Bên cạnh xu hướng Hiện thực truyền thống của tranh lụa Việt Nam chiếm phần lớn các tác phẩm trong cả bốn kỳ triển lãm như Niềm vui 2000 của Nguyễn Thị Mộng Bích, Người mẹ Thái 1999 của N
Trang 1sự sáng tạo, kết hợp tính dân tộc với hiện đại, tinh hoa nghệ thuật phương Đông với nghệ thuật phương Tây đã tạo ra cho Mỹ thuật Việt Nam một loại hình nghệ thuật tranh lụa mang đặc trưng riêng Rất nhiều các tác giả đã chọn lụa làm chất liệu sáng tác và đã thành công khi cho ra đời nhiều tác phẩm mang dấu ấn cá nhân như Nguyễn Phan Chánh, Trần Văn Cẩn, Lê Văn Đệ, Lê Phổ, Mai Trung Thứ… Thời kì tiếp theo có Lương Xuân Nhị, Nguyễn Thị Mộng Bích, Nguyễn Thụ, Kim Bạch, Vũ Giáng Hương, Trọng Kiệm, Mai Long… Các tác phẩm tranh lụa Việt Nam được vẽ trực tiếp trên nền lụa căng khung, bằng phương pháp nhuộm màu lên vải Khi vẽ, màu được tô đi tô lại nhiều lớp mỏng để màu từ từ thấm vào từng thớ vải, kết hợp với việc rửa lụa tạo cho tranh một bề mặt trong trẻo, êm dịu, mịn màng Những mảng hình, mảng màu không tách bạch mà rung rinh, mềm mại đầy cảm xúc [32, tr.11-13]
Cùng với thời gian, sự chuyển mình của đời sống tinh thần, các yếu tố khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, các họa sỹ vẽ tranh lụa vẫn tiếp tục phát huy tinh thần vẽ tranh lụa truyền thống Nhưng thêm vào đó, trong những năm gần đây ta thấy nghệ thuật tranh lụa có sự thay đổi trong xu hướng sáng tác, từ quan niệm nghệ thuật đến cả kỹ thuật, màu sắc, bố cục, nội dung Qua theo dõi các tác phẩm trưng bày trong các kỳ triển lãm mỹ thuật toàn quốc những năm gần đây ta có thể phần nào nhận thấy được sự thay đổi
Trang 2trong xu hướng sáng tác tranh lụa Bên cạnh xu hướng Hiện thực truyền thống của tranh lụa Việt Nam chiếm phần lớn các tác phẩm trong cả bốn kỳ triển
lãm như Niềm vui (2000) của Nguyễn Thị Mộng Bích, Người mẹ Thái (1999) của Nguyễn Thụ, Đám trẻ (2000) của Nguyễn Hoàng Tùng, Khoảng khắc
cảng Cái Rồng (2005) của Lê Ngân Chi, Bà Năm Thử (2010) của Lê Thị Kim
Bạch… Đã xuất hiện ba xu hướng mới là Biểu hiện, Siêu thực và Pop art
trong các tác phẩm như Nữ thần (2015) của Vũ Đình Tuấn, Ngày yên bình
(2010) của Trần Xuân Bình, Đàn bà, mặt nạ và bóng tối (2009) của Bùi Tiến
Tuấn, Tiêu bản 20xx (2012) của Mai Hùng, Tuổi teen (2015) của Phạm Hồng
Như… Trong đó, các tác phẩm tranh lụa không chỉ ca ngợi vẻ đẹp hiện thực mắt ta nhìn thấy mà còn thể hiện thế giới nội tâm phức tạp mang tính biểu hiện để phản ánh cái tôi trước những vấn đề của xã hội đương đại Vẫn nền lụa ấy nhưng tranh lụa mang một góc nhìn khác, một bút phát khác và thể hiện một tinh thần mới, mang đậm hơi thở đương đại Sự thay đổi trong xu hướng sáng tác ấy đã làm phong phú thêm cho thể loại tranh lụa truyền thống của Hội họa Việt Nam
Tranh lụa Việt Nam là một phần trong Hội họa tạo hình Việt Nam, với những đặc tính riêng biệt, độc đáo, việc nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo và tiếp tục phát huy vẻ đẹp của tranh lụa là một việc làm cần thiết Với mong muốn
đó người viết đã chọn thực hiện luận văn với tên đề tài “Xu hướng sáng tác tranh lụa trong triển lãm Mỹ thuật toàn quốc giai đoạn 2000 - 2015” Đây là một đề tài mới, không trùng lặp với bất kỳ tài liệu, bài nghiên cứu tạp chí hay luận văn nào Luận văn muốn thông qua việc phân tích xu hướng sáng tác tranh lụa qua các kỳ triển lãm mỹ thuật toàn quốc từ 2000 đến 2015 để thấy được sự phát triển của tranh lụa, đâu là hướng đi mới mẻ, tích cực và cả những hạn chế trên con đường hội nhập mỹ thuật đương đại thế giới Từ đó rút ra những bài học thiết thực trong tư duy và định hướng sáng tác cho họa sĩ
vẽ tranh lụa ngày nay
Trang 32 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hội họa Việt Nam tính từ thời điểm ra đời của trường Mỹ thuật Đông Dương cũng gần 100 năm nhưng so với lịch sử nghệ thuật giá vẽ lâu đời của thế giới vẫn là non trẻ Đứng về góc độ phê bình Mỹ thuật, đã có khá nhiều các tác phẩm nghiên cứu mỹ thuật được công bố và xuất bản Thế nhưng những tác phẩm, tư liệu nghiên cứu chuyên sâu riêng về mảng tranh lụa Việt Nam hiện còn rất ít
Tư liệu nghiên cứu lịch sử và đặc điểm chung về tranh lụa:
Cuốn sách đầu tiên phải kể đến là Giáo trình tranh lụa của Nguyễn Thụ
viết, xuất bản năm 1994 (Nxb Mỹ thuật) [32] Đây là cuốn sách cơ bản nhất cho những ai bắt đầu học tranh lụa Cuốn sách trình bày khái quát sự hình thành và phát triển của tranh lụa, đặc trưng trong tạo hình, bố cục, màu sắc tranh lụa, sự khác nhau giữa tranh lụa Trung quốc, Nhật bản với tranh lụa Việt Nam Trong sách hướng dẫn kĩ kỹ thuật vẽ lụa cơ bản qua từng bước chọn lụa, căng lụa, biểu lụa…
Các cuốn sách Mỹ thuật Việt Nam hiện đại (2005, Nxb Mỹ thuật) [24],
Trường Mỹ thuật Đông Dương lịch sử và nghệ thuật (Quang Phòng, Quang
Việt, Mxb Mỹ thuật) [25] là tư liệu nghiên cứu tổng hợp quý của tác giả về sự hình thành và phát triển của Mỹ thuật Việt Nam, trường Mỹ thuật Việt Nam,
mà trong đó cũng có nói đến cả tranh lụa
Bài viết Tranh lụa Việt Nam từ 1925 đến 2015 [22] của Nguyễn Thanh
Mai trong tạp chí nghiên cứu Mỹ thuật (số 3 năm 2016) khái lược lịch sử tranh lụa Việt Nam qua 5 giai đoạn 1925 - 1945, 1946 - 1954, 1955 - 1975,
1976 - 1985, 1986 - 2015 Mỗi giai đoạn bài viết đều nói qua về bối cảnh lịch
sử, tác giả, tác phẩm tiêu biểu, đặc điểm chung của từng giai đoạn trong nội dung phản ánh, kỹ thuật, hình thức biểu hiện qua đó thấy được các bước phát triển thăng trầm của tranh lụa Nếu như giai đoạn 1925 - 1945, các tác phẩm
Trang 4tranh lụa chủ yếu thể hiện những tâm sự, mơ ước của họa sĩ về cuộc sống thì những năm kháng chiến, đấu tranh thống nhất đất nước lại thể hiện hiện thực đấu tranh và công cuộc xây dựng đất nước Từ giai đoạn 1986 - 2015, bên cạnh việc phản ánh hiện thực cuộc sống, nhiều nghệ sĩ còn có khát vọng biểu hiện cái “Tôi là ai” trong cuộc sống đương đại
Bài Tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1986-2000 trong dòng chảy mỹ thuật
hiện đại Việt Nam, tạp chí Mỹ thuật số 7, 8 năm 2014 [14] của tác giả Hoàng
Minh Đức viết về sự thay đổi của tranh lụa giai đoạn 1986- 2000 về màu sắc,
kỹ thuật thể hiện, bố cục tranh Thay vì những gam u trầm trước đây vốn được gán cho màu của chất liệu lụa truyền thống, màu sắc tranh giai đoạn này
đã xuất hiện những gam màu tươi mới Kỹ thuật thể hiện cũng được các họa
sĩ thể nghiệm, tranh trừu tượng cũng được thể nghiệm trên lụa Họa sĩ có thể
vẽ acrylic trên bề mặt lụa để tạo ra những hiệu quả nhất định cho chất liệu lụa
Sự thay đổi về bố cục, đặc tả hình, nét mang yếu tố khái quát cao, bảng màu được bổ sung thêm màu tím Huế, xanh lơ, xanh lá mạ, hồng tươi, đỏ tía… Từ những yếu tố đó đã tạo ra hiệu quả không gian trong tranh lụa hiện đại được
mở rộng, từ bề mặt của chất liệu lụa truyền thống các họa sĩ có thể triển khai nhiều dung lượng thông tin, sự kiện, vấn đề mới theo dòng chảy chung của xã hội cũng như việc thích ứng với sự phát triển của chất liệu và thể loại khác trong mỹ thuật hiện đại Việt Nam
Tư liệu hình ảnh về tranh lụa:
Bốn cuốn vựng tập Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 1995 – 2000 [2],
TLMTTQ 2001 – 2005 [3], TLMTTQ 2006 – 2010 [5] và Triển lãm mỹ thuật Việt Nam 2015 [6] là hình ảnh tất cả các tranh được hội đồng nghệ thuật chọn
trưng bày trong triển lãm Bao gồm toàn bộ các tác phẩm tranh lụa trong 4 kỳ triển lãm
Hai quyển sách in màu Tranh lụa Việt Nam (1992, NXB Mỹ thuật Hà Nội) [17], Tranh lụa Việt Nam (1997, NXB Mỹ thuật Hà Nội) [18] tổng hợp
Trang 5và in rất nhiều các tác phẩm tranh lụa Việt Nam chọn lọc qua các năm từ các tác phẩm lụa hiện đại đầu tiên của Mỹ thuật Việt Nam
Triển lãm tranh lụa Việt Nam [4] là vựng tập in lại toàn bộ tranh đã được
chọn lọc tham gia triển lãm lụa năm 2007 do Vụ Mỹ thuật và Nhiếp ảnh, Bộ Thể thao Văn hóa và Du lịch đứng ra tổ chức nhằm chấn hưng lại nghệ thuật tranh lụa Việt Nam trước thực trạng chững lại của tranh lụa những năm gần đây
Các cuốn sách là các tư liệu hình ảnh của tranh lụa, ngoài lời dẫn chung
ở phần đầu sách chỉ khoảng một vài trang mang tính tổng quát, không phân tích về sự hình thành, chặng đường phát triển, giá trị, vẻ đẹp, xu hướng sáng tác tranh lụa…
Tư liệu về tác giả, tác phẩm tranh lụa:
Cuốn Từ điển họa sĩ Việt Nam (Nxb Mỹ thuật) [41] giới thiệu chung về
171 họa sĩ Việt Nam Trong đó có in nhiều các tác phẩm lụa tiêu biêu với tiểu
sử, đặc điểm chung trong sáng tác nghệ thuật của các tác giả vẽ lụa như Kim Bạch, Nguyễn Thị Mộng Bích, Tạ thúc Bình, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Linh Chi, Lê Văn Đệ, Nguyễn Phan Chánh…
Tác giả Nguyễn Hữu Đức có bài viết Ẩn dụ Libido trong tranh lụa của
Vũ Đình Tuấn, Tạp chí Nghiên cứu mỹ thuật, số 3 năm 2014 [10] Bài viết
phân tích rất kỹ đặc điểm nghệ thuật tạo hình, nội dung ẩn dụ trong một số tác phẩm lụa của Vũ Đình Tuấn cùng kỹ thuật lụa riêng của họa sĩ
Bài viết Tình yêu với tranh lụa của tác giả Lê Anh Vân [38] viết về ấn
tượng và những suy nghĩ của tác giả về triển lãm “Tranh Lụa” của 9 họa sỹ giảng viên của Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam và Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương năm 2015 Thực trạng là trong những năm gần đây, vì nhiều lí do, chất liệu lụa không được nhiều họa sĩ trẻ quan tâm, các tác phẩm lụa dường như đã quá quen thuộc, không có gì mới lạ với công chúng yêu nghệ thuật Triển lãm đã đem đến cho người xem một không khí tươi mới
Trang 6với những màu sắc đa dạng, tươi mát với cách biểu hiện, cách nhìn, cách khai thác chủ đề phong phú, quan niệm tự do, bay bổng, không bị lệ thuộc vào những khuôn mẫu Bài viết cũng đưa ra các tác phẩm tiêu biểu trong triển lãm
và phân tích chúng
Bài viết Triển lãm tranh lụa ngày dịu dàng (Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh
số tháng 4 năm 2016) [39] cũng của tác giả Lê Anh Vân viết về triển lãm tranh lụa lần thứ hai của nhóm các giảng viên Mỹ thuật sau thành công của triển lãm Tranh lụa năm 2015 Triển lãm lần này có chủ đề ca ngợi vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ, các tác giả đã đem đếm cho người thưởng ngoạn một cái nhìn mới trong tranh lụa với những tác phẩm tạo được ấn tượng mạnh
từ khuôn tranh, bố cục và hình ảnh chắt lọc
Tư liệu nghiên cứu khả năng biểu đạt của tranh lụa:
Tác giả Hoàng Minh Đức có một số bài viết về tranh lụa Việt NamNghệ
thuật tranh Lụa Việt Nam - Hình thức biểu đạt phương Tây trên tinh thần Á Đông, tạp chí Nghiên cứu Mỹ thuật số 02 [12] Tranh lụa Việt Nam - Vẻ đẹp
từ chất liệu đến kỹ thuật thể hiện, tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 362, tháng
8/2014 [13] Các bài viết này nhìn chung giới thiệu về những đặc trưng chất liệu lụa, kỹ thuật vẽ lụa, những giá trị biểu đạt của các tác phẩm tranh lụa Việt Nam
Luận văn Khuynh hướng phát triển của tranh lụa Việt Nam (2007) [15]
của Nguyễn Thị Hà Hoa cũng nghiên cứu vấn đề khuynh hướng tranh lụa Luận văn nghiên cứu quá trình phát triển và những thành tựu mà tranh lụa Việt Nam đã đạt được, có so sánh với đặc điểm tranh lụa của Trung Quốc để làm nổi bật đặc trưng của lụa Việt Nam qua những tác giả, tác phẩm lụa từ
1930 đến nay (2007) Hoàn toàn không trùng với luận văn này cả về nội dung
và giai đoạn nghiên cứu
Luận văn Những khả năng biểu đạt trong tranh lụa Việt Nam hiện đại
của Nguyễn Khánh Hùng (Hội họa – Cao học K5) [19] nghiên cứu các tác
Trang 7phẩm tranh lụa Việt Nam thời kỳ đầu tới 2006 và những yếu tố cơ bản để tạo
ra thành công trong tranh lụa Việt Nam, những hạn chế trong đề tài sáng tác, tình hình sáng tác và đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các tác phẩm tranh lụa Đề tài không đi vào phân tích xu hướng sáng tác trong tranh lụa và có phạm vi nghiên cứu khác với đề tài
Ngoài ra người viết luận văn này có tham khảo thêm từ một số luận văn
thạc sĩ khác Luận văn Hoàng Minh Đức (Hội họa – Cao học K8), Những đổi
thay trong hình thức biểu đạt của tranh lụa Việt Nam [11] Luận văn Phạm
Quang Diệu (Hội họa - Cao học K14) Không gian ước lệ và hình thể biểu đạt
trong tranh lụa Việt Nam đương đại [07]
Hiện chưa thấy công trình nào nghiên cứu cụ thể về xu hướng sáng tác tranh lụa Việt Nam Luận văn đưa ra một cách tiếp cận mới trong việc nghiên cứu các tác phẩm tranh lụa Việt Nam Đó là “Xu hướng sáng tác tranh lụa trong triển lãm Mỹ thuật toàn quốc giai đoạn 2000 - 2015”
Đây là đề tài hoàn toàn mới, không trùng lặp với bất cứ công trình hay luận văn, tiểu luận, bài viết đã được công bố
Trang 8- Đối tượng nghiên cứu: các tác phẩm tranh lụa Việt Nam qua các kỳ
triển lãm từ 2000 - 2015, xu hướng sáng tác các tác phẩm tranh lụa giai đoạn này
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung chủ yếu vào nghiên cứu các tác
phẩm tranh lụa trưng bày trong TLMTTQ từ năm 2000 - 2015 Bên cạnh đó
đề tài có đề cập đến một số tác phẩm tranh lụa thời kỳ trước để so sánh, làm
rõ sự chuyển biến, và thấy được sự đổi mới trong các xu hướng sáng tác tranh lụa
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu: Trước khi bắt đầu làm luận văn, người
viết phải tìm tài liệu về đề tài gồm thu thập toàn bộ tranh lụa qua bốn kỳ triển lãm nói trên, tập hợp các tư liệu sách, báo, tạp chí chuyên ngành, luận văn viết về tranh lụa và các xu hướng nghệ thuật liên quan
- Phương pháp phân loại: Trên cơ sở các tài liệu đã tập hợp được, người
viết phải phân loại các loại tài liệu, xem các tác phẩm tranh lụa nào mang xu hướng nào
- Phương pháp so sánh: Xử lý tư liệu, đối chiếu, so sánh, đánh giá, rút ra
các xu hướng trong sáng tác tranh lụa qua bốn TLMTTQ từ năm 2000- 2015
- Phương pháp Mỹ thuật học: Dùng các lý luận trong Mỹ thuật học để có
những phân tích, nghiên cứu kỹ lưỡng về các xu hướng sáng tác trong tranh lụa
- Phương pháp diễn dịch: Luận văn cũng sử dụng phương pháp diễn dịch
để trình bày và làm rõ các vấn đề đặt ra
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn hoàn thành sẽ góp phần vào tư liệu nghiên cứu lí luận về tranh lụa Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến 2015, giúp nhận thức rõ nét hơn trong việc nghiên cứu, nhận định sự phát triển và thay đổi các xu hướng sáng tác của tranh lụa thời kì mới
Trang 9- Thông qua luận văn giúp nhận ra những thành công cũng như hạn chế, những tín hiệu mới mẻ trong việc sáng tác tranh lụa trong những năm 2000 –
2015
- Từ đây các họa sĩ yêu tranh lụa có thể có tư duy sáng tác tốt hơn, bắt kịp dòng chảy chung của nghệ thuật đương đại, làm đẹp thêm, phong phú thêm thể loại tranh lụa truyền thống của Hội họa Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 61 trang, bao gồm phần Mở đầu (09 trang), Kết luận (02 trang) Phần nội dung chính (50 trang) của luận văn được chia làm 3 chương: Chương 1: Cơ sở mang tính lý luận để nghiên cứu đề tài (15 trang)
Chương 2: Nghiên cứu xu hướng sáng tác tranh lụa Việt Nam trong triển lãm Mỹ thuật toàn quốc giai đoạn 2000 - 2015 (25 trang)
Chương 3: Bài học rút ra qua nghiên cứu đề tài (10 trang)
Ngoài ra luận văn còn có phần Tài liệu tham khảo (03 trang) và Phụ lục ảnh minh họa (35 trang)
Trang 10
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ MANG TÍNH LÝ LUẬN ĐỂ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm xu hướng sáng tác
1.1.1 Khái niệm “xu hướng”
Trong cuốn “Đại từ điển Tiếng Việt” do Nxb Văn hóa thông tin xuất bản
năm 1998 (Nguyễn Như Ý chủ biên) có định nghĩa xu hướng là hướng đi tới,
thể hiện khá rõ thực chất của nó [42, tr.1873] Trong Từ điển Tiếng Việt của
Nxb Đà Nẵng xuất bản năm 2011 định nghĩa xu hướng là thiên về một hướng
nào đó trong quá trình hoạt động [34, tr.1787] Như vậy cả hai từ điển đều có
một điểm chung khi cho rằng xu hướng là hướng đi chung, thiên về cùng một hướng đi của một hoạt động nào đó, trong một thời gian nhất định
Trong cuộc sống hàng ngày, ta có thể dễ dàng nghe tới hai tiếng xu hướng được sử dụng để chỉ tập hợp những hướng đi trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống Đó là xu hướng thời trang, xu hướng tiêu dùng, xu hướng chính trị, xu hướng kiến trúc… và xu hướng nghệ thuật Trong lĩnh vực nghệ thuật,
xu hướng thường được đồng nhất với các trào lưu nghệ thuật Từ điển Mỹ
thuật phổ thông đã định nghĩa cụm từ “xu hướng nghệ thuật” là Khái niệm
chung về các trào lưu (school of art) và các chủ nghĩa nghệ thuật được phương Tây gọi bằng các từ “…art” hoặc có đuôi là “ism”, với những phong cách và thủ pháp nghệ thuật đặc thù, hình thành trên cơ sở nhận thức của nghệ sĩ có cùng quan điểm về triết học, mĩ học, văn hóa, xã hội và tư duy sáng tạo [23, tr.160] Khi nói một tác phẩm mang xu hướng nghệ thuật Hiện
thực, tức là tác phẩm đó có mang các yếu tố, đặc điểm của trào lưu nghệ thuật Hiện thực
Từ “xu hướng” thường được dùng gần với nghĩa của từ “khuynh hướng” Trong các từ điển Tiếng Việt, các định nghĩa về hai từ này đều tương đồng nhau Như cuốn Đại từ điển Tiếng Việt từ “khuynh hướng” được định
Trang 11nghĩa là hướng thiên lệch về phía nào trong hoạt động và phát triển [42, tr.929] Còn trong Từ điển Tiếng Việt của Nxb Đà Nẵng xuất bản năm 2011thì “khuynh hướng” là sự thiên về một phía nào đó trong hoạt động,
trong quá trình phát triển [34, tr.804] Ngay cả trong từ điển Việt Anh (Bùi
Phụng, 2003, Nxb thế giới) [26, tr.1058, 2317], hay từ điển Anh Việt (Bùi Phụng, 2003, Nxb Từ điển Bách khoa) [27, tr.8180, 3290] đều dùng chung hai
từ tendency và trend với nghĩa tương tự nhau Nhưng theo người viết luận văn
có lẽ từ “khuynh hướng” mang ý nghĩa chắc chắn và mạnh mẽ hơn Khi nói tranh lụa Việt Nam giai đoạn này có khuynh hướng nghệ thuật này thì các tác phẩm tranh lụa mang phong cách nghệ thuật đó phải có số lượng tương đối lớn, thể hiện rõ nét những đặc trưng của phong cách nghệ thuật đó Trong luận văn khi nghiên cứu hướng sáng tác tranh lụa, do số lượng tác phẩm hạn chế trong TLMTTQ 2000 - 2015, các tác phẩm mang phong cách nghệ thuật mới như Siêu thực, Pop art, Biểu hiện không nhiều nên người viết dùng từ
“xu hướng” chứ không dùng “khuynh hướng”
Vậy khái niệm “xu hướng” được sử dụng trong luận văn có thể được hiểu là những nhóm tác giả có tác phẩm thể hiện sự tương đồng, thống nhất
về phong cách sáng tác và thủ pháp nghệ thuật, hình thành trên cơ sở chung
về nhận thức của nghệ sĩ trong mọi quan điểm tư duy sáng tạo cũng như những quan điểm khác về xã hội, thẩm mỹ, văn hóa, tư tưởng…
1.1.2 Khái niệm “sáng tác”
Cũng trong hai từ điển Tiếng Việt kể trên từ “sáng tác” có nghĩa vừa là một động từ, vừa là một danh từ Nó chỉ quá trình người nghệ sĩ tạo dựng nên, làm ra các tác phẩm nghệ thuật [42, tr.1429] [34, tr.1320] Cắt nghĩa một cách chi tiết, từ “sáng” ở đây là sáng tạo, còn “tác” là tác phẩm Mỗi một sản phẩm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật khi được làm ra đều được gọi là tác phẩm Tính sáng tạo, cái độc đáo, mới mẻ trong các tác phẩm nghệ thuật càng cao thì giá trị của tác phẩm càng hấp dẫn
Trang 12Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, từ “sáng tác” ở đây muốn nói tới quá trình người họa sĩ làm ra tác phẩm hội họa, mỹ thuật Sáng tác hội họa cũng là lao động, nhưng là lao động nghệ thuật, và sản phẩm của nó là những tác phẩm nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân của người họa sĩ Quá trình sáng tác hội họa có thể rất nhanh, họa sĩ nắm bắt cảm xúc nhất thời của mình trước đối tượng nghệ thuật và thể hiện trực tiếp lên tác phẩm Nhưng cũng có thể rất lâu, vài tháng hay cả năm trời, từ lúc có ý tưởng, lên phác thảo, bắt đầu thể hiện đến hoàn thiện tác phẩm Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà trong đó việc chọn lựa chất liệu để thể hiện tác phẩm cũng là một yếu tố quan trọng Tác phẩm nghệ thuật sau khi hoàn thành được thưởng thức bởi khán giả thông qua con đường thị giác bằng ngôn ngữ tạo hình Sức hấp dẫn của hội họa là ở hình thể, không gian, bố cục, đường nét, ở chất cảm, ở màu sắc Sáng tác hội họa là kết tinh cao nhất của sự khéo léo, điêu luyện với tư duy tạo hình và những rung động đầy xúc cảm của người họa sĩ Vẻ đẹp của một tác phẩm hội họa không phải ở khả năng sao chép lại hiện thực như mắt nhìn
mà bằng cảm xúc và khả năng tạo hình cùng hòa sắc, kỹ thuật tạo nên một tổng thể hài hòa kích thích tâm trí, thu hút người xem
1.1.3 Khái niệm “xu hướng sáng tác”
Tham khảo một số từ điển Tiếng Việt, từ điển Thuật ngữ mỹ thuật phổ thông, từ điển Mỹ thuật, không có một định nghĩa nào dành cho cụm từ “xu hướng sáng tác” Vì vậy dựa trên khái niệm “xu hướng” và “sáng tác” ở trên,
ta có thể hiểu chung lại “xu hướng sáng tác” là sự thiên về một trào lưu, chủ nghĩa, phong cách nghệ thuật nào đó trong quá trình người nghệ sĩ làm ra các tác phẩm nghệ thuật
Lịch sử nghệ thuật thế giới hàng ngàn năm đồng hành cùng với các nhu cầu thiết yếu khác của đời sống con người đã trải qua rất nhiều các trào lưu, chủ nghĩa và xu hướng nghệ thuật khác nhau Từ thời kỳ Nguyên Thủy, Trung cổ, Phục hưng, trải qua Cổ điển, các trường phái Baroque, Rococo,
Trang 13Lãng mạn, Hiện thực, Ấn tượng tới một loạt các trào lưu nghệ thuật Hiện đại như Tượng trưng, Biểu hiện, Dã thú, Lập thể, Trừu tượng, Siêu thực… Mỗi một xu hướng nghệ thuật ra đời đều có những đặc trưng ngôn ngữ riêng Tại thời điểm nó ra đời, nó muốn phủ nhận những quan điểm nghệ thuật của xu hướng trước nó Nhưng nhìn một cách tổng quan, sự ra đời và tồn tại, phát triển của mỗi xu hướng đều có nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan riêng của nó, nó làm đa dạng cho ngôn ngữ tạo hình của nghệ thuật, làm cho bức tranh nghệ thuật chung của nhân loại trở nên phong phú Các xu hướng nghệ thuật ấy ngay cả khi đã thoái trào vẫn âm ỉ tồn tại và có sức ảnh hưởng lớn tới các thế hệ họa sĩ đi sau
Hội họa giá vẽ Việt Nam ra đời rất muộn so với thế giới, do đó không thể không có những ảnh hưởng, chi phối nhất định từ kho tàng các tác phẩm, họa sĩ, các trào lưu, xu hướng nghệ thuật đa dạng và đồ sộ ấy Ảnh hưởng ấy xuất phát ngay từ những năm tháng đầu tiên trường Mỹ thuật Đông Dương ra đời Những người thầy Pháp Victor Tardieu, Joseph Inguimberty đều là những họa sĩ theo khuynh hướng nghệ thuật Cổ điển, bút pháp Ấn tượng đã ảnh hưởng sâu sắc trong việc lựa chọn đề tài và phong cách sáng tác của các họa sĩ Việt Nam Gần như trong những năm từ 1925 tới 1980, hội họa Việt Nam chỉ tiếp nhận phong cách Hiện thực, Ấn tượng, pha lẫn chút Lãng mạn,
kể cả trong các tác phẩm mang đề tài chiến tranh Những năm sau Cách Mạng tháng Tám, các tác phẩm lụa lại đi theo xu hướng hội họa Hiện thực xã hội chủ nghĩa Thời kỳ này chỉ có một vài họa sĩ vẽ theo phong cách khác với tính chất tìm tòi, thể nghiệm Và sự ảnh hưởng các trào lưu, xu hướng nghệ thuật diễn ra mạnh mẽ khi đất nước chấm dứt chiến tranh, bao cấp bước sang thời
kỳ mở cửa đổi mới từ năm 1986 Mỹ thuật Việt Nam có nhiều khởi sắc, các họa sĩ thỏa sức thử nghiệm các phong cách nghệ thuật Hiện đại của thế giới từ Biểu hiện, Lập thể, Siêu thực tới Trừu tượng, Tượng trưng… Phải nói đây
Trang 14như thời kì trăm hoa đua nở của hội họa nước nhà Chưa bao giờ xu hướng sáng tác trong nghệ thuật lại phong phú, đa dạng đến thế [33, tr.25-28]
Với luận văn này, người viết sẽ tìm hiểu về các phong cách nghệ thuật xuất hiện trong các tác phẩm lụa ở TLMTTQ giai đoạn 2000 - 2015, chọn lọc, chia nhóm các tác phẩm tranh lụa mang các phong cách nghệ thuật khác nhau
Từ đó phân tích các tác phẩm để thấy những xu hướng nghệ thuật xuất hiện trong sáng tác tranh lụa qua bốn kì TLMTTQ giai đoạn 2000 - 2015
1.2 Khái quát tranh lụa Việt Nam hiện đại
1.2.2 Sự hình thành và phát triển tranh lụa Việt Nam hiện đại
Từ xưa, cha ông chúng ta đã biết dùng lụa để vẽ tranh, bằng chứng là các
bức tranh lụa cổ còn lưu lại tới ngày nay như Chân dung Nguyễn Trãi (1380-
1442) xác định niên đại vào thời Hậu Lê ở thế kỉ XVI hiện trưng bày ở bảo
tàng Lịch sử; Chân dung Trạng Bùng Phùng Khắc Hoan (1528- 1613) ở nhà thờ trạng Bùng, Thạch Thất, Hà Tây; Chân dung Trịnh Đình Kiên (1715-
1786) được cho là vẽ vào thế kỷ XVIII, thuộc sưu tập của bảo tàng Mỹ thuật
Việt Nam Nhưng các tác phẩm này đều không rõ tác giả, chỉ là phỏng đoán
về niên đại tranh và kỹ thuật vẽ lụa là kỹ thuật vẽ khô bằng màu tự nhiên, khác hẳn kỹ thuật nhuộm lụa trong tranh lụa hiện đại Hiện tại, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu kĩ lưỡng và khẳng định rằng tranh lụa là một loại hình nghệ thuật cổ, truyền thống, có từ lâu đời ở Việt Nam
Mặc dù chưa có câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi về sự hình thành và phát triển của tranh lụa Việt Nam cổ, có hay không truyền thống vẽ tranh lụa Việt từ lâu đời nhưng tranh lụa Việt Nam hiện đại chắc chắn ra đời sau khi
thành lập trường Mỹ thuật Đông Dương năm 1925 Trong cuốn sách Trường
Mỹ thuật Đông Dương Lịch sử và nghệ thuật có đoạn trích lại nguyên văn tiểu
luận của Tô Ngọc Vân trên tập san Xuân Thu nhã năm 1942 [25, tr.25]:
“Sự đụng chạm của trường Mỹ thuật với công chúng bắt đầu ở cuộc triển lãm thứ nhất vào khoảng 1928 - 1929, tại ngay trường Mỹ thuật Có tranh
Trang 15“thiếu nữ rũ tóc” mặt buồn của Lê Phổ, tranh “thiếu nữ ngồi trên sập” hai mắt ươn ướt như sắp khóc của Trung Thứ Có tranh “ông già” nhẹ nhàng của cô
Lê Thị Lựu, những tranh nặng nề nâu tối cảnh nhà quê của Nguyễn Phan Chánh Tranh lụa chưa ra đời
Năm 1931 Đấu xảo thuộc địa bên Pháp đã đưa công chúng Pháp lần đầu
“gặp” tác phẩm hội họa Việt Nam! Tôi muốn nói những bức tranh vẽ lên lụa không Tây, không Tàu, không Nhật của anh chàng Phan Chánh ôm khư khư ô ngày trước, cái anh chàng đã gây ra phong trào tranh lụa đặc biệt An Nam mà chính anh và tất cả không ai ngờ.”
Như vậy, từ những năm 30, nghệ thuật tranh lụa Việt Nam hiện đại mới bắt đầu hình thành Nằm trong dòng chảy chung của Mỹ thuật nước nhà, ta có thể chia sự phát triển của tranh lụa hiện đại Việt Nam thành ba giai đoạn chính: Giai đoạn từ năm 1930 tới năm 1945, giai đoạn từ năm 1945 tới năm
1986, giai đoạn từ 1986 tới nay (2017)
Giai đoạn từ năm 1930 tới năm 1945: Đây là giai đoạn hình thành tranh
lụa Việt Nam hiện đại, chất liệu lụa đã nhanh chóng khẳng định được vị thế của mình trong nền hội họa non trẻ của nước nhà Giai đoạn 1930 - 1945 có tình hình chính trị xã hội rất phức tạp, mâu thuẫn giữa dân tộc ta và thực dân Pháp, với giai cấp phong kiến, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào kháng chiến cứu quốc… Tuy nhiên các họa sĩ không đề cập đến những vấn đề chính trị đó mà chỉ sáng tác chủ yếu tranh phong cảnh, sinh hoạt nông thôn, sinh hoạt thành thị, ca ngợi vẻ đẹp người thiếu nữ, tình mẫu tử… Các tác phẩm thời kỳ này mang xu hướng Hiện thực lãng mạn Các tác phẩm tranh lụa thể hiện tâm hồn lãng mạn, bay bổng, hướng tới cái đẹp, cái duy mỹ,
không màng thế sự với hòa sắc nhẹ nhàng, êm ả, ngọt ngào như Thiếu nữ bên
cầu ao, Cô dâu (1945) của Lê Văn Đệ, Thiếu nữ chải tóc (1941) của Nguyễn
Văn Long, Gánh lúa (1940) của Lương Xuân Nhị, Đi chợ Tết (1940) của Nguyễn Tiến Chung, Thiếu nữ (1940) của Nguyễn Thị Nhung, Hai thiếu nữ
Trang 16trước bình phong (1944) của Trần Văn Cẩn… Và đặc biệt, người có công đặt
nền móng cho nghệ thuật tranh lụa Việt Nam hiện đại là danh họa Nguyễn Phan Chánh Tranh lụa của ông có một phong cách, dấu ấn riêng, nổi bật ở cách nhìn dung dị, chân thực, đậm chất nhân văn với khả năng kết nối giữa tinh thần, hình thể dân gian của người Việt và ý niệm không gian phương Đông cùng cách biểu đạt bảng màu đơn giản nhưng đa sắc nâu, đen, vàng đất,
các tác phẩm nổi tiếng là Chơi ô ăn quan (1930), Hai thiếu nữ đội nón thúng
quai thao (1932), Thiếu nữ chải tóc (1933), Hái rau muống (1934), Cầu ao (1938), Chơi cá (1939), Trốn tìm (1939),…
Giai đoạn từ năm 1945 tới năm 1986: Sau Cách mạng tháng Tám thành
công, Đảng ta đã tiến hành cuộc cải cách lớn, mục tiêu phục vụ nhiệm vụ chính trị đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa
xã hội được đặt lên hàng đầu Nhiều họa sĩ yêu nước đã rời bỏ thành phố, tham gia kháng chiến, vừa đấu tranh, vừa ký họa ghi chép, vừa sáng tác Các tác phẩm tranh lụa thời kỳ này đa dạng, phong phú, từ sinh hoạt tập thể, công trường, lao động sản xuất, bộ đội chiến đấu, dân quân… mang tinh thần lãng mạn Cách mạng, lạc quan Cách mạng, phản ánh đúng tinh thần và Hiện thực đất nước, gắn liền với nhiệm vụ chính trị đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội Một dấu mốc đáng chú ý trên chặng đường phát triển tranh lụa Việt Nam hiện đại là vào năm 1955, trường Mỹ thuật được mở cửa lại tại Hà Nội Năm 1957, trường mở khóa đại học đầu tiên sau hòa bình, chuyên khoa lụa được chính thức đưa vào chương trình đào tạo giúp thế hệ họa sĩ vẽ tranh lụa trở nên đông đảo, chuyên sâu, gặt hái nhiều thành công như Phạm Công Thành, Kim Bạch, Nguyễn Thụ, Linh Chi, Vũ Giáng Hương, Trần Lưu Hậu Các tác phẩm lụa tiêu biểu cho thời kỳ này có
thể kể tên như Góp thóc vào kho (1960) của Tạ Thúc Bình, Bế Văn Đàn
(1958) của Lê Vinh, Hành quân mưa (1958) của Phan Thông, Ghé thăm nhà (1958) của Nguyễn Trọng Kiệm, Tổ thêu (1958) của Trần Đông Lương, Về
Trang 17nông thôn sản xuất (1960) của Ngô Minh Cầu, Con đọc Bầm nghe (1954) của
Trần Văn Cẩn, Trăng trên cồn cát (1976) của Nguyễn Văn Chung,…
Giai đoạn từ 1986 tới nay (2017): Năm 1986, Việt Nam chuyển sang
nền kinh tế thị trường, mở cửa giao lưu, hợp tác với quốc tế Đây cũng là giai đoạn mỹ thuật Việt Nam có nhiều khởi sắc mới, hoạt động mạnh mẽ, sôi nổi Các triển lãm cá nhân, triển lãm nhóm, triển lãm hội, khu vực thường xuyên diễn ra cho thấy sự yêu nghề, tích cực sáng tạo miệt mài của các họa sĩ Các họa sĩ được tự do trong lựa chọn đề tài sáng tác, tự do trong thực nghiệm các chất liệu hội họa mới, tìm kiếm cái tôi riêng biệt nhằm tạo ra bước ngoặt mới,
lạ mắt Các chủ nghĩa, trường phái trong nghệ thuật Việt Nam bắt đầu trở nên phong phú Thời kỳ này, các họa sĩ vẫn tiếp tục tình yêu với chất liệu lụa truyền thống và tìm tòi đổi mới cho tranh lụa Xuất hiện những gam màu tươi sáng thay cho gam màu u trầm thời kỳ trước, thử nghiệm màu acrylic trên lụa, gắn vàng bạc lên bề mặt lụa…
Vựng tập các TLMTTQ 1985, 1990, và TLMTTQ năm 1995, TLMTTQ
1996 - 2000 là tài liệu mỹ thuật ghi nhận những tác phẩm, tác giả vẽ lụa tiêu
biểu như Cây trái quê hương của Kim Bạch (đoạt huy chương vàng TLMTTQ 1990); Chiến tranh của Lý Trực Dũng, Bác Hồ của Nguyễn Thụ, Trên chặng
đường chiến dịch của Thanh Châu (đoạt huy chương bạc TLMTTQ 1990); Chiến khu rừng Sác của Huỳnh Phương Đông (đoạt huy chương đồng
TLMTTQ 1990) Bản Thái của Hoàng Minh Hằng, Thuyền Hạ Long của Nguyễn Quốc Huy, Bếp lửa Trường Sơn của Vũ Giáng Hương (đoạt huy chương đồng TLMTTQ 1995); Chân dung nữ NSND Quách Thị Hồ của Nguyễn Thị Mộng Bích, Thiếu nữ chải tóc của Trần Văn Thọ, Tiếng chuông
gọi hồn của Lê Vấn, Quê ngoại của Trà Vinh (đoạt giải khuyến khích
TLMTTQ 1995) Tác phẩm Hai Bà Trưng ra trận của Đỗ Mạnh Cương đoạt Giải thưởng về đề tài cách mạng (TLMTTQ 1995); Tết Trung thu của Nguyễn
Trọng Dũng (đoạt giải của Quỹ hỗ trợ và phát triển văn hoá Việt Nam - Thụy
Trang 18Điển) Tác phẩm Phong cảnh (1999) của Nguyễn Minh Quang (huy chương đồng TLMTTQ 2000); Phiên chợ vùng cao (2000) của Lưu Thị Kim Oanh,
Niềm vui (2000) của Nguyễn Thị Mộng Bích, Chiều trên bến (2000) của
Nguyễn Đăng Khoát (giải khuyến khích TLMTTQ 2000)
Sang những năm đầu thế kỷ XIX, nghệ thuật vẽ tranh lụa có phần chững lại Không có nhiều họa sĩ theo đuổi con đường sáng tác bằng chất liệu lụa
Số lượng các tác giả chuyên tâm vẽ lụa, các tác phẩm lụa thành công, đặc sắc thưa thớt dần TLMTTQ năm 2000 chỉ có 49 tác phẩm được tuyển chọn, ở TLMTTQ năm 2005 là 44, TLMTTQ năm 2010 là 57 và TLM`TVN 2015 là
30 tác phẩm lụa Cá biệt trong TLMTTQ năm 2005, không có một tác phẩm lụa nào được giải, chắc có lẽ là lần đầu lụa không có giải trong lịch sử 18 kỳ TLMTTQ So với con số 200 tác phẩm lụa trên tổng số 1353 tác phẩm tranh tượng của TLMTTQ năm 1990 thì quả là một sự sụt giảm đáng kể
Với mục đích chấn hưng, thúc đẩy sự phát triển nghệ thuật tranh lụa Việt Nam, Vụ Mỹ thuật và Nhiếp ảnh - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức triển lãm, hội thảo chuyên đề tranh lụa Việt Nam 2007 Sự quan tâm của cơ quan quản lý Nhà nước đã giúp thu hút sự chú ý của thế hệ hoạ sĩ trẻ với chất liệu lụa truyền thống Các triển lãm chuyên đề lụa nối tiếp nhau mở ra, vẫn trên nền lụa truyền thống ấy nhưng với một tư duy tạo hình, một cảm mỹ nghệ thuật rất trẻ, rất đương đại đang làm mới nghệ thuật lụa truyền thống, lôi cuốn sự chú ý nhiều hơn vào lụa TLMTTQ năm 2010 và năm 2015 không có
sự đột biến nào về số lượng tác phẩm lụa nhưng chất lượng các tác phẩm lụa thì lại cho thấy một tín hiệu đáng mừng của nghệ thuật tranh lụa Việt Nam hiện đại
1.2.2 Đặc trưng nghệ thuật tranh lụa Việt Nam hiện đại
Vẻ đẹp tranh lụa khác hẳn với các chất liệu khác như sơn mài, sơn dầu,
do vậy nó được gọi tên theo chất liệu nền của tranh đủ thấy yếu tố lụa quan trọng như nào trong một tác phẩm tranh lụa Nền lụa là cái gốc, là cơ sở cho
Trang 19sự ra đời của nghệ thuật vẽ tranh lụa Vào thời kỳ đầu khi tranh lụa mới ra đời, các họa sĩ dùng lụa nền là thứ lụa Vân Nam, Trung Quốc Loại lụa này thường phải vẽ khi ẩm, nếu vẽ lúc khô gây cảm giác đanh cứng, đục và cặn, chỉ hợp với lối vẽ lụa Tàu, kiểu vẽ chấm phá quốc họa, không thể cọ rửa, nhuộm màu nhiều lần được Hiện nay, các họa sĩ vẽ tranh lụa thường đặt mua lụa của làng Quan Phố, được dệt hoàn toàn bằng tơ tằm có độ bền chắc và thấm màu rất tốt Tùy theo cách thức dệt lụa mau hay thưa, sợi to hay nhỏ mà đặt tên cho hai loại lụa chính là lụa mịn và lụa thô Mỗi loại lụa khi vẽ cho những hiệu quả không giống nhau Nắm vững tính chất của từng loại lụa giúp các họa sĩ có thể xử lý linh hoạt và đạt hiệu quả cao nhất cho tác phẩm của mình
Lụa trước khi vẽ phải căng lên khung, có thể căng khô hoặc căng ẩm sao cho tấm lụa căng đều Thông thường, lụa mới được quét một lớp hồ loãng, người vẽ nên rửa qua lớp hồ này để màu có thể ngấm vào thớ lụa Nếu lụa hút nhiều nước như lụa Trung Quốc thì nên quét một lớp hồ loãng lên trên, có pha lẫn một ít phèn chua để chống mốc Khi bắt đầu thể hiện một tác phẩm tranh lụa, họa sĩ thường phải xây dựng phác thảo (hình, mảng) hết sức kỹ càng Nhiều người sử dụng cách can hình từ bản can giấy lên lụa để lưu lại nét một cách chính xác Tuy nhiên cũng có thể dùng bút lông chấm màu vẽ trực tiếp lên lụa một cách thoải mái
Màu dùng để vẽ lụa thường là màu nước, phẩm hoặc mực nho Sau này, người ta còn dùng những họa phẩm đục hơn, dày hơn như tempera, màu bột, phấn màu Nghệ thuật đặt màu lên lụa cũng hết sức tinh tế và chủ động vì khi lụa đã ngấm màu thì không thể nào làm cho sáng lại được nữa, không như các chất liệu khác (sơn dầu, sơn mài, acrylic) có thể dùng màu nọ chồng lấp lên màu kia Kỹ thuật vẽ lụa cổ là vẽ bằng màu tự nhiên Người ta không rửa
và chuốt mặt lụa quá nhiều, chủ yếu vẽ một lần được ngay, hoặc vờn ngay trên bề mặt Còn lụa hiện đại vẽ bằng màu nước, thực chất là một kỹ thuật
Trang 20nhuộm lụa, màu thuốc nước ngấm vào trong thớ lụa, trở thành sợi nhuộm màu, chứ không ở trên bề mặt Người ta thường vẽ từ nhạt tới đậm, chồng nhiều màu lên nhau để tạo độ màu như ý Thỉnh thoảng, khi màu đã khô, phải đem ra rửa nước làm cho cặn màu trôi đi, để cho màu ngấm vào từng thớ lụa, người hoạ sĩ có thể rửa lụa nhiều lần rồi vẽ lên nhiều lớp khác Chính vì thế
mà tranh lụa hiện đại Việt Nam có độ trong trẻo, sâu lắng, óng ả, êm dịu, vô cùng tinh tế Muốn cho các mảng màu cạnh nhau hòa vào với nhau không còn ranh giới tách bạch, tạo ra một hiệu quả mềm mại, mờ ảo, người ta vẽ khi mặt lụa còn hơi ẩm và không cần viền nét nữa
Tranh lụa vẽ xong thường được bồi lên một lớp giấy, sau khi khô hoàn toàn, họa sĩ rạch phần tranh ra khỏi khung lụa để đưa vào khung kính, vừa tăng hiệu quả thẩm mỹ, vừa bảo vệ bề mặt lụa
Một bức tranh lụa đẹp, ngoài sắc màu ra, phải thể hiện được sự óng ả của thớ lụa, chất lụa, còn gọi là tuyết lụa Hoạ sĩ Việt Nam vẽ lụa hay dùng cọ để đánh màu cho tan đều để chuyển độ trung gian, nét và mảng được quyện vào nhau Tuy nhiên nếu tranh vẽ bị rửa nhiều nước thì độ mướt của chất lụa sẽ giảm, chà nhiều tơ lụa sẽ bị xù lông hoặc mặt lụa bị lì, không còn độ bám của màu nữa, lúc đó người vẽ phải thay lụa mới
Dù vẽ thế nào thì khả năng diễn tả ánh sáng của lụa là rất khó, không giống như chất liệu sơn dầu mà các chi tiết trong tranh chỉ mang tính chất tượng trưng, ước lệ, gợi tả nhiều hơn Cùng với đó là các đường nét, hình giàu tính chất trang trí Đây cũng chính là đặc điểm tạo hình trong tranh lụa, chủ yếu là mảng, sự liên kết giữa các mảng bằng các độ nhòe mờ tùy theo từng kỹ thuật vuốt nước và vẽ ướt của từng cá nhân Do đặc tính từ chất liệu mà lụa thường có ưu thế trong việc thể hiện những tác phẩm mang xu hướng lãng mạn, nhẹ nhàng, bay bổng, tình cảm như đề tài thiếu nữ, phong cảnh, tình mẫu tử…
Trang 211.3 Khái quát triển lãm Mỹ thuật toàn quốc giai đoạn 2000 - 2015
Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc là một sự kiện Mỹ thuật uy tín, một triển lãm định kỳ, thu hút đông đảo các họa sĩ trong nước tham gia, nhằm công bố, phổ biến các tác phẩm của giới Mỹ thuật Việt Nam sáng tác trong một giai đoạn (05 năm tổ chức một lần) Mỗi một kỳ triển lãm thể hiện một giai đoạn phát triển của Mỹ thuật nước nhà Sự kiện thu hút sự quan tâm và tham gia của hầu hết các nghệ sỹ trong cả nước, với hội đồng nghệ thuật thẩm định, chấm giải, trao thưởng cho các tác phẩm xuất sắc ở các lĩnh vực Hội họa, Đồ họa và Điêu khắc [16]
Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc lần đầu tiên tổ chức tháng 09- năm 1945 với tên gọi là Triển lãm Văn hóa, tại Nhà Khai Trí- Tiến Đức, Hà Nội (góc phố Hàng Trống, Lê Thái Tổ hiện nay) Từ năm 1945 tới nay do hoàn cảnh lịch sử, triển lãm có thời gian bị đứt đoạn, mỗi lần triển lãm đều mang những đặc điểm, thành tựu riêng đóng góp to lớn vào lịch sử mỹ thuật Việt Nam hiện đại Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài luận văn, người viết chỉ giới thiệu
về triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 2000 đến năm 2015
Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 1996 – 2000 [02]: Đây là TLMTTQ lần
thứ 15, khai mạc cuối tháng 12 năm 2000 tại nhà triển lãm Giảng Võ TLMTTQ 2000 có 44/59 tỉnh thành tham dự với 2535 tác phẩm của 1436 tác giả trong đó có 825 tác phẩm hội họa, đồ họa và điêu khắc của 692 tác giả được chọn trưng bày Lụa chiếm 48 tác phẩm (Theo số liệu của tác giả Đức
Hòa trong Lược sử các triển lãm Mỹ thuật toàn quốc Việt Nam đăng trên Tạp
chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh thì là 49 Nhưng trong quá trình thu thập số liệu tác
giả luận văn thấy tranh Hai chị em của Vũ Quang in trang 85 là tranh thảm
chứ không phải tranh lụa như sách ghi)
Tranh lụa là chất liệu có số tác phẩm lớn thứ 3 trong danh sách 571 tác phẩm tranh hội họa, đồ họa được duyệt treo trong triển lãm Tuy vậy so với tác phẩm sơn dầu và sơn mài thì số các tác phẩm tranh lụa vẫn còn hạn chế
Trang 22Danh sách các tác giả, tác phẩm đoạt giải thưởng TLMTTQ 2000 phần Hội họa không có huy chương vàng, huy chương bạc gồm 7 tác phẩm, huy chương đồng có 9 tác phẩm và giải khuyến khích có 26 tác phẩm
Trong số 42 tác phẩm đoạt giải có 4 tác phẩm là chất liệu lụa Gồm 1 tác
phẩm đạt huy chương đồng là Phong cảnh của Nguyễn Minh Quang và 3 tác phẩm lụa đạt giải khuyến khích là Phiên chợ vùng cao của Lưu Thị Kim Oanh, Niềm vui của Nguyễn Thị Mộng Bích, Chiều trên bến của Nguyễn
Đăng Khoát
Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 2001- 2005 [03]: Triển lãm thu hút 2979
tác phẩm của các tác giả trong cả nước về tham dự Hội đồng nghệ thuật đã tuyển chọn để trưng bày 734 tác phẩm tiêu biểu để trưng bày Trong đó có
536 tranh hội họa, đồ họa Năm nay số lượng tranh lụa ít hơn TLMTTQ 2000,
có 44 tác phẩm được chọn lọc trưng bày, chỉ chiếm 1/17 tổng số tranh được tuyển chọn
Danh sách tác giả, tác phẩm hội họa - đồ họa được tặng giải thưởng trong triển lãm mỹ thuật toàn quốc 2001 - 2005 gồm 2 huy chương vàng, 5 huy chương bạc, 8 huy chương đồng và 20 giải khuyến khích nhưng tác phẩm tranh lụa đoạt giải là con số 0 Con số này phản ánh đúng thực trạng tranh lụa Việt Nam thời kỳ này Các họa sĩ thờ ơ với chất liệu lụa, nghệ thuật tranh lụa đang chững lại, không có những tác phẩm thực sự xuất sắc so với các chất liệu khác
Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 2006 – 2010 [05]: Năm nay triển lãm có
sự thay đổi trong cách duyệt, vòng ngoài duyệt treo qua ảnh với gần 5000 bức
cỡ A4 do tác giả gửi tới, sau đó ban tổ chức mới nhận tranh đã được duyệt để HĐNT xét giải trực tiếp Hội đồng duyệt treo 836 tác phẩm của 735 tác giả
Phần Hội hoạ có 543 tranh, trong đó có 57 tác phẩm tranh lụa Giai đoạn này,
được sự quan tâm của các đơn vị quản lý, các hội thảo tranh lụa, các triển lãm
Trang 23khuyến khích tranh lụa… đã giúp lụa thoát khỏi bước tiến trì trệ giai đoạn 5 năm trước, có những thành tựu mới
Trong số 2 Huy chương Vàng, 4 Huy chương Bạc, 6 huy chương đồng
và 20 giải khuyến khích, có 4 tác phẩm lụa đoạt giải 1 tác phẩm lụa đoạt huy
chương bạc là Đàn bà, mặt nạ và bóng tối của Bùi Tiến Tuấn; 2 tác phẩm lụa đoạt huy chương đồng là Ngày yên bình của Trần Xuân Bình, Trước giờ lên
đường của Lê Văn Sửu; 1 tác phẩm lụa đoạt giải khuyến khích là Không gian
3 của Phạm Thanh Vân
Triển lãm Mỹ thuật Việt Nam 2015 [06]: Về tên gọi triển lãm mỹ thuật
toàn quốc được đổi thành triển lãm mỹ thuật Việt Nam 2015 Nhưng bản chất
nó vẫn là triển lãm mỹ thuật do nhà nước tổ chức, có quy mô toàn quốc nhằm
ghi nhận thành tựu mỹ thuật 5 năm một lần Bên cạnh việc đổi tên thành Triển
lãm Mỹ thuật Việt Nam, đáng chú ý, để nâng cao chất lượng không gian trưng bày Triển lãm này, Ban Tổ chức đã chọn lọc kỹ lấy những tác phẩm chất lượng Với 4076 tác phẩm gửi đến tham dự thì Hội đồng Nghệ thuật chỉ chọn
409 tác phẩm Số lượng tác phẩm trưng bày năm nay chỉ hơn một nửa so với
kì trước Số tác phẩm lụa được chọn trưng bày là 30, tính cả một tác phẩm lụa của Vũ Đình Tuấn trong hội đồng nghệ thuật thì là 31 tác phẩm
Cơ cấu giải thưởng kỳ triển lãm năm nay thu hẹp hơn so với các kì kể trên, trong đó có 2 huy chương vàng, 4 huy chương bạc, 12 huy chương đồng
và 20 giải khuyến khích, bao gồm cả đồ họa, hội họa và điêu khắc Nhưng số lượng tác phẩm tranh lụa được giải lại tăng lên con số 6, ngang ngửa với số lượng đoạt giải ở các chất liệu nghệ thuật khác (sơn mài có 6 tác phẩm đoạt giải, dơn dầu có 4, đồ họa có 5 tác phẩm) Trong đó có 2 tác phẩm tranh lụa
đạt huy chương đồng là Ngày đơm hoa (2015) của Trần Xuân Bình, Tuổi
Teen (2015) Phạm Hồng Như; có 4 tác phẩm lụa đạt giải khuyến khích là Tổ quốc gọi (2015) của Lê Thị Kim Bạch, Tiêu bản năm 20xx (2012) của Mai
Trang 24Hùng, Góc phố (2013) của Nguyễn Hoàng Long, Ngoài hiên vắng (2012) của
Phạm Thị Thanh Vân
Tiểu kết chương 1
Tranh lụa Việt Nam hiện đại ra đời ra đời sắp tròn 90 năm, kể từ thành công đầu tiên của Nguyễn Phan Chánh với những bức tranh lụa đằm thắm không phải Tây cũng chẳng phải Tàu, hoàn toàn độc đáo, riêng biệt của xứ
An Nam ấy Trải qua thời gian, những biến động của lịch sử nước nhà, tranh lụa có lúc hưng lúc suy Nhưng chắc chắn, với vẻ đẹp và đặc tính riêng biệt của mình, tranh lụa sẽ không bao giờ mất đi
Việc nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển của tranh lụa góp phần bảo lưu những giá trị văn hóa nghệ thuật tốt đẹp của nước nhà trước xã hội ngày một tiến tới toàn cầu hóa là một việc làm cần thiết Làm thế nào để tiếp thu văn hóa mới, để làm giàu thêm giá trị bản thân, đổi mới mình mà không mất đi bản sắc gốc là một điều khó không phải họa sĩ nào cũng làm được Đất nước mở cửa, Mỹ thuật Việt Nam hào hứng tiếp thu các trào lưu nghệ thuật hiện đại thế giới nhưng hình như tranh lụa vẫn trung thành với những lối vẽ cũ, những đề tài và gam màu truyền thống đã trở nên cũ kĩ với thời cuộc Phải tới những năm gần đây, đáng nói nhất là qua các tác phẩm lụa hai kì triển lãm toàn quốc năm 2010 và 2015, lụa mới thực sự có thay đổi và
đã đạt được thành công nhất định Vẫn nền lụa ấy, công cụ ấy, kĩ thuật ấy nhưng những họa sĩ trẻ đã tìm ra cho mình ngôn ngữ tạo hình và gam màu tươi mới, khiến cho lụa hấp dẫn lạ
Bằng sự hiểu biết còn hạn hẹp của cá nhân người viết, qua luận văn này, người viết muốn tìm hiểu kĩ hơn về xu hướng sáng tác tranh lụa trong triển lãm mỹ thuật toàn quốc giai đoạn 2000 đến 2015
Trang 25CHƯƠNG 2
NGHIÊN CỨU XU HƯỚNG SÁNG TÁC TRANH LỤA VIỆT NAM
TRONG TRIỂN LÃM MỸ THUẬT TOÀN QUỐC
GIAI ĐOẠN 2000 - 2015
2.1 Xu hướng Hiện thực trong sáng tác tranh lụa Việt Nam
“Chủ nghĩa Hiện thực”, “phong cách Hiện thực” trong tiếng Anh là Realism, dùng để chỉ một xu hướng nghệ thuật xuất hiện ở Pháp trong khoảng thời gian giữa thế kỷ XIX Chủ nghĩa Hiện thực đối lập với lối vẽ nghiên cứu kinh viện của chủ nghĩa Cổ điển, chủ nghĩa Lãng mạn Chủ nghĩa Hiện thực lấy hiện thực xã hội và những vấn đề có thực của con người, về cuộc sống, về môi trường xã hội xung quanh làm đối tượng sáng tác, không lí tưởng hóa, tránh mọi hình thức “gây ảo ảnh” [23, tr.70]
Hội họa giá vẽ Việt Nam ra đời vào những năm đầu thế kỷ XX, đó là khoảng thời gian khi mà thế giới đang bước vào giai đoạn bùng nổ các trào lưu nghệ thuật Hiện đại như Tượng trưng, Biểu hiện, Trừu tượng, Dã thú, Lập thể… Dưới sự đào tạo mang định hướng phát huy nghệ thuật bản địa của những người thầy Pháp Victor Tardieu, Joseph Inguimberty kết hợp với khuynh hướng nghệ thuật Cổ điển, trân trọng Hiện thực, bút pháp Ấn tượng
đã ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách sáng tác của các họa sĩ Việt Nam Chính vì vậy trong hội họa Việt Nam mảng tranh mang phong cách nghệ thuật Hiện thực chiếm phần đông đảo [25, tr.13-14] Tranh lụa cũng không nằm ngoài xu hướng đó Nhiều tác phẩm tranh lụa Việt Nam hiện đại đi theo
xu hướng Hiện thực Tuy nhiên hiện thực ở đây khác với lối vẽ hiện thực Phương Tây là tả chính xác về tỉ lệ, hình khối, không gian, ánh sáng Mà ở đây là một phong cách hiện thực có sự kết hợp với lối ước lệ, tượng trưng của
Á Đông Đó là cách xây dựng hình tượng cấu trúc đúng tỉ lệ thực, không gian phối cảnh theo lối tả thực Phương Tây nhưng kết hợp với lối vẽ vờn khối, ánh
Trang 26sáng và màu sắc ước lệ Hoặc cũng có tác phẩm tranh lụa mang xu hướng hiện thực nhưng pha chút lãng mạn, ấn tượng Về nội dung phản ánh, ngoài những chủ đề về tình dân quân, lao động sản xuất, chiến tranh cách mạng…còn có các đề tài về cuộc sống sinh hoạt của con người, đặc biệt là khu vực miền núi, nông thôn, miêu tả phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, vẻ đẹp con người
Trong TLMTTQ giai đoạn 2000 - 2015 có 150 tác phẩm tranh lụa mang phong cách nghệ thuật Hiện thực trên tổng số 179 tác phẩm tranh lụa của cả 4
kỳ từ 2000 - 2015 Ở TLMTTQ 2000, 2005 các tác phẩm tranh lụa mang phong cách Hiện thực chiếm đa số Nhưng đến TLTTQ 2010 và TLMTVN
2015, các tác phẩm mang phong cách Siêu thực, Pop art xuất hiện nhiều và chiếm ưu thế Các tác phẩm lụa Hiện thực thường khai thác vẻ đẹp con người, thiên nhiên, phong cảnh nhất là nông thôn, miền núi với những hình ảnh sinh hoạt lao động bình dị hàng ngày Tuy sử dụng bút pháp tả thực nhưng các họa
sĩ cũng không quá nệ thực mà thường khai thác tính chất ước lệ Á Đông tạo nên chất dân tộc trong tác phẩm
Trước hết là những tác phẩm lụa khai thác đề tài hiện thực cuộc sống về
bố cục, cấu trúc hình, không gian nhưng kết hợp lối vờn khối, ánh sáng, màu sắc ước lệ
Tác phẩm Niềm vui (H.01) của nữ họa sĩ Nguyễn Thị Mộng Bích (1933)
đạt giải khuyến khích TLMTTQ năm 2000 là một bức tranh hiện thực sinh động về cuộc sống, con người vùng cao Bức tranh sử dụng lối vẽ tả thực về hình khối, tỉ lệ, màu sắc, không gian…Chọn bố cục cận cảnh, tác giả muốn đặc tả hình ảnh bà mẹ dân tộc đang ngồi thái lá cho lợn ăn, em bé quấn quýt bám sau lưng mẹ Bên cạnh là đàn lợn con đang tranh nhau bú mẹ, bếp lửa đang đun cháy rực ấm áp, xa xa là hình ảnh ruộng bậc thang, núi rừng xanh non mơm mởm Từng chi tiết đều thật đắt giá với sự nghiên cứu kỹ về hình,
bố cục, màu sắc Từ những chiếc lá xanh tươi ở góc tranh đang được bà mẹ
Trang 27thái chuẩn bị bữa tối cho chú lợn, những bắp ngô to, mẩy hạt vàng óng ả, đến đàn lợn con lúc nhúc đến chục chú, mỗi chú một dáng đang miệt mài bú mẹ… Mỗi nét vẽ cho thấy tạo hình chắc chắn và kỹ thuật lụa điêu luyện của tác giả Dùng cách vờn khối, nhuộm lụa tạo sự chuyển biến của sắc độ êm dịu, các chi tiết bàn tay, bàn chân của người mẹ được tả kĩ, có phần gân guốc biểu lộ vẻ đẹp rắn rỏi, khỏe mạnh của người phụ nữ vùng cao chăm chỉ, vất vả Chiếc áo nâu chàm xanh thẫm được tả kỹ hoa văn, họa tiết trên cổ áo, tay áo nhưng vẫn gợi được khối hình chắc khỏe của cơ thể người mẹ trong dáng ngồi mềm mại thái lá Dù vất vả nhưng hình ảnh người phụ nữ vùng cao vẫn hiện lên đẹp đẽ trong trang phục dân tộc, điệu đà với những đồ trang sức như vòng cổ, khuyên tai Và đặc biệt khuôn mặt nở nụ cười rạng rỡ của em bé sáng ngời bức tranh Nụ cười của em là niềm vui của mẹ, là sự no nê của đàn lợn con, sự
mãn nguyện của lợn mẹ Xem tranh Niềm vui, thấy được niềm hạnh phúc, hân
hoan, sự ấm no, sung túc của đời sống mới ở vùng cao
Thêu thổ cẩm (H.04) cũng là một tác phẩm đẹp về con người miền núi
của Phạm Thanh Liêm Cũng như Niềm vui tính Hiện thực trong tác phẩm
Thêu thổ cẩm được thể hiện ở lối vẽ tả thực về hình khối, tỉ lệ, màu sắc và gợi
tả không gian của tác phẩm Tranh đặc tả hình ảnh một cô gái Thái đang ngồi thêu thổ cẩm bên bếp lửa Cô gái với nét mặt thanh tú, đôi bàn tay được tạo hình rất yêu, một tay cầm kim kéo dài chỉ ra, một tay giữ mảnh thổ cẩm Chiếc áo Thái trắng ngần nổi bật lên trong không gian của buổi chiều ngập tràn ánh tím Các chi tiết trang trí trên quần áo, mảnh thổ cẩm, miếng vải dưới đất được vẽ khá cẩn thận, hài hòa trong màu sắc chung của bức tranh Hình ảnh bếp lửa được tả rất kỹ, ánh lửa hồng rực với những chiếc ấm, nồi, chiếc kiềng bếp đen xì đặc trưng khi đun củi gỗ Khung cảnh thật thanh bình Vẻ đẹp của cuộc sống, con người như ngưng đọng trên bề mặt tranh
Cũng với đề tài sinh hoạt ở miền núi, tác phẩm hiện thực lãng mạn
Người mẹ Thái (H.07) của họa sĩ Nguyễn Thụ là hình ảnh người phụ nữ địu
Trang 28con bên hiên nhà đầy chất thơ Nguyễn Thụ là một họa sĩ lão thành chuyên vẽ
lụa Đề tài thiên nhiên, con người miền núi mà nhất là hình ảnh những cô gái Thái trong sinh hoạt hàng ngày là chủ đề chính trong các tác phẩm tranh lụa của ông Các tác phẩm tranh lụa Nguyễn Thụ có đặc điểm chung vừa hiện thực, vừa trữ tình và giàu chất thơ, mộc mạc, biểu cảm Trong mỗi tác phẩm, tác giả đều gạn lọc lấy những hình ảnh, chi tiết cô đọng, màu sắc, bố cục đơn giản Các sắc độ, mảng hình trong tranh lụa Nguyễn Thụ không rõ nét mà nhòe mờ vào nhau, chuyển sắc tinh tế nhờ đó mà cảm nhận được hơi sương lạnh của núi rừng Tây Bắc Cũng với kỹ thuật lụa rất đặc trưng đó, trong không gian núi rừng lạnh giá, điểm sắc trắng muốt của cành hoa mai, hoa mận
tác phẩm Người mẹ Thái tập trung vào hình ảnh mẹ con đang ngồi trước nhà
sàn, cuộc sống thật thanh bình, nhẹ nhàng và ấm áp tình mẫu tử biết bao Tác phẩm có không gian gợi tả, ước lệ với những mảng màu lớn, những đường viền mềm, gợi khối nhẹ, hình và nét uyển chuyển, chủ yếu là các sắc đen, nâu hồng, lam tím
Ngoài các tác phẩm tiêu biểu phân tích ở trên, đề tài thiên nhiên, phong cảnh, sinh hoạt con người miền núi sáng tác theo phong cách hiện thực có rất nhiều Phải nói mảng đề tài này rất được các họa sĩ Việt Nam ưu ái, không riêng gì chất liệu lụa Mỗi bức tranh là một mảnh ghép phản ánh chân thực
cuộc sống miền núi Một số tác phẩm đẹp tiêu biểu có thể kể tên như Đám trẻ (H.02) của Nguyễn Hoàng Tùng, Trang điểm (H.03) của Nguyễn Trọng Cát,
Chiều bên suối (2008) (H.05) của Trần Thị Phương Liên, Nghề truyền thống
(H.06) của Trần Quang Dũng, Buổi sớm ở bản (2010) (H.08) của Phạm Ngọc
Sỹ, Chợ Lán Xì (TLMTTQ 2000) (H.09) của Mai Hùng, Đêm vùng cao (2000) (H.10) của Phạm Mạnh Đức, Buổi sáng trên bản phố (2010) (H.11) của Nguyễn Thanh Tùng, Phong cảnh miền Đông (2000) (H.13) của Trần Thị
Liên…
Trang 29Mảng các tác phẩm khai thác các đề tài và phong cách hiện thực gắn với phong cảnh, con người, sinh hoạt, lao động nông thôn Việt Nam cũng chiếm
số lượng lớn tranh lụa mang phong cách nghệ thuật Hiện thực như Ngày mùa
(2005) (H.12) của họa sĩ Lê Văn Sửu, Biển về gom lưới (2006) (H.21) của Lê
Thị Ngân Chi, Bà Năm Thử (2010) (H.14) của Lê Thị Kim Bạch, Kéo lưới
(2000) (H.15) của Mai Xuân Chung, Trước lúc ra khơi (2012) (H.16) của
Phạm Trần Bửu Trâm, Chợ Sét làng Chuông (2005) (H.22) của Lê Thị
Dung…
Tác phẩm Ngày mùa (2005) (H.12) của họa sĩ Lê Văn Sửu diễn tả phong
cảnh nông thôn gắn với kiến trúc chùa Thầy trong một hòa sắc vàng nâu ấm
áp Các chi tiết trong tranh đều tinh tế, tỉ mỉ, cô đọng trong mảng hình đơn giản, khúc triết Tạo hình tranh từ mái nhà với cột kèo, nếp cong, họa tiết trang trí diềm mái, những cành cây khỏe khoắn, dáng lưng còng còng gánh những gánh lúa nặng trĩu oằn quang gánh… đều hết sức sinh động Bức tranh phong cảnh nông thôn của họa sĩ đẹp êm ả và tình cảm Bức tranh là sự kết hợp giữa cách tạo hình hiện đại, nghiên cứu, ký họa kỹ phong cảnh, bố cục, khái quát lược bỏ những chi tiết rườm rà để còn lại sự cô đọng của hình thể Vẫn sử dụng lối tạo hình hiện thực, phối cảnh xa gần nhưng cách tả khối, dùng màu hoàn toàn mang tính ước lệ, Á đông Người xem thấy gợi lên màu sắc nâu vàng quen thuộc như trong tranh của Nguyễn Phan Chánh Vẫn lối vờn khối, chuyển sắc độ êm dịu, và cách vẽ nhuộm lụa truyền thống Nhưng hơi thở cuộc sống hiện đại vẫn phảng phất trong tác phẩm nhờ lối tạo hình, bố cục hiện đại
Biển về gom lưới (2006) (H.21) của Lê Thị Ngân Chi cũng là một tác
phẩm lụa đẹp, rõ tính Hiện thực Tạo hình, bố cục, màu sắc trong tranh đều dựa trên những hình ảnh chắt lọc từ thực tế Quy luật xa gần trong nghệ thuật phương Tây được áp dụng tạo không gian cho bờ biển với những nhóm người đang gom lưới trên bờ chạy xa sát mép, hút tầm mắt ra ngoài biển Màu sắc
Trang 30nhuộm khắp mặt tranh là màu của ánh hoàng hôn chiều Tranh không đi vào chi tiết, không tả nhiều, các dáng người được “bắt” rất sinh động cùng với những mảng bóng đổ dài đã tái hiện thành công cảnh biển chiều, những ngư dân tất bật gom lưới
Trong số các tác phẩm mang phong cách Hiện thực tác phẩm Hồn quê
(1999) (H.27) của Nguyễn Yến Nguyệt là thực hơn cả Bức tranh vẽ một góc
bếp xưa của người miền xuôi Trong bếp có chiếc chạn bếp làm bằng tre, mấy chiếc chum sành to nhỏ, chiếc thì kê gạch, đậy nắp nồi đất, chiếc đậy nắp bằng thớt gỗ, ấm nước đen vì đun củi, đun rơm, chiếc liễn đựng cà, đựng muối, chiếc mâm gỗ đã sứt mép đôi chỗ… Góc bếp nhỏ hiện lên sinh động trong sắc nâu đỏ ấm áp no màu, trong trẻo với bút pháp tả thực gần với phong cách Cực thực Sẽ chẳng có gì đặc biệt vì tranh mà, không vẽ cái này thì tả cái kia và góc bếp như vậy, tả như vậy cũng có nhiều họa sĩ sơn dầu vẽ rồi nhưng
nghệ thuật tả thực như vậy trong lụa có lẽ ít thấy Các tác phẩm lụa từ trước
vẫn được coi là không có khả năng diễn tả ánh sáng, không gian, hình khối như tranh sơn dầu, mà mọi sự diễn tả mang tính chất tượng trưng hoặc ước
lệ, gợi tả nhiều hơn [12, tr.74] Nhưng khi xem tranh Hồn quê, dường như các
lý thuyết trước kia đã không còn chính xác nữa Nó cho thấy tranh lụa cũng
có khả năng diễn tả ánh sáng cũng có thể mô tả sự vật nổi hình nổi khối được chứ không hoàn toàn chỉ là cuộc chơi của mảng màu và nét trang trí
Bên cạnh mảng tranh lụa mang phong cách Hiện thực, ta thấy có một số tác phẩm lụa lại có cách dụng màu, tạo nét và bố cục gần gũi với nghệ thuật Biểu hiện Các tác phẩm lụa mang phong cách Hiện thực pha Biểu hiện cho thấy sự thay đổi trong chính xu hướng Hiện thực của tranh lụa Tính biểu hiện của các tác phẩm lụa mang phong cách Hiện thực pha biểu hiện chủ yếu thể hiện trong màu sắc Màu sắc các tác phẩm tranh lụa mang phong cách Hiện thực pha Biểu hiện không phải là màu thực của bản thân đối tượng được vẽ
Nó là màu theo cảm nhận chủ quan của tác giả, màu sắc đối chọi nhau gây ấn
Trang 31tượng mạnh mẽ nơi người xem Tuy nhiên những tác phẩm này vẫn chưa thoát ra khỏi được những khuôn hình hiện thực của đối tượng thể hiện, nên vẫn nằm trong nhóm các tác phẩm Hiện thực Tạo hình trong các bức tranh lụa Hiện thực pha Biểu hiện là sự kết hợp giữa tạo hình thực tế của đối tượng, nhân vật với sử dụng yếu tố ước lệ tượng trưng giản lược, chắt lọc, khái quát
Ví dụ như tác phẩm đạt giải khuyến khích trong TLMTTQ 2000 Chiều
trên bến (H.35) của Nguyễn Đăng Khoát diễn tả lại quanh cảnh một bến
thuyền đang tấp nập thu hoạch với những sọt đầy cá Tranh vẽ theo lối tả thực, các chi tiết thuyền, người, xọt cá đều rất sinh động Yếu tố biểu hiện của tranh nằm ở sắc đỏ của hoàng hôn chiều nhuộm đẫm mặt tranh và bố cục táo bạo với hai chiếc thuyền lớn đối lập với con người, xọt cá nhỏ bé
Hay trong tác phẩm Phong cảnh miền núi (2000) (H.32) của Trần Lưu
Tuấn Tranh vẽ quang cảnh nhà sàn của miền núi phía Bắc, họa sĩ không khai thác chi tiết đối tượng vẽ mà giản lược quy vào những mảng hình cô động Nhất là hình của những mái nhà sàn Tranh gây ấn tượng nơi người xem bởi sắc xanh biếc của nhà sàn, xanh màu xanh nước biển, đối chọi với sắc cam rực của nền đất, màu đỏ của những chú gà trên sân cùng chiếc áo chú bé đứng trên hiên nhà sàn đầy tính biểu hiện
Họa sĩ Phạm Thanh Vân có hai tác phẩm trong TLMTTQ 2010 và 2015
đều đạt giải là Không gian 3 (2009) (H.28) và Ngoài hiên vắng (2012) (H.29)
Cả hai bức tranh đều có nội dung, hình thức biểu hiện, bố cục tranh khá đơn giản và tương đồng nhau Tranh chỉ vẽ căn nhà ngang, căn nhà chính của người đồng bằng Bắc Bộ Bố cục tranh nằm ngang theo chiều dài căn nhà Một bức nhìn từ ngoài sân vào mặt trước của nhà và một bức nhìn từ trong nhà ra Cả hai bức tranh là một tông màu đỏ, nâu, một chút cam trầm ấm đầy sức biểu hiện Toàn bộ bức tranh là nổi bật trong một sắc đỏ, có thêm chút đen, một chút cam Chính sự giản dị, kiệm hình, kiệm màu, kiệm nét ấy là nét đặc sắc trong ngôn ngữ tạo hình hai bức lụa của Phạm Thanh Vân Trong
Trang 32nghệ thuật, không phải cứ đa sắc, nhiều chi tiết đã là hay Phải có cái nhìn tinh tế, phải có sự gắn bó, hiểu biết và tình cảm với truyền thống văn hóa Bắc
bộ mới có được sự chắt lọc như vậy
Tác phẩm Trường Sơn (2009) (H.36) của nữ họa sĩ Vũ Giáng Hương là
một tác phẩm mang tính Hiện thực pha biểu hiện Họa sĩ Vũ Giáng Hương là một họa sĩ chuyên vẽ lụa Bà vẽ rất nhiều tranh lụa, trong đó chủ đề chiến tranh Cách mạng chiếm một số lượng lớn Tranh của bà thường tái hiện lại những câu chuyện thực tế, những kí ức, kỷ niệm của bản thân trong gam màu
trầm Ở tác phẩm Trường Sơn (2009), tác giả tái hiện lại một góc con đường
lịch sử Trường Sơn với hình ảnh những chiến sĩ đang trên đường hành quân băng rừng vượt núi tiến vào Nam Tính biểu hiện của tranh thể hiện ở nét vẽ tạo hình của họa sĩ Nét ở đây không còn thanh mảnh để gợi hình mà được họa sĩ đi rất hoạt, to, đậm, nổi bật trong tranh Các mảng màu của các chiến sĩ, của rừng, núi cùng chung sắc độ được tách ra, khỏe khoắn, mạch lạc nhờ những nét phẩy, viền bo của nét mà không khiến cho tranh bị cứng nhắc Sự kết hợp yếu tố nét to, nhỏ linh hoạt cũng đồng thời tạo đậm nhạt làm cho tác phẩm có chiều sâu
Cũng với những đặc điểm ấy, trong TLMTTQ giai đoạn 2000 – 2015 có một số tác phẩm tranh lụa Hiện thực pha biểu hiện khác ví dụ như tác phẩm
Chợ Bắc Hà (2000) [H.30] của Nguyễn Thế Sơn, Tổ thêu (2000) (H.31) của
Mai Thị Liên, Tắm suối (1999) (H.33) của Nguyễn Thị Thu Hằng, Chờ mẹ
(2010) (H.34) của Lê Thị Hương Giang, Đường về (TLMTTQ 2010) (H.37)
của Đào Hà, Đình làng (2010) (H.38) của Tòng Thị Trang …
Các tác phẩm tranh lụa mang phong cách nghệ thuật Hiện thực trong TLMTTQ giai đoạn 2000 - 2015 chiếm số lượng lớn cho thấy xu hướng Hiện thực rõ ràng trong tranh lụa Việt Nam giai đoạn này