Riêng tại Công ty TNHH chứng khoán ACB, một Công ty được thành lập trong những năm đầu tiên có mặt TTCK, có Ngân hàng ACB hùng mạnh đứng phía sau, tuy nhiên hoạt động môi giới lẫn thị ph
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS LÂM CHÍ DŨNG
Đà Nẵng – Năm 2013
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng
Tác giả
Phan Thành Duy
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 6
1.1 KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 6
1.1.1 Khái quát về thị trường chứng khoán 6
1.1.2 Khái quát về công ty chứng khoán 17
1.2 HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 25
1.2.1 Khái niệm 25
1.2.2 Phân loại môi giới chứng khoán 26
1.2.3 Chức năng và vai trò của môi giới chứng khoán 28
1.2.4 Những rủi ro của hoạt động môi giới chứng khoán 33
1.3 PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 35
1.3.1 Nội dung phát triển của hoạt động môi giới chứng khoán 35
1.3.2 Tiêu chí đánh giá phát triển hoạt động môi giới chứng khoán 39
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN 40
Trang 5KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 43
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN ACB 44
2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN ACB 44
2.1.1 Lịch sử hình thành 44
2.1.2 Quá trình phát triển 44
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động 45
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty TNHH chứng khoán ACB 49
2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN ACB 50
2.2.1 Về quy mô môi giới 51
2.2.2 Về thị phần môi giới 57
2.2.3 Mức độ đa dạng hóa của sản phẩm 62
2.2.4 Chất lượng dịch vụ 63
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI ACBS 64
2.3.1 Thành tựu 64
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN ACB 74
Trang 63.1.1 Định hướng phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 74
3.1.2 Tiềm năng phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam 75
3.1.3 Định hướng phát triển công ty TNHH chứng khoán ACB 75
3.1.4 Phân tích SWOT đối với Công ty TNHH chứng khoán ACB 76
3.2 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN ACB 78
3.2.1 Hoàn thiện và phát triển sản phẩm dịch vụ 78
3.2.2 Các giải pháp nguồn nhân lực 86
3.2.3 Chú trọng việc phát triển hệ thống công nghệ thông tin 91
3.2.4 Phân khúc khách hàng và ban hành cơ chế chăm sóc khách hàng 92 3.2.5 Cơ cấu lại hệ thống kênh phân phối 93
3.2.6 Chú trọng hoạt động quảng bá thương hiệu 95
3.2.7 Tăng cường hệ thống vận hành và kiểm soát rủi ro trên toàn hệ thống 97
3.2.8 Cổ phần hóa ACBS để nâng cao năng lực tài chính và tự chủ hơn trong quá trình hoạt động 98
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ Ở CẤP ĐỘ VĨ MÔ 99
3.3.1 Về phía chính phủ 99
3.3.2 Về phía Ủy ban chứng khoán nhà nước 100
3.3.3 Về phía Trung tâm nghiên cứu và đào tạo chứng khoán 103
KẾT LUẬN 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 7ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Nông Thôn
BSC Công ty TNHH chứng khoán Ngân Hàng Đầu Tư và Phát
Triển BVS/BVSC Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt
Hastc Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
Trang 8HOSE Sở giao dịch chứng khoán TPHCM
MG&TVĐT Môi giới và tư vấn đầu tư
ROA Tỷ số lợi nhuận trên tài sản
ROE Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Trang 9TLS/TSC Công ty cổ phần chứng khoán Thăng Long
Trang 10Số hiệu
2.2 Kết quả hoạt động tài chính của ACBS 2000 – 2009 49
2.7 Top 10 thị phần môi giới các CTCK sàn HOSE các Quý và
2.8 Top 10 thị phần môi giới các CTCK sàn HNX các Quý và
2.9 Thị phần môi giới cổ phiếu của 10 công ty chứng khoán
2.10 Thị phần môi giới cổ phiếu của 10 công ty chứng khoán
Trang 11Số hiệu
Trang 12Số hiệu
2.1 Tốc độ tăng trưởng doanh thu môi giới ACBS 2006 – 2009 55
2.5 Lý do khiến khách hàng rời bỏ nhà cung cấp sản
Trang 13
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
TTCK Việt Nam đã trải qua hơn 10 năm phát triển và thực sự trở thành kênh đầu tư mới và hấp dẫn TTCK Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn như sự gia tăng nhanh chóng về số lượng tài khoản, giá trị giao dịch, số lượng công ty niêm yết, giá trị vốn hóa thị trường
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới và cam kết WTO Theo như cam kết WTO, tới năm 2012 người nước ngoài có thể thành lập CTCK hoặc chi nhánh 100% vốn nước ngoài để cung cấp dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đã tác động rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam, hàng loạt các công
ty, doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn đặc biệt là các CTCK Các CTCK đang cạnh tranh hết sức gay gắt để chiếm lĩnh thị phần, đặc biệt là cạnh tranh trong hoạt động môi giới Trong bối cảnh đó, câu hỏi đặt ra cho tất
cả các CTCK là làm thế nào để phát triển hoạt động môi giới Chính vì vậy, mỗi CTCK cần phải nhìn nhận đánh giá được thực sự mình đang ở vị trí nào, đối thủ cạnh tranh đang ở đâu trên thị trường Và đề ra những giải pháp hợp lý
để khắc phục điểm yếu và phát triển điểm mạnh trong hoạt động của CTCK nói chung và hoạt động môi giới nói riêng
Riêng tại Công ty TNHH chứng khoán ACB, một Công ty được thành lập trong những năm đầu tiên có mặt TTCK, có Ngân hàng ACB hùng mạnh đứng phía sau, tuy nhiên hoạt động môi giới lẫn thị phần môi giới trong những năm gần đây vẫn rất chậm phát triển và dẫm chân tại chỗ Xuất phát từ
thực tế đó, tác giả chọn đề tài “Giải pháp phát triển hoạt môi giới chứng khoán tại công ty TNHH chứng khoán ACB”
Trang 142 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hệ thống hóa về các khái niệm và hoạt động môi giới của CTCK trên thế giới, phân tích các vấn đề về thực trạng hoạt động môi giới của các CTCK Việt Nam và CTCK điển hình là ACBS, để tìm hiểu những mặt tích cực cũng như những tồn tại và đề ra giải pháp phát triển hoạt động môi giới ở ACBS
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận liên quan đến phát triển hoạt động môi giới chứng khoán
- Thực tiễn của việc phát triển hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH chứng khoán ACB
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu tình hình hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH chứng khoán ACB Nghiên cứu những quan điểm, phương hướng, một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển hoạt động môi giới chứng khoán ở Việt Nam
Số liệu thực tế của đề tài được giới hạn trong hoạt động môi giới tại ACBS và các Công ty chứng khoán khác trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ 2000 đến cuối 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
- Để nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng một hệ thống các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin làm phương pháp luận
- Dùng phương pháp phân tích hệ thống và phương pháp phân tích thống kê để đánh giá và rút ra những mặt làm được và những tồn tại trong hoạt động môi giới chứng khoán của các CtyCK Việt Nam trong giai đoạn
Trang 15vừa qua
- Thu thập thông tin tư liệu, tài liệu tham khảo nghiên cứu chọn lọc kinh nghiệm các nước với tư duy khoa học, khách quan và thực tiễn để đề xuất kiến nghị những định hướng phát triển hoạt động môi giới chứng khoán
ở Việt Nam
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động môi giới chứng khoán của Công ty chứng khoán
- Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động môi giới tại công ty TNHH chứng khoán ACB
- Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động môi giới tại công ty TNHH chứng khoán ACB
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Đã có không ít các đề tài nghiên cứu về thị trường chứng khoán nói chung cũng như về hoạt động của các CTCK ở Việt Nam nói riêng Các đề tài
đã được các tác giả nghiên cứu theo các cách tiếp cận khác nhau và đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng, bổ sung và ngày càng hoàn thiện hơn về Luật chứng khoán đồng thời tăng cường sự ổn định, chuyên nghiệp, đưa nghề môi giới chứng khoán lên một tầm cao mới
- Trong luận án tiến sĩ với đề tài “xây dựng mô hình Công ty chứng khoán trong hoạt động của thị trường chứng khoán ở Việt Nam” của tác giả Trần Quốc Tuấn năm 2006, tác giả có đề cập đến vấn đề xây dựng đội ngũ nhân viên môi giới hùng mạnh nhằm gia tăng thị phần môi giới – hoạt động chính của Công ty chứng khoán, nhưng chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ nội dung luận án Cũng tại luận án tiến sĩ với đề tài “Hướng tới một thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động hiệu quả” của tác giả Nguyễn Thị Ánh Vân
Trang 16năm 2007, tác giả đã có một chương nói về những giải pháp đẩy mạnh hoạt động tư vấn đầu tư trong nghiệp vụ môi giới chứng khoán tại Công ty chứng khoán Với luận án tiến sĩ đề tài là: “Những giải pháp pháp triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Đức năm 2008, tác giả
đã nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp phát nhằm hoàn thiện tổ chức, hoạt động của Công ty chứng khoán, trong đó mảng tự doanh và môi giới được cho là rất quan trọng
- Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ đã được bảo vệ cũng đề cập về hoạt động của các Công ty chứng khoán trong thị trường chứng khoán hiện nay, tiêu biểu như:
+ Luận văn của tác giả Nguyễn Hồng Vân với tên đề tài “Các giải pháp thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam” năm
2008 cũng đã điểm qua về những biến động thăng trầm của TTCKVN sau 8 năm xây dựng và phát triển Đánh giá những mặt đạt được và phân tích những điểm hạn chế của TTCKVN, tuy nhiên mảng môi giới chứng khoán chỉ được thể hiện trong phần rất nhỏ trong việc đề xuất đưa ra các giải pháp phát triển
+ Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Như Châu “Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán” năm 2009 tại thành phố
Hồ Chí Minh đã nêu lên hiện trạng và chất lượng dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán trên thị trường thành phố Hồ Chí Minh và cung cấp thông tin về các yếu tố để đo lường chất lượng dịch vụ mà khách hàng mong muốn nhận được từ các Công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, Tuy nhiên, đề tài chỉ gói gọn vào chất lượng dịch
vụ về môi giới tại thành phố Hồ Chí Minh, không đi vào các tiêu chí khác nhằm phát triển hoạt động môi giới chứng khoán tại Việt Nam
Ngoài ra còn rất nhiều luận văn thạc sĩ đã được bảo vệ cũng đề cập về hoạt động của các Công ty chứng khoán trong thị trường chứng khoán hiện
Trang 17nay, tuy nhiên cách tiếp cận là tổng thể và toàn diện về mọi hoạt động của các Công ty chứng khoán từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam được thành lập đến nay
Như vậy có thể nói, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu tập trung vào sự phát triển của hoạt động môi giới chứng khoán, đặc biệt là nghiên cứu tại Công ty TNHH chứng khoán ACB, một trong những Công ty chứng khoán được thành lập đầu tiên tại Việt Nam
Trang 18Như vậy, xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn
ra các hoạt động về giao dịch mua bán các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán Thị trường chứng khoán là một thị trường mà
ở nơi đó người ta giao dịch mua bán chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời
Thị trường chứng khoán phải tồn tại ở một nơi mà ở nơi đó việc mua, bán chứng khoán được thực hiện Trong quá trình phát triển và hoàn thiện TTCK ở các nước có nền sản xuất và lưu thông hàng hóa lâu đời như Mỹ, Anh, Pháp,…nơi đó tồn tại dưới hai hình thức: TTCK có tổ chức và TTCK phi tổ chức
Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá và có thể mua bán trên thị trường, gọi là thị trường chứng khoán, khi đó chứng khoán là hàng hóa trên thị trường đó Chứng khoán có rất nhiều loại: cổ phiếu, trái phiếu và một số loại khác như quyền mua cổ phiếu mới, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, chứng chỉ quỹ đầu tư
Trang 19Trong đó hai dạng chính là cổ phiếu và trái phiếu Cổ phiếu là chứng từ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần
Khi sở hữu cổ phiếu, người đó trở thành cổ đông của công ty Trái phiếu là một loại chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả nợ bao gồm cả gốc và lãi của tổ chức phát hành đối với người sở hữu trái phiếu Tổ chức phát hành ở đây có thể là chính phủ (như Trái phiếu kho bạc, Tín phiếu kho bạc) hay chính quyền địa phương (như Trái phiếu đô thị) nhằm huy động vốn cho một chương trình quốc gia hay dự án nào đó, hoặc công ty nhằm huy động vốn mà không mở rộng đối tượng quản lý Với tư cách là người sở hữu trái phiếu hay gọi là trái chủ sẽ được quyền ưu tiên thanh toán tài sản thanh lý khi công ty phá sản trước các cổ đông Tuy nhiên trái chủ lại không được tham gia vào các quyết định cũng như tham gia quản lý trong các tổ chức phát hành
Hiện nay buôn bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán được coi
là ngành kinh doanh đơn giản nhất (do ai cũng có thể đầu tư với thủ tục đơn giản) nhưng cũng phức tạp nhất (vì chứa đựng rất nhiều rủi ro)
Chứng khoán không chỉ dừng lại là một giấy chứng nhận quyền sở hữu
mà nó đã trở thành một hàng hóa ưa thích cho những nhà đầu tư và đầu cơ Nhà đầu tư thường mua cổ phiếu của các công ty có triển vọng phát triển vào thời điểm có lợi, trên cơ sở phân tích kỹ thuật, rồi giữ chúng lại lâu dài để hưởng cổ tức Còn nhà đầu cơ kinh doanh cổ phiếu bằng cách mua cổ phiếu vào khi dự đoán nó sẽ sớm lên giá sau đó "rình" cơ hội bán cổ phiếu vào lúc giá đỉnh điểm để kiếm lời
b Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán
* Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp
Trang 20phần mở rộng sản xuất xã hội Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội
* Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình
* Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao
* Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm
* Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế
Trang 21vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua
và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế
c Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được chia thành các nhóm sau: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán
* Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của thị trường chứng khoán
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng phục vụ cho hoạt động của họ
* Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức
* Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
- Công ty chứng khoán
- Quỹ đầu tư chứng khoán
- Các trung gian tài chính khác
Trang 22* Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
- Cơ quan quản lý nhà nước:
Cơ quan này được thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán cơ quan này có những tên gọi khác nhau tuỳ từng nước Tại Anh có Uỷ ban đầu tư chứng khoán (SIB- Securities Investment Board), tại Mỹ có Uỷ ban chứng khoán và Giao dịch chứng khoán (SEC - Securities And Exchange Comission) hay ở Nhật Bản có Uỷ ban giám sát chứng khoán và Giao dịch chứng khoán (ESC - Exchange Surveillance Comission) được thành lập vào năm 1992 và đến năm 1998 đổi tên thành FSA - Financial Supervision Agency Và ở Việt Nam có Uỷ ban chứng khoán nhà nước được thành lập theo Nghị định số 75/CP ngày 28/11/1996
- Sở giao dịch chứng khoán:
Hiện nay trên thế giới có ba hình thức tổ chức SGDCK:
+ Thứ nhất: SGDCK được tổ chức dưới hình thức “câu lạc bộ mini” hay được tổ chức theo chế độ hội viên Đây là hình thức tổ chức SGDCK có tính chất tự phát Trong hình thức này, các hội viên của SGDCK tự tổ chức và
tự quản lý SGDCK theo pháp luật không có sự can thiệp của nhà nước Các thành viên của SGDCK bầu ra hội đồng quản trị để quản lý và hội đồng quản trị bầu ra ban điều hành
+ Thứ hai: SGDCK được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần có cổ đông là công ty chứng khoán thành viên SGDCK tổ chức dưới hình thức này hoạt động theo luật công ty cổ phần và chịu sự giám sát của một cơ quan chuyên môn về chứng khoán và thị trường chứng chứng khoán do chính phủ lập ra
+ Thứ ba: SGDCK được tổ chức dưới dạng một công ty cổ phần nhưng
có sự tham gia quản lý và điều hành của Nhà nước Cơ cấu tổ chức, điều hành
và quản lý cũng giống như hình thức công ty cổ phần nhưng trong thành phần
Trang 23hội đồng quản trị có một số thành viên do Uỷ ban chứng khoán quốc gia đưa vào, giám đốc điều hành SGDCK do ủy ban chứng khoán bổ nhiệm
Sở giao dịch chứng khoán HSX và HNX ở Việt Nam được tổ chức theo hình thức thứ ba này
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán:
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán hoạt động với mục đích bảo
vệ lợi ích cho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán nói chung Hiệp hội này có một số các chức năng chính sau:
+ Khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán
+ Ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở các quy định pháp luật về chứng khoán
+ Điều tra và giải quyết tranh chấp giữa các thành viên
+ Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông lệ trong ngành chứng khoán
- Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán:
Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán là các tổ chức nhận lưu giữ các chứng khoán và tiến hành nghiệp vụ thanh toán bù trừ
- Các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm:
Các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm là các công ty chuyên đưa ra các đánh giá về tình hình và triển vọng của các công ty khác dưới dạng các hệ số tín nhiệm
d Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của TTCK
Thị trường chứng khoán hoạt động theo 3 nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc trung gian, nguyên tắc đấu giá và nguyên tắc công khai
* Nguyên tắc trung gian
Mọi hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán đều đuợc thực hiện thông qua các trung gian, hay còn gọi là các nhà môi giới Các nhà môi giới thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng và
Trang 24hưởng hoa hồng Ngoài ra, nhà môi giới còn có thể cung cấp các dịch vụ khác như cung cấp thông tin và tu vấn cho khách hàng trong việc đầu tư
Theo nguyên tắc trung gian, các nhà đầu tư không thể trực tiếp thoả thuận với nhau để mua bán chứng khoán Họ đều phải thông qua các nhà môi giới của mình để đặt lệnh Các nhà môi giới sẽ nhập lệnh vào hệ thống để khớp lệnh
* Nguyên tắc đấu giá
Giá chứng khoán đuợc xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và các lệnh bán
Tất cả các thành viên tham gia thị truờng đều không thể can thiệp vào việc xác định giá này
Có hai hình thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá tự động Đấu giá trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và trực tiếp đấu giá Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới đuợc nhập vào hệ thống máy chủ của Sở giao dịch chứng khoán Hệ thống máy chủ này sẽ xác định mức giá sao cho tại mức giá này, chứng khoán giao dịch với khối lượng cao nhất
* Nguyên tắc công khai
Tất cả các hoạt động trên thị truờng chứng khoán đều phải đảm bảo tính công khai Sở giao dịch chứng khoán công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán trên thị trường
Các tổ chức niêm yết công bố công khai các thông tin tài chính định kỳ hàng năm của công ty, các sự kiện bất thuờng xảy ra đối với công ty, nắm giữ
cổ phiếu của giám đốc, nguời quản lý, cổ đông đa số Các thông tin càng được công bố công khai minh bạch, thì càng thu hút đuợc nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán
Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán đuợc
Trang 25hình thành một cách thống nhất, công bằng cho tất cả các bên giao dịch Do
đó, ở hầu hết các nuớc trên thế giới hiện nay, mỗi nước chỉ có một Sở giao dịch chứng khoán duy nhất (tuy nhiên, người dân mọi miền đất nuớc đều có thể tiếp cận thị trường thông qua các phòng giao dịch của công ty chứng khoán mở tới các điểm dân cư)
Một số nước khác còn tồn tại vài Sở giao dịch chứng khoán do lịch sử
để lại thì đều nối mạng với nhau hoặc giao dịch những chứng khoán riêng biệt
e Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản phẩm tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng có kỳ hạn trên 1 năm) Sau đây là một số cách phân loại TTCK cơ bản:
* Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
Thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp:
- Thị trường sơ cấp: là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành
- Thị trường thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán
đã phát hành
* Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
Thị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) và phi tập trung (thị trường OTC)
* Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường: thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán
Trang 26- Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn
f Cơ chế vận hành của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán làm trung gian giữa công chúng với công ty Hai chủ thể này lúc lắc trái chiều nhau; vì công chúng có ít tiền, muốn kiếm lãi cao, lại còn muốn rút vốn ra bất cứ lúc nào; trong khi ấy công ty muốn vốn vào nhiều mà ở lại lâu Đây là hai đòi hỏi cực đoan Vai trò của TTCK là hoá giải hai cái cực đoan ấy; nghĩa là nó làm cho hai chủ thể tham gia kia vẫn gắn với nhau dù lúc lắc trái chiều nhau
Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh rằng, TTCK không thể làm hai chủ thể kia dính mãi nếu bản thân hai chủ thể không có một cái gì chung làm điểm nối kết Điểm chung đó là tiền lời hay lãi mà người đầu tư đòi hỏi thì công ty phải đáp ứng cho được qua việc kinh doanh của mình
Tiền cũng giống như nước, nó chảy vào chỗ trũng Công ty phải là chỗ trũng thì nước mới chảy vào Đó là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của một TTCK
Về mặt vĩ mô, TTCK không có vốn để cung cấp cho công ty Nó chỉ hỗ trợ công ty theo tinh thần “anh hãy tự giúp trước, rồi trời sẽ giúp sau” Sau khi người đầu tiên (là công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán) đã trả hết tiền mua chứng khoán mà công ty bán ra thì TTCK làm xong việc giao vốn dài
Trang 27hạn cho công ty Nó không làm gì khác cho công ty nữa Công ty cũng không phải trả lãi, trả vốn cho TTCK, như phải làm với ngân hàng Việc đăng ký và niêm yết chứng khoán công ty làm với cơ quan chính quyền quản lý sự giao dịch chứng khoán và với Sở Giao dịch chứng khoán là nơi quản lý cái chợ, chứ không phải với TTCK Vì vậy, công ty phải tự làm ăn mà trả lời, trả lãi cho những người đã hay sẽ mua chứng khoán của họ Trong số công việc của mình, TTCK phục vụ công ty khoảng 10 %, còn phục vụ những người mua chứng khoán đến 90 % Việc phục vụ sau gồm hai công tác chính : (1) làm sao cho họ có thể kiếm lời từ việc mua bán chứng khoán trên thị trường ; và (2) cho họ rút tiền ra lúc nào cũng được Cách duy nhất mà TTCK làm để thực hiện tốt hai công tác kia, là làm sao cho có thật nhiều người tham gia vào
nó, càng đông càng tốt Đông người mua ắt sẽ bán dễ, vậy là có sự mua bán
để kiếm lời Nhiều người mới sẵn sàng vào thì người cũ bán chứng khoán cho
họ, như vậy là rút ra lúc nào cũng được TTCK cũng không bảo đảm cho người đầu tư là cứ mua bán chứng khoán sẽ có lời, hay cho vay ở TTCK là có lãi cao Những thứ này tuỳ thuộc vào các công ty đã bán chứng khoán và hoạt động của họ, và tuỳ cách người đầu tư đã đặt mua bán như thế nào
Mọi giao dịch diễn ra trong sự thanh liêm và trong sáng Bốn yếu tố đầu có tính thương mại hay vật chất, còn yếu tố cuối là tinh thần; và tất cả đều nhằm phục vụ người đầu tư
Trang 28- Tư cách của người mua bán chứng khoán:
Khi phát hành chứng khoán, công ty sẽ ấn định một giá bán ban đầu được ghi trên chứng khoán, gọi là mệnh giá Mệnh giá sẽ lên hay xuống để thành giá thực tế lúc mua hay bán gọi là thực giá Thực giá thay đổi tuỳ theo người muốn mua hay bán chứng khoán thấy công ty trả cổ tức hay tiền lãi ra sao (năm trước trả bao nhiêu, năm nay có thể sẽ trả bao nhiêu) và tuỳ vào sự đánh giá của họ về triển vọng kinh doanh của công ty (sản phẩm sẽ bán chạy không) Hai yếu tố này tỷ lệ thuận với nhau nhưng lại tạo ra hai loại người mua bán khác nhau Người nào mua hay bán chứng khoán mà dựa trên triển vọng kinh doanh tương lai của công ty thì người đó mong kiếm lời từ chính việc mua bán ; và họ là người đầu cơ (speculator) hay người kinh doanh chứng khoán Người đầu cơ ở TTCK khác hẳn người đầu cơ ở thị trường hàng hoá, họ cần thiết cho TTCK Còn người nào chỉ mua chứng khoán để mong hưởng cổ tức hay tiền lãi đều đặn, thì người đó là người đầu tư bảo thủ hay người nuôi chứng khoán
g Hình thức giao dịch của TTCK
* Mua bán chứng khoán của tổ chức phát hành:
Đối với loại chứng khoán này, bạn có thể thực hiện theo hai hình thức:
- Mua trực tiếp tại tổ chức phát hành (công ty): nhà đầu tư phải đăng ký mua và nộp tiền trực tiếp tại tổ chức phát hành chứng khoán Hình thức này rất bất cập, nhất là về mặt địa lý
- Mua thông qua trung gian: tức mua thông qua các nhà đại lý hoặc bảo lãnh phát hành, thông thường là các công ty chứng khoán và ngân hàng thương mại
* Mua bán chứng khoán niêm yết tại các sở giao dịch chứng khoán:
Chứng khoán niêm yết là chứng khoán có đủ điều kiện và tiêu chuẩn được đăng ký để mua bán tại các sở giao dịch chứng khoán Khi mua bán
Trang 29chứng khoán niêm yết phải tuân thủ theo một số nguyên tắc sau:
- Mọi giao dịch mua bán chứng khoán đều phải qua hệ thống tại sở giao dịch chứng khoán theo phương thức khớp lệnh hoặc phương thức thỏa thuận
- Giao dịch chứng khoán thực hiện theo phương thức khớp lệnh trên nguyên tắc ưu tiên về giá và ưu tiên về thời gian
- Giao dịch chứng khoán niêm yết lô lẻ được thực hiện trực tiếp giữa người đầu tư với công ty chứng khoán thành viên là thành viên của trung tâm giao dịch chứng khoán trên nguyên tắc thỏa thuận về giá
Quy trình giao dịch chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán:
Toàn bộ quy trình này được tiến hành theo năm bước:
- Bước 1: Nhà đầu tư đến mở tài khoản và đặt lệnh mua hay bán chứng khoán tại một công ty chứng khoán
- Bước 2: Công ty chứng khoán chuyển lệnh đó cho đại diện của công
ty tại sở giao dịch chứng khoán để nhập vào hệ thống giao dịch của sở
- Bước 3: Sở giao dịch chứng khoán thực hiện ghép lệnh và thông báo kết quả giao dịch cho công ty chứng khoán
- Bước 4: Công ty chứng khoán thông báo kết quả giao dịch cho nhà đầu tư
- Bước 5: Nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền (nếu là người bán) trên tài khoản của mình tại công ty chứng khoán sau
ba ngày làm việc kể từ ngày mua bán nếu quy định về thời gian thực hiện thanh toán bù trừ chứng khoán là T+3
1.1.2 Khái quát về công ty chứng khoán
a Khái niệm
CTCK là một định chế tài chính trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán, là đơn vị có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập
Trang 30Nguyên tắc trung gian là nguyên tắc hoạt động cơ bản nhất của TTCK, theo nguyên tắc này mọi hoạt động mua bán diễn ra trên TTCK đều phải thông qua
tổ chức trung gian, đó là CTCK CTCK là một trung gian tài chính thực hiện tất cả các nghiệp vụ trên TTCK
CTCK là thành viên của SGDCK thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán và cung cấp các dịch vụ khác cho NĐT cũng như các doanh nghiệp tham gia TTCK Theo nghĩa rộng, CTCK là một tổ chức trung gian trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp Trên thị trường sơ cấp, các chứng khoán được mua bán lần đầu tiên, các CTCK thường đóng vai trò là tổ chức bảo lãnh phát hành để giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục phát hành, phân phối chứng khoán và bình ổn giá chứng khoán Trên thị trường thứ cấp, các chứng khoán đã phát hành được giao dịch mua bán, trao đổi, CTCK đóng vai trò là trung gian môi giới thực hiện các giao dịch
Tại Việt Nam, theo Quy chế hoạt động của CTCK quy định “CTCK là
CTCP hoặc công ty TNHH thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán”
b Các loại hình công ty chứng khoán
Hoạt động của CTCK rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn các doanh nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì CTCK là một loại hình định chế tài chính đặc biệt nên vấn đề xác định mô hình tổ chức kinh doanh của nó cũng có nhiều điểm khác nhau ở các nước Tuy nhiên, có thể khái quát thành hai loại hình cơ bản hiện nay là: công ty chuyên doanh chứng khoán và công
ty đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ
* Công ty chuyên doanh chứng khoán
Theo mô hình này hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty
Trang 31độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận; các ngân
hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán
Ưu điểm của mô hình này là: hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng; tạo điều kiện cho TTCK phát triển Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước đáng chú ý là Mỹ, Nhật Bản, Canada, Hàn Quốc Tuy nhiên trong thời gian gần đây, các nước này có xu hướng xóa bỏ dần hàng rào ngăn cách giữa hai loại hình kinh doanh (tiền tệ và chứng khoán) và ngày nay, các CTCK lớn đã
mở rộng kinh doanh cả trong lĩnh vực bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ
* Công ty đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ Mô hình này chia thành hai loại:
Loại đa năng một phần: các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải lập công ty độc lập hoạt động tách rời
Loại đa năng hoàn toàn: các ngân hàng được kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ
Ưu điểm: Mô hình này có ưu điểm là ngân hàng có thể đa dạng hoá kết
hợp lĩnh vực kinh doanh nhờ đó giảm rủi ro kinh doanh, khả năng chịu đựng các biến động TTCK là cao Mặt khác, ngân hàng tận dụng được thế mạnh về vốn kinh doanh chứng khoán, khách hàng có thể sử dụng được nhiều dịch vụ
đa dạng và lâu năm của ngân hàng
Hạn chế: Mô hình này bộc lộ một số hạn chế như không phát triển thị
trường cổ phiếu do các ngân hàng có xu hướng bảo thủ, thích hoạt động tín dụng truyền thống hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu Mặt khác theo mô hình này nếu có biến động trên TTCK sẽ ảnh hưởng mạnh đến hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng dễ dẫn đến các khủng hoảng tài chính
Trang 32c Hình thức sở hữu của công ty chứng khoán
Về hình thức pháp lý, trên thế giới hiện nay tồn tại ba loại hình tổ chức CTCK cơ bản:
* Công ty hợp danh
Là doanh nghiệp phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh Thành viên hợp danh phải có trình độ chuyên môn, phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghiệp vụ của CTCK Công ty hợp danh không được phát hành bất cứ loại chứng khoán nào Ưu điểm loại hình này là các thành viên có quyền quản lý công ty và tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công
ty Họ có thể phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong kinh doanh Nhược điểm là loại hình doanh nghiệp này không có tư cách pháp nhân Công ty không thể phát hành chứng khoán vì vậy khả năng huy động vốn sẽ bị hạn chế rất nhiều
* Công ty trách nhiệm hữu hạn
Là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghiệp vụ khác của công ty bị khống chế bởi số vốn đã cam kết góp Số lượng các thành viên không vượt quá 50 Công ty không được quyền phát hành cổ phiếu Ưu điểm là thành viên của công ty thường ít hơn cổ đông của công ty cổ phần, do đó cơ cấu quản lý công ty gọn nhẹ Nhược điểm là rủi ro
sẽ chuyển sang các chủ nợ Vì công ty không được phát hành cổ phần nên khó khăn trong việc huy động vốn
* Công ty cổ phần
Là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp CTCP có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán Mô hình CTCP được đánh giá là ưu việt nhất đối với các CTCK Ưu
Trang 33điểm là có tư cách pháp nhân, được phép phát hành cổ phiếu và trái phiếu, nên dễ dàng huy động vốn từ các NĐT Nhược điểm là cơ cấu tổ chức và hoạt động quản lý của công ty tương đối phức tạp
Ở Việt nam, theo qui định của Luật chứng khoán, CTCK được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH và CTCP
d Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán
Cơ cấu tổ chức của CTCK phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ và quy
mô hoạt động kinh doanh của công ty Tuy nhiên, phải đảm bảo tách biệt giữa hoạt động tự doanh với hoạt động môi giới và quản lý danh mục đầu tư Nhìn chung, cơ cấu tổ chức của CTCK là hệ thống các phòng ban chức năng được chia làm 2 khối tương ứng với 2 khối công việc như sau:
Khối I (Front office)
Do một phó giám đốc trực tiếp phụ trách, thực hiện các giao dịch mua bán kinh doanh chứng khoán, nói chung là có liên hệ với khách hàng Khối này đem lại thu nhập cho công ty bằng cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng
và tạo ra các sản phẩm phù hợp với các nhu cầu đó
Trong khối này, ứng với một nghiệp vụ chứng khoán cụ thể, công ty có thể tổ chức một phòng để thực hiện Vì vậy, công ty thực hiện bao nhiêu nghiệp vụ sẽ có thể có từng ấy phòng và nếu CTCK chỉ thực hiện một nghiệp
vụ, có thể sẽ chỉ có một phòng thuộc khối này Riêng phòng thanh toán và lưu giữ chứng khoán thì mọi CTCK đều phải có và có thể ở khối I do nó trực tiếp liên hệ với khách hàng
Trang 34Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức Khối I của công ty chứng khoán
Khối II (Back office)
Khối này cũng do một phó giám đốc phụ trách, thực hiện các công việc yểm trợ cho khối I Nói chung, bất kỳ một nghiệp vụ nào ở khối I đều cần sự trợ giúp của các phòng ban thuộc khối II
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ tổ chức Khối II của công ty chứng khoán
Phó giám đốc điều hành khối I
Phòng môi
giới
Phòng thanh toán & lưu trữ CK
Phòng tư
vấn tài chính
công ty
Phòng tự doanh
Phòng tư vấn đầu tư
Phòng cho
vay chứng
khoán
Phòng bảo lãnh phát hành
Phòng quản
lý, quỹ đầu
tư
Phòng uỷ quyền
Phòng hành chính
& tổ chức
Phòng ngân quỹ
Phòng phát triển sản phẩm
Phòng máy tính & tin học
Trang 35Ngoài sự phân biệt rõ ràng hai khối như vậy, CTCK còn có thể có thêm một số phòng như phòng cấp vốn, phòng tín dụng nếu công ty này được thực hiện các nghiệp vụ mang tính ngân hàng Đối với CTCK lớn, còn có thêm chi nhánh văn phòng ở các địa phương, hoặc các nước khác nhau; hay
có thêm phòng quan hệ quốc tế
e Vai trò của công ty chứng khoán
CTCK có các vai trò chủ yếu trên thị trường tài chính như sau:
* Huy động vốn
CTCK là một trung gian tài chính đồng thời là kênh dẫn vốn chảy từ một hay một bộ phận nào đó của nền kinh tế có dư thừa vốn (vốn nhàn rỗi) đến bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn (cần huy động vốn) Các CTCK thường đảm nhận vai trò này qua hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán (MGCK)
* Cung cấp cơ chế giá cả
Ngành công nghiệp chứng khoán nói chung, CTCK nói riêng, thông qua các SGDCK và thị trường OTC, có chức năng cung cấp một cơ chế giá cả nhằm giúp nhà đầu tư có được sự đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị khoản đầu tư của mình Thông qua các SGDCK niêm yết, giá cổ phiếu của các công ty niêm yết thể hiện từng ngày trên phương tiện thông tin đại chúng
* Cung cấp cơ chế chuyển ra tiền mặt
Các nhà đầu tư chứng khoán luôn muốn có khả năng chuyển tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định Các CTCK đảm bảo được chức năng chuyển đổi này, giúp cho nhà đầu tư phải chịu ít thiệt hại và chi phí nhất trong quá trình đầu tư
Khi thực hiện các chức năng của mình, các CTCK cũng tạo ra sản phẩm, vì các công ty này hoạt động với tư cách đại lý hay công ty ủy thác trong quá trình mua bán các chứng khoán được niêm yết và không được niêm
Trang 36yết, đồng thời cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư cho các cá nhân đầu tư, các công ty và cả chính phủ
f Mối quan hệ giữa các thành viên với sở giao dịch chứng khoán
SGDCK từ xưa đến nay vẫn được hiểu là một địa điểm họp chợ có tổ chức, tại đó các chứng khoán niêm yết được các thành viên giao dịch theo những quy định nhất định về phương thức giao dịch, thời gian và địa điểm cụ thể Các thành viên giao dịch là các CTCK nhưng xét một cách cụ thể hơn, thành viên giao dịch bao gồm nhiều chủ thể đa đạng, có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, phối hợp với nhau trên TTCK
Các SGDCK đề ra quy định về tiêu chuẩn thành viên của mình dựa trên đặc điểm lịch sử phát triển, đặc thù của CTCK, thực trạng của nền kinh tế cũng như mức độ tự do hóa và phát triển thị trường tài chính Tuy nhiên, tiêu chuẩn mang tính xuyên suốt là thành viên SGDCK phải có một thực trạng tài chính, trang thiết bị tốt và đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao, đủ khả năng thực hiện việc kinh doanh chứng khoán trên thị trường Và thông thường các thị trường càng phát triển thì tiêu chuẩn là thành viên càng chặt chẽ
Yêu cầu về tài chính: Vốn góp của cổ đông, vốn điều lệ và tổng tài
sản được quy định như là các yêu cầu tài chính chủ yếu đối với các thành viên của SGDCK Tiêu chí này sẽ đảm bảo cho thành viên có tình hình tài chính lành mạnh, có đủ cơ sở vật chất kỹ thuật để tiến hành hoạt động một cách bình thường Ngoài ra, khi cấp phép thành lập CTCK, UBCK thường căn cứ vào quy mô thị trường và các nghiệp vụ để quy định vốn tối thiểu cho các nghiệp vụ
Quy định về nhân sự: Số lượng và chất lượng của ban điều hành, các
nhà phân tích chứng khoán và các chuyên gia khác phải được quy định trong quy chế về nhân sự Do chứng khoán là công cụ tài chính phức tạp, đòi hỏi người quản lý phải có hiểu biết chuyên môn về kinh doanh chứng khoán, nên
Trang 37các CTCK phải có một đội ngũ cán bộ có đủ trình độ để đảm đương trách nhiệm của mình Người làm công tác quản lý phải vừa là người có trình độ hiểu biết trong lĩnh vực chứng khoán vừa có tư cách đạo đức tốt Ngoài ra, người làm việc cho CTCK thành viên phải là người có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ, không có tiền án, tiền sự Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người hành nghề kinh doanh chứng khoán phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán (CCHNCK)
Người làm việc trong lĩnh vực chứng khoán phải tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp Điều 22.2 của Quyết định 55/2004 về chứng khoán quy định: "Khi tiến hành tư vấn đầu tư chứng khoán trực tiếp cho khách hàng, CTCK và các nhân viên kinh doanh của công ty phải: (a) tuân thủ đạo đức nghề nghiệp; (b) bảo đảm tính độc lập, trung thực, khách quan và khoa học của hoạt động tư vấn"
Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật: CTCK xin làm thành viên phải
có trụ sở chính, các chi nhánh, phòng giao dịch (PGD) cũng như cơ sở vật chất, trang thiết bị phải đáp ứng được yêu cầu của kinh doanh, như các trạm đầu cuối để nhận lệnh, xác nhận lệnh, các bảng hiện thị điển tử
Đối với các thị trường mới nổi do chính phủ đứng ra thành lập, thông thường số lượng CTCK do ủy ban chứng khoán cấp phép hoạt động được quản lý rất chặt chẽ, vì vậy số lượng CTCK được cấp phép hoạt động nghiễm nhiên là thành viên của SGDCK
1.2 HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.2.1 Khái niệm
TTCK là một thể chế bậc cao của nền kinh tế thị trường, với nguyên tắc đặc trưng cơ bản là nguyên tắc trung gian Nguyên tắc này đòi hỏi việc giao dịch, mua bán hàng hóa trên thị trường phải thực hiện qua tổ chức, cá nhân
Trang 38làm trung gian, đó là CTCK và người hành nghề môi giới chứng khoán
(MGCK) Như vậy, có thể hiểu nghề MGCK là công việc chuyên môn của các
cá nhân và tổ chức theo sự phân công lao động xã hội, là làm trung gian giúp cho việc mua, bán chứng khoán được thực hiện, kết nối nhu cầu của bên mua
và nhu cần của bên bán chứng khoán (TS Bùi Thị Thanh Hương (2009),
Giáo trình tư vấn và đầu tư chứng khoán, Nhà xuất bản thống kê)
Theo định nghĩa của tạp chí Value - Line chuyên về chứng khoán thì môi giới chứng khoán (broker) là người đại diện, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng thông qua việc tư vấn, thực hiện hợp đồng mua bán Khi người môi giới chứng khoán giỏi về nghiệp vụ và có kinh nghiệm, họ sẽ trở thành các nhà tư vấn đầu tư về chứng khoán Khi đó, bằng kinh nghiệm và khả năng đánh giá tình hình tài chính trên thị trường, họ sẽ đưa ra những khuyến cáo giúp khách hàng nên mua, nên bán cổ phiếu hay trái phiếu của công ty nào
1.2.2 Phân loại môi giới chứng khoán
Tùy theo qui định của mỗi nước, cách thức hoạt động của từng SGDCK
mà người ta có thể phân chia thành nhiều loại nhà môi giới khác nhau như sau:
Môi giới dịch vụ (Full Service Broker)
Là loại môi giới có thể cung cấp đầy đủ dịch vụ như mua bán chứng khoán, giữ hộ cổ phiếu, thu cổ tức, cho khách hàng vay tiền, cho vay cổ phiếu
để bán trước, mua sau và nhất là có thể cung cấp tài liệu, cho ý kiến cố vấn trong việc đầu tư
Môi giới chiết khấu (Discount Broker)
Là loại môi giới chỉ cung cấp một số dịch vụ như mua bán hộ chứng khoán Đối với môi giới loại này thì khoản phí và hoa hồng nhẹ hơn môi giới toàn dịch vụ vì không có tư vấn, nghiên cứu thị trường
Trang 39Môi giới ủy nhiệm hay môi giới thừa hành
Đây là những nhân viên của một công ty chứng khoán thành viên của một SGDCK làm việc hưởng lương của một công ty chứng khoán và được bố trí để thực hiện các lệnh mua bán cho các công ty chứng khoán hay cho khách hàng của công ty trên sàn giao dịch Vì thế họ có tên chung là môi giới trên sàn (Floor Broker) Các lệnh mua bán được chuyển đến cho các nhà môi giới thừa hành này có thể từ văn phòng công ty, cũng có thể từ các môi giới đại diện (Registered Representative)
Môi giới độc lập hay môi giới 2 đô la:
Môi giới độc lập (Independent Broker) chính là các môi giới làm việc cho chính họ và hưởng hoa hồng hay thù lao theo dịch vụ Họ là một thành viên tự bỏ tiền ra thuê chỗ tại Sở giao dịch (sàn giao dịch) giống như các công
ty chứng khoán thành viên
Họ chuyên thực thi các lệnh cho các công ty thành viên khác của Sở giao dịch Sở dĩ có điều này là tại các Sở giao dịch nhộn nhịp, lượng lệnh phải giải quyết cho khách hàng của các công ty chứng khoán đôi khi rất nhiều, các nhân viên môi giới của các công ty này không thể làm xuể hoặc vì một lý do nào đó vắng mặt Lúc đó các công ty chứng khoán sẽ hợp đồng với các nhà môi giới độc lập để thực hiện lệnh cho khách hàng của mình và trả cho người môi giới này một khoản tiền nhất định
Ban đầu các nhà môi giới độc lập được trả 2 đô la cho một lô tròn chứng khoán (100 cổ phần) nên người ta quen gọi là “môi giới 2 đô la”
Môi giới độc lập cũng được gọi là môi giới trên sàn (floor broker), họ đóng vai trò không khác gì một môi giới thừa hành, chỉ khác là họ có tư cách độc lập - tức họ không đại diện cho bất kỳ một công ty chứng khoán nào cả
Nhà môi giới chuyên môn
Các SGDCK thường qui định mỗi loại chứng khoán chỉ được phép giao
Trang 40dịch tại một điểm nhất định gọi là quầy giao dịch (Post), các quầy này được
bố trí liên tiếp quanh sàn giao dịch (floor) Trong quầy giao dịch có một số nhà môi giới được gọi là nhà môi giới chuyên môn hay chuyên gia Các chuyên gia này chỉ giao dịch một số loại chứng khoán nhất định Nhà môi giới chuyên môn thực hiện hai chức năng chủ yếu là thực hiện các lệnh giao dịch và lệnh thị trường
Ở Việt Nam trên HOSE và HNX có đại diện giao dịch của các CTCK Tùy vào khối lượng giao dịch bình quân một ngày của các nhà đầu tư, SGDCK quyết định số đại diện giao dịch của một CTCK Nhưng khi thực hiện giao dịch kết nối điện tử, thì SGDCK quyết định số cổng kết nối của hệ thống máy tính CTCK với hệ thống giao dịch của SGDCK
1.2.3 Chức năng và vai trò của môi giới chứng khoán
- Môi giới chứng khoán (MGCK) là hoạt động nghiệp vụ của CTCK Tham gia vào hoạt động này có nhân viên bán hàng, những người trực tiếp tiếp thị và giao dịch với khách hàng Bên cạnh đó, nghề MGCK vừa là kết quả của quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường, và ngược lại vừa thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và cải thiện môi trường kinh doanh Vì vậy, chức năng và vai trò của MGCK được thể hiện trên những khía cạnh sau:
a Cung cấp thông tin và tư vấn đầu tư cho khách hàng
Thông qua nhân viên môi giới, CTCK cung cấp cho khách hàng báo cáo nghiên cứu và khuyến nghị đầu tư Báo cáo phân tích và khuyến nghị đầu
tư là sản phẩm của bộ phận nghiên cứu trong công ty cung cấp là chủ yếu Việc thu thập và xử lý thông tin đòi hỏi những khoản đầu tư rất lớn cho hệ thống trang thiết bị và nhân lực mà chỉ có CTCK mới có đủ khả năng tài chính để trang trải Ví dụ, hàng năm, các CTCK lớn ở New York dành tới hơn
30 triệu đôla cho hoạt động nghiên cứu, phân tích đầu tư Các công trình nghiên cứu của các nhà phân tích có thể phân loại thành ba lĩnh vực chính: