1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng công cụ chứng khoán phái sinh trên thị trường cafe thế giới và phòng vệ biến động giá cho café việt nam

29 322 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 430,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thế giới, để hạn chế rủi ro giá cả cho nhà sản xuất xuất khẩu nông sản trong đó có cà phê, các nước thường sử dụng thành công một biện pháp là xây dựng thị trường giao dịch chứng kh

Trang 1

ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Đề tài : Sử dụng công cụ chứng khoán phái sinh trên thị trường cafe thế giới và phòng vệ biến động giá cho café Việt Nam

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

LỜI MỞ ĐẦU 5

I/ Tổng quan về chứng khoán phái sinh 6

1/ Khái niệm 6

2/ Phân loại 6

3/ Ứng dụng của các công cụ phái sinh 7

4/ Vai trò của chứng khoán phái sinh 8

5/ Hậu quả không mong muốn khi sử dụng chứng khoán phái sinh 8

II/ Thực tế sử dụng CKPS trong thị trường café Việt Nam và thế giới 9

1/ Thế giới 9

2/ Việt Nam 15

3/ Phân tích những hạn chế khi sử dụng ckps ở VN 25

III / Kiến nghị giải pháp tăng cường hiệu quả trong ứng dung chúng khoán phái sinh 28

KẾT LUẬN 30

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Thương mại Việt Nam với thế giới ngày càng tăng cao nhờ mở rộng được nhiều thị trường Xuất khẩu ngày càng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng đối với nên kinh tế.Việt Nam với thế mạnh về nông sản thì việc xuất khẩu nông sản

có rất nhiều lợi thế thương mại Trong các nông sản của Việt Nam thì cafe có một

tỷ trọng rất lớn Trong những năm gần dây “ngành cà phê đã góp phần quan trọng vào nền kinh tế Việt Nam, chiếm khoảng 3% GDP, cung cấp sinh kế cho hơn hai triệu rưỡi người” Trên bản đồ xuất khẩu cà phê của thế giới sau thời gian đứng thứ 2 thế giới Việt Nam đã vượt qua Brasil trở thành nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới Cho đến nay, cà phê vẫn luôn giữ vài trò là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta và được chọn là một trong những mặt hàng trọng điểm cần phát huy Tuy nhiên, trong những năm qua, việc phát triển ngành

cà phê khá bấp bênh Tính chất giá cà phê của nước ta là phụ thuộc vào giá cả của thị trường thế giới, chỉ một vụ rớt giá mạnh cũng khiến cho người trồng cà phê và các nhà kinh doanh cà phê gánh chịu rủi ro lớn, có khi dẫn đến phá sản Do vậy là một vấn đề lớn cần được quan tâm để phòng ngừa rủi ro biến động giá cà phê Trên thế giới, để hạn chế rủi ro giá cả cho nhà sản xuất xuất khẩu nông sản trong đó có

cà phê, các nước thường sử dụng thành công một biện pháp là xây dựng thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh để các chủ thể có thể là nhà sản xuất, xuất khẩu nông sản tham gia giao dịch để san sẻ rủi ro về giá cả hàng hóa cho đối tác khác trên thị trường đó và cho thị trường quốc tế Vì vậy không lý do gì Việt Nam không

áp dụng hình thức này khi mà sự phát triển sản phẩm giao dịch cho các hàng hoá Việt Nam là điều tất y ếu và cần thiết tương ứng với giai đoạn phát triển kinh tế và hội nhập hiện nay Theo đây, bọn em xin trình bày đề tài tiểu luận “sử dụng công

cụ chứng khoán phái sinh trên thị trường cafe thế giới và phòng vệ biến động giá cho café Việt Nam” Bài tiểu luận sẽ còn nhiều những thiếu xót, chúng em mong cô góp ý để bài viết thêm hoàn thiện Chúng em xin cảm ơn cô!

Trang 4

I/ Tổng quan về chứng khoán phái sinh

1/ Khái niệm

- Khái niệm: Chứng khoán phái sinh là một loại công cụ tài chính mà giá trị của chúng tùy thuộc vào giá trị của một hoặc một số tài sản cơ sở Tài sản cơ sở có thể là giá cả của một hàng hóa, tiền tệ, hoặc chứng khoán nào đó…

- Hợp đồng kì hạn được giao dịch trên thị trường OTC và chỉ được thanh toán vào ngày đáo hạn do đó tiềm ẩn nhiểu rủi ro : rủi ro không có khả năng thực hiện hợp đồng, tínhthanh khoản không cao,…

b/ Hợp đồng tương lai (Futures)

- Là hợp đồng giữa hai bên mua và bán để mua bán tài sản cơ sở vào một ngày trong tương lai với giá đã thỏa thuận ngày hôm nay mà không phụ thuộc vào giá tại thời điểm thực hiện hợp đồng

 Phân biệt Futures vs Forward

Hầu như không có rủi ro tín dụngc/ Hợp đồng quyền chọn (Options)

Trang 5

- Là hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên, theo đó một bên cho bên kia được quyền mua hoặc bán một số lượng xác định các tài sản cơ s, tại hay trước một thời điểm trong tương lai với mức giá xác định tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng.

- Có 2 loại quyền chọn:

+ quyền chọn mua (call option) cho phép người mua được quyền mua một tài sản cơ

sở tại hay trước thời điểm trong tương lai với mức giá xác định

+ quyền chọn bán (put option) cho phép người bán được quyền bán một tài sản cơ sở tại hay trước thời điểm trong tương lai với mức giá xác định

d/ Hợp đồng hoán đổi( Swaps)

- Là hợp đồng thỏa thuận trao đổi luồng tiền tài chính trong tương lai theo một số

nguyên tắc xác định tại thời điểm hiện tại

- Có 4 loại swaps: hoán đổi tiền tệ, hoán đổi lãi suất, hoán đổi chứng khoán và hoán đổi hàng hóa

3/ Ứng dụng của các công cụ phái sinh

sự không chắc chắn của giá cả, và đối với chủ nhà máy là sự không sẵn có của café b/ Đầu cơ

- một số cá nhân và tổ chức sẽ tham gia vào một hợp đồng phái sinh để đầu cơ giá trị của các tài sản cơ sở, đánh cược rằng các bên tìm kiếm bảo hiểm sẽ là sai lầm về giá trị tương lai của tài sản cơ sở Các nhà đầu cơ tìm mua một tài sản trong tương lai ở một mức giá thấp theo một hợp đồng phái sinh khi giá thị trường tương lai là cao, hoặcbán một tài sản trong tương lai ở một mức giá cao theo một hợp đồng phái sinh khi giáthị trường tương lai là thấp

c/ đầu cơ chênh lệch giá ( arbitrage)

Trang 6

- đồng thhời tiến hành mua và bán dựa trên sự chênh lệch giá cả hoặc lãi suất thu về lợi nhuận với rủi ro thấp nhất , bằng cách mua rẻ ở một nơi và bán giá cao ở nơi khác

4/ Vai trò của chứng khoán phái sinh

a/ Xác định biến động giá

- Forward và Future góp phần hình thành giá giao ngay : trong thời hạn hợp đồng, giá tương lai luôn có xu hướng tiến về giá giao ngay cảu tài sản cơ sở Tại thời điểm giao hàng, giá tương lai gần bằng giá giao ngay,do đó giá giao ngay của tài sản cơ sở trong tương lai được xác định

- Option giúp xác định xu thế giá: ví dụ, khi giá của quyền chọn mua tại thời điểm hiện tại cao, ta ngầm hiểu tài sản cơ sở có xu hướng tang giá trong tương lai, vì thế người mua quyền chọn mua sẽ có thể chịu ít rủi ro hơn người bán quyền chọn mua Khoản chi phí bỏ ra để mua quyền chọn lúc này được coi như chi phí bảo hiểm của người bán

b/ Phân tán rủi ro nhà đầu tư

- Chứng khoán phái sinh cho phép những người muốn giảm rủi ro của mình chuyển giao rủi ro cho những người chấp nhận nó Thị trường này rất có hiệu quả trong việc phân phối lại rủi ro giữa các nhà đầu tư Thực tế thị trường các sản phẩm phái sinh sẽ làm một bên được lợi và tất yếu bên kia không tránh khỏi những thiệt hại nhưng những giao dịch này vẫn rất phát triển do “ khẩu vị rủi ro” của mỗi nhà đầu tư là khác nhau và ai cũng mong muốn rủi ro của mình ở mức chấp nhận được nên vẫn tiến hành chuyển giao rủi ro cho các nhà đầu tư khác

c/ Thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính

- Các nhà đầu tư luôn sẵn sang cung cấp nhiều vốn hơn cho thị trường tài chính thong qua các công cụ phái sinh để giảm thiểu rủi ro của mình, vì vậy tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, phát huy khả năng huy động vốn và giảm chi phí sử dụng vốn

- Bên cạnh đó thị trường phái sinh không dẫn vốn của nền kinh tế vào những âm mưu đầu cơ khủng khiếp, và việc phòng ngừa các rủi ro được hiệu quả hơn, ít tốn kem hơn

5/ Hậu quả không mong muốn khi sử dụng chứng khoán phái sinh

- Khi điều kiện thị trường có những chuyển biến theo chiều hướng thuận lợi, nếu

một doanh nghiệp thực hiện việc phòng ngừa thì có thể sẽ bỏ qua những cơ hội thực hiện

các ưu thế mà thị trường đang có Trên thực tế, thực hiện phòng ngừa rủi ro, doanh nghiệp sẽ giảm đi được các khoản lỗ nhưng đồng thời cũng làm giảm đi các khoản lãi tiềm năng

Trang 7

- Rào cản tham gia thị trường phái sinh thấp, tỉ lệ sinh lời cao khiến mục đích phòng vệ chuyển thành mục địch đầu cơ mà chính nhà đầu tư không biết, chiến lược sai lệch dễ gây ra nhiều hậu quả khó lường trước.

II/ Thực tế sử dụng CKPS trong thị trường café Việt Nam và thế giới

1/ Thế giới

a/tình hình biến động giá café thế giới

Tình hình sản xuất cà phê biến động qua các năm tùy theo điều kiện thời tiết, bệnh dịch và các yếu tố khác Điều này khiến thị trường cà phê mang tính chất cố hữu là không ổn định và có đặc trưng là giá dao động lớn Sự dao động giá để lại hậu quả lớn cho những người mà cuốc sống của họ phụ thuộc vào mặt hàng này Khi giá thấp, người trồng không có đủ nghị lực để đầu tư vào sản xuất với những chí phí như phân bón, thuốc trừ sâu hay chi phí thay thế cây cũ cũng như không có đủ điều kiện tài chính để chi trả cho cuộc sống của mình, để gửi con em đi học, trả tiền thuốc men…Những năm gần đây, giá cà phê Arabica đã tăng từ 45cent/pound năm 2001 lên mức cao nhất trong 34 năm đạt gần 309cent/pound Giá cà phê Robusta tăng từ 17cent lên

120 cent/pound năm 2011

Sau cuộc khủng hoảng thừa những năm 1999-2004, giá cà phê được phục hồi vào năm

2007 dao động trên mức 120cent/pound Khi cuộc khủng hoảng nổ ra vào năm 2008, giá cà phê Arabica và Robusta giảm nhẹ xuống mức quanh 110cent/pound

Năm 2011, giám đốc điều hành của Illycaffe SpA, ông Andrea Illy, nhận định rằng càphê tại New York đã bị định giá cao hơn tới 50% so với thực tế bởi các nhà đầu cơthổi phồng giá kỳ hạn lên, góp phần gây ra “bong bóng” trên thị trường hàng hoá toàncầu Arabica kỳ hạn đã tăng giá gấp hơn 2 lần trong năm vừa qua Ông Illy cho biết giá

cà phê sẽ “hợp lý hơn” nếu ở mức khoảng 1,80 – 2,20 USD/lb Theo ông, giá có thểgiảm xuống chỉ 1,50 USD/lb khi sản lượng tăng kéo dự trữ tăng trên toàn cầu

Giá cà phê kỳ hạn tại New York đã tăng lên mức 2,9665 USD/lb vào ngày 9/3/2011,mức cao chưa từng có kể từ tháng 5/1997, và tăng gấp hơn 2 lần trong năm vừa qua do

lo ngại nhu cầu sẽ vượt cung trên thị trường thế giới, khi mà thời tiết ở Mỹ Latinh cónhiều bất ổn Nông dân ở Brazil và nhiều nước sản xuất khác có thể sẽ nỗ lực đẩy tăngsản lượng để tranh thủ lúc giá cao

Ông Illy cho rằng “chúng ta đang trong giai đoạn “bong bóng” với tất cả các hàng hoá,

mà bong bóng thì tất yếu sẽ vỡ” Ông dự báo sản lượng cà phê toàn cầu có thể tăng10% trong niên vụ tới, được khích lệ bởi giá cao trong vụ này Trong khi đó, nhu cầutiêu dùng có thể giảm khoảng 1% trong năm nay sau khi giảm 1,5% trong năm 2010

do giá cao

Ông cho biết thêm rằng Illycaffe có thể chuyển phần chi phí tăng sang người tiêu dùngtrong năm nay, sau khi đã tăng giá 10% trong năm vừa qua Việc tăng giá có thể sẽ bắtđầu từ tháng 6, tháng 7 hoặc tháng 8, khi công ty mua cà phê từ người sản xuất Càphê Brazil chiếm một nửa tổng lượng pha trộn của công ty

Trang 8

Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 5 đã tăng 5,05 US cent hay 1,9% vào lúc đóng cửaphiên giao dịch cuối tuần qua, chốt ở mức 2,7205 USD/lb tại New York, trong khirobusta cùng kỳ hạn tăng 117 USD hay 4,7% lên 2.604 USD/tấn tại London, sua khiđạt mức cao kỷ lục từ 13/3/2008 là 2.615 USD/tấn.

Biểu đồ giá cà phê ở New York

Biểu đồ giá cà phê Robusta

b/ Các sàn giao dịch CKPS về café trên thế giới

Ngày nay hợp đồng phái sinh là một kênh quản trị rủi ro và đầu cơ rất được ưa chuộng trên thế giới Hợp đồng phái sinh được phát triển cho rất nhiều sản phẩm khác nhau

Trang 9

Nông sản trong đó có cà phê là một trong những sản phẩm lâu đời nhất và hiện nay vẫn đóng vai trò to lớn trong quy mô hợp đồng của nhiều sàn giao dịch lớn trên thế giới Có rất nhiều sàn như Liffe, NYBOT, CBOT, BM&FF của Brazil, TGE của Nhật, SICOM của Singapore,….

Sàn giao dịch Liffe

Liffe là chữ viết tắt của London International Financial & Futures Exchange Được thành lập vào năm 1984 cung cấp các hợp đồng tương lai và quyền chọn kết hợp với lãi suất ngắn hạn Đến cuối năm 1996, Liffe là sàn giao dịch lớn nhất London Liffe là sàn giao dịch cà phê Robusta thuộc mảng giao dịch phái sinh của Euronext, ngoài đơn

vị thành viên Liffe tại London Euronext còn có sàn giao dịch tại Amsterdam, Brussels,Lisbon và Paris

Từ năm 2000, sau khi phát triển mạng giao dịch điện tử Liffe Connect, khối lượng giao dịch tại Liffe tăng gấp đôi Tạo cơ hội cho các thành phần được tiếp cận thị trường vào bất cứ lúc nào với tốc độ nhanh nhất Sau đó vào tháng 04/2007, Euronext lại được NYSE-New York Stock Exchange – Sở giao dịch chứng khoán New York mua lại và gần đây nhất là vào tháng 11/2003 vừa qua, NYSE Euronext lại được ICE-IntercontinentalExchange của Hoa Kỳ mua lại

Khối lượng giao dịch trung bình của cà phê trên sàn Liffe khoảng 12-13 ngàn lot/ngày.Lượng hợp đồng mở giao dịch đạt mức 140-180 ngàn lot tương đương khoảng 700-

900 ngàn tấn cà phê

Các quy định khi giao dịch trên sàn Liffe:

Giới hạn biến động giá tối thiểu 1USD/tấn

Giới hạn biến động giá tối đa Không có

Tháng giao dịch HĐPS

Ký hiệu

1 3 5 7 9 11

F H K N U X

Ngày thông báo đầu tiên Ngày đầu tiên của tháng giao dịch gần

nhấtNgày thông báo cuối cùng Ngày cuối cùng của tháng giao dịch

gần nhấtThời gian giao dịch cuối cùng 12:30 của ngày giao dịch cuối cùng

của tháng giao hàng

Trang 10

Địa điểm thanh toán bù trừ ICEU

Điều khoản về chất lượng Cà phê Robusta loại 1 được bán theo

giá của hợp đồng Các loại có chất lượng khác có thể bán với giá cao hơn hoặc giảm giá so với giá trong hợp đồng

Sàn giao dịch NYBOT

Biểu đồ: Customer Services – Contact Details sàn giao dịch NYBOT

Sàn giao dịch NYBOT là một trong những sàn giao dịch lớn và lâu đời nhất trên thế giới Tiền thân của NYBOT là sự ra đời của NYCE (The NewYork Cotton Exchange) vào năm 1870 Các hợp đồng Bông lần đầu tiên được giao dịch Năm 1882, các hợp đồng tương lai cà phê chính thức được đi vào hoạt động trên sàn này Đến năm 1977, sàn giao dịch Cà phê và Đường đổi tên thành sàn giao dịch Cà phê, Đường và Cocoa –CSCE (Coffee Sugar and Cocoa Exchange, Inc) Từ năm 1982 đến 1986, các sản phẩm quyền chọn các mặt hàng trên lần lượt được đưa vào sàn giao dịch Năm 1998, hai sàn CSCE và NYCE gộp thành sàn giao dịch NewYork Năm 2004, CSCE và NYCE chính thức hợp nhất thành sàn giao dịch NewYork (NYBOT) Đến nay,

Customer

Market services

Trang 11

NYBOT vẫn duy trì phương thức giao dịch truyền thống thông qua các tín hiệu và cử chỉ của các nhà môi giới trên sàn Giao dịch sẽ được các bên tham gia xác nhận bằng văn bản hoặc thông qua hệ thống đặt lệnh điện tử Sản phẩm của cà phê giao dịch trên NYBOT là cà phê Arabica Dự trữ khoảng trên 3,5 triệu bao khoảng 21 triệu tấn.

Có hai loại hợp đồng giao sau được giao dịch đó là: hợp đồng C và hợp đồng mini C Mỗi hợp đồng C được kí tự bởi kí hiệu “KC” tượng trưng cho 37.500 lbs (khoảng 250 bao) được chứng nhận cho sản phẩm cà phê Arabica cho một số nước trong vùng trung tâm Nam Mỹ châu Á và các nước Châu Phi Hợp đồng có giới hạn biến động giá tối thiểu là 0.05 cent/ lb ước lượng giá trị là 18.75 USD/ hợp đồng Tại mức giá 70 cent/lb một hợp đồng sẽ có mức giá cao nhất là: 26,25 USD Hợp đồng mini C có khối lượng bằng 1/3 hợp đồng C Hợp đồng mini C được thiết kế để các nhà sản xuất, bán lẻ và các nhà đầu tư có quy mô nhỏ dễ dàng tham gia thị trường Hợp đồng mini C có nhiều đặc điểm giống hợp đồng

C Chỉ khác biệt về kích thước và hình thức thanh toán Một hợp đồng mini C cho cà phê Arabica khoảng 12.500 lb giá trị khoảng 18.75 USD/ hợp đồng Tháng giao hàng của hợp đồng mini C được liên kết với tháng giao hàng của hợp đồng C cho mục đích thanh toán cuối cùng Mini C tháng 2,3,4,5,6,7 đến tháng giao hàng nếu không đóng trạng thái sẽ xảy ra giao hàng thật đối với hợp đồng C, nhưng với hợp đồng mini C kết thúc hợp đồng sẽ chỉ thanh toán khoản chênh lệch bằng tiền mặt.

Đơn vị giao dịch C: 37500 lbs (250 bao)

Ngày thông báo đầu tiên 7 ngày (trừ ngày nghỉ) trước tháng

giao dịch gần nhấtNgày thông báo cuối cùng 7 ngày (trừ ngày nghỉ) trước tháng

giao dịch gần nhấtThời gian giao dịch cuối cùng 1 ngày trước ngày thông báo cuối

Trang 12

cùngĐịa điểm thanh toán bù trừ ICUS

Điều khoản về chất lượng Sở giao dịch sử dụng loại cà phê nào

để thiết lập là loại "cơ sở " Coffees được đánh giá tốt hơn sẽ bán ở mức giá cao hơn và ngược lại

c/ Kinh nghiệm sử dụng ckps trong lĩnh vực café ở 1 số nước

 Brazil

Trong số các nước sản xuất cà phê, Brazil là nước duy nhất thiết lập thành công cho mình 1 sở giao dịch hợp đồng tương lai Sở giao dịch Bolsa de Mercadorias & Futuros(BM&F) được thành lập năm 1985 Nhờ hệ thống Globex, sở được kết nối với những sàn giao dịch ở Mỹ; điều này giúp cho các nhà đầu tư nước ngoài phòng vệ việc mua bán cà phê ở Brazil thực có thể sử dụng hợp đồng tương lai của BM&F để phòng vệ,

do đó tránh được rủi ro cơ sở so với khi phòng vệ trên các sàn hàng hóa khác Khối lượng hợp đồng tương lai (contract size) là 100 bao 60kg giúp cho hợp đồng dễ dàng tiếp cận với những nông dân sản xuất Hiện nay, trên sàn BM&F, những hợp đồng tương lai mini với khối lượng 10 bao (60kg/bao) đã được cung cấp nhằm giúp những người trồng cà phê nhỏ tham gia phòng vệ

Sở có quy định riêng về chất lượng cà phê, ngày giao hàng và đồng USD được sử dụng để yết giá hợp đồng tương lai Hợp đồng quyền chọn trên hợp đồng tương lai cũng được giao dịch Với quyền chọn bán, người giữ quyền có thể quyết định bán và người bán quyền phải mua trong vị thế đối ứng của hợp đồng tương lai Người mua quyền chọn mua có thể thực hiện mua cà phê và người bán quyền chọn bán phải bán hợp đồng tương lai

Được thiết kế dễ tiếp cận với nông dấn sản xuất, hợp đồng tương lai hay quyền chọn được giao dịch trực tiếp với những người dân trồng cà phê Liên kết với sàn giao dịch trên thế giới, đây cũng là địa điểm giao dịch để phòng vệ rủi ro hiệu quả cho các hãng rang xay sử dụng nguyên liệu đầu vào là cà phê Arabica Năm 2008, gần 80 triệu bao

cà phê được giao dịch qua 838.090 hợp đồng, 5831 hợp đồng tương lai đã được giao dịch Năm 2009, 596.435 hợp đồng tương lai và 5155 hợp đồng quyền chọn cà phê Arabica được giao dịch trên sàn Nhà đầu tư giao kết 640.754 hợp đồng tương lai và

17453 hợp đồng quyền chọn vào năm 2010

 Mexico

Vào những năm 1992-1993, Aserca (Apoyosy Servicios a la commercialization

Agropecian) 1 tổ chức thuộc chính phủ, thực hiện cung cấp các hợp đồng quyền chọn mua và bán cho hàng hóa Năm 1999, hợp đồng quyền chọn bán cà phê được cung cấp Theo đó nông dân sẽ mua hợp đồng quyền chọn bán từ các cơ sở địa phương của Aserca và sau đó tổ chức này sẽ thực hiện mua bán hợp đồng quyền chọn trên sàn cho

Trang 13

phù hợp Nguyên tắc cảu giao dịch này là hiểu được là Aserca sẽ tập hợp rủi ro của cácnông dân và thực hiện phòng vệ.

Nhưng sau một số vấn đề, người dân trồng cà phê từ chối tham gia chương trình của chính phủ về thực hiện tự phòng vệ Hơn 60 nông dân trồng cà phê nhỏ gần thị trấn Cuetzalan đã dồn tiền mua hợp đồng quyền chọn để phòng vệ cho việc sản xuất của

họ, khoảng 6900 (60kg) cà phê 1 năm Khi phòng vệ, những hợp tác xã xuất khẩu cà phê chế biến trực tiếp với Nhật Bản, Châu Âu, Mỹ tự dự đoán ố lượng và chốt mức giámong muốn để sau đó bán ra trên sàn ICE

Khi vụ mùa qua đi, nếu họ vẫn còn hàng tồn kho hoặc mua quá nhiều hơn dự tính, nông dân có thể mua quyền chọn bán trong trường hợp dự báo giá giảm Để tham gia vào thị trường bị khống chế bởi các quỹ đầu tư lớn, những nhà đầu cơ và nhà nhập khẩu quốc gia, nông dân đã được đào tạo bởi 1 công ty chuyên để về chứng khoán pháisinh GAMAA trong hơn 1 năm Khi đó, công ty sẽ tham gia thị trường thay măt các hợp tác xã để lấy phí Ngoài ra còn tham gia phòng vệ sự giảm giá của đồng Peso Mexico, cũng như kiếm lời bằng đồng USD để trả phí bằng tiền Peso Với sự giúp đỡ của GAMAA, hợp tác xã đã tránh được những khủng hoảng giảm giá năm 2009 Họ

đã phòng vệ ở mức 150 USD/100 Ib và an toàn khi giảm xuống 115USD

2/ Việt Nam

a/Tổng quan về thị trường cà phê Việt Nam

Cà phê Việt Nam trên thế giới:

Năm 1997, Việt Nam vượt qua Indonesia để trở thành quốc gia xuất khẩu cà phê đứngthứ ba thế giới Vào năm 2000, với 734.000 tấn cà phê xuất khẩu, Việt Nam tiếp tụcvượt qua Colombia để chắc chân ở vị trí thứ hai thế giới Vị trí này được duy trì kể từ

(số liệu năm 2013)

Tình hình tiêu thụ cà phê trong nước:

Thị trường bán lẻ cà phê Việt Nam đã đạt 127,33 triệu USD trong năm 2008 và tănglên khoảng 287,34 triệu USD năm 2012 Mintel dự đoán sẽ tăng đến 573,75 triệu USDvào năm 2016

Thị trường cà phê Việt Nam được chia thành 2 phân khúc rõ ràng Cà phê rang xay (càphê phin) chiếm khoảng 2/3 lượng cà phê được tiêu thụ; còn lại là cà phê hòa tan.Theo nghiên cứu của Học viện Marketing Ứng dụng I.A.M về thói quen sử dụng càphê, 65% người tiêu dùng có sử dụng cà phê Việt Nam uống cà phê 7 lần/tuần,nghiêng về nam giới (59%) Riêng cà phê hòa tan có 21% người tiêu dùng sử dụng càphê hòa tan từ 3 đến 4 lần trong tuần, nghiêng về nhóm người tiêu dùng là nữ (52%)

Trang 14

Sức tiêu thụ cà phê Việt Nam còn khá thấp Việt Nam sử dụng chừng 5% cà phê thô đểchế biến, trong khi đó tỷ lệ này của Brazil là 50% Việt Nam có 5 nhãn hiệu cà phê hòatan, Brazil có 20 nhãn hiệu Về cà phê rang xay, thì Việt Nam có 20 nhãn hiệu, trongkhi đó số lượng của Brazil là 3.000 nhãn hiệu.

Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu cà phê nhân ở Việt Nam

Về xuất khẩu:

Doanh nghiệp xuất khẩu cà phê

Việt Nam có 153 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cà phê, trong khi chỉ có 20 công tynước ngoài thu mua và cung cấp cho 8 nhà rang xay lớn của thế giới

Các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê FDI

Niên vụ 2011- 2012: tổng số sản lượng thu mua của các doanh nghiệp FDI bằng 45%sản lượng của cả niên vụ, trong đó hàng năm lượng thu mua của các doanh nghiệp FDIthu như Nestlé chiếm 15% (khoảng 250.000 tấn), Nedcoffee chiếm 9% (khoảng150.000 tấn) Ở Gia Lai, chỉ riêng chi nhánh Công ty TNHH Louis DreyfusCommodities đã chiếm hơn 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả tỉnh trongnăm 2012

Các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhân trong nước

Năm 2010: tập đoàn Intimex chỉ xếp vị thứ 2 trong các doanh nghiệp xuất khẩu cà phênhân lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch vào khoảng 142.134 tấn (13.59% kimngạch xuất khẩu cà phê cả nước), đứng vị trí đầu tiên là Tổng công ty cà phê Việt Namvới kim ngạch 177.902 tấn (16.46% kim ngạch xuất khẩu cả nước) và tập đoàn TháiHòa xếp vị trí thứ 2 với kim ngạch xuất khẩu là 82.951 tấn (7.93% kim ngạch xuấtkhẩu cà phê cả nước)

Nhưng đến niên vụ 2011-2012, Tập đoàn Intimex xếp vị trí đứng đầu trong các doanhnghiệp xuất khẩu cà phê với kim ngạch xuất khẩu là 360.000 tấn (chiếm 21% kimngạch xuất khẩu cả nước), Tổng công ty Tín Nghĩa Đồng Nai xuất khẩu khoảng127.000 tấn xếp vị trí thứ 5 (chiếm 7% kim ngạch xuất khẩu cả nước)

Chỉ trong vòng 2 năm từ năm 2010 đến 2012 trong số 153 doanh nghiệp xuất khẩu càphê hiện nay, chỉ 30 doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, có lượng hàng xuất khẩu hàngnăm tương đối lớn và ổn định; còn lại đều là các doanh nghiệp thương mại, không cóchân hàng dự trữ, nên thua lỗ liên miên Ngoài nguyên nhân những doanh nghiệp xuấtkhẩu có vốn điều lệ nhỏ không cạnh tranh thu mua cà phê được với các doanh nghiệpFDI thì còn có các nguyên nhân khác từ chính việc điều hành, quản lý nguồn vốnkhông chuyên nghiệp của các doanh nghiệp gây ra Điển hình là tình trạng thua lỗ của

2 công ty là Tổng công ty cà phê Việt Nam và Tập đoàn Thái Hòa

Về xuất khẩu cà phê rang xay và hòa tan:

Theo số liệu của Bộ nông nghiệp Hoa Kì (USDA) lượng cà phê hòa tan xuất khẩu củaViệt Nam niên vụ 2011-2012 là 21.600 tấn

Năm 2012: Trung Nguyên doanh thu từ việc xuất khẩu cà phê sang thị trường TrungQuốc là 50 triệu đô la

Doanh thu xuất khẩu cà phê hòa tan của Vinacafé Biên Hòa chiếm 8-10% doanh thuhằng năm chủ yếu tập trung ở 2 thị trường Mỹ chiếm 85% thị phần xuất khẩu và cònHồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm 15%

Ngày đăng: 17/11/2017, 22:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w