Mặc dù trong quá trình thu hồi đất Chính phủ và thành phố đã ban hành nhiều chính sách đối với người dân như bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái đ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Hải Vân
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 7
1.1 KHÁI QUÁT VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 7
1.1.1 Một số khái niệm về lao động, việc làm 7
1.1.2 Tác động của đô thị hóa tới lao động, việc làm 17
1.1.3 Giải quyết việc làm 20
1.1.4 Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho lao động 23
1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT 25
1.2.1 Nội dung giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất 25
1.2.2 Các tiêu chí phản ảnh giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất 29
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 29
Trang 31.3.1 Điều kiện tự nhiên 29
1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 30
1.3.3 Chất lượng lao động 30
1.3.4 Cơ chế chính sách của nhà nước về giải quyết việc làm 31
1.4 KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG 32
1.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh 32
1.4.2 Kinh nghiệm của huyện Kỳ Anh – Hà Tĩnh 33
1.4.3 Kinh nghiệm của quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 35
Kết luận chương 1 38
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT TẠI QUẬN NGŨ HÀNH SƠN GIAI ĐOẠN 2006 - 2011 39
2.1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT TẠI QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, TP ĐÀ NẴNG 39
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 39
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 40
2.1.3 Công tác quy hoạch các dự án trên địa bàn quận 42
2.1.4 Tổng số lao động thuộc diện thu hồi đất 47
2.1.5 Chất lượng lao động của người bị thu hồi đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn 48
2.1.6 Chính sách của nhà nước về giải quyết việc làm cho đối tượng thuộc diện thu hồi đất 50
2.2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, GIAI ĐOẠN 2006 – 2011 .53
Trang 42.2.1 Thực trạng công tác hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề đối với lao động
thuộc diện thu hồi đất .53
2.2.2 Thực trạng về công tác đào tạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất 56
2.2.3 Thực trạng về hoạt động hỗ trợ vốn cho lao động thuộc diện thu hồi đất 57
2.2.4 Thực trạng về phát triển các ngành nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất 60
2.2.5 Thực trạng về thông tin thị trường lao động 62
2.2.6 Công tác động viên và giúp đỡ người lao động tự tạo việc làm trong các ngành 63
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT TẠI QUẬN NGŨ HÀNH SƠN 64 2.3.1 Những kết quả đạt được 67
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 68
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 69
Kết luận chương 2 73
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT TẠI QUẬN NGŨ HÀNH SƠN ĐẾN NĂM 2020 74
3.1 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT 74
3.1.1 Dự báo về nhu cầu thu hồi đất và số hộ dân thuộc diện thu hồi đất giai đoạn 2012 – 2020 74
3.1.2 Định hướng giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất.75 3.1.3 Quan điểm giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất 76
3.1.4 Mục tiêu giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất 77
Trang 53.2 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT TẠI QUẬN NGŨ HÀNH SƠN ĐẾN NĂM
2020 78
3.2.1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm, thu nhập cho lao động thuộc diện thu hồi đất 78
3.2.2 Đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm 79
3.2.3 Giải pháp hỗ trợ vốn cho người lao động 81
3.2.4 Phát triển đa dạng các loại hình sản xuất kinh doanh, phát triển làng nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất 82
3.2.5 Đẩy mạnh thu hút đầu tư 82
3.2.6 Tuyên truyền nâng cao nhận thức của người lao động trong học nghề và tự tạo việc làm .83
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 84
Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 6CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 72.5 Tình trạng lao động theo trình độ chuyên môn 49
2.7 Tổng hợp số học viên học nghề sơ cấp tại Trung tâm
hướng nghiệp, dạy nghề quận từ năm 2006 - 2011 57
2.8 Kết quả hỗ trợ vốn cho lao động thuộc diện thu hồi
Phát triển ngành nghề Công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thương mại dịch vụ qua các năm 2006 và
năm 2011
61
2.12 Kết quả tổ chức Hội chợ việc làm qua các năm 62
2.13 Kết quả tự chuyển đổi ngành nghề phi nông nghiệp
2.14 Nguyên nhân lao động không tìm được việc làm 71 3.1 Nhu cầu hộ gia đình cần hỗ trợ sau thu hồi đất 75
Trang 8Ý kiến người dân về công tác giải quyết việc làm đối
với lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm cho người lao động là một vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu,
là mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, hướng tới tăng tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng, dịch
vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp hiện nay, Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng đã đạt được những kết quả khả quan trong việc phát triển kinh
tế Tuy nhiên, bên cạnh đó, nguy cơ tỷ lệ thất nghiệp cao, nhu cầu về việc làm cho người lao động ngày càng trở thành một sức ép không nhỏ trong nền kinh tế
Đặc biệt, tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế, không thể thiếu việc quy hoạch lại cho phù hợp, nhằm tăng nhanh sự phát triển Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ, hội nhập làm xuất hiện những cơ hội mới: những ngành nghề mới, các lĩnh vực, khu vực mới Song quá trình
đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá mạnh mẽ làm cho đất nông nghiệp thu hẹp lại, dẫn đến lao động có xu hướng thiếu và mất việc làm, thu nhập giảm
Những năm gần đây, với quá trình đô thị hoá và đẩy mạnh công nghiệp hoá, Đà Nẵng là thành phố có tốc độ đô thị hóa nhanh nhiều diện tích đất ở, đất sản xuất bị thu hồi và chuyển đổi mục đích sử dụng để đầu tư phát triển đô thị theo hướng văn minh hiện đại Cùng với tiến trình đô thị hóa của thành phố, quận Ngũ Hành Sơn là một trong những đơn vị có tốc độ đô thị hóa nhanh, toàn quận có gần 100 dự án đã và đang triển khai thực hiện trong đó,
có 6.043 hồ sơ thực hiện việc di dời giải tỏa, thu hồi đất sản xuất để nhà nước thực hiện đầu tư các dự án Tổng diện tích đất thu hồi là: 1.721ha, trong đó đất thổ cư: 286,6ha, đất nông nghiệp và các loại khác là 1.452,4ha, dẫn đến một lực lượng lớn lao động không có việc làm do bị thu hẹp hiện tích và quy
Trang 10mô đất sản xuất nông nghiệp, tình hình đời sống của người dân sau khi bị thu hồi đất hiện nay rất khó khăn gây ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế, tình hình an ninh - xã hội của quận nói riêng và thành phố nói chung Mặc dù trong quá trình thu hồi đất Chính phủ và thành phố đã ban hành nhiều chính sách đối với người dân như bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư,… tuy nhiên những vấn đề hậu giải phóng mặt bằng mà trong đó vấn đề giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất vẫn đang là vấn đề bức thiết cần được quan tâm giải quyết Vì vậy, tác
giả chọn đề tài: “Giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu, làm
luận văn tốt nghiệp của mình, với mong muốn góp phần tìm ra giải pháp có hiệu quả trong giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất nhằm góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội trên địa bàn quận
2 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho người lao động Phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất tại quận Ngũ Hành Sơn
Đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm ổn định, bền vững cho lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các vấn đề về lý luận liên quan đến việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động và thực trạng giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng việc làm và giải quyết việc làm
Trang 11cho lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn giai đoạn 2005 – 2010
Về không gian: Nghiên cứu trong các địa phương có quy hoạch thu hồi đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn; gồm 4/4 phường của quận Ngũ Hành Sơn: Phường Mỹ An, Phường Khuê Mỹ, Phường Hòa Hải và Phường Hòa Quý
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong triển khai nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp: + Phương pháp phân tích thực chứng;
+ Hệ thống hoá, phân tích các tài liệu tham khảo và các kết quả nghiên cứu của các tài liệu đã được công bố;
+ Điều tra xã hội học và tổng hợp, phân tích các kết quả điều tra;
+ Nghiên cứu khảo sát tại cơ sở
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm
Chương 2: Thực trạng về giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng giai đoạn
2006 – 2011
Chương 3: Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn đến năm 2020
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trong những năm gần đây, diện tích đô thị của thành phố Đà Nẵng liên tục mở rộng với tốc độ đô thị hóa cao, diện mạo đô thị ngày một khang trang với hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội được đầu tư cả
về số lượng lẫn chất lượng, đem lại cho Đà Nẵng một tầm vóc mới cả về
Trang 12không gian lẫn chất lượng đô thị Cùng với sự phát triển đô thị, Đà Nẵng đang đối mặt với khá nhiều thách thức để có thể trở thành một đô thị hiện đại, phát triển bền vững một trong những vấn đề đặt ra đó là giải quyết việc làm cho lao động bị tác động bởi quá trình đô thị hóa như: đất sản xuất bị thu hẹp, người lao động mất tư liệu sản xuất, dẫn đến một lực lượng lớn lao động bị mất việc làm
Theo đó, với yêu cầu phát triển của quận Ngũ Hành Sơn trong những năm đến là xây dựng quận Ngũ Hành Sơn sớm trở thành khi đô thị hiện đại, là trung tâm du lịch, dịch vụ về phía Đông Nam của thành phố Đà Nẵng Xuất phát từ nhu cầu cầu bức thiết của hậu giải tỏa mà đặc biệt là giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho người lao động thuộc diện thu hồi đất, năm 2010,
UBND quận Ngũ Hành Sơn đã xây dựng đề án “Hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề và giải quyết việc làm đối với nông dân diện di dời giải tỏa, thu hồi đất sản xuất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn giai đoạn 2011 - 2020” Nhìn
chung, đề án đã đánh giá đúng thực trạng của người dân thuộc diện di dời giải tỏa, thu hồi đất sản xuất đề xuất những giải pháp có tính thực tiễn nhằm góp phần tháo gỡ những tồn tại, khó khăn cũng như mong muốn tạo ra việc làm cho người dân thuộc diện thu hồi đất
Dưới đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài:
Nguyễn Văn Thái (2011), “Giải pháp tạo việc làm cho người dân thuộc diện thu hồi đất tại khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi” Luận văn
thạc sỹ Kinh tế, Đại học Đà Nẵng Trong đề tài này, tác giả đã hệ thống được
cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của tạo việc làm cho người lao động Tác giả đã phân tích rất rõ sự tác động của công tác thu hồi đất đến đời sống và việc làm của người dân; tập trung phân tích vào các chính sách của nhà nước, của địa phương và những khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm và các giải pháp nhằm giải quyết tạo việc làm cho lao động trong vùng bị thu hồi đất tại Khu
Trang 13Kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi Học viên đánh giá cao phương hướng và giải pháp mà tác giả đã đưa ra Các giải pháp mà tác giả đưa ra đã góp phần giải quyết được những khó khăn mà các địa phương đang gặp phải, tìm ra được nguyên nhân của những hạn chế về tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất; làm rõ những nhân tố tác động đến người lao động khi khi bị thu hồi đất để đề ra những giải pháp đạt hiệu quả
- Đoàn Thị Hải (2005), Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại
học Quốc gia Hà Nội Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về lao động và việc làm của lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam và kinh nghiệm ở một số nước trong khu vực.Nghiên cứu thực trạng của quá trình đô thị hóa ở Việt Nam và tác động của nó đến người lao động, từ đó đề xuất phương hướng, biện pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp nước
ta trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay
- Võ Thanh Long (2011), “Giải quyết việc làm cho người lao động vùng bị thu hồi đất sản xuất trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Đại học Kinh tế Đà
Nẵng Tam kỳ là một thành phố mới được công nhận là thành phố thuộc tỉnh, quá trình đô thị hóa diễn ra tương đối nhanh, tuy nhiên việc giải quyết việc làm cho lao động sau khi nhà nước thu hồi đất vẫn còn nhiều bức xúc Thực tế cho thấy, người lao động trong vùng bị thu hồi đất không tìm được việc làm, hoặc tìm được việc làm không ổn định, tình trạng doanh nghiệp sau khi tuyển dụng lao động nhưng trả lương quá thấp khiến người lao động tự bỏ việc,…
Ở đề tài này tác giả đã làm rõ những vấn đề:
+ Lý luận về giải quyết việc làm cho lao động vùng thu hồi đất;
Trang 14+ Nghiên cứu thực trạng về giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất ở thành phố Tam Kỳ thời gian qua, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế
Từ đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp có tính khả thi để giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất ở thành phố Tam Kỳ
Ngoài các tài liệu nghiên cứu trên, còn có nhiều những bài báo khoa học, những nghiên cứu nói về việc cần phải giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất ở nhiều khía cạnh, cũng như những khó khăn còn tồn tại của vấn đề này
Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về đề tài:
“Giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” Vì vậy, đề tài luận văn không trùng lặp
với các công trình đã nghiên cứu và thực hiện có sự kế thừa, phát triển những thành quả của các tài liệu liên quan trước đó để phân tích, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của quận Ngũ Hành Sơn
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1 KHÁI QUÁT VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1.1 Một số khái niệm về lao động, việc làm
a Khái niệm lao động và sức lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động
đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người[2, tr10] Hoạt động lao động
có 3 đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất, xét về tính chất, hoạt động lao động phải có mục đích (có ý
thức) của con người
Thứ hai, xét về mục đích, hoạt động đó phải tạo ra sản phẩm nhằm thỏa
mãn nhu cầu nào đó của con người (nhu cầu chính đáng của con người nhằm phục vụ cho con người, cho sự tiến bộ của xã hội)
Thứ ba, xét về mặt nội dung, hoạt động của con người phải là sự tác
động vào tự nhiên làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất
và tinh thần phục vụ lợi ích của con người
Ngày nay, hoạt động lao động được quan niệm không chỉ là khai thác
tự nhiên mà còn song song với nó là sự bồi đắp, bảo tồn tự nhiên
- Sức lao động là phạm trù chỉ khả năng lao động của con người là tổng hợp thể lực và trí lực của con người, được con người vận dụng trong quá trình lao động Theo C Mác, sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị
sử dụng nào đó.[2, tr10]
Như vậy khả năng lao động của con người hay sức lao động của con người được thể hiện:
Trang 16Khả năng về thể chất (thể lực): Chỉ rõ khả năng làm việc chân tay, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu như chiều cao, cân nặng, sức mạnh cơ bắp, thị lực, thính lực, …
Khả năng về tinh thần (trí lực): Chỉ rõ khả năng làm việc trí tuệ, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, trình độ ký thuật, kinh nhiệm công tác,…
Ngày nay không chỉ dừng lại ở hai chỉ tiêu trên mà người ta còn quan tâm nhiều đến năng lực phẩm chất của người lao động mà người ta gọi đó là tâm lực Vậy, năng lực phẩm chất là khái niệm chỉ rõ tính năng động, sáng tạo, thái độ làm việc, lòng tự tin, khả năng thích ứng, dễ chuyển đổi, làm việc
có tinh thần trách nhiệm với các cá nhân, nhóm và tổ chức v.v…
Khi con người tham gia vào quá trình sản xuất thì con người đó là con người lao động Như vậy, lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người Hoạt động lao động có 3 đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất, xét về tính chất, hoạt động lao động phải có mục đích (có ý thức) của con người Đặc trưng này chỉ ra sự khác biệt giữa hoạt động lao động của con người và hoạt động có tính bản năng của con vật Con vật duy trì sự tồn tại của mình dựa vào những sản vật có sẵn trong tự nhiên, còn con người dùng sức lao động của bản thân để tạo ra những sản phẩm cần thiết cho
sự tồn tại và phát triển của mình cũng như của cộng đồng xã hội
Thứ hai, xét về mục đích, hoạt động đó phải tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Đề cập đến điều này là nhằm phân biệt với những hoạt động có mục đích không nhằm thỏa mãn nhu cầu chính đáng của con người, không nhằm phục vụ cho con người, cho sự tiến bộ của xã hội Những hoạt động đó không thể gọi là hoạt động lao động
Trang 17Thứ ba, xét về mặt nội dung, hoạt động của con người phải là sự tác động vào tự nhiên làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất
và tinh thần phục vụ lợi ích của con người Đề cập đến điều này là để phân biệt với các hoạt động không tạo ra sản phẩm (vật chất và tinh thần), các hoạt động mang tính chất phá hoại tự nhiên Những hoạt động đó không thể gọi là hoạt động lao động Ngày nay, hoạt động lao động được quan niệm không chỉ
là khai thác tự nhiên mà còn song song với nó là sự bồi đắp, bảo tồn tự nhiên
Đến đây có thể thấy được khi nói đến sức lao động là nói đến khả năng lao động, còn nói đên lao động là nói đến hành động đang diễn ra Như vậy,
để biến khả năng lao động (sức lao động) thành hiện thực (lao động) cần phải
có những điều kiện nhất định (điều kiện vật chất, điều kiện con người, môi trường xã hội v.v…), mà thiếu những điều kiện này, quá trình lao động không thể diễn ra được
b Khái niệm người lao động
Theo Quy định tại Điều 6 của Bộ Luật Lao động Việt Nam đã sửa đổi
bổ sung thì người lao động được hiểu là: “Người lao động là người ít nhất đủ
15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động” và Điều 145
“Người lao động được hưởng chế độ hưu trí hằng tháng khi có đủ điều kiện
về tuổi đời và thời gian đóng bảo hiểm xã hội như sau: năm đủ 60 tuổi, nữ đủ
c Khái niệm về việc làm
Đứng trên góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa nhằm làm sáng tỏ: “Việc làm là gì?” Và ở nhiều quốc gia khác nhau,
Trang 18do ảnh hưởng của nhiều yếu tố (như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp, )người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau Chính vì thế mà không có một định nghĩa chung và khái quát về việc làm
Theo Bộ luật Lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong
Bộ Luật này, tại Điều 13, Chương II, ghi rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [1,tr14] Quan niệm này cho thấy khái niệm việc làm bao hàm các nội dung: là hoạt động lao động của con người; hoạt động lao động đó nhằm mục đích là tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm
Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức:
Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho
công việc đó
Hai là, làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền
sử dụng hoặc quyển sở hữu (một phần hay toàn bộ ) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó
Ba là, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả
thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó.Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý
Khái niệm trên nói chung khá bao quát, nhưng có thể thấy rõ hai hạn chế cơ bản:
Thứ nhất, hoạt động nội trợ không được coi là việc làm trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các sản phẩm phi lợi ích vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ
Thứ hai, khó có thể so sánh tỉ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán, …Vì có những nghề ở quốc gia này
Trang 19được cho phép và được coi đó là việc làm nhưng ở quốc gia khác thì bị cấm
Ví dụ: đánh bạc ở Việt Nam thì bị cấm nhưng ở Mỹ và Thái Lan thì được coi
là một nghề, thậm chí rất phát triển vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu
Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội thì việc làm được hiểu: “là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ, …) để sử dụng sức lao động đó ”[2, tr.256]
Sức lao động do người lao động sở hữu Những điều kiện cần thiết như vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ, có thể do người lao động có quyền sở hữu,
sử dụng hay quản lý hoặc không Theo quan điểm này thì bất cứ tình huống nào xảy ra gây nên trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều kiện cần thiết đều có thể dẫn tới thiếu việc làm hay mất việc làm và tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc làm thành nhiều loại
Người thiếu việc làm gồm những người trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định trong tuần, trong tháng, trong năm và có nhu cầu làm thêm giờ hoặc là người có tổng số giờ làm việc bằng số giờ quy định trong tuần, tháng, năm nhưng có thu thập quá thấp muốn làm thêm giờ
Trang 20có khả năng lao động do ốm đau bệnh tật và một bộ phận không muốn tìm việc làm với nhiều lí do khác nhau
Những khái niệm trên có tính quy ước thống kê và có thể khác nhau giữa các quốc gia
Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội: “thất nghiệp là sự mất việc làm hay là sự tách rời sức lao động khỏi tư liệu sản xuất, nó gắn liền với người có khả năng lao động nhưng không được sử dụng có hiệu quả”.[2, tr.260]
Người thất nghiệp gồm những người trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra không có việc làm nhưng tích cực tìm việc làm và có nhu cầu được làm việc Tiêu thức hoặc dấu hiệu để các định người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động đang không có việc làm, tích cực tìm việc làm,
có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc hoặc có việc làm nhưng không
ổn định
Thất nghiệp có thể được chia ra làm một số loại chính như sau:
- Thất nghiệp thời vận hay thất nghiệp chu kì là loại hình thất nghiệp xuất hiện theo sự dao động của chu kì hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia và trong bối cảnh hiện nay, loại hình thất nghiệp này đang có xu hướng gia tăng Đây là dạng thất nghiệp kinh tế vĩ mô, có tính bao trùm lớn và tác động mạnh
mẽ đến các loại hình thất nghiệp khác
Trang 21- Thất nghiệp cơ cấu xảy ra khi cung của những loại lao động nhất định vượt hơn cầu lao động cùng loại và không biến chuyển kịp để tìm kiếm việc làm ngắn hạn.Có hai điều kiện dẫn tới thất nghiệp cơ cấu là: Cung của một loại lao động nhất định lớn hơn cầu về cùng loại lao động đó và sự hạn chế về tính lưu chuyển của lao động
Nguyên nhân của thất nghiệp cơ cấu là do: Tính cứng nhắc về không gian của sức lao động đã ngăn cản hoặc hạn chế sự lưu chuyển nhằm cân bằng thị trường lao động trong vùng (gọi là thất nghiệp vùng do sự cứng nhắc điều chuyển); Giảm cung lao động do thay đổi về ứng dụng kỹ thuật mới và tiết kiệm lao động (gọi là thất nghiệp công nghệ); Giảm cung do thay đổi ngay nơi làm việc của từng doanh nghiệp không phù hợp với sự thay đổi lớn về lao động trong vùng (thất nghiệp cơ cấu vùng do cảm ứng cầu lao động); và tăng cung lao động do thay đổi các điều kiện về kinh tế hoặc chính trị (thất nghiệp
cơ cấu do kích cung lao động)
- Thất nghiệp tạm thời hay thất nghiệp chuyển đổi được coi là hình thức thất nghiệp “thông thường”, thể hiện ở khoảng thời gian tìm việc khi người lao động từ bỏ chỗ làm việc cũ để đi tìm chỗ làm việc mới
Trong mối quan hệ với dạng thất nghiệp tạm thời còn có dạng thất nghiệp tìm kiếm, xảy ra cả trong trường hợp chuyển đổi chỗ làm việc mang tính tự nguyện hoặc do bị đuổi việc, người lao động luôn cần có thời gian chờ đợi để tìm kiếm chỗ làm việc mới Thời gian của quá trình tìm kiếm sẽ làm tăng chi phí (phải tìm nhiều nguồn thông tin, người thất nghiệp sẽ mất đi thu nhập, mất dần kinh nghiệm, sự thành thạo nghề nghiệp và các mối quan hệ xã hội)
- Thất nghiệp thời vụ xuất hiện do sự dao động về việc làm diễn ra nhiều hay ít theo quy luật trong quá trình sản xuất của một số lĩnh vực, một số ngành nhất định Nguyên nhân là do sự gián đoạn tự nhiên của quá trình sản
Trang 22xuất (thời tiết xấu trong ngành xây dựng, do thời kỳ mùa vụ đánh bắt cá, gieo trồng trong nông nghiệp, lâm nghiệp, hải sản) và ảnh hưởng của nó trong công nghiệp chế biến nông, thuỷ sản hoặc việc tiêu thụ hàng hoá mang tính mùa vụ (dịp lễ, tết)
- Thất nghiệp sức lao động phụ thuộc Khi một bộ phận lao động không
có trình độ chuyên môn hoặc không đủ năng lực để đáp ứng yêu cầu của một nền sản xuất và quản lý hiện đại, trong quá trình sản xuất sẽ có những người được tiếp nhận vào làm việc và có những người bị loại ra Trong một số trường hợp, người lao động được thu hút vào nền sản xuất xã hội lại thấp hơn
số người bị thải loại ra, làm xuất hiện thất nghiệp sức lao động phụ thuộc
- Thất nghiệp “thừa” hoặc thất nghiệp “tồn đọng” xuất phát từ thất nghiệp chuyển đổi do người thất nghiệp không thể hoặc rất khó có thể được giới thiệu một chỗ làm việc mới (như người thất nghiệp chỉ còn vài năm nữa
đủ tuổi nghỉ hưu, người thất nghiệp hạn chế về năng lực làm việc, bị suy giảm sức khoẻ hoặc có đạo đức nghề nghiệp kém) và khó có thể xoá bỏ khỏi danh sách “tồn đọng” của thất nghiệp
- Thất nghiệp “xuất khẩu” Khi một quốc gia phá giá đồng tiền để tăng xuất khẩu sẽ làm các nước khác tăng thất nghiệp do tăng nhập khẩu hàng hoá khiến doanh nghiệp trong nước đình đốn; hoặc khi một nước sử dụng số lượng lớn lao động nước ngoài, kinh tế gặp khó khăn phải sa thải lao động và buộc họ trở về quê hương làm gia tăng số lượng người thất nghiệp “xuất khẩu”
- Thất nghiệp “che dấu” chủ yếu diễn ra trong ngành nông nghiệp ở các nước đang phát triển do giới hạn năng suất lao động còn thấp kém
Qua các khái niệm trên cho thấy thất nghiệp là hiện tượng kinh tế tất yếu, song duy trì ở mức độ nào cho hợp lý còn tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia và khả năng quản lý của Chính phủ Tỷ lệ thất nghiệp thấp
Trang 23đồng nghĩa với lực lượng lao động trong nền kinh tế được tăng cường và tỷ lệ lạm phát cao Ngược lại, tỷ lệ thất nghiệp cao, đồng nghĩa với tỷ lệ lạm phát thấp cũng tạo ra những vấn đề xã hội bức xức về việc làm, về tệ nạn xã hội,…
Vì vậy, duy trì một tỷ lệ thất nghiệp hợp lý ở mức thất nghiệp tự nhiên (tỷ lệ thất nghiệp mà ở đó ai có nhu cầu làm việc đều có thể tìm được việc làm) là hoàn hảo nhất
Ở đây, tác giả muốn nói đến thất nghiệp trong trường hợp bị thu hồi đất sản xuất, là thuộc loại thất nghiệp cơ cấu, vì việc làm của lao động nông thôn gắn liền với đất đai Khi tư liệu sản xuất bị mất, lao động nông nghiệp dôi dư (cung thừa) nhưng không đáp ứng được cầu lao động của các ngành nghề phi nông nghiệp nên dẫn đến thất nghiệp – không có việc làm
f Thu hồi đất
Tại khoản 5, Điều 4 Luật Đất đai 2003, “Thu hồi đất là việc nhà nước
ra quyết định hành chính để thuu lại quyền sử dụng đấy hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường thị trấn quản lý theo qui định của luật này”.[9, tr.6]
Đất đai là yếu tố cần cho nhiều loại nhu cầu: xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ, nhu cầu đời sống xã hội, … phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội
Với xu hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa, nhu cầu thu hồi đất để sử dụng vào mục đích đầu tư phát triển các công trình công cộng, phát triển các khu du lịch, dịch vụ, phát triển đô thị là tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Cũng như các nước trên thế giới, vấn đề thu hồi đất, bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, tái định cư là hiện tượng phát triển mà các nhà nước phải đối mặt như một quy luật tất yếu và phổ biến ở Việt Nam
Trang 24Thu hồi đất để thực hiện quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tác động đến phân công lao động xã hội theo hướng lao động nông nghiệp giảm dần, lao động công nghiệp, dịch vụ tăng nhanh
g Khái niệm về di dân
Di dân là sự di chuyển dân cư trong lãnh thổ của một nước, là sự phân
bố lại dân cư giữa các ngành, các vùng lãnh thổ [3, tr.68] Như vậy, có thể hiểu di dân là sự di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những chuẩn mực
về không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú
Theo nghĩa rộng, di dân là sự dịch chuyển bất kỳ của con người trong một không gian, thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định
Có nhiều cách phân loại di dân theo các giác độ khác nhau như:
+ Theo khoảng cách di chuyển: bao gồm di dân xa giữa nơi đi và nơi đến, di dân gần giữa nơi đi và nơi đến
+ Theo địa bàn: bao gồm di cư nông thôn – thành thị, di cư nông thôn – nông thôn, di cư thành thị - nông thôn, di cư thành thị - đô thị
+ Theo đặc trưng: bao gồm di dân tự phát và di dân có tổ chức, di dân tình nguyện hay bắt buộc
+ Theo phạm vi bao gồm di dân giữa các vùng trong bộ quốc gia hay di dân nội bộ, di dân quốc tế
Hiện nay vẫn chủ yếu diễn ra hai loại hình chính: di dân tự nguyện và
di dân không tự nguyện Như vậy, việc di dời, tái định cư trong qus tình thực hiện thu hồi đất để xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các khu du lịch, đô thị, khu công nghiệp,… là hình thức di dân không tự nguyện
Trang 25h Quan niệm về tái định cư
Tái định cư được hiểu là con người tạo dựng cuộc sống ở nơi cư trú mới sau khi rời khỏi nơi cư trú cũ của họ Bao gồm tái định cư tự nguyện và tái định cư không tự nguyện, có thể chia làm hai loại tái định cư:
- Tái định cư bắt buộc: do điều kiện chiến tranh, thiên tia, bị thu hồi đất
để phục vụ cho các công trình công cộng, dịch vụ, đô thị hóa,…
- Tái định cư tự nguyện: do nhu cầu người dân muốn cải thiện cuộc sống ở một nới ở mới
Ở Việt Nam có 02 hình thức tái định cư phổ biến như sau:
+ Tái định cư tập trung theo quy hoạch, kế hoạch chung, có tổ chức đây là tái định cư bắt buộc Việc tái định cư bắt buộc liên quan đến mọi lứa tuổi và giới và những nguyện vọng của người bị ảnh hưởng có thể không được đáp ứng hoàn toàn Rất nhiều người có thể gặp rủi ro và thiếu sáng tạo
để di chuyển và tái lập nơi ở mới Nếu không có sự giúp đỡ, hỗ trợ mạnh mẽ
từ các chính sách của nhà nước, của các tổ chức, doanh nghiệp…, thì những người bị tái định cư bắt buộc sẽ trở nên khó khăn, lúng túng và thậm chí là nghèo đi
+ Tái định cư tự nguyện: di cư tự phát vào Tây nguyên từ các tỉnh Miền Bắc và Miền trung,… Di dân tự phát diễn ra mạnh ở một số thời điểm và thường gây áp lực lớn về đất đai, môi trường sinh thái Những người tái định
cư tự nguyện có điều kiện được quyết định, lựa chọn những gì mà họ muốn 1.1.2 Tác động của đô thị hóa tới lao động, việc làm
Trang 26các khu du lịch, thương mại, dịch vụ ngày càng hiện đại.Đô thị hóa có ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp
Thứ hai, đô thị hóa cũng tác động mạnh lên sự phát triển kinh tế xã hội của vùng và cả nước Đô thị hóa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập và mức sống của dân cư đô thị, làm nảy sinh các nhu cầu ngày càng cao
về vật chất và tinh thần Để đáp ứng nhu cầu đó đòi hỏi sản xuất và dịch vụ phải được mở rộng, kéo theo sự phát triển một cách tự phát từ khu vực kinh tế không chính thức với những hoạt động quy mô nhỏ, không đăng ký, không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật như các dịch vụ buôn bán nhỏ, lao động tự do,…
Sự phát triển của khu vực kinh tế không chính thức sẽ tạo nhiều việc làm góp phần giải quyết việc làm cho một lực lượng lớn lao động không có tay nghề, lao động nông nghiệp thuộc diện thu hồi đất Đô thị chính là nơi dễ tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động
Thứ ba, đô thị hóa mở rộng khả năng tự tạo việc làm và tìm kiếm việc làm của người lao động, Khả năng tự tạo việc làm và tìm kiếm việc làm cỉa người lao động chủ yếu do:
Trước yêu cầu lao động ngày càng cao và áp lực về việc làm do dân số, lao động hội tụ ngày càng đông ở đô thị theo xu hướng đô thị hóa, một bộ phận người lao động nhất là lao động trẻ buộc phải tự trang bị cho mình một trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định để đáp ứng với nhu cầu của thị trường
Tốc độ đô thị càng cao thì tăng trưởng việc làm và tốc độ hội tụ dân số
và lao động ở đô thị có quy mô càng lớn Môi trường kinh tế năng động hơn, chính là điều kiện cơ bản để phát triển mạnh mẽ các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, giáo dục, đào tạo nghề, …
Trang 27Thứ tư, đô thị hoá tạo điều kiện cải biến con người thuần nông sang người thành thị, có tính chuyên nghiệp cao hơn từ những người nông dân với nền sản xuất lúa nước, phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên Đây cũng là một trong những con đường đưa nhà nước nước ta đi dần lên chủ nghĩa xã hội thông qua sự đào luyện trong quá trình phát triển kinh tế Nhiều người nông dân vốn được tự do, nền kinh tế nông nghiệp nước ta hiện nay chưa đủ điều kiện đào tạo họ thành người biết tuân thủ đầy đủ yêu cầu của điều kiện khách quan Đô thị hóa đòi hỏi cao hơn nhiều lần ở nông thôn sẽ buộc họ tự rút bài học trong thất bại và thành công của chính mình và thực hiện theo yêu cầu của nó Quá trình này đi từ tự phát đến tự giác, đi từ chủ quan đến khách quan, hiểu quy luật khách quan mà trung tâm là lợi ích kinh tế Họ được rèn luyện trong quá trình kiếm sống, phải tự điều chỉnh mình cho phù hợp với yêu cầu khách quan Nền kinh tế thị trường buộc họ phải hướng về nó, theo nó chỉ bảo mà hành động Quá trình này đã rèn luyện họ có nhiều phẩm chất mới từ
ý thức kỷ luật đến kỹ thuật và cả trình độ văn hoá, khoa học Nhiều thế hệ đi qua, từ người nông dân tự do ban đầu trở thành người dân thành phố, tính công nghiệp, chuyên nghiệp cao
b Tác động tiêu cực
- Đô thị hóa làm một bộ phận người lao động thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp rơi vào tình trạng thất nghiệp Quy hoạch sử dụng đất theo hướng chuyển đổi mục đích từ sản xuất nông nghiệp sang phục vụ thương mại, dịch vụ, du lịch Việc hình thành các khu du lịch, khu tái định cư,… khu
đô thị mới sẽ dẫn đến một bộ phận người lao động thuộc diện thu hồi đất sản xuất mất việc làm hoặc buộc phải chuyển đổi ngành nghề Phần lớn người lao động thuộc diện này có trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật thấp, vốn ít nên khả năng tiếp cận các phương tiện làm việc, hội nhập với cuộc sống đô thị, khả năng thích ứng kịp thời với sự biến đổi nhanh chóng của quá trình đô
Trang 28thị hóa Những vấn đề trên đã cản trở nhóm dân cư này trong việc tìm cơ hội chuyển đổi việc làm mới, biến họ trở thành những cư dân thất nghiệp trên chính quê hương mình
- Đô thị hóa thúc đẩy quá trình sắp xếp, cơ cấu lại các đơn vị, các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước và thực hiện thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc hiện đại do đó sẽ xuất hiện một lực lượng lao động dôi dư không đáp ứng được yêu cầu sản xuất sẽ bị mất việc Những người này đa số đã lớn tuổi hoặc trình độ lao động thấp không còn phù hợp với yêu cầu đổi mới của doanh nghiệp và khả năng đào tạo lại và chuyên đổi ngành nghề của họ là rất thấp
1.1.3 Giải quyết việc làm
a Khái niệm giải quyết việc làm
Việc làm là một dạng hoạt động kinh tế - xã hội Hoạt động đó không đơn thuần là sự kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất, mà nó còn bao gồm
cả những yếu tố xã hội Muốn sự kết hợp đó diễn ra và không ngừng phát triển phải tạo ra được sự phù hợp cả về số lượng, chất lượng sức lao động với
tư liệu sản xuất, trong một môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra
Giải quyết việc làm chính là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng
Trang 29Theo nghĩa hẹp: Giải quyết việc làm là các biện pháp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm nhằm tạo ra việc làm cho người lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp nhất
b Bản chất của giải quyết việc làm
Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao dộng đó Như vậy để có việc làm trước hết là cần hai yếu tố sức lao động
và những điều kiện cần thiết (đối tượng lao động; tư liệu lao động) để sử dựng sức lao động, trong đó bao gồm cả những yếu tố xã hội Sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất theo một kết cấu, tỷ lệ và yêu cầu nhất định Vì vậy, vấn đề đặt ra khi nào chúng ta tọa việc làm, khi có lao động nhưng không
có việc làm, thiếu việc làm Nguyên nhân của thiếu việc làm là do: thiếu đối tượng lao động, công cụ lao động hoặc lao động không phù hợp với yêu cầu công việc Do vậy, thực chất của tạo việc làm là:
Làm cho người lao động phù hợp với yêu cầu của công việc, tức lao động phải qua đào tạo nghề thích hợp với yêu cầu; hoặc tăng thêm đối tượng lao động, hoặc tăng thêm công cụ lao động; đòi hỏi phải có vốn để mua máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên nhiên vật liệu, … và có chơ chế để phối hợp các cyếu tố này lại với nhau nhằm để sáng tạo ra của cải vật chất có ích cho
xã hội, phục vụ cho nhu cầu chính đáng của con người trong xã hội và lao động phải có hiệu quả
Vì vậy quá trình giải quyết việc làm là quá trình tạo ra của cải vật chất (số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất), sức lao động (số lượng, chất lượng sức lao động) và điều kiện kinh tế, xã hội khác
c Cơ chế giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức cũng như cá nhân người lao động, tạo thành cơ chế giải quyết việc làm;
Trang 30trong đó có cơ chế ba bên với sự tham gia của người lao động, nhà nước và người sử dụng lao động
Đối với người lao động, muốn tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập cao phải có kế hoạch, hoặc dựa vào các ngồn tài trợ từ gia đình, các tổ chức
xã hội để tham gia đào tạo, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp nhất định Tuy nhiên, để tham gia đào tạo, nắm vững một ngành nghề đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, đồi hỏi người lao động phải nắm bắt được thông tin về thị trường lao động để lựa chọn ngành nghề đào tạo phù hợp với khả năng của mình và nhu cầu của thị trường lao động Đây là điều kiện cần thiết cho người lao động tham gia vào thị trường lao động
Đối với nhà nước, tạo hành lang pháp lý,ban hành các luật, cơ chế chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động và sử dụng lao động, tạo ra môi trường pháp lý kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất là một bộ phận cấu thành trong cơ chế tạo việc làm cho người lao động
Đồng thời cần Nhà nước có những chính sách khuyến khích đầu tư, đổi mới công nghệ sản xuất thông qua những chính sách tiền tệ, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách giá cả tư liệu lao động, tiền công, tiền lương, chính sách thuế thu nhập Trong điều kiện nguồn nhân lực dồi dào, nhưng thiếu vốn nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ, thủ công, cá thể cần ít vốn nhưng được sử dụng nhiều lao động, thông qua việc
hỗ trợ của nhà nước về vốn, về nguyên liệu, tiêu thụ, dạy nghề… Sự hỗ trợ về vốn có thể thông qua các chương trình, dự án tạo việc làm, hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề, … Làm tốt việc dạy nghề và đào tạo lại cho lao động đã bị lạc hậu về nghề, tổ chức thị trường lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho người thất nghiệp, thiếu việc làm có việc làm, rút ngắn được thời gian tìm việc; có chính sách đẩy mạnh và hỗ trợ xuất khẩu lao động thông qua chính sách hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài…
Trang 31Đối với người sử dụng lao động gồm các doanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các
tổ chức kinh tế xã hội cần có thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra để không chỉ tạo ra việc làm mà còn phải duy trì và phát triển việc làm cho người lao động Do đó, người sử dụng lao động cần có vốn để mua hoặc thuê nhà xưởng (nơi làm việc), công nghệ, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, mua sức lao động để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ Để nâng cao hiệu quả sản xuất thì các chủ sử dụng lao động không những cần vốn mà còn cần có kinh nghiệm quản lý, biết vận dụng linh hoạt chính sách của nhà nước trong lĩnh vực lao động, việc làm; đồng thời đề ra được các quy định phù hợp, biết quản lý lao động một cách khoa học, hợp lý, nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp
và nâng cao sự thỏa mãn của người lao động, khơi dậy động lực lao động nhằm thu hút và giữ chân những người lao động giỏi phù hợp với yêu cầu công việc, đây là tài sản quan trọng của tổ chức, doanh nghiệp, yếu tố quyết định sự thành công trong cạnh tranh
Cơ chế giải quyết việc làm cho người lao động đòi hỏi có sự tham gia tích cức của ba phía: nhà nước, người sử dụng lao động và mong muốn nguyện vọng được làm việc của người lao động gặp nhau trên thị trường lao động đúng lúc, đúng chỗ
1.1.4 Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho lao động
Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất, công cụ và sức lao động Tạo việc làm cho người lao động giúp phát huy tiềm lực sẵn có của từng đơn vị, địa phương, từng người lao động nhằm tạo ra những công việc hợp lý và đầy đủ, đồng thời đem lại được thu nhập đảm bảo thỏa mãn nhu cầu đời sống hàng ngày cho người lao động Có thể nói tạo việc làm luôn là vấn đề quan trọng, mang tính
xã hội, có ý nghĩa lớn lao đối với từng người lao động và toàn xã hội
Trang 32Giải quyết việc làm giúp khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng kinh tế, nhằm tránh lãng phí nguồn lực xã hội Về mặt xã hội, tạo việc làm giúp con người nâng cao vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế, giảm thiểu được tình trạng thất nghiệp trong xã hội Đồng thời, người lao động có việc làm sẽ giúp giảm các tệ nạn xã hội như : trộm cắp, lừa đảo, nghiện hút, … và hạn chế được những phát sinh tiêu cực do thiếu việc làm gây ra Về mặt kinh tế, việc làm giúp con người thỏa mãn được các nhu cầu
về vật chất và tinh thần, giúp ổn định và nâng cao đời sống của người lao động
Giải quyết việc làm đáp ứng nhu cầu tìm việc, nhu cầu lao động của con người vì lao động là phương tiện dể tồn tại chính của con người Có thể nói, giải quyết và tạo việc làm cho người lao động giúp cho họ tham gia được vào quá trình sản xuất của xã hội, cũng là tiền đề giúp cho sự tồn tại và phát triển của đất nước
Do đó, mọi chủ trương chính sách đúng đắn là phải phát huy cao độ khả năng nguồn lực con người, nếu có sai p hạm thì nguồn lao động sẽ trở thành gánh nặng, thậm chí gây trở ngại, tổn thất lớn cho nền kinh tế cũng như
xã hội Vì vậy một quốc gia giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động
là thành công lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội chính trị của mình
Thu hồi đất để mở rộng và phát triển các khu đô thị, phát triển các khu
du lịch, dự án, … trong đó khoảng 80% diện tích đất thu hồi là đất nông nghiệp, theo đó người nông dân bị thi hồi đất đồng nghĩa với việc người nông dân mất tư liệu sản xuất, mất việc làm là điều không tránh khỏi Các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cũng như chính sách bồi thường hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề cho người dân bị thu hồi đất ở nước ta chưa có sự thống nhất, mỗi địa phương, tỉnh, thành lại có mức hỗ trợ, bồi thường, tái định
cư khác nhau Mặt khác, công tác thu hồi đất và tái định cư còn mang tính áp
Trang 33đặt chủ quan từ phía các cơ quan chức năng, nguyện vọng của người dân chưa được giải quyết thấu đáo trong quá trình hoạch định chính sách Chính sách đào tạo hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề, tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất đã có chủ trương, quy định cụ thể nhưng chưa được các cấp chính quyền quan tâm thực hiện
Công tác bồi thường chỉ dừng lại ở việc bồi thường quyền sử dụng đất
và tài sản bị thiệt hại gắn liền với đất Các thiệt hại gián tiếp và vô hình khác
về việc làm, thu nhập kinh tế, lợi thế vị trí kinh doanh, … chưa được tính đến đầy đủ, trong khi đây là những điểm rất quan trọng đối với đời sống của người dân Kết quả là, trong khi quỹ đất sản xuất bị thu hẹp hoặc không còn đất để sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, người dân lâm vào tình trạng mất việc làm, thiếu việc làm dẫn đến không có thu nhập, thu nhập không ổn định, đời sống khó khăn và có nguy cơ đói nghèo, bần cùng hóa, tiêu cực xã hội nảy sinh, an ninh trật tự ngày càng phức tạp hơn
Việc khôi phục lại đời sống người dân bị ảnh hưởng từ việc mất đất sản xuất, di dời tái định cư, đòi hỏi phải có thời gian lâu dài Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ để khôi phục thu nhập, tạo việc làm, ổn định cuộc sống của người dân chưa được xem xét trong dài hạn, đảm bảo tính bền vững, đồng bộ các chính sách từ khâu quy hoạch tái định cư đến chính sách hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề và giải quyết việc làm theo hướng bền vững
1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT
1.2.1 Nội dung giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất
(a) Hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất
Trong quá trình giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất thì đây nội dung được Nhà nước và các địa phương quan tâm Để người lao
Trang 34động có việc làm ổn định và bền vững cần có nhiều phương thức hỗ trợ cho phù hợp với đặc điểm của người lao động mà đặc biệt là đối với lao động thuộc diện thu hồi đất Chúng ta có thể hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động bị thu hồi đất bằng nhiều cách khác nhau như: hỗ trợ vốn, dạy nghề, hỗ trợ về kỹ thuật, hỗ trợ bằng hiện vật (giống, nguyên vật liệu,…) Bên cạnh đó, Nhà nước hỗ trợ cần định hướng nghề nghiệp để nông dân chuyển đổi ngành nghề cho phù hợp với khả năng, trình độ thì mới đem lại hiệu quả
và tránh lãnh phí Thực tế cho thấy, làm được quy hoạch tốt đã khó, nhưng thực hiện quy hoạch, nhất là chuyển đổi ngành nghề để người dân ổn định việc làm lâu dài theo lại càng khó khăn hơn nhiều
(b) Đào tạo nghề cho người lao động thuộc diện thu hồi đất
Hoàn thiện chính sách đào tạo và đào tạo lại nghề phổ thông cũng như đào tạo nghề bậc cao hơn cho lực lượng lao động; thực hiện xã hội hóa đào tạo nghề cho người lao động nhằm phát huy mọi nguồn lực trong nước và nước ngoài để đầu tư cho hệ thống dạy nghề, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện các cấp học, tạo tiền đề cho đào tạo nghề, chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động; tư vấn nghề nghiệp đối với những học sinh tốt nghiệp phổ thông; gắn dạy nghề với tạo việc làm cho người lao động …, đây là yêu cầu tiền đề của giải quyết việc làm cho người lao động thuộc diện thu hồi đất
(c) Hỗ trợ vốn giải quyết việc làm
Hiện nay, hầu hết các hộ gia đình có nhu cầu giải quyết việc làm đều có khó khăn về vốn, đặc biệt là sau khi bị thu hồi đất, việc thay đổi phương thức sản xuất càng làm cho yêu cầu về vốn cao hơn trước Nhà nước cần có chính sách cho vay thiết thực hơn, đối với các hộ có nhu cầu vay vốn và tạo điều kiện cho các hộ có khả năng chi trả sau khi vay Ưu tiên cho vay từ nguồn vốn khác nhau với lãi suất ưu đãi Nâng cao vai trò của các quỹ tín dụng, quỹ xóa đói giảm nghèo, quỹ quốc gia về giải quyết việc làm để hỗ trợ các gia đình,
Trang 35làng nghề, … Bên cạnh đó, thực hiện vốn cho người lao động từ quỹ đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi nghề của địa phương Ngoài ra, khi có sự ưu đãi của Nhà nước về tín dụng, các doanh nghiệp sẽ có trách nhiệm hơn với các hộ mất đất, thông qua việc trợ giúp đào tạo nghề tại chỗ
(d) Phát triển sản xuất gắn với giải quyết việc làm
Trên cơ sở định hướng cơ cấu kinh tế của vùng, các địa phương cần chủ động tìm kế sách để phát triển sản xuất cho phù hợp với tình hình thực tế cũng như nguồn lực sẵn có của địa phương cùng với đó xây dựng hạ tầng các khu quy hoạch sản xuất hàng hóa tập trung, các chính sách khuyến khích phát triển đa dạng các loại hình sản xuất, phát triển làng nghề truyền thống, các ngành nghề thủ công,… góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động Tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế
hộ gia đình, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn, chuyển đổi
cơ cấu sản xuất, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị cao Cần hỗ trợ nông dân về kỹ thuật, con giống, cây giống và định hướng về thị trường tiêu thụ để
họ an tâm sản xuất; phát triển cách vùng chuyên canh; trồng rau, trồng nấm, trồng hoa, cây cảnh, chăn nuôi, … có hiệu quả kinh tế cao
(e) Tăng cường hỗ trợ thông tin về thị trường lao động
Tạo cầu nối để người sử dụng lao động và người lao động được gặp nhau trên thị trường lao động là rất cần thiết Do đó, việc tăng cường hỗ trợ thông tin về thị trường lao động cho người lao động bằng nhiều hình thức như: thông qua hội chợ việc làm, các trung tâm tư vấn giới thiệu việc làm, trung tâm dạy nghề, thông qua các phương tiện thông tin địa chúng để giúp cho người lao động có thể nắm bắt nhanh và kịp thời đối với nhu cầu của người sử dụng lao động Việc chưa kịp thời cập nhật thông tin về cung-cầu lao động cho các nhà tuyển dụng và người lao động cũng như các cơ sở đào tạo để có định hướng đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường cũng đang là điểm
Trang 36yếu của thị trường lao động Việt Nam hiện nay Bởi vậy, theo các chuyên gia
về lao động việc làm, hơn lúc nào hết công tác thông tin, dự báo thị trường lao động cần được đầu tư, kịp theo sát thực tế Cần có các biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cũng như chất lượng của thông tin thị trường lao động như: tăng cường quản lý và nâng cao chất lượng hoạt động của các hội chợ việc làm, trung tâm xúc tiến việc làm, các trung tâm mô giới, trung tâm hướng nghiệp - dạy nghề
Do đó, đầu tư phát triển hỗ trợ hệ thống thông tin và phân tích thị trường lao động là rất cần thiết Điều này góp phần tăng cơ hội việc làm mới cho người đang tìm việc Hơn nữa, việc thu thập thông tin, phân tích số liệu sẽ giúp xác định được những khiếm khuyết về việc làm bền vững mà VN cần ưu tiên giải quyết Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao, hệ thống thông tin thị trường lao động cần phải duy trì một cơ sở dữ liệu phong phú về thông tin, chỉ
số toàn diện của thị trường lao động Điều này sẽ giúp cho các nhà quản lý, doanh nghiệp và người lao động dễ dàng tiếp cận thông tin lao động
(f) Động viên và giúp đỡ người lao động tự tạo việc làm trong các ngành nghề thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước
Tiếp tục nâng cao nhận thức về tự tạo việc làm trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước, đặc biệt là khu vực phi chính thức Xác định khu vực phi chính thức là một bộ phần hợp thành của nền kinh tế đang phát triển, có vai trò lớn trong việc giải quyết việc làm; tôn trọng sự phát triển khách quan và năng động của nó, hỗ trợ cho nó cùng phát triển theo hướng lành mạnh, nâng cao chất lượng phục vụ, cải tiến kỹ thuật, công nghệ, bảo vệ môi trường và quyền lợi của người lao động Cần khuyến khích người lao động lớn tuổi hoặc không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới về hưu sớm hoặc tự nguyện thôi việc với chế độ trợ cấp ưu đãi
Trang 371.2.2 Các tiêu chí phản ảnh giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất
- Số lao động được chuyển đổi ngành nghề;
- Số lượng và mức tăng lao động bị thu hồi đất được đào tạo nghề;
- Số lao động đã được đào tạo tìm được việc làm;
- Số lao động được hỗ trợ về vốn để phát triển sản xuất;
- Số lao động tìm được việc làm sau khi được hỗ trợ thông tin về thị trường lao động
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
Giải quyết việc làm cho người lao động phụ thuộc nhiều nhân tố khác nhau Đối với đề tài, xin đề cập đến một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho người lao động thuộc diện thu hồi đất
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một lãnh thổ là nhân tố tiền đề ảnh hưởng đến giải quyết việc làm và nó nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người như độ màu mỡ tự nhiên của đất đai, diện tích canh tác bình quân đầu người, điều kiện về khí hậu, thủy văn thuận lợi hoặc bất lợi cho phát triển các loại hình sản xuất mà nhu cầu có việc làm bắt nguồn từ đòi hỏi của sản xuất, phát triển kinh tế Muốn mở rộng và phát triển kinh tế phải dựa vào những tiền đề vật chất Do đó làm thế nào để các điều kiện sẵn có của mỗi vùng, quốc gia trở thành nguyên liệu, nhiên liệu, thành vốn để phục vụ cho sản xuất và đời sống; đồng thời Nhà nước cần phải bám sát quá trình đổi mới của khoa học công nghệ để có những chính sách, biện pháp cụ thể, phù hợp
để giúp người lao động địa phương có thể khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên này
Trang 381.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Với mỗi mức xuất phát điểm của mỗi địa phương, mỗi vùng thì tương ứng với tình hình kinh tế khác nhau Với những điều kiện kinh tế xã hội ổn định sẽ thu hút được đầu tư, kéo theo đó là thúc đẩy kinh tế phát triển và giải quyết được nhiều việc làm, hạn chế được tỷ lệ thất nghiệp Với điều kiện kinh
tế suy thoái dẫn đến các doanh nghiệp hạn chế sản xuất, ngừng sản xuất,… lao động bị sa thải Do đó, điều kiện về kinh tế xã hội và giải quyết việc làm
nó có ảnh hưởng lẫn nhau nếu điều kiện kinh tế xã hội không ổn định sẽ ảnh hưởng đến nhà đầu tư hệ quả kéo theo là thất nghiệp – lãng phí nguồn nhân lực, bần cùng hóa, tệ nạn xã hội
1.3.3 Chất lượng lao động
Cơ chế giải quyết việc làm đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ của cả 03 phía: người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước Do đó, nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến tạo việc làm cho người lao động là sức lao động trên cả hai phương diện là số lượng và chất lượng Nhân tố này bao gồm những yêu cầu mà người lao động cần phải có để đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng lao động Hiện nay, với xu thế hội nhập và phát triển thì chất lượng sức lao động được xem là vấn đề quan trọng nhất Để tìm được việc làm và nhất
là việc làm có thu nhập cao, phù hợp với năng lực, trình độ thì cần phải đầu tư cho sức lao động của mình cả về thể lực và trí lực Do vậy, thông tin thị trường lao động giúp cho người lao động lựa chọn được ngành nghề mà thị trường lao động cần, để thực hiện đầu tư vào vốn con người có hiệu quả, chủ động tìm kiếm việc làm và nắm bắt cơ hội việc làm Trên cơ sở đó, mỗi lao động tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mình, tranh thủ từ các nguồn tài trợ của gia đình, của các tổ chức xã hội để tham gia giáo dục, đào tạo, phát triển sức lao động nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng để duy trì việc
Trang 39làm, tạo cơ hội làm việc có thu nhập cao vừa nuôi sống bản thân vừa góp phần ổn định xã hội
1.3.4 Cơ chế chính sách của nhà nước về giải quyết việc làm
Cơ chế, chính sách của nhà nước, của chính quyền địa phương, các quy định của người sử dụng lao động là nhân tố quan trọng tạo việc làm cho người lao động Trong mỗi thời kỳ khác nhau, Chính phủ sẽ đề ra những chính sách
cụ thể, tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, mở rộng hoặc thu hẹp việc làm của lĩnh vực này, ngành này hay lĩnh vực khác, ngành khác, tạo môi trường để người sử dụng lao động và người lao động gặp nhau Chính sách và cơ chế của nhà nước cũng trực tiếp hoặc gián tiếp khuyến khích các chủ sử dụng lao động sử dụng hay sa thải họ Các chính sách kinh tế vĩ mô, vi mô của nhà nước chung hoặc theo ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ,… có ảnh hưởng lớn đến giải quyết việc làm cho người lao động Cơ cấu kinh tế theo vùng thay đổi không chỉ về số lượng mà đặc biệt là
về chất lượng lao động Kết hợp đan xen giữa sản xuất kinh doanh quy mô lớn với quy mô vừa, nhỏ, tạo động lực phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhu cầu xuất khẩu, tạo vốn cho tích lũy mở rộng sản xuất
và cải thiện đời sống người dân Do đó, cơ chế chính sách của Chính phủ, chính quyền địa phương và việc áp dụng nó vào thực tiễn có tác động mạnh
mẽ đến cầu lao động của doanh nghiệp, của thị trường lao động, thái độ, hành
vi ứng xử của người sử dụng lao động trong thu hút lao động
Trong thực tế, ngoài yếu tố vốn đầu từ, nguyên nhiên vật liệu, năng lượng, số lượng và chất lượng lao động, nhu cầu thị trường đối với sản phẩm hàng hóa còn nhiều yếu tố khác phức tạp hơn tác động đến quá trình giải quyết việc làm
Trang 401.4 KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh
Kể từ cuối năm 1993, thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thực hiện triển khai nhiều dự án xây dựng các khu công nghiệp, chế xuất để nhằm mục đích thu hút các nguồn đầu tư, di dời các cơ sở sản xuất ra khỏi khu dân cư đông đúc nhằm tránh tình trạng ô nhiễm, cải thiện lại hệ thống giao thông ,… Tính từ năm 2000, thành phố đã triển khai bồi thường và giải phóng mặt bằng
721 dự án, tổng diện tích thu hồi hơn 201,8 triệu m2 Quá trình thu hồi đất đã ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người dân bị thu hồi đất Thành phố đã có nhiều chính sách đền bù và hỗ trợ cho người dân, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập như giá đền bù thấp, không thỏa đáng,, gây nhiều xáo trộn, bức xúc đến đại bộ phận người dân có đất bị thu hồi Trước tình hình này, thành phố đã thực hiện một số giải pháp, trong đó tập trung vào công tác bồi thường, hỗ trợ đào tạo và giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất Bên cạnh công tác bồi thường đất đai, thành phố còn thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ cho người dân
Đối với các hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nhưng vẫn còn đất canh tác, thành phố hỗ trợ cho vay vốn để phát triển sản xuất với mức vay lãi theo chương trình 419 (hộ dân thường được hỗ trợ 4% lãi suất vay/năm; hộ diện xoá đói giảm nghèo được hỗ trợ 7% lãi suất/năm) Đối với hộ bị thu hồi dưới 30% diện tích, thành phố hỗ trợ kinh phí học nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn với mức 300.000 đồng/người/tháng và không quá 1,5 triệu đồng trong một khoá đào tạo Những hộ dân không còn đất sản xuất phải chuyển sang ngành nghề khác thì được hỗ trợ cho vay tín dụng từ 1 triệu đến 20 triệu đồng/hộ, lãi vay 6%/năm Hỗ trợ, khoanh nợ lãi vay ngân hàng cho những hộ
bị thu hồi hết đất, không thể tiếp tục sản xuất để trả nợ ngân hàng Thành phố