định
"Đơn vị cấp dưới của đơn vị dự toán cấp III được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán theo quy định" [8, tr.3] Đơn vị này chỉ được mở tài khoản giao dịch ở ngân hàng hoặc kho bạc khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép
1.1.3 Đặc điểm cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập
vị và có ý kiến của tổ chức công đoàn đơn vị;
- Mở tài khoản tại KBNN để thực hiện thu, chi qua KBNN đối với các khoản kinh phí thuộc NSNN theo quy định của Luật NSNN, gồm: Kinh phí NSNN cấp; các khoản thu, chi phí và lệ phí thuộc NSNN và các khoản khác của NSNN (nếu có);
Trang 11- Được mở tài khoản tại ngân hàng hoặc KBNN để phản ánh các khoản thu, chi hoạt động dịch vụ;
- Trích tối thiểu 25% số chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có) để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
- Trả thu nhập tăng thêm (tiền lương tăng thêm) cho NLĐ từ phần kinh phí tiết kiệm chi, chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có);
- Trích lập quỹ dự phòng ổn định thu nhập, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm
b Đặc điểm cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm và tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động
- Nếu có các hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng và nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao sẽ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật;
- Định mức chi quản lý và chi nghiệp vụ trong quy chế chi tiêu nội bộ
có thể cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định;
- Thu nhập tăng thêm được tính theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị (đối với đơn vị tự đảm bảo chi phí hoạt động) và thu nhập tăng thêm được tính tối đa không quá 02 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm do Nhà nước quy định (đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động);
- Tạm chi trước thu nhập tăng thêm: Mức tạm chi trước thu nhập tăng thêm hàng quý tối đa không quá 40% số chênh lệch thu lớn hơn chi đơn vị xác định được theo quý
Trang 12c Đặc điểm cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động
- Định mức chi quản lý và chi nghiệp vụ trong quy chế chi tiêu nội bộ không được vượt quá mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định;
- Thu nhập tăng thêm được tính tối đa không quá 01 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm do Nhà nước quy định;
- Tạm chi trước thu nhập tăng thêm: Mức tạm chi trước thu nhập tăng thêm hàng quý tối đa không quá 40% số chênh lệch thu lớn hơn chi đơn vị xác định được theo quý
1.1.4 Nguồn thu và nội dung chi hoạt động sự nghiệp
a Nguồn thu hoạt động sự nghiệp
- Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí cho đơn vị sử dụng theo quy định của Nhà nước;
- Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị: Sự nghiệp giáo dục đào tạo; sự nghiệp y tế, đảm bảo xã hội;
sự nghiệp văn hóa thông tin; sự nghiệp thể dục, thể thao; sự nghiệp kinh tế…;
- Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng từ các hoạt động dịch vụ;
- Nguồn vốn viện trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật;
b Nội dung chi hoạt động sự nghiệp
* Chi thường xuyên:
- Chi hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có
Trang 13thẩm quyền giao, gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp BHXH, BHTN, BHYT, KPCĐ theo quy định hiện hành; dịch
vụ công cộng; văn phòng phẩm; các khoản chi nghiệp vụ; sửa chữa thường xuyên TSCĐ và các khoản chi khác theo chế độ quy định;
- Chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí, gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp BHXH, BHTN, BHYT, KPCĐ theo quy định hiện hành cho số lao động trực tiếp phục vụ công tác thu phí và lệ phí; các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn; sửa chữa thường xuyên TSCĐ và các khoản chi khác theo chế độ quy định phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí;
- Chi cho các hoạt động dịch vụ gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp BHXH, BHTN, BHYT, KPCĐ theo quy định hiện hành; nguyên, nhiên, vật liệu, lao vụ mua ngoài; khấu hao TSCĐ; sửa chữa TSCĐ; chi trả lãi tiền vay, lãi tiền huy động theo hình thức vay của cán bộ, viên chức; chi các khoản thuế phải nộp theo quy định của pháp luật và các khoản chi khác (nếu có)
* Chi không thường xuyên:
- Chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ Đối với các đơn
vị sự nghiệp công không phải là tổ chức khoa học công nghệ thì đây là nội dung chi triển khai và thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, cấp
Bộ (Ngành), cấp Nhà nước;
- Chi thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức: chuẩn hóa cán bộ, bồi dưỡng chuyên môn định kỳ theo kế hoạch của đơn vị ;
- Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia;
- Chi thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng (điều tra, quy
Trang 14hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác) theo giá hoặc khung giá Nhà nước quy định;
- Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy định;
- Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
- Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu có);
- Chi đầu tư XDCB, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn TSCĐ thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài;
- Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết;
- Các khoản chi khác theo quy định (nếu có)
1.1.5 Nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị sự nghiệp công lập về quản lý NSNN
- Tổ chức lập dự toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý, thực hiện phân bổ dự toán ngân sách được cấp có thẩm quyền giao cho các đơn vị trực thuộc và điều chỉnh phân bổ dự toán theo thẩm quyền;
- Tổ chức thực hiện dự toán thu, chi ngân sách được giao; nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản phải nộp ngân sách theo quy định của pháp luật; chi đúng chế độ, đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm; quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước đối với các đơn vị trực thuộc theo đúng chế độ quy định;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện thu, chi ngân sách đối với các đơn
vị trực thuộc;
- Chấp hành đúng quy định của pháp luật về kế toán, thống kê; báo cáo, quyết toán ngân sách và công khai ngân sách theo quy định của pháp luật;
Trang 15- Duyệt quyết toán đối với các đơn vị dự toán cấp dưới.
1.2 CÔNG TÁC KẾ TOÁN TÀI CHÍNH TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.2.1 Cơ sở, nguyên tắc và yêu cầu của kế toán tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập
a Cơ sở kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Đối với các doanh nghiệp, việc áp dụng cơ sở kế toán được đề cập tại chuẩn mực kế toán số 01"Chuẩn mực chung" ban hành kèm theo quyết định
số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và các chuẩn mực khác có liên quan, đó là cơ sở kế toán dồn tích Nhà nước chưa qui định cơ sở kế toán cụ thể đối với các đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng và đơn vị HCSN nói chung Các cơ sở kế toán hiện nay đang được áp dụng:
- Cơ sở kế toán dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của đơn vị
liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền [9] BCTC lập trên cơ
sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của đơn vị trong quá khứ, hiện tại và tương lai Thường được áp dụng đối với những đơn vị có qui mô hoạt động lớn, đặc biệt là hoạt động kinh doanh liên quan đến hàng tồn kho
- Cơ sở kế toán dựa trên dòng tiền: Là phương pháp kế toán dựa trên
cơ sở Thực thu-Thực chi, “chỉ cho phép ghi nhận các giao dịch khi các giao dịch này phát sinh bằng tiền” [21] Thường được áp dụng đối với những đơn
vị có qui mô hoạt động nhỏ, hoạt động chủ yếu dựa vào các luồng tiền vào ra
b Yêu cầu và nguyên tắc của kế toán tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Trang 16Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của mình, khi tổ chức kế toán tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập, cần thực hiện tốt các yêu cầu và nguyên tắc sau:
- Đảm bảo ghi chép, hạch toán, phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời các hoạt động kinh tế hàng ngày của đơn vị vào hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán theo đúng chuẩn mực và chế độ kế toán qui định;
- Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ thu nộp, thanh toán nợ, kiểm tra việc quản lý sử dụng tài sản, nguồn kinh phí, phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán;
- Thực hiện chế độ kiểm kê tài sản theo đúng quy định nhằm tăng cường công tác quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản;
- Thực hiện chế độ BCTC thường xuyên và định kỳ, gửi cho các cơ quan theo đúng quy định;
- Tổ chức công tác kế toán cần bố trí hợp lý về nhân sự, công việc nhằm tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả chất lượng thông tin phục vụ;
Trong nền kinh tế hội nhập và phát triển thì thông tin kế toán phải dựa trên những nguyên tắc chung thống nhất nhằm tạo ra sự thống nhất về thông tin kế toán của các đơn vị trong nền kinh tế và kế toán tài chính đơn vị sự nghiệp công lập cũng không nằm ngoài yêu cầu này Các nguyên tắc chung được thừa nhận được đề ra bởi Ủy ban Chuẩn mực Kế toán (Hiệp hội kế toán quốc tế) giúp cho người sử dụng thông tin kế toán giữa các nước có thể hiểu được kế toán của nhau Một số nguyên tắc chung được thừa nhận bao gồm:
- Thước đo tiền tệ: Là khoảng thời gian nhất định mà các báo cáo kế toán được lập, có thể hàng tháng, quý, năm, nhằm tiện cho việc so sánh, thì các kỳ kế toán thường dài bằng nhau;
- Nguyên tắc phù hợp: Đòi hỏi chi phí phải phù hợp với doanh thu mà
nó tạo ra ở kỳ đó, để đảm bảo kế toán xác định đúng đắn kết quả kinh doanh
Trang 17trong đơn vị sự nghiệp công lập;
- Nguyên tắc khách quan: Thông tin do kế toán cung cấp phải mang tính khách quan dựa trên những bằng chứng tin cậy thông qua hệ thống chứng
từ có thể kiểm tra được;
- Nguyên tắc công khai: Nguyên tắc này được hiểu hệ thống BCTC của đơn vị phải đầy đủ, rõ ràng và công khai cho tất cả các đối tượng sử dụng thông tin
1.2.2 Nội dung tổ chức công tác kế toán tài chính trong các đơn vị
sự nghiệp công lập
a Tổ chức chứng từ kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Chứng từ kế toán là khâu đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng trong chu trình kế toán khép kín Chứng từ kế toán là căn cứ pháp lý cho việc ghi sổ kế toán và các BCTC, là căn cứ để kiểm tra các thông tin về tình hình tài chính của một đơn vị Hoặc có thể nói chứng từ kế toán là một bức tranh tổng thể toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ
kế toán Tổ chức hợp lý, khoa học hệ thống chứng từ kế toán sẽ có ý nghĩa nhiều mặt về pháp lý, về quản lý và về công tác kế toán tại một đơn vị
* Qui trình luân chuyển chứng từ kế toán:
Thông thường chứng từ kế toán thường được luân chuyển qua các bước như sau:
Sơ đồ 1.1 - Qui trình luân chuyển chứng từ kế toán
Bước 1: Lập chứng từ
Thực hiện tốt khâu lập chứng từ kế toán là tiền đề quan trọng để nâng cao chất lượng thông tin kế toán, là cơ sở để đưa ra các quyết định, góp phần
Trang 18nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính, ngăn chặn các hiện tượng tham ô, tiêu cực trong hoạt động quản lý tài sản Việc lập chứng từ kế toán đã ghi nhận nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoàn thành và tạo ra một cơ sở pháp lý hợp phápcho các bước tiếp theo của một chu trình kế toán tài chính
Kế toán căn cứ vào yêu cầu hạch toán của đơn vị và các chứng từ gốc
có liên quan để viết chứng từ cho phù hợp với yêu cầu hạch toán, với nội dung của từng loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh, kỹ thuật viết chứng từ phải đúng quy định, sau khi viết xong phải kiểm tra sơ bộ về số tiền và nội dung chứng từ viết và chứng từ gốc
Bước 2: Kiểm tra và ký chứng từ
Chứng từ sau khi được viết xong, được chuyển tới Kế toán trưởng hoặc Trưởng phòng, ban tương đương để kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của chứng
từ và ký xác nhận Sau đó, chứng từ được chuyển tới Thủ trưởng đơn vị để kiểm tra và phê duyệt Chứng từ sau khi được những người có trách nhiệm kiểm tra được chuyển tới các bộ phận sử dụng chứng từ thực hiện của chứng
từ như chi tiền mặt, xuất kho…sau đó hoàn thiện đầy đủ các chữ ký của những người có trách nhiệm vào chứng từ và được chuyển về phòng kế toán Tất cả các chữ ký trên chứng từ kế toán đều phải đảm bảo theo đúng quy định (ký bằng bút bi hoặc bút mực, không được ký bằng mực đỏ, bằng bút chì, hoặc dấu khắc sẵn chữ ký, chữ ký trên chứng từ kế toán dùng để chi tiền phải
ký theo từng liên )
Việc mở sổ đăng ký mẫu chữ ký của thủ quỹ, thủ kho, các nhân viên kế toán, kế toán trưởng (và người được ủy quyền), Thủ trưởng đơn vị (và người được ủy quyền) tại các đơn vị sự nghiệp công lập là qui định bắt buộc Sổ đăng ký mẫu chữ ký phải đánh số trang, đóng dấu giáp lai do Thủ trưởng đơn
vị (hoặc người được ủy quyền) quản lý nhằm mục đích phục vụ cho công tác kiểm tra khi cần thiết Mỗi người phải ký ba chữ ký mẫu trong sổ đăng ký
Trang 19Bước 3: Sử dụng chứng từ và bảo quản chứng từ
Chứng từ được phân loại theo từng nội dung kinh tế, sau đó được ghichép vào các sổ chi tiết và sổ tổng hợp theo yêu cầu của quá trình hạch toán Sau đó sắp xếp khoa học theo trình tự thời gian và nội dung kinh tế để bảo quản tại phòng kế toán cho đến khi quyết toán của đơn vị được đơn vị cấp trên phê duyệt Cuối cùng, chuyển sang bộ phận bảo mật bảo quản theo quy định của Nhà nước Cụ thể về thời gian bảo quản chứng từ như sau:
+ Tối thiểu 5 năm đối với tài liệu kế toán dùng cho quản lý, điều hành của đơn vị kế toán gồm cả chứng từ kế toán không sử dụng trực tiếp để ghi sổ
từ kế toán
- Chứng từ kế toán chung cho các đơn vị HCSN, gồm 4 chỉ tiêu:
+ Chỉ tiêu lao động tiền lương;
+ Chỉ tiêu vật tư;
+ Chỉ tiêu tiền tệ;
+ Chỉ tiêu TSCĐ
Trang 20- Chứng từ kế toán ban hành theo các văn bản pháp luật khác (Các mẫu
và hướng dẫn phương pháp lập từng chứng từ được áp dụng theo quy định các văn bản pháp luật khác)
Chi tiết Hệ thống chứng từ kế toán theo Chế độ kế toán HCSN (xem Phụ
Tổ chức thực hiện hệ thống tài khoản kế toán, các đơn vị phải tuân thủ các quy định của Bộ Tài chính về số hiệu, tên gọi, nội dung, kết cấu, phương pháp hạch toán của từng tài khoản kế toán Luật kế toán Việt Nam, tại điều 24
đã qui định: "Đơn vị phải căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài chính qui định để chọn hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho đơn vị"[11, tr.13]
Hệ thống tài khoản kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập cơ bản căn
cứ theo Chế độ kế toán HCSN; chế độ kế toán riêng của ngành (nếu có) với đặc điểm: ban hành dựa trên hệ thống tài khoản của Chế độ kế toán HCSN, đồng thời bổ sung một số tài khoản đặc thù của ngành Hệ thống tài khoản theo Chế độ kế toán HCSN phân thành các loại như sau:
Loại 1 - Tiền và vật tư
Loại 2 - TSCĐ
Loại 3 – Thanh toán
Trang 21Loại 4 - Nguồn kinh phí.
Loại 5- Các khoản thu
Loại 6 - Các khoản chi
Loại 0 - Các tài khoản ngoài bảng
Trên cơ sở hệ thống tài khoản kế toán thống nhất áp dụng cho các đơn
vị, kế toán lựa chọn các tài khoản kế toán phù hợp để phản ánh các hoạt động kinh tế của đơn vị mình Việc lựa chọn các tài khoản thường dựa vào các căn
cứ sau:
- Đặc điểm hoạt động phù hợp với nhiệm vụ chính trị được giao;
- Yêu cầu quản lý và cơ chế phân cấp quản lý tài chính trong các đơn vị
vụ yêu cầu quản lý của đơn vị” [1, tr.9]
Chi tiết Hệ thống tài khoản kế toán theo Chế độ kế toán HCSN (xem
phụ lục số 1.2)
c Tổ chức hệ thống sổ kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Sổ kế toán là phương tiện dùng để hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế theo thời gian hoặc theo nội dung kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý của các đơn vị Nói cách khác, sổ kế toán chính là phương pháp thể hiện tài khoản
kế toán, đó là phương tiện vật chất để thực hiện công tác kế toán [18, tr.21]
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, các đơn vị kế toán cấp I và cấp II,
Trang 22ngoài việc mở sổ kế toán theo dõi tài sản và sử dụng kinh phí trực tiếp của cấp mình còn phải mở sổ kế toán theo dõi việc phân bổ dự toán, tổng hợp việc
sử dụng kinh phí và quyết toán kinh phí của các đơn vị trực thuộc (đơn vị kế toán cấp II và cấp III) để tổng hợp BCTC về tình hình sử dụng kinh phí và quyết toán với cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính đồng cấp
Đơn vị kế toán được phép lựa chọn một trong bốn hình thức sổ kế toán phù hợp và phải tuân thủ mọi nguyên tắc cơ bản quy định cho hình thức sổ kế toán đã lựa chọn về: Loại sổ, số lượng, kết cấu các loại sổ, mối quan hệ giữa các loại sổ, trình tự và kỹ thuật ghi chép các loại sổ kế toán Cụ thể:
- Hình thức kế toán Nhật ký chung;
- Hình thức kế toán Nhật ký- Sổ Cái;
- Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ;
- Hình thức kế toán trên máy vi tính
Trong điều kiện tin học hóa phổ biến và đi vào công việc, đời sống như hiện nay, đa số các đơn vị sự nghiệp công lập chủ yếu sử dụng Hình thức kế toán trên máy vi tính Đặc trưng cơ bản của Hình thức kế toán trên máy vi tính là công việc kế toán được thực hiện trên chương trình phần mềm kế toán
và được thiết kế theo nguyên tắc của một trong ba hình thức kế toán hoặc kết hợp các hình thức kế toán: Nhật ký chung, Nhật ký -Sổ cái, Chứng từ ghi sổ
Sử dụng phần mềm kế toán, việc hiển thị qui trình ghi sổ kế toán sẽ không đầy đủ, tuy nhiên yêu cầu phải in được đầy đủ sổ kế toán và BCTC theo quy định Việc mở sổ, ghi sổ, khóa sổ và sửa chữa sổ kế toán trên phần mềm kế toán phải theo quy định của Nhà nước Cuối kỳ kế toán, sổ kế toán được in ra giấy, đóng thành quyển và lưu trữ theo qui định
Hệ thống sổ kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập cơ bản căn cứ theo Chế độ kế toán HCSN; chế độ kế toán riêng của ngành (nếu có) với đặc điểm: ban hành dựa trên hệ thống mẫu sổ của Chế độ kế toán HCSN, đồng
Trang 23thời bổ sung một số sổ sách đặc thù của ngành.
Chi tiết Hệ thống sổ kế toán theo Chế độ kế toán HCSN (xem phụ lục
BCTC cung cấp thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và thực trạng của đơn vị, là căn cứ quan trọng giúp cơ quan Nhà nước, lãnh đạo đơn vị kiểm tra, giám sát điều hành hoạt động của đơn vị
Các đơn vị sự nghiệp công lập tổ chức bộ máy kế toán theo quy định tại Điều 48 Nghị định số 128/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004, các đơn vị kế toán cấp I, II gọi là đơn vị kế toán cấp trên, các đơn vị kế toán cấp II, III gọi là đơn
vị kế toán cấp dưới, đơn vị kế toán dưới đơn vị kế toán cấp III (nếu có) gọi là đơn vị kế toán trực thuộc
Danh mục, mẫu và phương pháp lập BCTC quý, năm của đơn vị kế toán trực thuộc do đơn vị kế toán cấp I quy định Các đơn vị kế toán có trách nhiệm lập, nộp BCTC và duyệt báo cáo quyết toán ngân sách như sau:
- Các đơn vị kế toán cấp dưới phải lập, nộp BCTC quý, năm cho đơn vị
kế toán cấp trên, cơ quan Tài chính và Thống kê đồng cấp, KBNN nơi đơn vị giao dịch để phối hợp kiểm tra, đối chiếu, điều chỉnh số liệu kế toán liên quan đến thu, chi NSNN và hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của đơn vị;
- Các đơn vị kế toán cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, xét duyệt báo cáo quyết toán đơn vị kế toán cấp dưới và lập BCTC tổng hợp từ các BCTC quý, năm của các đơn vị kế toán cấp dưới và các đơn vị kế toán trực thuộc
Trang 24Hệ thống BCTC trong các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo Chế độ kế toán HCSN; chế độ kế toán riêng của ngành (nếu có) với đặc điểm: ban hành dựa trên hệ thống BCTC của Chế độ kế toán HCSN, đồng thời bổ sung một số BCTC đặc thù của ngành.
Chi tiết Hệ thống BCTC theo Chế độ kế toán HCSN (xem phụ lục 1.4).
1.2.3 Tổ chức lập, chấp hành và quyết toán dự toán chi NSNN trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [10, tr.1] Tổ chức lập, chấp hành và quyết toán dự toán chi NSNN là một chu trình không thể thiếu được trong các đơn vị có sử dụng NSNN và Luật Ngân sách nhà nước, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ
về việc qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước đã nêu rất rõ về vấn đề này
a Lập dự toán chi NSNN hàng năm
Lập dự toán chi ngân sách là việc phân tích, đánh giá một cách có khoa học nhu cầu chi các nguồn tài chính để xây dựng các chỉ tiêu chi ngân sách một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và đảm bảo phù hợp với thực tiễn Việc lập dự toán phải căn cứ vào phạm vi nhiệm vụ được giao, đặc điểm cụ thể của đơn vị, các tiêu chuẩn định mức do các cơ quan Nhà nước quy định, tình hình tài chính của năm trước đó, các văn bản hướng dẫn về lập dự toán của cấp có thẩm quyền (Bộ Tài chính, UBND cấp tỉnh…)
Hàng năm, các đơn vị sự nghiệp công lập lập dự toán chi ngân sách cho đơn vị mình để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Căn cứ vào dự toán chi NSNN được cấp có thẩm quyền giao, Bộ (ngành) chủ quản (đối với đơn vị sự
Trang 25nghiệp trung ương), cơ quan chủ quản địa phương (đối với đơn vị sự nghiệp địa phương) lập phương án phân bổ gửi cơ quan tài chính cùng cấp thẩm tra; sau khi có ý kiến thống nhất của cơ quan tài chính cùng cấp, cơ quan chủ quản giao dự toán cho đơn vị thực hiện.
Hiện nay, hai phương pháp lập dự toán thường được sử dụng là lập dự toán trên cơ sở quá khứ và lập dự toán cấp không, cụ thể:
- Phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ là phương pháp xác định các chỉ tiêu trong dự toán dựa vào kết quả hoạt động thực tế của kỳ liền trước
và điều chỉnh theo tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát dự kiến [20] Đây là phương pháp lập dự toán truyền thống, dễ thực hiện và phù hợp với những hoạt động tương đối ổn định, tạo điều kiện, cơ sở bền vững cho nhà quản lý của đơn vị trong việc điều hành mọi hoạt động;
- Phương pháp lập dự toán cấp không là phương pháp xác định các chỉ tiêu trong dự toán dựa vào nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động trong năm kế hoạch, phù hợp với điều kiện cụ thể hiện có của đơn vị chứ không dựa trên kết quả hoạt động thực tế của năm trước [20] Đây là phương pháp lập dự toán phức tạp bởi phải chi tiết và cụ thể hóa mục tiêu hoạt động phù hợp với điều kiện của đơn vị để lập dự toán cho năm kế hoạch
b Chấp hành dự toán chi NSNN hàng năm
Chấp hành dự toán chi là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế tài chính, hành chính nhằm biến các chỉ tiêu chi ghi trong dự toán ngân sách của đơn vị thành hiện thực [20] Trên có sở dự toán ngân sách được giao, các cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
Trang 26trách nhiệm đề ra những biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ chi ngân sách, thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham ô; chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật tài chính Mọi tổ chức, cá nhân phải sử dụng kinh phí NSNN đúng mục đích, chế độ, tiết kiệm, có hiệu quả.
Để theo dõi quá trình chấp hành dự toán chi ngân sách, các đơn vị sự nghiệp công lập cần tiến hành theo dõi chi tiết, cụ thể từng khoản chi trong kỳ của đơn vị
c Quyết toán chi NSNN hàng năm
Quyết toán thu chi là công việc cuối cùng của chu trình quản lý tài chính Đây là quá trình kiểm tra, tổng hợp số liệu về tình hình chấp hành dự toán trong kỳ và là cơ sở để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán từ
đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho các kỳ tiếp theo
Các tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thu, chi NSNN phải tổ chức hạch toán
kế toán, báo cáo và quyết toán theo đúng chế độ kế toán của Nhà nước
1.2.4 Tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán áp dụng trong các đơn vị sự nghiệp công lập
a Tiêu chuẩn của phần mềm kế toán
- Đảm bảo hỗ trợ cho người sử dụng tuân thủ đầy đủ các quy định của Nhà nước trong công tác kế toán về: chứng từ kế toán, tài khoản và phương pháp kế toán, sổ sách kế toán, BCTC, in và lưu trữ tài liệu;
- Đảm bảo việc nâng cấp, sửa đổi, bổ sung hoặc loại bỏ chứng từ, tài khoản, mẫu sổ, BCTC cho phù hợp với những thay đổi nhất định của chế độ
kế toán, chính sách tài chính mà không làm ảnh hưởng đến CSDL đã có cũng như hệ thống hiện tại;
- Xử lý tự động và đảm bảo sự chính xác về số liệu kế toán trên nguyên
Trang 27tắc tuân thủ các quy trình kế toán cũng như phương pháp tính toán các chỉ tiêu trên BCTC theo quy định hiện hành;
- Có khả năng tự động dự báo, phát hiện và ngăn chặn các sai sót trong quá trình nhập liệu và xử lý thông tin kế toán;
- Đảm bảo tính bảo mật thông tin và an toàn dữ liệu: phân quyền được đến từng người sử dụng theo chức năng; tổ chức theo dõi được người dùng theo các tiêu thức, như: thời gian truy cập, các thao tác truy cập vào hệ thống
và các đối tượng bị tác động của thao tác đó;
- Lưu lại được các dấu vết trên sổ kế toán về việc sửa chữa các số liệu
kế toán đã được truy cập chính thức vào hệ thống;
- Đảm bảo chỉ có người có trách nhiệm mới được quyền sửa chữa sai sót đối với các nghiệp vụ đã được truy cập chính thức vào hệ thống;
- Phục hồi được các dữ liệu, thông tin kế toán trong các trường hợp phát sinh sự cố kỹ thuật đơn giản trong quá trình sử dụng
b Điều kiện của phần mềm kế toán
- Phải được đặt tên, thuyết minh rõ xuất xứ, tính năng kỹ thuật, mức độ đạt các tiêu chuẩn của Chế độ kế toán áp dụng;
- Phải có tài liệu hướng dẫn cụ thể kèm theo để giúp người sử dụng vận hành một cách dễ dàng, an toàn và xử lý các sự cố đơn giản
c Điều kiện áp dụng phần mềm kế toán
- Đảm bảo tiêu chuẩn, điều kiện phù hợp với tổ chức hoạt động và yêu cầu quản lý của đơn vị, bao gồm: hệ thống thiết bị về tin học, trình độ quản
lý, trình độ tin học của cán bộ quản lý, đội ngũ nhân viên kế toán;
- Phải có quy chế sử dụng phần mềm kế toán trên máy vi tính theo các
Trang 28yêu cầu: quản lý máy chủ (nếu có); quản lý dữ liệu; kiểm tra, kiểm soát việc đưa thông tin từ ngoài vào hệ thống; qui định về sao, lưu dữ liệu định kỳ; qui định về phân quyền truy cập, trong đó có việc phân định chức năng, quyền hạn của từng người trong bộ máy kế toán; quy định về những danh mục thông tin không được phép lưu chuyển;
- Phải tổ chức trang bị và sử dụng các thiết bị lưu trữ an toàn cho hệ thống, được bố trí và vận hành theo đúng yêu cầu kỹ thuật;
- Đảm bảo điều kiện về con người và tổ chức bộ máy kế toán: cán bộ kế toán có đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ kế toán và trình độ sử dụng máy vi tính đáp ứng yêu cầu sử dụng phần mềm kế toán trên máy vi tính;
- Đảm bảo tính thống nhất trong công tác kế toán: các đơn vị kế toán có các đơn vị kế toán trực thuộc phải lập BCTC tổng hợp thì các đơn vị kế toán trực thuộc sử dụng phần mềm kế toán thống nhất và thuận tiện cho việc kết nối thông tin, số liệu báo cáo
1.2.5 Công tác tự kiểm tra kế toán tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
Hàng năm, các đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm thực hiện côngtác tự kiểm tra tài chính, kế toán tại đơn vị mình và các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc theo quy định của Nhà nước, việc kiểm tra có thể là kiểm tra đột xuất hoặc kiểm tra định kỳ theo kế hoạch
a Mục đích của công tác tự kiểm tra
Thông qua việc kiểm tra việc tuân thủ các cơ chế tài chính; tính hợp pháp của các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh; tính hiệu lực, hiệu quả các hoạt động kinh tế; chất lượng và độ tin cậy của các thông tin được cung cấp thông qua BCTC , công tác tự kiểm tra nhằm mục đích:
Trang 29- Đánh giá tình hình triển khai chấp hành: dự toán ngân sách; cơ chế chính sách và quản lý các khoản thu, chi tài chính, quản lý và sử dụng tài sản; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí;
- Phát hiện, chấn chỉnh và xử lý kịp thời các sai phạm; tổ chức rút kinh nghiệm và đưa ra phương hướng, biện pháp khắc phục nhằm tăng cường công tác quản lý tài chính, kế toán
b Hình thức của công tác tự kiểm tra
Tuỳ theo đặc điểm hoạt động, tổ chức bộ máy, tình hình thực tế và hoàn cảnh cụ thể mà mỗi đơn vị vận dụng các hình thức khác nhau tổ chức tự kiểm tra tài chính, kế toán:
- Tự kiểm tra thường xuyên theo kế hoạch cho từng kỳ kế toán hoặc cảnăm tài chính: nhằm mục đích tạo ra nề nếp, lề lối hoạt động của đơn vị;
- Tự kiểm tra thường xuyên mọi hoạt động kinh tế, tài chính và không nhất thiết phải tổ chức các cuộc kiểm tra mà chỉ cần có những biện pháp kiểm tra chéo giữa các bộ phận; giữa các giữa các khâu trong kế toán, tài chính tại đơn vị nhằm để tăng cường tính tự giác CCVC, đồng thời kịp thời phát hiện những sai phạm của các cá nhân, các khâu tổ chức công việc;
- Tự kiểm tra đột xuất: người ra quyết định kiểm tra cần căn cứ vào tình hình cụ thể, căn cứ vào các biến động có tính chất bất thường để ra quyết định kiểm tra làm rõ các vụ việc và đưa ra những nội dung cần kiểm tra phù hợp với yêu cầu quản lý của mình;
- Tự kiểm tra toàn diện: nhằm xem xét sự chính xác, hợp pháp của các
số liệu tài chính tại đơn vị Nội dung kiểm tra toàn diện được nêu tại điểm c, mục 1.2.5 “Công tác tự kiểm tra kế toán tài chính trong các đơn vị sự nghiệp
công lập”;
Trang 30- Tự kiểm tra đặc biệt: nhằm mục đích xem xét sự chính xác, hợp pháp của một số số liệu tài chính của đơn vị
c Một số nội dung cơ bản của công tác tự kiểm tra
- Kiểm tra những nội dung chi thường xuyên theo đúng định mức, tiêu chuẩn quy định của Nhà nước và quy chế chi tiêu nội bộ;
- Kiểm tra việc quản lý và sử dụng TSCĐ;
- Kiểm tra các quan hệ thanh toán;
- Kiểm tra việc quản lý và sử dụng các khoản vốn bằng tiền;
- Kiểm tra việc thực hiện quyết toán thu chi tài chính;
- Kiểm tra kế toán;
- Kiểm tra việc tổ chức và lãnh đạo công tác tài chính, kế toán
d Xử lý kết quả tự kiểm tra và công khai kết quả kiểm tra
- Căn cứ vào kết quả tự kiểm tra, các bộ phận và cá nhân có thành tích trong hoạt động tài chính, kế toán sẽ được xem xét để khen thưởng đột xuất hoặc định kỳ theo quy định
Các trường hợp vi phạm nguyên tắc quản lý tài chính, kế toán tùy theotính chất và mức độ vi phạm đơn vị phải thông báo cho các bộ phận, cá nhân
và có quyết định xử lý trách nhiệm về hành chính, công vụ theo quy định;
- Định kỳ hoặc cuối năm vào thời điểm công khai tài chính đơn vị phải thông báo công khai kết quả kiểm tra tài chính, kế toán và kết quả xử lý kết luận tự kiểm tra
Trang 31KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tóm lại, trên cơ sở những qui định của pháp luật, các văn bản của Nhà nước và tham khảo các hệ thống lý luận đã được công nhận, chương 1 của luận văn đã hệ thống hóa được các nội dung và lý luận cơ bản có liên quan đến công tác kế toán tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập, cụ thể như sau:
Trang 32Thứ nhất: Đã nêu được đặc điểm hoạt động tài chính tại các đơn vị sự
nghiệp công lập thông qua các nội dung: khái niệm, phân cấp quản lý tài chính, đặc điểm cơ chế tài chính, nguồn thu và nội dung chi hoạt động, nhiệm
vụ và quyền hạn của đơn vị sự nghiệp công lập
Thứ hai: Đã hệ thống hóa được những lý luận cơ bản về công tác kế
toán tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập như: cơ sở, nguyên tắc và yêu cầu, nội dung tổ chức công tác kế toán tài chính; công tác lập, chấp hành
và quyết toán dự toán chi NSNN; tiêu chuẩn và điều kiện áp dụng phần mềm
kế toán; công tác tự kiểm tra tài chính kế toán
Những nội dung trình bày tại chương 1 là cơ sở để tiến hành thu thập số liệu và đánh giá thực trạng công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng được trình bày trong chương 2 luận văn này
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 KHÁI QUÁT VỀ BHXH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1.1 Khái quát chung về sự hình thành và phát triển của BHXH thành phố Đà Nẵng
Trang 33Ngày 15 tháng 6 năm 1995, BHXH tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng ra đời trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH thuộc hai ngành Lao động thương binh và xã hội và Liên đoàn Lao động tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng Sau hơn hai năm hoạt động, theo sự phân tách địa giới hành chính tỉnh, ngày 16 tháng 9 năm 1997, BHXH thành phố Đà Nẵng được thành lập Để tiếp tục thống nhất quản lý Nhà nước về hoạt động BHXH, Chính phủ ban hành quyết định số 20/2002/QĐ/TTg ngày 24/01/2002 về việc chuyển BHYT Việt Nam sang sáp nhập cùng BHXH Việt Nam Ngày 01 tháng 01 năm 2003, BHYT thành phố
Đà Nẵng chính thức sát nhập cùng BHXH thành phố Đà Nẵng Từ những ngày đầu mới thành lập với 49 CBCCVC, đến nay toàn ngành BHXH thành phố Đà Nẵng đã có hơn 240 CBCCVC
Xuất phát từ vai trò, vị trí quan trọng của BHXH, BHYT trong hệ thống các chính sách an sinh xã hội và với sự nỗ lực phấn đấu trong suốt hơn
15 năm qua, BHXH thành phố Đà Nẵng đã luôn khẳng định được vai trò là cơ quan quản lý và tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn, góp phần đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, chăm lo sức khỏe nhân dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, hướng đến mục tiêu BHXH cho mọi NLĐ và BHYT toàn dân theo định hướng tại Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng Cho đến nay, chính sách BHXH, BHYT đã thật sự đi vào cuộc sống, đối tượng tham gia bảo hiểm gia tăng hàng năm từ 5% đến 7% So với năm 1995, đến cuối năm 2011, số đơn vị tham gia BHXH, BHYT tăng gấp 6,2 lần, số người tham gia tăng gấp 26,44 lần Hiện nay, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
có 4.491 đơn vị và 663.196 người tham gia BHXH, BHYT bắt buộc; 103.878 người tham gia BHYT tự nguyện… Tính đến nay, có 767.074 người tham gia các loại hình BHYT, chiếm hơn 81% dân số toàn thành phố, đây là tiền đề quan trọng để Đà Nẵng phấn đấu đến 2012 sẽ tiến tới BHYT toàn dân, sớm hơn 2 năm so với qui định của Luật BHYT Cùng với công tác mở rộng đối
Trang 34tượng tham gia BHXH, BHYT, số thu BHXH, BHYT càng ngày càng tăng nhanh Nếu năm 1995, số thu là 20 tỷ đồng thì đến năm 2011 là 1.426 tỷ đồng, tăng 71,3 lần
BHXH thành phố Đà Nẵng đã và luôn thực hiện tốt việc quản lý, giải quyết chế độ chính sách cho đối tượng, trong hơn 15 năm qua, đã tiếp nhận, thẩm định xét duyệt hơn 1.700 hồ sơ hưởng chế độ BHXH hàng tháng, trên 3.700 ngàn hồ sơ hưởng chế độ BHXH một lần, gần 800.000 lượt người hưởng trợ cấp ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe Việc chi trả các chế độ BHXH cho các đối tượng thụ hưởng luôn được nhanh chóng, chính xác, kịp thời và đảm bảo an toàn Công tác giám định BHYT ngày càng
đi vào nề nếp, các dịch vụ y tế cho người có thẻ BHYT ngày càng mở rộng, giúp người bệnh, nhất là người có bệnh hiểm nghèo, người có thu nhập thấp…có điều kiện được chữa trị bệnh tật
Những năm gần đây, BHXH thành phố Đà Nẵng đã luôn chú trọng ứng dụng có hiệu quả CNTT vào công tác quản lý của ngành: xây dựng các phần mềm quản lý nghiệp vụ, trang thông tin điện tử, hệ thống thông tin nội bộ để hướng tới mục tiêu ‘‘văn phòng không giấy’’ Cuối năm 2007, với việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế ‘‘Một cửa’’, BHXH thành phố
Đà Nẵng đã có sự chuyển mình đáng kể trong việc công khai, minh bạch về quy trình, thủ tục hồ sơ, rút ngắn thời hạn giải quyết các chế độ BHXH, BHYT, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, khắc phục triệt để những hiện tiêu cực, gây phiền hà, nhũng nhiễu khi thực hiện nhiệm vụ, thay vào đó là thái độ ứng xử trong khi làm việc hết sức nghiêm túc, tận tình và chu đáo, thể hiện rõ nét tinh thần phục vụ nhân dân trong dịch vụ hành chính công, chuyển từ tác phong hành chính sang tác phong phục vụ
Với những tích đã đạt được trong suốt hơn 15 năm xây dựng và trưởng thành, BHXH thành phố Đà Nẵng đã được Nhà nước tặng 2 Huân chương lao
Trang 35động hạng 3, 1 Huân chương lao động hạng nhì, 1 Huân chương lao động hạng ba cho Giám đốc và nhiều bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ, cờ thi đua xuất sắc của BHXH Việt Nam, của UBND thành phố Đà Nẵng.
Bảng 2.1: Số liệu tài chính qua các năm của BHXH thành phố Đà Nẵng.
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của BHXH thành phố Đà Nẵng
BHXH thành phố Đà Nẵng có chức năng giúp Tổng giám đốc BHXH Việt Nam tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BHTN; quản
lý quỹ BHXH, BHYT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng theo quy định của BHXH Việt Nam và quy định của pháp luật Bao gồm một số nhiệm vụ cơ bản về BHXH, BHYT, BHTN như sau:
- Tổ chức thu, chi, quản lý, tuyên truyền và cấp sổ BHXH, thẻ BHYT đối với các đối tượng đóng và hưởng các chế độ BHXH, BHYT, BHTN
- Tổ chức ký và giám sát thực hiện hợp đồng với các cơ sở KCB
- Tổ chức kiểm tra, giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT
- Đề xuất với BHXH Việt Nam kiến nghị việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách về BHXH, BHYT, BHTN và kiến nghị với các cơ quan chức năng thanh tra việc thực hiện BHXH, BHYT, BHTN
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của BHXH thành phố Đà Nẵng
BHXH thành phố Đà Nẵng có 9 phòng chức năng và 7 BHXH quận, huyện trực thuộc
Trang 36PH?NG TI?P NH?N-QU?N L? HS PH?NG T? CH?C H?NH CH?NH PH?NG THU BHXH QU?N THANH KH?
BHXH QU?N S?N TR?
PH?NG KI?M TRA
BHXH QU?N NG? H?NH S?N
PH?NG K? HO?CH -T?I CH?NH PH?NG GI?M ??NH BHYT BHXH QU?N LI?N CHI?U
BHXH HUY?N HO? VANG
PH?NG CNTT
BHXH QU?N H?I CH?U BHXH QU?N C?M L?
PH?NG C?P S?, TH?
PH? GI?M ??C C?C PH?NG NGHI?P V? PH? GI?M ??C BHXH QU?N HUY?N
B?O HI?M X? H?I TP ?? N?NG
GI?M ??C
PH?NG CH? ?? BHXH 20 Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng giám đốc giao '
ĐIỀU 3 Chế độ quản lý, chế độ làm việc và trách nhiệm của giám đốc BHXH tỉnh
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của BHXH thành phố Đà Nẵng.
Mối quan hệ chỉ đạo Mối quan hệ hướng dẫn nghiệp vụ Mối quan hệ phối hợp
- Giám đốc BHXH thành phố Đà Nẵng: Quản lý, điều hành theo chế độ
thủ trưởng và chịu trách nhiệm toàn bộ công việc thuộc phạm vi, thẩm quyền quản lý của BHXH thành phố, kể cả các công việc đã phân công hoặc ủy quyền cho các Phó giám đốc
- Các Phó giám đốc BHXH thành phố Đà Nẵng: Giúp việc cho Giám
đốc giải quyết các công việc thuộc phạm vi thẩm quyền của giám đốc theo sự phân công hoặc uỷ quyền của Giám đốc
- Các phòng nghiệp vụ:
+ Phòng cấp sổ, thẻ: Giúp giám đốc BHXH thành phố tổ chức thực
Trang 37hiện công tác cấp và quản lý sổ BHXH, BHTN, thẻ BHYT
+ Phòng chế độ BHXH: Giúp Giám đốc BHXH thành phố giải quyết các chế độ BHXH, BHTN cho NLĐ; quản lý đối tượng hưởng các chế độ BHXH, BHTN trên địa bàn thành phố
+ Phòng CNTT: Giúp Giám đốc BHXH thành phố quản lý và tổ chức thực hiện việc phát triển, ứng dụng CNTT vào hoạt động của hệ thống BHXH thành phố
+ Phòng Giám định BHYT: Giúp giám đốc BHXH thành phố quản lý
và tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHYT cho người có thẻ BHYT
+ Phòng KH-TC: Giúp giám đốc BHXH thành phố thực hiện công tác
kế hoạch và quản lý tài chính; tổ chức hạch toán, kế toán
+ Phòng thu: Giúp Giám đốc BHXH thành phố quản lý và tổ chức thực hiện công tác thu BHXH, BHTN, BHYT của các đối tượng tham gia
+ Phòng Kiểm tra: Giúp Giám đốc BHXH thành phố tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của các tổ chức, cá nhân và các đơn vị trực thuộc BHXH thành phố trong việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT và quản lý tài chính trong hệ thống BHXH thành phố
+ Phòng Tiếp nhận-Quản lý hồ sõ: Giúp giám đốc BHXH thành phố tổ chức tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết; tư vấn chế độ, chính sách BHXH, BHYT, quản lý và tổ chức thực hiện công tác lưu trữ hồ sơ, tài liệu thuộc hệ thống BHXH thành phố
+ Phòng TC-HC: Giúp Giám đốc BHXH thành phố quản lý và tổ chức thực hiện công tác: tổ chức, cán bộ, CCVC, biên chế; tổng hợp, hành chính, quản trị; thi đua, khen thưởng, tuyên truyền
- BHXH quận, huyện: Là cơ quan trực thuộc BHXH thành phố thành
phố đặt tại quận, huyện, có chức năng giúp giám đốc BHXH thành phố tổ chức thực hiện chế độ chính sách BHXH, BHTN, BHYT; quản lý thu, chi
Trang 38BHXH, BHTN, BHYT trên địa bàn quận, huyện theo phân cấp quản lý của BHXH Việt Nam, BHXH thành phố và quy định của pháp luật BHXH quận, huyện chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của giám đốc BHXH thành phố và chịu sự quản lý hành chính Nhà nước của UBND quận, huyện BHXH quận, huyện có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và trụ sở riêng.
2.1.4 Các cấp dự toán thuộc hệ thống BHXH thành phố Đà Nẵng.
Hệ thống BHXH thành phố Đà Nẵng có 2 cấp đơn vị dự toán:
- BHXH thành phố Đà Nẵng: đơn vị dự toán cấp 2
- BHXH quận, huyện trực thuộc: đơn vị dự toán cấp 3
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TÀI CHÍNH TẠI BHXH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán
BHXH thành phố Đà Nẵng là đơn vị dự toán cấp 2, có bộ máy tổ chức
kế toán theo mô hình phân tán, bao gồm Phòng KH-TC của BHXH thành phố
Đà Nẵng và bộ phận kế toán của BHXH quận, huyện trực thuộc
Phòng KH-TC của BHXH thành phố Đà Nẵng có nhiệm vụ: tổ chức thực hiện toàn bộ công tác kế toán tài chính tại đơn vị (lập dự toán chi NSNN,
tổ chức hạch toán kế toán, quản lý tài chính, quyết toán tài chính, kiểm kê ); định kỳ hàng quý, năm kiểm tra, xét duyệt báo cáo quyết toán BHXH quận, huyện trực thuộc và lập BCTC tổng hợp gửi về BHXH Việt Nam; thực hiện kiểm tra kế toán tài chính tại BHXH quận, huyện trực thuộc theo qui định
Bộ phận kế toán BHXH quận, huyện trực thuộc có nhiệm vụ: tổ chức thực hiện toàn bộ công tác kế toán tại đơn vị, tổ chức hạch toán kế toán và lập BCTC hoàn chỉnh, cuối quí gửi phòng KH-TC của BHXH thành phố Đà Nẵng để tổng hợp BCTC toàn ngành toàn ngành
Tổ chức bộ máy kế toán tại BHXH thành phố Đà Nẵng được biểu diễn theo sơ đồ dưới đây:
Trang 39Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của phòng KH-TC BHXH thành phố
Đà Nẵng bao gồm:
- Trưởng phòng kiêm Kế toán trưởng: Phụ trách và chịu trách nhiệm chung toàn bộ công việc của phòng; tham mưu cho Giám đốc thực hiện công tác kế hoạch, chi và thanh quyết toán tất cả các nguồn kinh phí; quản lý CCVC và tài sản được giao của phòng
- Phó phòng kiêm kế toán tổng hợp: Lập BCTC của đơn vị cũng như BCTC tổng hợp toàn ngành; tham mưu cho trưởng phòng kế hoạch cấp phát
Trang 40kinh phí cho BHXH quận, huyện và xây dựng kế hoạch chi NSNN hàng năm cho toàn ngành; quản lý phần mềm kế toán
- Các bộ phận kế toán phần hành với các nội dung công việc chủ yếu sau đây:
+ Kế toán thanh toán: Phản ánh và quản lý các khoản thu-chi tiền mặt,
nợ phải thu, phải trả về chi QLBM, thanh toán tạm ứng của CCVC; theo dõi tiền lương, các khoản phải nộp theo lương của BHXH thành phố Đà Nẵng và toàn ngành
+ Kế toán theo dõi ấn chỉ, vật tư, tài sản: Thực hiện việc cấp ấn chỉ và
thanh quyết toán sổ BHXH, theo dõi CCDC, TSCĐ… của cơ quan
+ Kế toán thanh, quyết toán chế độ trợ cấp ngắn hạn cho đơn vị SDLĐ:
Tiếp nhận hồ sơ chi trợ cấp ốm đau, thai sản, NDSPHSK từ phòng chế độ BHXH bàn giao và kiểm tra đối chiếu, tổng hợp Cuối quý thực hiện việc đối chiếu số liệu với Phòng Thu và cấp bù số chênh lệch thiếu vào tháng đầu quý sau cho đơn vị SDLĐ
+ Kế toán thanh quyết toán chi phí KCB: Theo dõi đối chiếu số liệu
KCB với phòng Giám định BHYT; theo dõi, tham mưu việc cấp ứng kinh phí cho các cơ sở KCB; kiểm tra và phối hợp với phòng Giám định BHYT trong công tác cân đối quỹ KCB của BHXH thành phố và toàn ngành
+ Kế toán chi trả trực tiếp chế độ BHXH: Chịu trách nhiệm thực hiện
chi trả trực tiếp các loại chế độ BHXH, BHYT, hoa hồng phí bằng tiền mặt
+ Kế toán ngân hàng, kho bạc: Chuyển khoản các khoản thanh toán
qua ngân hàng, kho bạc; theo dõi tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, kho bạc; giao dịch với ngân hàng, kho bạc để lấy chứng từ và kiểm tra, đối chiếu theo qui định
+ Kế toán quản lý chi trả BHXH, BHTN: Quản lý và lập báo cáo chi trả
các chế độ BHXH, BHTN, toàn ngành; tổng hợp và cung cấp số liệu để cấp