1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đẩy mạnh phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ttqt theo phương thức tín dụng chứng từ tại sở giao dịch ngân hàng tmcp ngoại thương việt nam

63 219 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 107,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lí dotrên cùng với quá trình thực tập tại Phòng TTQT, Sở Giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, em đã lựa chọn đề tài “Đẩy mạnh phòng ngừa rủi ro trong hoạt đ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa ngày càng trở nên phổbiến với mọi quốc gia trên thế giới Cùng với xu hướng đó là nhu cầu buônbán, trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia khác nhau diễn ra ngày càng lớn.Quá trình tiến hành một cuộc trao đổi buôn bán hàng hóa được kết thúc bằngviệc bên mua thanh toán tiền cho bên bán, nhận hàng và bên bán giao hànghóa, nhận tiền Các khâu trên đều diễn ra giữa các quốc gia khác nhau,khoảng cách địa lý lớn nên việc thanh toán, trao đổi diễn ra không dễ dàngnếu như không có bên thứ ba là ngân hàng đứng ra làm trung gian trong việcthanh toán Do đó, hoạt động Thanh toán quốc tế đã hình thành và phát triển

Thanh toán quốc tế (TTQT) là một lĩnh vực gắn liền với các hoạt độngthương mại quốc tế song phương và đa phương Với quy mô và phạm vi rộnglớn, phức tạp, liên quan đến nhiều chủ thể trong các quốc gia khác nhau.TTQT ngày càng được khẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nóichung và trong hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng Đây là khâu quan trọngtrong quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các tổ chức, các cá nhânthuộc các quốc gia khác nhau Nếu không có hoạt động TTQT thì hoạt độngkinh thế đối ngoại khó có thể tồn tại và phát triển được

Trong điều kiện tiền tệ thường xuyên biến động, rủi ro trong việc thựchiện hợp đồng mua bán ngày càng nhiều, vị trí và vai trò của hoạt động TTQTcũng vì thế mà được khẳng định hơn Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra giải phápđồng bộ, hữu hiệu và khả thi nhằm góp phần nâng cao hiệu quả cho hoạt độngTTQT đã và đang trở thành vấn đề bức xúc cả về lý luận và thực tiễn khôngchỉ đối với nhà quản trị mà còn cả doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu

1

Trang 2

Trong các phương thức TTQT hiện nay thì phương thức thanh toántheo thư tín dụng chứng từ là chủ yếu, quan trọng, hiệu quả và phù hợp vớibối cảnh hiện nay Là một phương thức được sử dụng khá phổ biến nên việchiểu và nắm rõ các nghiệp vụ, các quy định pháp lý về nó cũng rất cần thiết

để phòng và tránh những rủi ro đáng tiếc xảy ra cho tất cả các bên khi thamgia hoạt động ngoại thương Hơn nữa, khi thực hiện hoạt động thanh toán nếu

có xảy ra sai sót thì thường gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng cho tất cảcác bên tham gia Hậu quả đó có thể liên quan đến uy tín của ngân hàng,khách hàng hay là những thiệt hại về mặt kinh tế Xuất phát từ những lí dotrên cùng với quá trình thực tập tại Phòng TTQT, Sở Giao dịch Ngân hàng

TMCP Ngoại Thương Việt Nam, em đã lựa chọn đề tài “Đẩy mạnh phòng ngừa rủi ro trong hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ tại Sở Giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam” làm luận văn tốt

nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu về hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ tại

Sở Giao dịch Vietcombank, thực trạng hoạt động TTQT bằng L/C Trên cơ sở

đó, đánh giá thực trạng và đề xuất, kiến nghị các giải pháp để phòng ngừa rủi

ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở Giao dịchVietcombank

3 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến rủi ro trong TTQT

theo phương thức tín dụng chứng từ

Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở lí luận chung về hoạt động

TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ, khóa luận tốt nghiệp được hoànthành kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Các phương pháp đó

Trang 3

bao gồm: phương pháp điều tra; phương pháp thống kê, tổng hợp; phươngpháp phân tích, đánh giá;…

4 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, khóa luận tốt nghiệp được chialàm 3 chương chính sau:

Chương 1 – Lý luận chung về hoạt động TTQT theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và rủi ro của phương thức trong TTQT.

Chương 2 – Thực trạng rủi ro trong hoạt động TTQT bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Sở Giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam.

Chương 3 – Giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở Giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam.

Sau đây là nội dung chi tiết của các chương:

3

Trang 4

Chương 1 – Lý luận chung về thanh toán quốc tế và rủi ro thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ trong các ngân hàng thương mại

1.1 Tổng quan về Thanh toán quốc tế

1.1.1 Khái niệm về Thanh toán quốc tế

Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫn đến những nhu cầu chitrả, thanh toán giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau, từ đó hình thành vàphát triển hoạt động Thanh toán quốc tế (TTQT) với ngân hàng là cầu nốitrung gian giữa các bên Mục đích chính của hoạt động TTQT là để hỗ trợ vàphục vụ cho hoạt động giao thương quốc tế giữa các chủ thể ở các nước diễn

ra một cách trôi chảy và hiệu quả Hơn nữa, hoạt động thương mại và hoạtđộng TTQT liên quan và gắn liền với nhiều lĩnh vực hoạt động khác, mỗi lĩnhvực hoạt động là một mắt xích không thể thiếu trong một dây chuyền hoạtđộng tài chính quốc tế của mỗi quốc gia nói riêng và trên quy mô toàn thếgiới nói chung TTQT là khâu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng và nhiều khi làkhâu quyết định đến hiệu quả và tăng trưởng thương mại, bởi vì chỉ khi hoạtđộng thanh toán an toàn và trôi chảy thì người xuất khẩu mới thu được tiền vàngười nhập khẩu mới nhận được hàng, và đây lại là một trong những cơ sởnền tảng khiến cho hoạt động tài chính quốc tế tồn tại và phát triển

Như vậy: Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các chủ thể ở quốc gia này và các chủ thể ở quốc gia khác hoặc các tổ chức quốc tế.

1.1.2 Vai trò của Thanh toán quốc tế

1.1.2.1 Đối với nền kinh tế

Trang 5

TTQT là cầu nối trong mối quan hệ kinh tế đối ngoại, là khâu thenchốt, cuối cùng để khép kín một chu trình mua bán hàng hóa, trao đổi dịch vụgiữa các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia trên thế giới Có thể nói nếukhông có hoạt động TTQT thì sẽ không có hoạt động kinh tế đối ngoại TTQTthúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển Việc tổ chức TTQT được tiếnhành nhanh chóng, chính xác sẽ thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, nhờ đó

mà các hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển, đặc biệt là hoạt động ngoạithương

Bên cạnh đó, hoạt động TTQT góp phần hạn chế rủi ro trong quá trìnhthực hiện hợp đồng ngoại thương Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị tríđịa lý các đối tác xa nhau nên việc tìm hiểu các khả năng tài chính, khả năngthanh toán của người nhập khẩu gặp nhiều khó khăn Nếu tổ chức tốt công tácTTQT thì sẽ giúp cho các nhà kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu hạn chếđược rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại, nhờ đó thúcđẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển

1.1.2.2 Đối với các ngân hàng thương mại

Hoạt động Thanh toán quốc tế (TTQT) có vai trò hết sức quan trọngđối với bản thân ngân hàng thương mại (NHTM) Trước hết, nó tạo ra mộtkhoản lợi nhuận không nhỏ đóng góp vào khoản lợi nhuận chung của bảnthân ngân hàng Bên cạnh đó, hoạt động TTQT còn giúp cho ngân hàng thuhút thêm khách hàng có nhu cầu TTQT, mở rộng và đa dạng các sản phẩmdịch vụ của mình trên cơ sở đó để có thế phát triển qui mô mạng lưới ngânhàng

Khi các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa sẽ cần đến các NHTMvới vai trò như một nhà tài trợ tín dụng xuất nhập khẩu, từ đó kéo theo việc

5

Trang 6

phát triển được các nghiệp vụ TTQT trong ngân hàng như mở L/C, kinhdoanh ngoại tệ, bảo lãnh,…

Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng tạo được uy tín trên thị trườngquốc tế cũng như uy tín đối với khách hàng, từ đó ngân hàng có thể khai thácđược các nguồn vốn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trênthị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Ngoài ra, hoạt động TTQT giúp các NHTM tăng tính thanh khoảnthông qua lượng tiền ký quỹ Mức ký quỹ phụ thuộc vào độ tin cậy, an toàncủa từng khách hàng cụ thể Song xét về tổng thể thì các khoản ký quỹ nàyphát sinh một cách thường xuyên và ổn định Vì vậy, trong thời gian chờ đợithanh toán, ngân hàng có thể sử dụng các khoản này để hỗ trợ thanh khoảnkhi cần thiết

Có thể nói, trong xu thế ngày nay, hoạt động TTQT có vai trò hết sứcquan trọng trong hoạt động ngân hàng nói riêng và hoạt động kinh tế đốingoại nói chung Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng để có biện pháp thực hiệnnghiệp vụ TTQT có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phục vụ tốt hơn chocông cuộc hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam

1.1.3 Các phương thức Thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại

Trong thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế là kết quả của hợp đồng

mua bán giữa các chủ thể, do đó, theo nghĩa hẹp: Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quy trình, điều kiện quy định để người nhập khẩu trả tiền

và nhận hàng, còn người xuất khẩu thì giao hàng và nhận tiền theo hợp đồng thương mại, dịch vụ, thường là thông qua hệ thống ngân hàng phục vụ.

Trong thực tế, điều kiện quy định để các bên giao nhận hàng hóa và chitrả tiền là rất đa dạng, do đó, tồn tại nhiều phương thức TTQT khác nhau Mỗi

Trang 7

phương thức đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định, việc lựa chọn phươngthức thanh toán thích hợp phải được hai bên xuất khẩu và nhập khẩu bàn bạcthống nhất, ghi vào hợp đồng thương mại.

Các phương thức TTQT chủ yếu hiện nay bao gồm:

1.1.3.1 Phương thức chuyển tiền (Remittance)

- Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer – M/T)

- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – T/T)

1.1.3.2 Phương thức nhờ thu (Collection)

- Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collections

- Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collections)

1.1.3.3 Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credit)

Đây là phương thức thanh toán quan trọng và chủ yếu tại các ngân hàngthương mại hiện nay Phương thức này khắc phục được nhược điểm củaphương thức chuyển tiền và nhờ thu đã nêu ở trên Trong nội dung tiếp theo

và cũng là nội dung chính của chương một, em xin đề cập sâu hơn về phươngthức thanh toán tín dụng chứng từ

1.2 Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

1.2.1 Định nghĩa và đặc điểm

1.2.1.1 Định nghĩa

Thư tín dụng (Letter of Credit – L/C) là một chứng thư, trong đó ngânhàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình bộ chứng

từ phù hợp với nội dung của L/C

Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó, mộtngân hàng (ngân hàng mở L/C) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu

mở L/C) sẽ trả một số tiền cho người khác (người thụ hưởng L/C) hoặc chấpnhận hối phiếu do người này kí phát trong phạm vi số tiền đó khi người này

7

Trang 8

xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quyđịnh đề ra trong thư tín dụng.

1.2.1.2 Đặc điểm

- L/C là hợp đồng kinh tế hai bên

- L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là Ngân hàng phát hành(NHPH) và người xuất khẩu Mọi yêu cầu và chỉ thị của người nhập khẩu đã

do NHPH đại diện, do đó, tiếng nói chính thức của người nhập khẩu khôngđược thể hiện trong L/C

- L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa

Về bản chất, L/C là một giao dịch hoàn toàn độc lập với hợp đồngngoại thương hoặc hợp đồng khác mà hợp đồng này là cơ sở để hình thànhgiao dịch L/C Trong mọi trường hợp, ngân hàng không liên quan đến hoặc bịràng buộc vào hợp đồng như vậy, ngay cả khi L/C có bất cứ dẫn chiếu nàođến hợp đồng này

Như vậy, L/C có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợpđồng ngoại thương nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập vớihợp đồng này Một khi L/C đã được mở và đã được các bên chấp nhận, thìcho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không,cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đếnL/C

- L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ

Các ngân hàng, chỉ dựa trên cơ sở chứng từ, kiểm tra việc xuất trình đểquyết định xem trên bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợphay không Như vậy, các chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặcbiệt, nó là bằng chứng về việc giao hàng của người xuất khẩu, là đại diện chogiá trị hàng hóa đã được giao, do đó, chúng trở thành căn cứ để ngân hàng trả

Trang 9

tiền, là căn cứ để người nhập khẩu hoàn trả tiền cho ngân hàng, là chứng từ đinhận hàng của người nhập khẩu,… Việc người xuất khẩu có thu được tiền haykhông, phụ thuộc duy nhất vào xuất trình chứng từ có phù hợp; đồng thời,ngân hàng cũng chỉ trả tiền khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp, nghĩa là ngânhàng không chịu trách nhiệm về sự thật của hàng hóa mà bất kỳ ngân hàngnào đại diện.

Khi chứng từ xuất trình phù hợp, thì NHPH phải thanh toán vô điềukiện cho người xuất khẩu, mặc dù trên thực tế hàng hóa có thể không đượcgiao hoặc giao không hoàn toàn đúng như ghi trên chứng từ

1.2.2 Các bên tham gia

1.2.2.1 Người yêu cầu mở L/C (Applicant for L/C): Còn được gọi là Người

mở hay Người xin mở L/C, là bên mà L/C được phát hành theo yêu cầu của

họ Trong thương mại quốc tế, Người yêu cầu thường là người nhập khẩu, yêucầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C và có trách nhiệm pháp lý vềviệc NHPH trả tiền cho Người thụ hưởng L/C

1.2.2.2 Người thụ hưởng L/C (Beneficiary of L/C): Còn được gọi là Người

hưởng hay Người hưởng lợi, là bên được hưởng số tiền thanh toán hay sở hữuhối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C

1.2.2.3 NHPH (Issuing Bank): Là ngân hàng thực hiện phát hành L/C theo

đơn của Người yêu cầu, nghĩa là nó đã cấp tín dụng cho Người yêu cầu.NHPH thường được hai bên mua bán thỏa thuận và quy định trong hợp đồng.Nếu không có sự thỏa thuận trước, thì người nhập khẩu được phép tự chọnNHPH NHPH còn gọi là Ngân hàng mở (Opening Bank)

1.2.2.4 Ngân hàng thông báo (Advising Bank): Là ngân hàng thực hiện

thông báo L/C cho Người thụ hưởng theo yêu cầu của NHPH Ngân hàngthông báo thường là ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của NHPH ở nướcngười xuất khẩu

9

Trang 10

1.2.2.5 Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): Là ngân hàng bổ sung sự

xác nhận của mình vào L/C theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của NHPH

1.2.2.6 Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): Là ngân hàng mà tại đó

L/C có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu Đối với L/C có giá trị tự do, thì bất

kỳ ngân hàng nào đều có thể trở thành Ngân hàng được chỉ định Trách nhiệmkiểm tra chứng từ của Ngân hàng được chỉ định là giống như NHPH khi nhậnđược bộ chứng từ

Ngoài ra, tùy từng trường hợp còn có thể có các ngân hàng khác thamgia vào phương thức thanh toán L/C như: Ngân hàng chiết khấu (NegotiatingBank), Ngân hàng chấp nhận (Accepting Bank), Ngân hàng hoàn trả(Reimbursing Bank),…

1.2.3 Quy trình nghiệp vụ thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ

Trang 11

(4)Hợp đồng ngoại thương

(1) Người yêu cầu mở L/C làm đơn xin mở L/C gửi tới Ngân hàng phục vụmình yêu cầu phát hành L/C cho người xuất khẩu hưởng và tiến hành kí quỹnếu cần

(2) Căn cứ vào đơn xin mở L/C, NHPH L/C và thông báo L/C cho ngườihưởng thông qua Ngân hàng đại lý của mình, thường là Ngân hàng đại lý tạinước người hưởng lợi

(3) Ngân hàng thông báo kiểm tra tính chân thực của L/C và tiến hành thôngbáo tới người hưởng lợi Người hưởng lợi kiểm tra kĩ nội dung L/C, nếu chấpnhận thì giao hàng, nếu không sẽ yêu cầu người đề nghị mở L/C tu chỉnh L/C.(4) Người hưởng lợi giao hàng

(5) Người hưởng lợi lập bộ chứng từ phù hợp với L/C, xuất trình tại ngânhàng của mình và yêu cầu Ngân hàng này tiến hành đòi tiền NHPH

11

Trang 12

(6) NHPH kiểm tra bộ chứng từ, nếu phù hợp với L/C thì thanh toán hoặcchấp nhận thanh toán, ngược lại nếu bộ chứng từ sai sót sẽ từ chối thanh toán

và thông báo cho ngân hàng xuất trình biết

(7) Sau khi thanh toán cho người hưởng lợi, NHPH chuyển chứng từ chongười đề nghị mở L/C hoàn thành thủ tục thanh toán cần thiết

(8) Người đề nghị mở L/C thanh toán cho ngân hàng và nhận bộ chứng từ đểnhận hàng

1.3 Rủi ro trong hoạt động Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

1.3.1 Khái niệm

Do đặc điểm của TTQT, các rủi ro luôn có thể phát sinh trong toàn bộcác khâu của quá trình TTQT Rủi ro là sự kiện không may mắn, hết sức đadạng, phức tạp và gắn liền với môi trường hoạt động của con người

Trong cuốn sách “Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trongkinh doanh”, tác giả Nguyễn Hữu Thân cho rằng: “Rủi ro là sự bất trắc gây ramất mát, thiệt hại” Như vậy, rủi ro được coi là những bất trắc gây ra hậu quảxấu cho con người, còn những bất trắc không gây ra tổn thất không phải là rủiro

Trong các phương thức TTQT, các giao dịch thường được thực hiệnthông qua sự tham gia chủ yếu của các ngân hàng Tuy nhiên, điều đó không

có nghĩa là nó hoàn toàn loại trừ mọi rủi ro cho các bên tham gia Trong thanhtoán L/C, rủi ro xảy ra khi quyền lợi của một hoặc các bên tham gia bị viphạm Rủi ro không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc chứng từ khôngđược thanh toán mà còn phải được hiểu theo nghĩa rộng của nó là bất kỳ một

sự khúc mắc, chậm trễ nào trong các khâu của quá trình thanh toán

Trang 13

Rủi ro trong thanh toán L/C có thể xảy ra với các bên: đối với ngườixuất khẩu, đối với người nhập khẩu và đối với ngân hàng Trong phạm vi luậnvăn tốt nghiệp của mình, em chỉ tập trung nghiên cứu các rủi ro đối vớiNHTM hiện nay.

1.3.2 Các loại rủi ro có thể xảy ra đối với các ngân hàng thương mại

1.3.2.1 Rủi ro tín dụng

Là loại rủi ro về mất khả năng thanh toán của một trong các bên thamgia phương thức TTQT Các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động L/C và gâythiệt hại cho một hoặc nhiều bên

- Trường hợp NHPH mất khả năng thanh toán vì một lí do nào đó hoặcphải đóng cửa vì vỡ nợ thì cũng dẫn tới rủi ro cho người xuất khẩu và ngânhàng chiết khấu chứng từ Vì vậy, để tránh xảy ra tình huống như trên, tốtnhất người xuất khẩu nên yêu cầu người nhập khẩu chọn những NHTM lớn,

có uy tín để phát hành L/C

- Bản chất của L/C là cam kết trả tiền chắc chắn của NHPH khi ngườihưởng lợi xuất trình bộ chứng từ phù hợp Nếu L/C được ký quỹ 100% thì sẽkhông xảy ra rủi ro cho NHPH Song phần lớn các ngân hàng khi mở L/C đềutài trợ cho khách hàng bằng cách cho vay vốn hoặc tài trợ bằng uy tín củakhách hàng và chỉ yêu cầu ký quỹ một tỷ lệ nhất định Nếu người nhập khẩu

bị vỡ nợ hoặc phá sản dẫn đến mất khả năng thanh toán hoặc vì một lí do nào

đó (hàng hóa bị giảm giá mạnh dẫn đến bị lỗ vốn, hàng hóa bị rủi ro trênđường vận chuyển,…) mà khách hàng cố tình không thanh toán thì sẽ gây rarủi ro tín dụng cho NHPH

- Rủi ro xảy ra đối với ngân hàng chiết khấu Có hai loại chiết khấu làchiết khấu có truy đòi và chiết khấu miễn truy đòi Chiết khấu có truy đòi làkhi NHPH từ chối thanh toán hay mất khả năng thanh toán thì ngân hàngchiết khấu có quyền truy đòi lại người nhập khẩu số tiền mà họ đã thanh toán

13

Trang 14

và lãi phát sinh Tuy nhiên, nếu người nhập khẩu không có khả năng hoàn lại

số tiền đó thì ngân hàng chiết khấu đã gặp rủi ro

1.3.2.2 Rủi ro tác nghiệp

Đây là loại rủi ro do những sai sót mang tính kỹ thuật trong quy trìnhthanh toán L/C do chính các bên tham gia gây nên, rủi ro này được thể hiệntrong việc lập các hồ sơ chứng từ không hoàn hảo, không đáp ứng đầy đủ cácđiều khoản và điều kiện của L/C hoặc hành động không đúng theo UCP 600

và các thông lệ, tập quán quốc tế khác

1.3.2.4 Rủi ro ngoại hối

Là rủi ro xảy ra khi việc thanh toán được ấn định bằng ngoại tệ nào đó.Khi tỷ giá biến động sẽ gây tổn thất cho một trong hai phía đối tác tham giathanh toán Nếu ngoại tệ được lựa chọn trong thanh toán lên giá sẽ gây tổnthất cho người nhập khẩu, ngược lại ngoại tệ đó mất giá lại gây thiệt hại chobên xuất khẩu Trong giao dịch thanh toán L/C, các ngân hàng cũng gặp phảirủi ro về ngoại hối, những rủi ro này xuất hiện khi ngân hàng ở trạng thái

Trang 15

“đoản” về ngoại tệ đó khi ngoại tệ này lên giá, và ngược lại, ở trạng thái

“trường” khi ngoại tệ này mất giá Khi đó, ngân hàng sẽ phải gánh chịu tổnthất

và ảnh hưởng tới quá trình thanh toán Những rủi ro chính trị thường gặp như:rủi ro do sự thay đổi của môi trường pháp lý; rủi ro do chiến tranh, bị bao vâycấm vận, xung đột sắc tộc, đảo chính, biểu tình, đình công; rủi ro gắn liền vớisuy thoái kinh tế và tình trạng nợ quốc gia nặng nề;…

1.4 Sự cần thiết phải phòng ngừa rủi ro trong hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ

Xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế đã mở ra cho nhân loại cánh cửa giaolưu đầy triển vọng Lịch sử đã chứng minh rằng không một quốc gia nào cóthể phát triển trong sự tách biệt với thế giới bên ngoài, các nước đang xích lạigần nhau thông qua chiếc cầu nối thương mại quốc tế Vượt qua không gian

và thời gian, những luồng chu chuyển hàng hóa, dịch vụ và tiền tệ đã tạo ra sựgắn kết bền vững giữa cung và cầu ở những nước có trình độ kinh tế khácnhau và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng kéo theo sự phức tạp ngàycàng lớn trong mắt xích cuối cùng của quá trình trao đổi, thanh toán quốc tế.Được xem là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thương mạiquốc tế, hoạt động TTQT đã không ngừng được đổi mới và hoàn thiện nhằmđáp ứng yêu cầu an toàn, thuận tiện và nhanh chóng của các giao dịch thươngmại Cùng với xu hướng hội nhập ngày càng tăng, các mối giao lưu thương

15

Trang 16

mại cũng ngày càng được mở rộng Điều đó đặt ra cho các ngân hàng thươngmại phải phát triển các dịch vụ kinh tế đối ngoại một cách tương ứng, trong

đó không thể không kể đến hoạt động TTQT với nhiều phương thức thanhtoán đa dạng và phong phú Trong các phương thức thanh toán này, tín dụngchứng từ là phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất do những ưuviệt của nó Song tín dụng chứng từ không phải là nghiệp vụ đơn giản, trongthực tế công tác này đã gặp phải không ít những rủi ro gây thiệt hại cả về tàichính lẫn uy tín cho các ngân hàng thương mại cũng như các doanh nghiệpViệt Nam

Những rủi ro xảy ra trong quá trình thanh toán quốc tế nói chung vàphương thức tín dụng chứng từ nói riêng đã gây ra những hậu quả rất lớn đốivới hoạt động TTQT của các NHTM Điều đó gây trở ngại cho hoạt độngkinh tế đối ngoại của quốc gia

Với một phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến hiện nay vớirất nhiều bên tham gia như phương thức tín dụng chứng từ thì việc xảy ra rủi

ro và hậu quả mà nó để lại là không thể lường trước được Một khi có rủi roxảy ra, tùy ở mức độ sẽ ảnh hưởng tới tất cả các bên tham gia thanh toán L/C,gây tổn thất cho các bên và cho cả nền kinh tế

Thực trạng trên cho thấy việc phát hiện, phòng ngừa những rủi ro trongthanh toán quốc tế đặc biệt là thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ

là một việc làm cần thiết mà các NHTM cũng như các doanh nghiệp ViệtNam phải quan tâm chú trọng

Chương 1 đã trình bày cơ sở lý luận về thanh toán quốc tế và những rủi

ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại các ngân hàng thương mại Chương

2 sẽ đi sâu tìm hiểu về tình hình thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế vànhững rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở Giao dịch Ngân hàngthương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam những năm gần đây

Trang 17

Chương 2 – Thực trạng rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Sở Giao Dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam

2.1 Khái quát chung về Sở Giao Dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam

1 Quá trình hình thành và phát triển của Sở Giao Dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam

Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam trước đây, nay là Ngân hàngTMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) chính thức đi vào hoạt độngngày 01/4/1963, với tổ chức tiền thân là Cục Ngoại hối (trực thuộc Ngân hàngNhà nước Việt Nam) Là ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên đượcChính phủ lựa chọn thực hiện thí điểm cổ phần hoá, Ngân hàng NgoạiThương Việt Nam chính thức hoạt động với tư cách là một Ngân hàng TMCPvào ngày 02/6/2008 sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hóa thôngqua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Ngày 30/6/2009, cổ phiếuVietcombank (mã chứng khoán VCB) chính thức được niêm yết tại SGDChứng khoán TPHCM

Mặc dù Vietcombank đã có quá trình hình thành và phát triển được 50năm, SGD của ngân hàng mới chính thức hoạt động như một chi nhánh độclập tháng 5/2006 lấy tên là Sở Giao Dịch Ngân hàng Ngoại Thương ViệtNam Trước thời điểm đó, SGD vẫn trực thuộc Hội sở chính và hoạt độngtheo quyết định 1234/QĐ-NHNT-TCCB-ĐT ngày 30/12/2005 Đến ngày5/6/2008, sau khi Vietcombank tiến hành cổ phần hóa, SGD Ngân hàngNgoại thương Việt Nam đổi tên thành Sở Giao Dịch Ngân hàng thương mại

cổ phần Ngoại Thương Việt Nam theo quyết định số ĐT

431/QĐ-NHNT-TCCB-17

Trang 18

Sau khi được tách ra hoạt động độc lập với Hội sở chính, SGD phải đốimặt với những khó khăn nhất định, song SGD đã khẳng định được vị trí vàvai trò quan trọng của mình trong hệ thống chi nhánh của Vietcombank Tínhtới thời điểm 2008, SGD Vietcombank có 19 phòng giao dịch và khoảng 150máy ATM SGD luôn coi trọng đến việc đổi mới cũng như phát triển đa dạngcác dịch vụ, nhằm đáp ứng những nhu cầu luôn thay đổi của khách hàng.Không chỉ quan tâm đến số lượng các dịch vụ hiện có, SGD còn luôn chútrọng đến chất lượng các dịch vụ Bằng cách ứng dụng công nghệ hiện đại đốivới các dịch vụ và đào tạo đội ngũ cán bộ tận tình, trách nhiệm, SGD mongmuốn mang đến cho khách hàng sự thuận tiện cũng như sự hài lòng nhất.

Sở Giao Dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam đã đóng vaitrò là một trong những đơn vị dẫn đầu hệ thống Ngân hàng TMCP NgoạiThương Việt Nam về hoạt động thanh toán quốc tế Năm 2006 thời điểm táchSGD, các khách hàng lớn được Trung ương giữ lại quản lý, SGD gặp không ítkhó khăn trong khâu tiếp cận, phục vụ khách hàng nhỏ, nhằm duy trì và tăngtrưởng giao dịch SGD không những thực hiện các giao dịch thanh toán xuấtnhập khẩu với khách hàng của Sở, mà còn thực hiện xác nhận L/C và mở L/Ccho khách hàng của các ngân hàng khác như: Ngân hàng Quân đội, Ngânhàng Xăng dầu, Ngân hàng Đại dương,… Doanh số thanh toán xuất nhậpkhẩu các năm đều tăng trưởng SGD đã phát huy những thế mạnh sẵn có, nỗlực phục vụ, tăng cường chính sách khách hàng, tích cực tìm kiếm nguồnngoại tệ và đã đạt được những thành quả nhất định

Trang 19

2 Cơ cấu tổ chức hoạt động của Sở Giao Dịch Ngân hàng

TMCP Ngoại Thương Việt Nam

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của SGD Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt

g

m sá

Trang 20

3 Sơ lược kết quả hoạt động kinh doanh của Sở Giao Dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam giai đoạn 2008-2012

SGD Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam với chức năng kinhdoanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng đã liên tục tự đổi mới và đi lên Mặc dùtồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường nhiều biến động, trong thời kìkinh tế khó khăn, trước sự cạnh tranh khốc liệt của nhiều NHTM và các tổchức tín dụng trong và ngoài nước cùng hoạt động trên địa bàn Hà Nội, trongnhững năm qua, SGD đã không ngừng mở rộng và phát triển các hoạt độngdịch vụ kinh doanh tiền tệ, nâng cao chất lượng phục vụ, ứng dụng các côngnghệ dịch vụ ngân hàng hiện đại tiên tiến, đổi mới phong cách giao dịch, tạo

uy tín với khách hàng, thể hiện qua một số kết quả sau đây:

- Kết quả hoạt động kinh doanh của SGD Vietcombank giai đoạn 2008 –

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012 Tổng doanh thu 2,501.29 3,718.79 3,792.93 3,944.87 4,025.07

Tổng chi 1,979.30 3,408.94 3,075.21 3,112.56 3,143.68

Lợi nhuận trước thuế 521.99 309.85 717.72 832.31 881.39

(Nguồn: Báo cáo tổng kết của SGD Vietcombank giai đoạn 2008 – 2012 –

Phòng vốn và kinh doanh ngoại tệ)

Trong những năm qua, tuy nền kinh tế có nhiều biến động, tốc độ pháttriển thay đổi qua các năm nhưng nhìn chung hoạt động kinh doanh của SGDvẫn tăng trưởng và phát triển khá tốt, luôn khẳng định vị thế là một ngân hànghàng đầu Việt Nam

Trang 21

Lợi nhuận trước thuế nhìn chung đã tăng trưởng khá tốt trong 5 năm

2008 – 2012 Năm 2008 tuy là một năm đặc biệt khó khăn của Ngân hàngTMCP Ngoại Thương Việt Nam nói chung và SGD Vietcombank nói riêngnhưng bằng những nỗ lực đặc biệt, SGD đã đạt được những thành tựu đángghi nhận và đến cuối năm 2008, lợi nhuận trước thuế đạt 521.99 tỷ đồng Đếncuối năm 2009, do cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008-2009 đã kéo theo đà tăngtrưởng không tốt tới tình hình kinh doanh của SGD, lợi nhuận trước thuế cuốinăm 2009 đạt 309.85 tỷ đồng, giảm 212.14 tỷ đồng so với năm 2008 Đếnnăm 2012, lợi nhuận trước thuế đạt 881.39 tỷ đồng, tăng 49.08 tỷ đồng so vớicuối năm 2011 Nhìn chung, qua năm năm từ 2008 tới 2012, SGD đã vượtqua được khó khăn và đạt được đà tăng trưởng khá tốt

2.2 Thực trạng rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGD Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam

2.2.1 Các quy định chung về hoạt động thanh toán L/C hiện nay được áp dụng tại SGD Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam

2.2.1.1 Quy trình thanh toán L/C xuất khẩu

2.2.1.1.1 Thông báo L/C và sửa đổi L/C

Vietcombank kiểm tra tính chân thực bề ngoài của L/C hoặc sửa đổi L/

C và thông báo đến doanh nghiệp

- Lợi ích

 Việc thông báo L/C và sửa đổi L/C được thực hiện nhanh chóng vàchính xác;

 Vietcombank lưu ý doanh nghiệp những điều khoản L/C bất lợi nếu có;

 Doanh nghiệp có thể liên hệ với Vietcombank trước khi kí kết hợp đồng

để được tư vấn miễn phí về các điều khoản thanh toán, nội dung L/C và ngânhàng phát hành nhằm đảm bảo an toàn thanh toán và tiết kiệm chi phí

21

Trang 22

2.2.1.1.2 Xác nhận L/C

Vietcombank cam kết sẽ thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán chongười hưởng thư tín dụng khi đến hạn với điều kiện bộ chứng từ được xuấttrình phù hợp với các điều khoản, điều kiện của L/C do ngân hàng nước ngoàiphát hành

 Phòng tránh rủi ro phát sinh từ phía ngân hàng phát hành;

 Hoàn toàn yên tâm với cam kết của một ngân hàng uy tín hàng đầutrong nước

2.2.1.1.3 Kiểm tra bộ chứng từ và gửi chứng từ đòi tiền theo L/C

Vietcombank tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của bộ chứng từ so vớiđiều kiện của L/C và thông lệ quốc tế Trong trường hợp Vietcombank nhậnthấy bộ chứng từ có những điểm không hợp lệ, Vietcombank sẽ hướng dẫndoanh nghiệp hoàn thiện chứng từ nhằm đảm bảo khả năng đòi tiền từ ngânhàng nước ngoài

Sau đó, Vietcombank tiến hành gửi bộ chứng từ đòi tiền và thanh toáncho doanh nghiệp khi có báo có của ngân hàng nước ngoài

- Lợi ích

 Được hỗ trợ trong việc lập và xuất trình bộ chứng từ hợp lệ đến ngânhàng nước ngoài;

Trang 23

 Giảm thiểu rủi ro tranh chấp về tình trạng chứng từ và khả năng khôngđược thanh toán;

 Được hỗ trợ trong việc tra soát, đàm phán với ngân hàng nước ngoài khiphát sinh vướng mắc trong quá trình đòi tiền;

 Thu hồi tiền hàng trong thời gian ngắn nhất với mức phí hợp lí

2.2.1.1.4 Chuyển nhượng L/C

Với tư cách người hưởng lợi thứ nhất, doanh nghiệp có thể yêu cầuVietcombank chuyển nhượng từng phần hoặc toàn bộ trị giá L/C.Vietcombank sẽ thực hiện việc chuyển nhượng và thông báo L/C đến ngườihưởng lợi thứ hai Sau đó, Vietcombank tiếp nhận chứng từ và gửi chứng từ

đi thanh toán

L/C có thể được phát hành miễn kí quĩ hoặc kí quĩ theo một tỉ lệ nhấtđịnh trên tổng trị giá cam kết của Vietcombank, với tỉ lệ kí quĩ hoặc miễn kíquĩ tùy thuộc vào mức độ tín nhiệm doanh nghiệp

- Lợi ích

23

Trang 24

 Đảm bảo an toàn cho cả bên xuất khẩu và nhập khẩu;

 Giúp cho bên nhập khẩu giảm bớt áp lực về vốn;

 Nhận được tư vấn về nội dung và cách thức giao dịch tốt nhất để đảmbảo quyền lợi;

 Có thể được tài trợ vốn thông qua miễn giảm tỉ lệ kí quĩ phát hành L/Choặc cho vay vốn

2.2.1.2.2 Sửa đổi L/C

Vietcombank thực hiện sửa đổi L/C theo yêu cầu của doanh nghiệp(người nhập khẩu)

- Lợi ích

 Việc sửa đổi L/C nhanh chóng và thuận tiện;

 Hỗ trợ xem xét các điều khoản sửa đổi và tư vấn hợp lí để đảm bảoquyền lợi cho doanh nghiệp

2.2.1.2.3 Ủy quyền nhận hàng/Kí hậu vận đơn/Bảo lãnh nhận hàng

Vietcombank kí hậu trên vận đơn hoặc phát hành ủy quyền nhận hànghoặc bảo lãnh nhận hàng theo L/C để doanh nghiệp làm thủ tục nhận hàng vớingười vận chuyển

- Lợi ích

 Giúp doanh nghiệp làm thủ tục nhận hàng khi bộ chứng từ đầy đủ chưa

về mà mới chỉ có bản gốc/bản sao của vận đơn đường biển hoặc bản gốc củavận đơn hàng không

2.2.1.2.4 Thanh toán L/C

Vietcombank thực hiện cam kết thanh toán theo L/C khi nhận được bộchứng từ xuất trình phù hợp với điều kiện của L/C hoặc khi doanh nghiệpchấp nhận thanh toán bộ chứng từ bất hợp lệ

Trang 25

25

Trang 26

Bảng 2.2 Doanh số thanh toán quốc tế tại SGD Vietcombank giai đoạn

Trang 27

Bảng 2.3 Tỷ trọng các phương thức TTQT tại SGD Vietcombank giai

năm trước, tới năm 2012, tổng doanh số TTQT đã đạt mức 5,953.29 triệu

USD Cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 – 2009 đã tác động mạnh tới nền kinh

tế Việt Nam Tuy nhiên, nhờ những nỗ lực cố gắng mà SGD đã vượt qua vàđạt được doanh số TTQT trong năm 2009 là 4,910.93 triệu USD, tăng nhẹ52.4 triệu USD (tăng tương ứng 1.08%) Tiếp đó là bước tăng trưởng vượtbậc ở năm 2010, sau khi vượt qua cuộc khủng hoảng toàn cầu, doanh sốTTQT của SGD đã đạt mức 5,468.58 triệu USD, tăng 557.65 triệu USD(tương ứng tăng 11.36%) Tiếp đến, nền kinh tế rơi vào tình trạng khó khăn,sau những nỗ lực dẫn tới bước tăng trưởng khá tốt của năm 2011 so với năm

27

Trang 28

2010 (tăng 461.73 triệu USD, tương ứng 8.44%) thì tốc độ đã chững lại vàonăm 2012 (tăng so với năm 2011 là 22.98 triệu USD, tương ứng 0.39%).

Trong các dịch vụ TTQT thì dịch vụ chuyển tiền (gồm chuyển tiền đi

và chuyển tiền đến) và tín dụng chứng từ (L/C nhập và L/C xuất) là hai dịch

vụ chiếm tỷ trọng chủ yếu và mang lại doanh thu cho ngân hàng Tỷ lệ doanh

số lần lượt trong tổng doanh số của hai dịch vụ này trong năm 2012 là:53.99%; 44.71% Có thể thấy đây là hai dịch vụ thế mạnh của SGDVietcombank, với nguồn vốn dồi dào, uy tín lâu năm trong hoạt động TTQTnói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung, đội ngũ nhân viên chuyênnghiệp và mạng lưới rộng khắp ở trong nước cũng như thế giới

Hoạt động chuyển tiền chiếm doanh số lớn nhất trong các dịch vụTTQT tại SGD, doanh số chuyển tiền năm 2012 đạt 3,214.22 triệu USD(chiếm 53.99% trong tổng doanh số TTQT của SGD), tăng 39.13 triệu USD

so với năm 2011

Nghiệp vụ nhờ thu không phát sinh nhiều so với các dịch vụ TTQTkhác, doanh số thấp và không ổn định Năm 2012, hoạt động nhờ thu đạt77.47 triệu USD, giảm 9.11 triệu USD so với năm 2011

Hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ chiếm tỷ trọngkhá lớn trong TTQT ở SGD Vietcombank (chỉ đứng sau dịch vụ chuyển tiền),trong đó: L/C nhập chiếm phần lớn Năm 2012, doanh số TTQT theo phươngthức này là 2,661.60 triệu USD (chiếm tương ứng 44.71% doanh số TTQTnăm 2012), giảm 7.04 triệu USD so với năm 2011 Có thể thấy rõ hơn về thựctrạng hoạt động TTQT theo phương thức L/C ở phần sau đây:

- Tình hình hoạt động TTQT bằng L/C tại SGD Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012:

Hiện nay, trong các phương thức TTQT được sử dụng tại Việt Nam thìmột trong những phương thức được áp dụng phổ biến nhất tại các NHTM nói

Trang 29

chung và tại SGD Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam nói riêng làphương thức tín dụng chứng từ, đặc biệt là trong nhập khẩu Điều này đượcthể hiện rõ ở tỷ lệ các phương thức TTQT của SGD từ năm 2008 – 2012(bảng 2.3) Sở dĩ như vậy là do phương thức tín dụng chứng từ là phươngthức đảm bảo được quyền lợi một cách tương đối cho cả nhà nhập khẩu vànhà xuất khẩu Đặc biệt, trong điều kiện Việt Nam là một nước đang pháttriển, chính sách mở cửa mới được thực hiện nên tình trạng thiếu thông tin đốivới các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đang từng bước thâm nhập vào thịtrường quốc tế là không tránh khỏi Đối với các nhà xuất khẩu, họ chưa cóđiều kiện để tìm hiểu kỹ về đối tác, do vậy lựa chọn phương thức tín dụngchứng từ là có thể yên tâm rằng sẽ thu được tiền nếu xuất trình được bộ chứng

từ đúng như quy định Còn đối với các nhà nhập khẩu, vì nước ta là một nước

có tình trạng nhập siêu kéo dài nên việc áp dụng phương thức tín dụng chứng

từ sẽ đảm bảo quyền lợi cho các doanh nghiệp nhập khẩu cũng như tạo uy tínvới đối tác nước ngoài trong quan hệ mua bán lâu dài

Kết quả TTQT bằng phương thức tín dụng chứng từ được thể hiện cụthể ở bảng số liệu doanh số TTQT theo phương thức L/C tại SGDVietcombank dưới đây:

29

Trang 30

Bảng 2.4 Doanh số TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGD

Vietcombank giai đoạn 2008 – 2012

ĐVT: Triệu USD

Chỉ

tiêu

Năm

Tổng số Tổng số h lệch Chên Tổng số h lệch Chên Tổng số h lệch Chên Tổng số h lệch Chên L/C

2009 tăng nhẹ 69.93 triệu USD, tăng tương ứng 4.59%, bên cạnh đó L/C xuấtlại giảm 5.17 triệu USD, tương ứng giảm 0.83% so với năm 2008 Kết thúc

Trang 31

cuộc khủng hoảng 2008 – 2009, năm 2010, doanh số xuất nhập khẩu củaSGD tăng nhanh chóng cả về L/C xuất và L/C nhập, L/C nhập đạt 1,740.94triệu USD (tăng 146.71 triệu USD, tương ứng tăng 9.2%), L/C xuất đạt725.39 triệu USD (tăng 106.67 triệu USD, tương ứng tăng 17.24%) so vớinăm 2009 Năm 2011, L/C nhập khẩu đạt 2,156.90 triệu USD, tăng 100.58triệu USD (tăng tương ứng 4.89%) so với năm 2010 Đây là một kết quả khátốt, ngoài nguyên nhân gia tăng nhu cầu nhập khẩu của các khách hàng, kếtquả này cũng phản ánh sự nỗ lực và hoạt động hiệu quả trong TTQT củaSGD

Năm 2012 tiếp tục là một năm khó khăn với hàng loạt những sự kiện vàbiến động lớn gây ảnh hưởng tới các đầu tàu kinh tế Mỹ, Nhật Bản, EU,… vàkéo chậm cả nền kinh tế thế giới, doanh số L/C nhập khẩu trong năm này tuy

có tăng nhưng đã giảm rất nhiều so với đà tăng của năm 2011 so với năm

2010, doanh số L/C nhập khẩu đạt 2,210.30 triệu USD, tăng 53.40 triệu USD(tăng tương ứng 2.48%) so với năm 2011 Doanh số thanh toán L/C nhập đạt1,852.26 triệu USD, doanh số này tuy cũng có tăng nhưng tỷ lệ tăng còn giảmnhiều hơn so với doanh số L/C nhập (tăng 9.82 triệu USD, tương ứng 0.53%)

Có thể nói, kết quả này cũng là một rủi ro đáng tiếc mà ngân hàng phải gánhchịu do khó khăn trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kháchhàng Do những khách hàng có doanh số lớn, hoạt động thường xuyên, đềuđặn, chiếm tỷ trọng rất lớn trong doanh số thanh toán L/C và nhờ thu nhậpkhẩu của SGD trong các năm trước vẫn tiếp tục giảm mạnh

L/C xuất tuy chiếm tỷ trọng không nhiều trong doanh số TTQT tạiSGD nhưng cũng ảnh hưởng khá nhiều tới hoạt động TTQT của toàn SGD L/

C xuất năm 2011 đạt 968.12 triệu USD, tăng 62.52 triệu USD (tăng tươngứng 6.9%) so với năm 2010 Tuy nhiên, tới năm 2012, doanh số L/C xuất đãgiảm đi đáng kể Năm 2012, doanh số L/C xuất đạt 913.50 triệu USD, giảm

31

Ngày đăng: 17/11/2017, 17:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS. Đinh Trọng Thịnh, Giáo trình Quản trị Thanh toán quốc tế – Học Viện Tài Chính 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị Thanh toán quốc tế
2. PGS.TS. Đinh Trọng Thịnh, Giáo trình Tài chính quốc tế – Học Viện Tài Chính, NXB Tài Chính 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tài chính quốc tế
Nhà XB: NXB Tài Chính 2010
3. Tiến sĩ Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trongkinh doanh ngân hàng
Nhà XB: NXB Thống kê Hà Nội
5. Báo cáo Tổng kết của SGD Vietcombank các năm từ 2008 đến 2012 Khác
6. Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP 600) – Phòng Thương mại quốc tế (ICC) Khác
7. Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế (ISBP) dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, NXB Lao động – Xã hội Khác
8. Các tạp chí Ngân hàng, Thị trường tài chính tiền tệ các số ra gần đây…;9. Các trang web Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w