Tuy nhiên việc áp dụng Internet lại không hề đơn giản đối với các doanh nghiệp Việt Nam, vì Việt Nam là đất nước đang phát triển, những tiến bộ CNTT đang còn đi sau nhiều nước, cũng là v
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
ĐỀ TÀI:
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC
ÁP DỤNG INTERNET TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Trang 2Nhận xét của Giáo viên:
Trang 3
Lời mở đầu:
ừ thủa khai thiên lập địa, con người đã là những sinh vật cần cù chăm chỉ lao động để nuôi sống chính mình, sức người được coi
là nguồn tài nguyên không thể thay thế Nhưng để tồn tại, chúng
ta phải phát triển, từ đó mà các tiến bộ khoa học lần lượt ra đời, các máy móc trang thiết bị ngày càng được sử dụng rộng rãi, nhất là trong các doanh nghiệp thì việc áp dụng công nghệ vô cùng quan trọng Và từ khi internet ra đời thì đó lại là công cụ hiệu quả vô cùng để doanh nghiệp tăng hiệu quả làm việc và tiết kiệm chi phí Tuy nhiên việc áp dụng Internet lại không hề đơn giản đối với các doanh nghiệp Việt Nam, vì Việt Nam là đất nước đang phát triển, những tiến bộ CNTT đang còn đi sau nhiều nước, cũng là vì cơ chế mỗi doanh nghiệp một kiểu, tầm nhìn của doanh nghiệp chưa đủ xa để đồng bộ hóa CNTT cho toàn bộ hệ thống kinh doanh của mình Bài tiểu luận này sẽ cung cấp những thông tin, số liệu, nhận định về các yếu tố xoay quanh việc áp dụng Internet cũng như CNTT trong các doanh nghiệp hiện nay Mặc dù nhóm chúng
em đã cố gắng làm hết sức nhưng do kiến thức chuyên môn còn hạn chế, thời gian nghiên cứu không dài nên bài tiểu luận còn rất nhiều thiếu sót, chúng em mong thầy góp ý để chúng em có thể bù lấp vào những thiếu sót của mình để có bài tiểu luận hoàn thiện hơn.
T
Chúng em xin cảm ơn sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của thầy!
Trang 44 Nguồn lực dữ liệu: (Dữ liệu và cơ sở kiến thức) 27
5 Nguồn lực mạng: (Phương thức truyền thông và hỗ trợ mạng) 29 III Tính hiệu quả của việc áp dụng mô hình chuẩn Hệ thống thông tin cho các doanh nghiệp: 32
1 Hiệu quả của việc áp dụng mô hình chuẩn HTTT trong các doanh nghiệp Việt Nam 32
2 Những hạn chế về việc áp dụng mô hình HTTT chuẩn và
hướng khắc phục 39
Bảng phân công công việc: 40
Trang 5I Hiện trạng ứng dụng Hệ thống thông tin của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay:
1 Tình hình chung về việc ứng dụng HTTT của các doanh nghiệp:
a Thành tựu:
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và Internet, việc ứngdụng các thành tựu nghiên cứu của công nghệ thông tin vào hoạt động trong doanhnghiệp đã đem lại không ít những thành công và hiệu quả to lớn So sánh với cácngành nghề khác thì cũng thấy rõ ngành công nghệ thông tin nằm ở vị trí thứ 5trong những ngành phát triển ở Việt Nam với tỉ lệ 10%
Việc dần thay thế, tự động hóa, vi tính hóa các thủ tục giấy tờ văn bản theo cáchlàm việc hiện hành qua đó sẽ tạo ra phong cách lãnh đạo mới, các cách thức mớitrong việc đưa ra các quyết định mang tính chiến lược đồng thời hỗ trợ các cán bộ,chuyên viên hoàn thành tốt công việc và nhiệm vụ của mình Việc cải cách hiệuquả công tác quản lý đồng nghĩa phục vụ các tổ chức và doanh nghiệp tốt hơn, gópphần đẩy mạnh công cuộc hiện đại hóa và phát triển đất nước
Trang 6Viện CNTT luôn là nơi đầu tiên đưa các công nghệ mới trong lĩnh vực tin học vàoViệt Nam Đó là kỹ thuật vi xử lý cùng với việc phát triển ngành vi tin học, tiếptheo là công nghệ nhận dạng chữ viết, công nghệ thiết bị điều khiển khả trình PLC,công nghệ mạng internet, công nghệ hệ thống nhúng, công nghệ tính toán lưới,công nghệ mạng không dây băng rộng Ngày nay, Viện Công nghệ thông tin là cơ
sở nghiên cứu và đào tạo nghiên cứu sinh hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vựcCNTT và truyền thông Hiện tại Viện có16 phòng chuyên môn và một Phòng thínghiệm trọng điểm Quốc gia về Công nghệ mạng và đa phương tiện với hơn 150cán bộ trong đó có 34 tiến sỹ với gần 20 GS, PGS Viện CNTT đóng vai trò chủ trìtạp chí Tin học và Điều khiển, một tạp chí khoa học chuyên ngành do ViệnHLKHCNVN xuất bản Viện đã khởi xướng từ năm 1997 và liên tục cùng cáctrường đại học trong nước duy trì tổ chức Hội thảo quốc gia “Một số vấn đề chọnlọc của CNTT & TT”, một diễn đàn lớn thường niên của cộng đồng công nghệthông tin
Một số thành tựu nổi bật :
Kỹ thuật vi xử lý và ứng dụng:
Trong giai đoạn đầu thành lập Viện Công nghệ thông tin là nơi đầu tiên đưa kỹthuật vi xử lý vào Việt Nam, đóng góp to lớn trong việc ứng dụng và phổ cập rộngrãi vi tin học trên khắp cả nước Các máy tính VT8x đầu tiên trong nước do Việnchế tạo đã thử nghiệm ứng dụng quản lý thành công ở xí nghiệp may Sinco, xínghiệp điện tử Tân Bình, nhà máy chế tạo công cụ số 1 Hà Nội Viện đã triểnkhai ứng dụng hiệu quả kỹ thuật vi xử lý tại Nhà máy xi măng Hoàng Thạch, trong điều độ lưới điện miền Bắc, giám sát nhiệt độ độ ẩm trong Lăng Bác, trong một số lĩnh vực an ninh –quốc phòng Đặc biệt chuỗi sản phẩm các máy lập và giải
mã tự động LGM-1 do tập thể cán bộ Viện thiết kế chế tạo đã được Giải thưởngNhà nước về KHCN năm 2007
Kết nối Internet đầu tiên ở Việt Nam:
Năm 1991 Viện tiến hành kết nối thử nghiệm Internet với Trường đại họcKarlshure của Đức và đến năm 1992, nhóm cán bộ của Viện tại Phòng Kỹ thuậttính toán đã nghiên cứu tạo account và thử nghiệm chuyển email nửa thủ côngbằng quay số điện thoại kết nối Viện CNTT(Hà Nội) và Trung tâm tính toán(CCU) của Đại học Quốc gia Úc nơi có điểm truy cập vào Internet Viện khi đóxây dựng hệ thống máy chủ email theo tiêu chuẩn Internet để có thể kết nối những
Trang 7người sử dụng và qua đó đã tiến hành thử nghiệm kết nối Internet đầu tiên ở Việtnam.
Các hệ thống thông tin:
Từ năm 1989, Viện CNTT là đối tác chính của Bộ Tài chính với việc tham giatriển khai nhiều hệ thống thông tin cho Tổng cục Thuế, Kho bạc Nhà nước, Ngânsách Nhà nước Các hệ thống thông tin trong lĩnh vực tài chính tiêu biểu được Việnxây dựng gần đây bao gồm: Hệ “Quản lý thuế Thu nhập cá nhân”, các hệ “CSDLchủ đề thu chi Ngân sách nhà nước”, “CSDL danh mục dùng chung ngành tàichính” và “Quản lý NSNN phiên bản 7.0” đã được triển khai hiệu quả tại Bộ Tàichính, 63 sở Tài chính của các tỉnh/thành và các phòng Tài chính quận, huyện trêntoàn quốc
Hệ thông tin địa lý trợ giúp quản lý các hoạt động dân số PopMap được các cán bộPhòng lập trình và Phòng kỹ thuật tính toán của Viện xây dựng và phát triển cácphiên bản tới năm 1999 Bộ chương trình được áp dụng ở hơn 100 nước, ở nhiều
dự án của Tổng cục thống kê, Bộ Y tế, Bộ Kế hoạch - Đầu tư và của các tổ chứcquốc tế ở Việt Nam Nhiều hệ thông tin địa lý và kinh tế xã hội được tiếp tục pháttriển ở Viện với công nghệ mới trên môi trường mạng Intranet/Internet cùng vớiCSDL đa phương tiện (âm thanh, hình ảnh, bản đồ…)
Nhận dạng và xử lý ảnh
Trong số các sản phẩm trong lĩnh vực nhận dạng và xử lý ảnh của Viện CNTT, nổibật là bộ chương trình nhận dạng chữ Việt in VnDOCR Nhiều giải thưởng đãđược tặng cho bộ chương trình này trong các năm 1998,1999 và đặc biệt đoạt giảinhất lĩnh vực CNTT giải thưởng sáng tạo KHCN Việt Nam năm 1999(VIFOTECH) của Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam
Hướng phát triển công nghệ nền cho hệ dịch tiếng nói hai chiều Việt –Anh, Anh –Việt dựa trên nhận dạng tiếng Việt tự động và tổng hợp tiếng nói tiếng Việt với môhình dịch máy thống kê đã được nhóm cán bộ của Phòng nhận dạng và công nghệtri thức nghiên cứu triển khai trên các thiết bị smartphone với hệ điều hànhAndroid Từ kết quả ban đầu cho lĩnh vực giao tiếp, hệ thống cho thấy có khả năng
mở rộng cho nhiều ứng dụng khác nhau trong việc phối hợp của nhận dạng và tổnghợp tiếng Việt
Các hệ thống tự động điều khiển:
Trang 8Dấu ấn tiên phong của Viện CNTT đưa máy tính công nghiệp vào tự động hoá sảnxuất được đánh dấu bằng thành công xây dựng hệ thống đo xa và truyền dữ liệucác tham số Tuốc bin - Máy phát nhà máy thủy điện Hòa Bình và chế tạo thànhcông hệ điều khiển số tháp chưng cất tinh dầu xuất khẩu tại Xí nghiệp tinh dầuthuộc Trung tâm KHTN&CNQG vào những năm 1992-1993 Tiếp theo, công nghệnhúng được phát triển mạnh ở Viện Nhiều thiết bị nhúng được Phòng Công nghệ
Tự động hóa thiết kế chế tạo cho các ứng dụng công nghiệp và đời sống Nổi bật là
hệ đo mực nước từ xa qua mạng Ethernet, hệ thống kiểm soát xâm thực AC200(Cúp vàng Techmart 2005 và giải thưởng Quả cầu vàng 2005), thiết bị đo nhiệt
độ, độ ẩm và điểm sương THDP-1 từ xa (đạt giải thưởng Grand Prize trong cuộcthi quốc tế về thiết kế chip PSOC năm 2004), hệ đo thông số môi trường khí MDA104S trên nền DSP và PC104
Công nghệ mạng và ứng dụng :
Mạng VAREnet (Vietnam Academic Research and Education Network) với giaothức TCP/IP được xây dựng từ năm 1993 tại Viện CNTT nhằm phục vụ rộng rãicộng đồng nghiên cứu giáo dục Trong những năm 1995-1997, khi Hoa Kỳ bỏ cấmvận, VAREnet của Viện trở thành mạng thông tin máy tính diện rộng sử dụng côngnghệ Internet với hàng ngàn người dùng và là nhân tố quan trọng thúc đẩy ViệtNam sử dụng công cụ của xã hội thông tin là Internet Những kết quả nghiên cứutriển khai này đã tạo cơ sở để thành lập công ty NetNam trực thuộc Viện CNTT,một trong bốn nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) đầu tiên ở Việt Nam
Trong hướng mạng viễn thông băng rộng, tốc độ cao Viện CNTT lần đầu tiêntrong nước nghiên cứu ứng dụng Hệ thống dịch vụ đa phương tiện và truyền sốliệu của hệ sát SCADA trên nền mạng WiMAX Hệ thống thực hiện giám sát hìnhảnh, âm thanh trên nền công nghệ VoIP, camera IP, thực hiện dịch vụ thông tin vịtrí LBS và giám sát truyền số liệu đo môi trường sản xuất Hiện tại hệ thống đangđược thử nghiệm liên tục trong vùng phủ sóng giới hạn tại Tp Buôn MaThuột
Trang 9b Lợi ích của việc áp dụng công nghệ thông tin:
-Giải pháp tối ưu cho công tác điều hành tác nghiệp, quản lý thông tin
Viện Công nghệ Viễn thông cung cấp giải pháp Hệ thống Quản lý văn bản vàthông tin nhằm giúp các cơ quan, doanh nghiệp và tổ chức xã hội có thể soạn thảo,nhận và gửi văn bản một cách dễ dàng nhanh chóng nhằm tăng hiệu suất công việctrong các hoạt động quản lý hồ sơ, văn bản của mình Thêm vào đó, hệ thống nàygiúp tạo một môi trường làm việc nhất quán, đơn giản, minh bạch cho phép các cơquan, tổ chức, doanh nghiệp giải quyết công việc một cách hiệu quả hơn
-Công cụ hiện đại tăng cường năng lực phục vụ tổ chức cho các doanh nghiệp
Việc hướng đến mục đích tin học hóa các nghiệp vụ xử lý hồ sơ văn bản, giảmthiểu thời gian thụ lý hồ sơ, cung cấp công cụ hiện đại phục vụ khai thác và cậpnhật thông tin, nâng cao năng lực quản lý
Hệ thống đóng vai trò là một công cụ hỗ trợ cán bộ, chuyên viên trong quá trìnhthụ lý hồ sơ nhằm nâng cao năng suất, giảm khối lượng công việc thủ công, cungcấp thông tin chính xác kịp thời, bất cứ lúc nào Ngoài ra, hệ thống giúp tạo điềukiện cho lãnh đạo các đơn vị quản lý và giám sát tình hình xử lý hồ sơ của đơn vị,
Trang 10của từng phòng ban chuyên môn và của từng cán bộ nhân viên thuộc đơn vị Qua
đó có thể đưa ra các quyết định hợp lý và kịp thời nhằm phục vụ tốt hơn cho cácnhà đầu tư và doanh nghiệp
c Hạn chế
- Đầu tư chi phí quá nghèo nàn
Ban chỉ đạo công nghệ thông tin quốc gia đã làm một cuộc khảo sát việc ứngdụng công nghệ thông tin tại 217 doanh nghiệp và những con số có được đãkhiến mọi người không khỏi bất ngờ hiện các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉđầu tư khoảng chi phí nhỏ 0,05-0,08% doanh thu cho công nghệ thông tin, trongkhi ở Mỹ con số trung bình là 1,5% Chính sách đầu tư công nghệ thông tin củadoanh nghiệp còn nhiều bất cập đa phần doanh nghiệp chỉ đầu tư một lần cho
hệ thống thông tin và nâng cấp các ứng dụng, do đó đầu tư đã thấp mà hiệu quảcủa nó còn thấp hơn
- Trình độ lao động không cao, chưa đủ để quản lí và khai thác việc áp dụng HTTT
Cuộc khảo sát còn cho việc nhanh chóng đưa ứng dụng công nghệ thông tin vàoquá trình tự động hóa trong sản xuất kinh doanh thấy đến thời điểm này vẫn cónhững doanh nghiệp chưa có một ứng dụng công nghệ thông tin nào Khốidoanh nghiệp nhà nước còn 10%, trong khi các thành phần doanh nghiệp khácthì có đến 60% chưa đưa công nghệ thông tin vào công việc của mình 40%doanh nghiệp chưa dám đầu tư mạnh vào công nghệ thông tin vì không đủ nhânviên có trình độ để quản lý và khai thác
- Doanh nghiệp không quan tâm, thờ ơ về việc đầu tư vào HTTT
Dù hạ tầng công nghệ có thừa nhưng hơn 90% doanh nghiệp Việt Nam thờ ơ,thậm chí không quan tâm đến việc xây dựng các website để tự quảng bá mìnhtrên internet Đây là thông tin được ông Nguyễn Chí Thanh ( Viện phát triểndoanh nghiệp) đưa ra tại hội thảo “ Hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng CNTT phục
vụ hội nhập và phát triển” tổ chức tại Hà Nội sáng ngày 23/3 Ông Thanh chobiết cuộc điều tra nhằm đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT ở Việt Nam, tiếnhành trên 2.233 doanh nghiệp ở 5 thành phố lớn, cho thấy dù có điều kiệnnhưng việc đầu tư của các DN cho CNTT hầu như không có
Trang 11Việc đầu tư chưa được chú trọng 91,9% doanh nghiệp không quan tâm tới việcthiết kế, xây dựng website để quảng bá, giới thiệu về chính mình Ứng dụng cácphần mềm trong quản lý, nâng cao hiệu quả điều hành sản xuất cũng khôngđược chú trọng Ngay tại những thành phố lớn như TPHCM cũng chỉ chứa đầy30% doanh nghiệp xây dựng website của mình Con số này ở các thành phố lớnkhác như: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ lần lượt là 31,6% ; 22,6%;11,3%; 14,1% Điều đáng ngạc nhiên là có tới 70% doanh nghiệp hầu nhưkhông sử dụng dịch vụ website mặc dù hạ tầng và công nghệ có sẵn hiện vẫncòn 33,9% doanh nghiệp tại 5 thành phố nói trên vẫn sử dụng dial-up để kết nốiInternet Những trường hợp này ở các thành phố lớn như Đà Nẵng, Cần Thơ nơi
mà ADSL đã được rất nhiều họ gia đình sử dụng
Một thực tế đáng báo động là dù trong thời buổi kinh tế thị trường ngày càngcạnh tranh gay gắt, sự phát triển của CNTT gia tăng đến chóng mặt nhưng việcứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp tại 5 thành phố được khảosát gần như bằng con số không Tới 97,3% doanh nghiệp cho biết không ứngdụng thương mại điện tử nào trong hoạt động và 2,7% doanh nghiệp có ứngdụng đều là những doanh nghiệp lớn và có hoạt động trong lĩnh vực CNTT
- Chưa khai thác được lợi ích của việc áp dụng HTTT
Các doanh nghiệp tuy đã có nhận thức bước đầu về tầm quan trọng của CNTTnhưng số lượng các doanh nghiệp có thể khai thác được sâu khả năng củaCNTT mới chỉ dừng lại ở con số ít ỏi Một doanh nghiệp phát biểu:” Nhiều nơi
đã dùng máy tính làm các loại văn bản từ khá lâu, nhưng máy tính có thể ứngdụng được vào các công việc gì nữa và làm như thế nào để thật sự hiệu quả thì
có lẽ đến 80% vẫn rất lúng túng” Không có gì ngạc nhiên khi chương trìnhquan trọng nhất được sử dụng rộng rãi nhất trong các doanh nghiệp là quản lýtài chính, kế toán Khoảng 88% số doanh nghiệp áp dụng CNTT có sử dụngphần mềm kế toán, tài chính, nhưng ngay cả đối với các doanh nghiệp đã ứngdụng với CNTT chỉ có khoảng 20% các phần mềm thỏa mãn các yêu cầu của
họ
- Chưa có thiết kế tổng thể về HTTT
Doanh nghiệp buộc phải thiết kế lại hệ thống tổng thể vì chỉ có như vậy mới ápdụng được HTTT trong hoạt động của các doanh nghiệp mới có hiệu quả Thựctrạng của nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là đã tin học hóa một số khâutrong hoạt động sản xuất kinh doanh theo cách áp dụng từng phần mà chưa cóthiết kế tổng thể Ví dụ trước đây khi mua những chiếc máy tính đầu tiên người
Trang 12ta có thể chưa nghĩ đến việc có một hệ thống phần mềm kế toán trên đó Khitrang bị phần mềm kế toán người ta có thể chưa quan tâm đến việc phần mềmnày phải kết nối với phần mềm quản lý nhân sự, phần mềm quản lý kinhdoanh…Điều này dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong hệ thống điều này một phần
do tầm nhìn, phần do kinh phí và quan trọng là khả năng nhà cung cấp giảipháp Nhưng đến một thời điểm nào đó để các doanh nghiệp có thể đứng vững
và cạnh tranh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới, phải đầu tư lại HTTTtrong doanh nghiệp Việc này thường không mang theo hiện tượng” đập bỏ cáicũ”, “ xây dựng cái mới” Rât nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ứng dụng CNTTđều gặp 3 thách thức: đó là nhận thức nhân lực và khả năng cung ứng các sảnphẩm và dịch vụ CNTT tốt cho doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế Sự quantâm của các doanh nghiệp đối với phần mềm quản lý có nhiều mức độ khácnhau Các doanh nghiệp trang bị phần mềm kế toán đến lần thứ 2 trong vònghơn 10 năm qua Đây là số ít các doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư trang bị phầnmềm tốt nhưng khả năng cung cấp của thị trường chưa đáp ứng đủ Yêu cầu củaphần mềm kế toán trong những trường hợp như vậy không chỉ là “kế toán “theo nghĩa đáp ứng yêu cầu về chế độ kế toán do Bộ Tài Chính ban hành màphần lớn là các yêu cầu về thông tin quản trị kinh doanh Những phần mềm kếtoán không được ứng dụng được ở đây cũng chính là những phần mềm không
có tính động, tính mở và do đó không thích nghi được với đặc thù quản lý củadoanh nghiệp
Tiến trình áp dụng phần mềm kế toán ở các doanh nghiệp thường diễn ra chậmchạp từ vài tháng đến hàng năm trời Nhiều doanh nghiệp có chủ trương trang
bị phần mềm nhưng quá trình tìm kiếm đối tác hoặc lên kế hoạch triển khai hay
bị trì hoãn vì nhiều lý do khác nhau” quan trọng hơn” Tiến trình trang bị hệthống tổng thể như RP còn chậm chạp hơn nhiều Các doanh nghiệp vừa và lớnhiện nay quan tâm rất nhiều đến hệ thống RP, nhưng khả năng đánh giá sảnphẩm được áp dụng của việc áp dụng PR còn mơ hồ và chũng chưa có nhiềudoanh nghiệp áp dụng thành công RP để tham khảo sự hiểu biết không rõ ràng
về sản phẩm cùng với đầu tư lớn cho dự án buộc doanh nghiệp phải cân nhắc kỹtrước khi quyết định
- Chịu đầu tư nhưng không có kiến thức
Nhiều doanh nghiệp trong thời gian qua đã tích cực đầu tư trang bị nhiều phầnmềm đơn 1 phục vụ cho các mục đích quản 1 khác nhau như: Kế toán, quản 1bán hàng, quản 1 kinh doanh, phần mềm điều hành thông tin nội bộ, quản 1nhân sự, phần mềm lập kế hoạch sản xuất…các phần mềm này phát huy tácdụng lớn nhưng khi gặp phải vấn để mở rộng hệ thống thì doanh nghiệp lại lúng
Trang 13túng không biết kết nối chúng với nhau như thế nào để có thể dùng chung thôngtin, giảm công sức nhập dữ liệu đầu vào, và có thông tin đầu ra tổng hợp hơn.
Rất nhiều doanh nghiệp biết được nghĩa của phần mềm kế toán và cả phần mềmquản 1 tổng thể nhưng lại không biết được cách đánh giá phần mềm, không cókhái niệm về việc áp dụng phần mềm như thế nào, tiến hành cụ thể ra sao Vìvậy, họ thuê đơn vị tư vấn hoặc là dựa hoàn toàn vào nhà cung cấp giải phápphần mềm, khi đó nhà cung cấp phần mềm cũng đồng thời là nhà tư vấn vềnhững thay đổi cần có của doanh nghiệp để áp dụng phần mềm trong trườnghợp này rất phổ biến ở Việt Nam
- Kinh phí đầu tư hạn chế
Đối với các doanh nghiệp nhỏ dưới 20 nhân viên, do công việc quản 1 còn đơngiản, vẫn có thể thực hiện dựa vào kinh nghiệm và “trí nhớ” cộng với kinh phícòn hạn chế nên các doanh nghiệp này thường trang bị phần mềm kế toán giá trịkhông tới 1000USD Các doanh nghiệp loại này có rất nhiều lựa chọn từ cácnhà cung cấp phầm mềm nội địa Và cũng có rất nhiều doanh nghiệp quy môvừa đã trải qua việc áp dụng phần mềm nhiều lần không thành công nên họquan tâm thực sự đến chất lượng phần mềm Các doanh nghiệp loại này sẵnsàng đầu tư vài ngàn USD cho phần mềm kế toán hay vài chục ngàn USD để cóđược 1 hệ thống RP “ứng dụng được” Số các doanh nghiệp sẵn sàng đầu tưcon số vài trăm ngàn USD hoặc hàng triệu USD cho phần mềm quản 1 hiện nay
ở Việt Nam là rất ít Các tổng công ty là các khách hàng tiềm năng cho các dự
án phần mềm có quy mô này
- Sử dụng phần mềm sơ sài
Về ứng dụng phần mềm, số lượng phần mềm chuyên dùng chiếm tới 79,2%, trong
đó đa số là các phần mềm kế toán, có khoảng 60% doanh nghiệp sử dụng phầnmềm kế toán Thị trường phần mềm kế toán dường như rất đa dạng khi Top 10phần mềm kế toán thông dụng nhất cũng chỉ chiếm 35 % thị phần một công trìnhkhảo sát trên 200 doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam về việc sử dụng các phầnmềm kế toán cho ta thấy tỉ lệ sau:
Mua phần mềm có sẵn chiếm 48%
Thuê các công ty phần mềm viết chiếm 24%
Tự doanh nghiệp viết phần mềm chiếm 21%
Trang 14 Còn lại là 7% các doanh nghiệp ko sử dụng phần mềm kế toán.
Thực tế hiện nay cho thấy, tình trạng sử dụng phần mềm ở các doanh nghiệp cònrất sơ khai, ngoài phần mềm kế toán, các phần mềm sử dụng phổ biến nhất là cácphần mềm văn phòng của Microsoft, chiếm tỷ lệ 19,7%, sau đó là ứng dụngInternet cơ bản như lướt web hay thư điện tử Đa số các doanh ngiệp vẫn tỏ ralưỡng lự khi đầu tư vào các phần mềm quản lý Phần mềm quản trị nguồn lựcdoanh nghiệp ( ERP) chỉ chiếm 1,1%, trong đó ngành sản xuất đứng đầu trong ứngdụng ERP Các doanh nghiệp nhỏ cảm thấy hài lòng vơi skieeur quản lý thủ cônghiện nay và chưa tính toán thấu đáo về khả năng đầu tư vào gói phần mềm quản lý
Bên cạnh việc thiếu thông tin về lợi ích của ứng dụng tin học và nhận thức chưacao đã dẫn đến việc các doanh nghiệp chưa hoặc không đầu tư phù hợp cho lĩnhvực này Điều này khiến doanh nghiệp trở nên thiệt thòi
Hiện tại việc áp dụng tin học trong quản lý tài chính kế toán đã bao quát hầu hếtcác hoạt động nghiệp vụ chính, giúp giảm nhẹ công việc của cán bộ nghiệp vụ,tăng khối lượng công việc hoàn thành, tạo thuận lợi cho hoạt động tác nghiệp đãphát huy hiệu quả tốt tuy nhiên đa phần các ứng dụng trong doanh nghiệp hiện nayđều triển khai theo mô hình cục bộ, xử lý dữ liệu phân tán
2 Nguyên nhân
Việc triển khai các hệ thống quản lý tài chính kế toán phụ thuộc nhiều vàoviệc cải tiến các quy trình nghiệp vụ, trong khi đó các quy trình nghiệp vụchưa được chuẩn hóa và thiếu sự liên kết giữa các lĩnh vực khác nhau vớinhau, do việc áp dụng tin học phải phân nhỏ theo lĩnh vực, do vậy mức độđáp ứng đối với yếu cầu quản lý của ứng dụng chưa cao
Giữa việc hoạch định chính sáchvà xây dựng các mô hình áp dụng tin họcchưa đồng bộ được với nhau, đặc biệt thiếu những quy hoạch, định hướng cụthể cho từng lĩnh vực quản lý
Hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu của quản lý và chưa được quantâm đầu tư đồng bộ
Đội ngũ cán bộ phục vụ trực tiếp các công tác CNTT còn rất thiếu, hầu hết
là cán bộ kiêm nhiệm hơn nữa tổ chức đội ngũ này chưa được quan tâmđúng mức nên hiệu quả triển khai chưa cao
Khi doanh nghiệp tăng trưởng nhanh, bộ máy cồng kềnh hơn, hiệu quả kinh doanhđòi hỏi cao hơn hay khi doanh nghiệp sắp lên sàn chứng khoán thì đó cũng là lúcviệc áp dụng tin học trong quản lý tài chính, kế toán, cần phải được quan tâm hàng
Trang 15đầu bên cạnh đó nhiều thách thức mới cũng sẽ nảy sinh đòi hỏi các doanh nghiệpphải tìm cách khắc phục.
3 Biện pháp khắc phục:
- Cần phải nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt
là tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong các hoạt động sản xuất kinh doanh,trong hội nhập kinh tế quốc tế
- CNTT có thể giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo ra cơ hội kinh doanh và tăng khảnăng cạnh tranh Tuy nhiên doanh nghiệp nhỏ và vừa trong hầu hết các nước đangphát triển vẫn còn chậm chạp trong việc ứng dụng CNTT Một số lý do đó là nhiềunước đang phát triển vẫn còn có cơ sở hạ tầng truyền thông chưa tốt, trang thiết bịlạc hậu và thiếu tính cạnh tranh Vì vậy nâng cấp cơ sở hạ tầng , tăng số lượng đầu
tư máy móc, phương tiện nhiều hơn giúp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ hộihọc hỏi và phát triển kế hoạch kinh doanh
- Thông qua các hội thảo, đào tạo và cần phải điều chỉnh nội dung hội thảo,
đào tạo cho các loại đối tượng khác nhau, tập trung vào những lợi ích cụ thể để
khuyến khích ứng dụng CNTT của doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Xây dựng Hệ thống thông tin đăng ký DN quốc gia (NBRS) bao gồm Cổng thôngtin đăng ký DN quốc gia và cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký DN Việc ứng dụng
hệ thống này sẽ mang đến rất nhiều lợi ích cho các DN như giảm chi phí và thờigian hoàn tất thủ tục đăng ký kinh doanh, cho phép DN đăng ký qua mạng điệntử…
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ nên chú trọng vào việc khai thác tiềm năng trongHTTT để có hiệu quả tốt cho kinh doanh
Trang 16II Các yếu tố khác nhau giữa các doanh nghiệp khi ứng dụng HTTT cho các doanh nghiệp
Thành phần trong hệ thống thông tin:
Hệ thống thông tin được cấu thành từ : - Nguồn lực con người
Trang 17- Nhóm 2: người bảo trì hệ thống, bao gồm phân tích viên, lập trình viên, kĩ thuật viên
Phần cứng: là các thiết bị kĩ thuật phục vụ cho việc thu thập, xử lí, lưu trữ vàtruyền thông tin, bao gồm:
- Máy tính điện tử, máy tính điện tử vạn năng, máy tính điện tử chuyên dụng
- Hệ thống truyền thông: thiết bị phát tin, kênh truyền và thiết bị nhận tin
- Cơ sở hạ tầng mạng
Phần mềm:
- Phần mềm hệ thống: Hệ điều hành, chương trình dịch, ngôn ngữ lập trình,
Sau đây là phần so sánh trực tiếp giữa khách sạn Intercontinental
Asiana với siêu thị Coop-mart:
1 Nguồn lực phần cứng:
Khách sạn Intercontinental Asiana:
Bước vào khách sạn là khu vực tiếp tân, để có thể kiểm tra số phòng trống hay nhập dữ liệu đặt phòng và thanh toán cho khách hàng thì phải có khu vực máy tính với hệ thống quản lý cao cấp, đạt chuẩn quốc tế
Trang 18InterContinental Asiana Saigon bao gồm iPod dock và minibar Khách có thể truy
cập Internet không dây và có dây tốc độ cao tại phòng với khoản phụ phí nhỏ TV
LCD 42 inch đi cùng các kênh truyền hình vệ tinh cao cấp, các kênh phim miễn phí và đầu đĩa DVD Tất cả phòng có bàn, két bảo mật và điện thoại liên lạc trực tiếp
Tất cả các bóng đèn sợi đốt đều được thay thế bằng các loại đèn tiết kiệm điện nhưđèn compact, đèn huỳnh quang và đèn led để giảm thiểu năng lượng tiêu thụ Độingũ kĩ thuật của khách sạn cũng thường xuyên thực hiện kế hoạch bảo trì định kìnhằm tăng tuổi thọ và hiệu suất máy móc Các thiết bị cũng được sử dụng một cáchhợp lý với sự hỗ trợ của máy biến tần và được giảm hoạt động vào giờ cao điểm.Đặc biệt, các phòng của khách sạn đều có hệ thống chìa khóa tự động ngắt điệnmỗi khi khách không ở trong phòng
Trang 19 Siêu thị Coop-mart:
Hệ thống trang thiết bị hiện đại, thang cuốn và thang máy tiện lợi, đáp ứng mọi yêucầu nhanh chóng của khách hàng