Mục đích nghiên cứu đề tài Mục đích nghiên cứu của đề tài là vận dụng lý thuyết quy trình kiểm toán BCTC, mà cụ thể là lí thuyết quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải trả người bán đểngh
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
LỜI NÓI ĐẦU 4
CHƯƠNG I: NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NỢ PHẢI TRẢ NGƯỜI BÁN TRONG KIỂM TOÁN BCTC 7
1.1 Cơ sở lý luận của khoản nợ phải trả người bán với vấn đề kiểm toán 7
1.1.1 Khái niệm về nợ phải trả người bán 7
1.1.2 Đặc điểm của nợ phải trả người bán 8
1.2 Những nội dung cơ bản của kiểm toán khoản mục nợ phải trả người bán trong kiểm toán báo cáo tài chính 8
1.2.1 Ý nghĩa của kiểm toán khoản mục nợ phải trả người bán trong kiểm toán báo cáo tài chính 8
1.2.2 Mục tiêu, căn cứ kiểm toán của khoản mục nợ phải trả người bán 9
1.2.2.1 Mục tiêu kiểm toán của khoản mục nợ phải trả người bán 9
1.2.2.2 Căn cứ kiểm toán của khoản mục nợ phải trả người bán 11
1.2.3 Những rủi ro kiểm toán trong kiểm toán khoản mục nợ phải trả người bán 12 1.2.4 KSNB đối với khoản mục nợ phải trả người bán 13
1.3 Trình tự thủ tục kiểm toán khoản mục nợ phải trả người bán trong kiểm toán BCTC do công ty TNHH kiểm toán DTL HN thực hiện 14
1.3.1 Thực hiện các công việc trước kiểm toán 15
1.3.2 Lập kế hoạch kiểm toán 16
1.3.3 Thực hiện kế hoạch kiểm toán 19
1.3.3.1 Khảo sát về kiểm soát nội bộ đối với khoản mục nợ phải trả người bán 19
1.3.3.2 Thực hiện các khảo sát cơ bản đối với Nợ phải trả người bán 23
Trang 21.3.4 Kết thúc và hoàn tất công việc kiểm toán Nợ phải trả người bán 28CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC NỢPHẢI TRẢ NGƯỜI BÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOCÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN DTL – VĂN PHÒNG HÀ NỘI THỰC HIỆN 302.1 Đặc điểm về tổ chức và hoạt động kiểm toán của công ty TNHH kiểm toánDTL – văn phòng Hà Nội 302.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty TNHH Kiểm toán DTL – vănphòng Hà Nội 302.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Công ty TNHH Kiểm toán DTL 302.1.1.2 Công ty TNHH Kiểm toán DTL – văn phòng Hà Nội 322.1.2 Đặc điểm hoạt động của Công ty TNHH Kiểm toán DTL – văn phòng Hà
Trang 32.2.2.6 Lập chương trình kiểm toán 46
2.3 Thực hiện kế hoạch kiểm toán 46
2.3.1 Thực hiện thủ tục phân tích 46
2.3.2 Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết khoản mục Nợ phải trả người bán 47
2.4 Kết thúc công việc kiểm toán 54
CHƯƠNG III NHẬN XÉT VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN DTL – VĂN PHÒNG HÀ NỘI 58
3.1 Nhận xét về hoạt động của Công ty TNHH kiểm toán DTL – văn phòng Hà Nội 58 3.1.1 Những ưu điểm 58
3.1.2 Những tồn tại 62
3.2 Các ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện hoạt động của Công ty TNHH kiểm toán DTL – văn phòng Hà Nội 65
3.2.1 Hoàn thiện bảng câu hỏi về việc chấp nhận khách hàng và tìm hiểu thông tin về khách hàng 65
3.2.2 Hoàn thiện việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ 65
3.2.3 Hoàn thiện thủ tục phân tích 66
3.2.4 Hoàn thiện đánh giá mức trọng yếu 67
KẾT LUẬN 68
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
KSCLKT Kiểm soát chất lượng kiểm toán
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Sau hơn 20 năm thành lập và phát triển, kiểm toán từ một ngành nghề còn non trẻ, ítđược biết đến tại Việt Nam đã từng bước đạt được những thành tựu đáng kể, trởthành nghề nghiệp chuyên nghiệp, được khu vực và quốc tế thừa nhận Từ khi xuấthiện với sự ra đời của hai công ty kiểm toán đầu tiên, đến nay kiểm toán đã pháttriển nhanh chóng và trở thành hệ thống các công ty kiểm toán dưới nhiều hình thức
sở hữu Đặc biệt, kiểm toán độc lập đã tham gia tích cực vào việc đánh giá, kiểmtra, xác định độ tin cậy của các thông tin kinh tế tài chính của doanh nghiệp gópphần đáng kể vào hoạt động đổi mới, cổ phần hóa doanh nghiệp và thu hút đầu tưcủa các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triểnkinh tế tại Việt Nam Một trong những loại hình dịch vụ kiểm toán chủ yếu mà cáccông ty kiểm toán độc lập cung cấp đó là kiểm toán Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính của doanh nghiệp được nhiều đối tượng quan tâm vì đóchính là một tấm gương phản chiếu rõ nét hoạt động kinh doanh của một doanhnghiệp Mà nợ phải trả người bán luôn là khoản mục bắt buộc phải được trình bàytrên các báo cáo tài chính đó Khoản phải trả nhà cung cấp là một trong nhữngkhoản mục trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính Đây là khoản mục có rủi rotiềm tàng cao Khi thực hiện kiểm toán khoản mục này, kiểm toán viên phải thiết kế
và vận dụng các thủ tục kiểm toán sao cho rủi ro phát hiện là thấp nhất Kiểm toánkhoản mục này đòi hỏi sự chuẩn bị công phu và sự thực hiện chu đáo Để thực hiệnkiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp, kiểm toán viên phải là người có kinhnghiệm và có khả năng xét đoán nghề nghiệp
Là một sinh viên chuyên ngành kiểm toán, sau một thời gian thực tập tạiCông ty TNHH Kiểm toán DTL, em đã có cơ hội tiếp xúc với quy trình kiểm toánbáo cáo tài chính cũng như kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp do Công ty thực
Trang 6hiện Nhận thức được tầm quan trọng của kiểm toán khoản mục này trong kiểm toán
báo cáo tài chính, em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Kiểm toán DTL thực hiện” cho khoá luận tốt nghiệp của mình
Để minh hoạ cho quy trình kiểm toán khoản mục phải trả nhà cung cấp do DTLthực hiện, em đã đưa vào khoá luận tình hình thực tế kiểm toán khoản mục này doCông ty thực hiện tại khách hàng ABC
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là vận dụng lý thuyết quy trình kiểm toán BCTC,
mà cụ thể là lí thuyết quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải trả người bán đểnghiên cứu, tìm hiểu thực tế quy trình thực hiện kiểm toán nợ phải trả người bán tạiCông ty TNHH kiểm toán DTL; trên cơ sở đó rút ra nhận xét và đề xuất giải pháphoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải trả người bán trong kiểm toánBCTC tại Công ty TNHH Kiểm toán DTL phù hợp với thực tiễn, góp phần nângcao chất lượng kiểm toán khoản mục này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về quy trìnhkiểm toán BCTC và quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải trả người bán trongkiểm toán BCTC
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải trảngười bán trong một cuộc kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Kiểm toán DTL, từ
đó phân tích và đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện kiểm toán khoản mục
nợ phải trả người bán
4 Phương pháp nghiên cứu:
Với kiến thức được trang bị trong nhà trường và tự tích lũy, luận văn tốt nghiệp của
Trang 7thực tiễn và lấy thực tiễn để kiểm tra lý luận, đồng thời kết hợp giữa tổng hợp vàphân tích, cũng như sự kết hợp giữa trình bày bằng văn viết kết hợp với sơ đồ bảngbiểu.
5 Nội dung kết cấu:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính luận văn tốt nghiệp này gồm 3chương:
Chương I: Những lí luận cơ bản về kiểm toán nợ phải trả người bán trong kiểm toán BCTC.
Chương II: Thực trạng quy tình kiểm toán khoản mục nợ phải trả người bán trong kiểm toán BCTC do công ty TNHH kiểm toán DTL thực hiện.
Chương III: Nhận xét và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện hoạt động của công ty TNHH kiểm toán DTL – văn phòng Hà Nội.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo – TS Phạm Tiến Hưng, cùng các anhchị tại Công ty kiểm toán DTL HN đã giúp đỡ chỉ bảo tận tình để em hoàn thành bàiviết này Trong quá trình thực tập, em đã rất cố gắng để vận dụng những kiến thức
đã học trên giảng đường vào thực tế, nhằm hiểu rõ hơn về những kiến thức mà em
đã được học Nhưng do thời gian thực tập không nhiều cùng với những hạn chế củamột sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường nên bài viết của em chắc chắn vẫn cònnhiều thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầygiáo, các anh chị cùng các bạn để bài viết của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Đỗ Thị Dung
Trang 8CHƯƠNG I: NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NỢ PHẢI TRẢ NGƯỜI BÁN TRONG KIỂM TOÁN BCTC.
1.1 Cơ sở lý luận của khoản nợ phải trả người bán với vấn đề kiểm toán.
1.1.1 Khái niệm về nợ phải trả người bán.
Theo quan niệm chung nhất, nợ phải trả bao gồm số tiền vốn mà doanh nghiệp
đi vay nhằm bổ sung phần thiếu hụt vốn kinh doanh và các khoản phải trả khác phátsinh trong quan hệ thanh toán
Xét theo thời hạn phải trả thì nợ của doanh nghiệp được chia thành hai loại: nợngắn hạn và nợ dài hạn Nợ ngắn hạn là các khoản nợ mà doanh nghiệp sẽ phải trảtrong vòng 1 năm hoặc 1 chu kỳ hoạt động kinh doanh thông thường nếu nó dài hơn
1 năm Nợ dài hạn là các khoản phải trả có thời hạn trên 1 năm hoặc nhiều hơn 1chu kỳ kinh doanh thông thường
Theo thời hạn thanh toán, khoản phải trả nhà cung cấp có hai loại: phải trả nhàcung cấp ngắn hạn và phải trả nhà cung cấp dài hạn Phải trả nhà cung cấp ngắn hạn
là khoản nợ nhà cung cấp do mua sắm các yếu tố đầu vào mà đơn vị phải thanh toántrong vòng 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh bình thường Đối với các doanhnghiệp, hầu hết các khoản phải trả nhà cung cấp là các khoản nợ ngắn hạn Tuynhiên, cũng có những khoản phải trả nhà cung cấp là khoản nợ dài hạn Đó là cáckhoản nợ nhà cung cấp do mua sắm vật tư, hàng hóa, tài sản mà đơn vị được phéptrả góp trong nhiều năm
Theo mối quan hệ giữa đơn vị và nhà cung cấp, khoản phải trả nhà cung cấpđược chia thành hai loại: phải trả nhà cung cấp bên ngoài và phải trả nhà cung cấpnội bộ (giữa chi nhánh với tổng công ty hoặc giữa các chi nhánh trong cùng tổngcông ty…)
Trang 9Khoản phải trả nhà cung cấp là khoản nợ phát sinh thường xuyên trong hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp, liên quan đến việc mua vật tư, hàng hóa, dịch
vụ nhưng chưa thanh toán tiền cho nhà cung cấp Bên cạnh các khoản nợ tiền muahàng thì cũng có những trường hợp doanh nghiệp ứng trước tiền hàng cho nhà cungcấp
Như vậy, khoản phải trả nhà cung cấp có mối liên hệ rất mật thiết với nghiệp
vụ mua hàng, là một khoản mục quan trọng trong chu trình mua hàng và thanh toán
Nợ phải trả là chỉ tiêu quan trọng trên BCTC Những sai lệch của nợ phải trả
có thể ảnh hưởng trọng yếu đến các chỉ tiêu sau:
Tình hình tài chính : các tỷ số quan trọng trong việc đánh giá tình hình tàichính thương liên quan đến nợ phải trả như các tỷ số nợ, hệ số thanh toánhiện thời …
Kết quả hoạt động kinh doanh: nợ phải trả có mối quan hệ mật thiết với chiphí sản xuất kinh doanh Do vậy ảnh hưởng đến báo cáo kết quả hoạt độngsản xuất kinh doanh.( Ví dụ như doanh nghiệp trì hoãn việc hạch toán mộtkhoản phải trả năm nay sang năm sau sẽ làm cho nợ phải trả bị khai thấp,đồng thời do chi phí không đầy đủ khiến cho lợi nhuận tăng lên Từ đó, mộtdoanh nghiệp đang bị lỗ có thể chuyển thành lãi.)
1.2 Những nội dung cơ bản của kiểm toán khoản mục nợ phải trả người
bán trong kiểm toán báo cáo tài chính
toán báo cáo tài chính.
Khoản mục nợ phải trả người bán là một khoản mục có ý nghĩa vô cùng quan
Trang 10các KTV khi thực hiện kiểm toán BCTC Ý nghĩa đặc biệt này được thể hiện cụ thểqua những nội dung sau:
Trong quan hệ mua bán – thanh toán của doanh nghiệp, không phải khi nàodoanh nghiệp cũng có khả năng thanh toán ngay lập tức các khoản mua hàng Do đóphát sinh các khoản công nợ phải trả người bán Đây thực tế là một khoản đi chiếmdụng vốn của các đơn vị khác bổ sung cho hoạt động của doanh nghiệp Nợ phải trảngười bán là một chỉ tiêu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ phải trả của doanhnghiệp và được xem là một khoản mục quan trọng hình thành nên nguồn vốn củadoanh nghiệp
Phải trả người bán là một khoản mục liên quan đến rất nhiều khoản mục quantrọng trong Báo cáo tài chính của doanh nghiệp như hàng tồn kho, tiền, tài khoản
cố định trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên phát sinh cácquan hệ mua bán và thanh toán
Nợ phải trả người bán chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng nợ phải trả của doanhnghiệp, Thể hiện khả năng tự tài trợ bằng nguồn vốn chủ sở hữu trên tổng nguồnvốn Tý suất tự tài trợ của doanh nghiệp mà lớn thì khả năng huy động vốn củadoanh nghiệp là cao, ngược lại tỷ suất này mà thấp thì thể hiện khả năng tự chủ vềtài chính của doanh nghiệp là kém, tình hình tài chính có khả năng gặp rắc rối vìquá lệ thuộc vào nguồn tài trợ từ bên ngoài, ảnh hưởng đến hoạt động của doanhnghiệp Việc đánh giá được các tỷ suất của doanh nghiệp cho KTV thấy đượcnhững đặc điểm ban đầu về hoạt động kinh doanh của khách hàng và cho thấynhững rủi ro có thể xảy ra như thế nào Đây cũng là một vấn đề hết sức quan trọngvới KTV trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
Trang 111.2.2 Mục tiêu, căn cứ kiểm toán của khoản mục nợ phải trả người bán.
Để thực hiện đúng hướng và hiệu quả hoạt động kiểm toán thì KTV phải xácđịnh được mục tiêu kiểm toán trên cơ sở các mối quan hệ vốn có của đối tượng
và khách thể kiểm toán Vì vậy, khi tiến hành kiểm toán khoản mục phải trả chongười bán, KTV cũng phải xác định hệ thống mục tiêu kiểm toán cho khoản mụcnày
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 “Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản
chi phối kiểm toán Báo cáo tài chính” ở Khoản 11 đã xác định: “Mục tiêu của kiểm toán Báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và Công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng Báo cáo tài chính có được trên cơ sở chuẩn mực
và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?
Để đạt được mục tiêu nói chung này, thì kiểm toán nợ phải trả người bán phải đạtđược các mục tiêu sau đây:
• Các khoản nợ phải trả người bán phản ánh trong BCTC là có thật (thực tếxảy ra và được phê duyệt đúng thẩm quyền) và phù hợp với từng đối tượng
• Các khoản nợ phải trả người bán được tính toán, đánh giá đúng quy định,đúng số lượng và số tiền
• Các khoản nợ phải trả người bán được ghi chép một cách đầy đủ, đúng quyđịnh và đúng phương pháp kế toán
• Các khoản nợ phải trả người bán được ghi chép kịp thời
• Các khoản nợ phải trả người bán được ghi chép đúng loại theo từng loại nợphải trả
Trang 12• Các khoản nợ phải trả người bán phản ánh trong Báo cáo tài chính là đúngnghĩa vụ của DN, nghĩa là khoản nợ phải trả đang tồn tại chủ nợ mà DNphải có nghĩa vụ trả nợ trong một thời gian nhất định với số tiền nhất định.
• Các khoản nợ phải trả người bán phải đảm bảo phù hợp giữa số tổng hợp và
• Quá trình kiểm soát nội bộ nợ phải trả người bán là chặt chẽ và hiệu quả
• Các khoản nợ phải trả người bán được trình bày và công bố đúng đắn vàđầy đủ theo quy định
Trong kiểm toán Báo cáo tài chính, căn cứ kiểm toán hoàn toàn khác với căn cứghi sổ kế toán Căn cứ ghi sổ kế toán mới chỉ là những căn cứ kiểm tra tại phòng
kế toán Ngoài những căn cứ này, căn cứ để kiểm toán khoản mục nợ phải trảngười bán còn bao gồm tất cả những tài liệu để kiểm soát và chứng minh cho cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh một cách khách quan ở các bộ phận chức năng có liênquan Cụ thể, căn cứ kiểm toán khoản mục nợ phải trả người bán bao gồm nhữngtài liệu chủ yếu sau đây:
• Các nội quy, quy chế nội bộ của đơn vị liên quan đến quản lý các nghiệp vụmua hàng và thanh toán phải trả người bán
• Bảng cân đối kế toán năm, kỳ kiểm toán (phần liên quan đến hàng hóa, tàisản mua vào và các khoản thanh toán phải trả)
• Các sổ kế toán tổng hợp, chi tiết của các tài khoản liên quan đến các tàikhoản đã nêu ở trên
• Các chứng từ, hóa đơn mua hàng, phiếu chi tiền, phiếu nhập kho, hóa đơn
Trang 13• Các hợp đồng mua bán, đi thuê tài sản, nhà cửa, đất đai, các đơn đặt hàng,các biên bản thanh lý hợp đồng mua bán, vận chuyển, hợp đồng đi thuê.
• Các kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch mua, giấy đề nghị mua của bộphận trực tiếp sử dụng có xác nhận của quản đốc phân xưởng và của bộphận vật tư
• Các nhật ký mua hàng, báo cáo mua hàng, báo cáo thống kê, nhật ký chitiền
• Các phiếu báo giá của bên bán, giấy báo nhận hàng, biên bản và báo cáonhận hàng
• Các qui định về KSNB liên quan đến các khoản nợ phải trả người bán
• Các sổ chi tiết, tổng hợp về TK 331, các biên bản đối chiếu công nợ định kỳgiữa DN và người bán, giữa DN với ngân hàng
• Các tài liệu khác có liên quan như: Thẻ kho, nhật ký mua hàng, nhật ký sảnxuất của bộ phận có sử dụng vật tư, tài sản, hàng hóa mua vào
• Nợ phải trả người bán có thể thể hiện các khoản nợ không có thật (không cóchủ nợ tồn tại hoặc có tồn tại nhưng không đảm bảo tính pháp lý, khôngđảm bảo tư cách pháp nhân, không đảm bảo tính có thật từ việc mua hànghay mua dịch vụ ) Trong thực tế, để tăng lãi hoặc khuyếch trương tìnhhình tài chính, giảm khó khăn, các DN thường báo cáo thiếu nợ phải trảngười bán nhiều hơn là báo cáo thừa Những rủi ro này sẽ dẫn đến KTVthưc hiện kiểm toán chặt chẽ hơn đối với những khoản nợ nghi ngờ và thực
Trang 14hiện kiểm toán thận trọng hơn đối với các nghiệp vụ phát sinh vào đầu kỳsau.
• Sự xác nhận không phù hợp, thường có những chênh lệch cần phải xácminh lại bằng các kỹ thuật bổ sung, các kỹ thuật kiểm toán thông qua ngânhàng, hoặc phải kiểm toán hàng hóa, dịch vụ trả lại
• Ghi chép nợ phải trả người bán không đúng cho từng loại nợ phải trả vàtừng đối tượng bán hàng
• Không khớp giữa số liệu chi tiết với tổng hợp
• Thiếu sự đối chiếu, xác nhận định kỳ
• Các đối tượng chủ, khách nợ không đủ tư cách pháp nhân hoặc đủ tư cáchpháp nhân nhưng thực tế không tồn tại
• Nợ dây dưa quá hạn kéo dài, không được xử lý kịp thời, không xác địnhđược chủ nợ Nhiều trường hợp, doanh nghiệp kế toán khống nợ phải trảngười bán từ các nghiệp vụ bán hàng (bán hàng nhưng không ghi vàodoanh thu mà lại ghi vào chênh lệch nợ phải trả khống), nhằm mục đích rúttiền của doanh nghiệp hoặc nợ phải trả người bán kéo dài, người bán đã xóa
nợ nhưng doanh nghiệp vẫn chưa xử lý
Mỗi nội dung nợ phải trả người bán khác nhau thì kiểm soát nội bộ cũng có sựkhác nhau Tuy nhiên, nổi bật của kiểm soát nội bộ nợ phải trả người bán ở đây làcác khoản nợ phải trả người bán luôn được kiểm tra đối chiếu với khách hàng mộtcách thường xuyên, đồng thời các chứng từ này phải được kiểm soát nội bộ (có dấuhiệu kiểm soát nội bộ)
Nói chung có nhiều loại nợ phải trả người bán, do vậy, ứng với mỗi loại có quátrình kiểm soát riêng Tuy nhiên, kiểm soát nội bộ đối với nợ phải trả người bán đềuphải thể hiện trên các điểm như sau:
• Có các quy định chặt chẽ về từng loại công nợ khi phát sinh và xử lý
Trang 15• Có hệ thống sổ kế toán chi tiết ghi chép theo từng loại công nợ và từng đốitượng Có kiểm tra xét duyệt và phê chuẩn cho từng loại công nợ Có báocáo công nợ phải trả người bán theo từng loại nợ, từng người bán và phảiđược phê duyêt.
• Định kỳ có sự kiểm tra, đối chiếu xác nhận công nợ với người bán có liênquan Sự ghi chép công nợ phải đầy đủ kịp thời, có hệ thống và sự phân loại
Có nhiều cách thức để tiếp cận và thực hiện một cuộc kiểm toán, để đạt đượcmục tiêu tổng quát là các thông tin trên báo cáo tài chính được trình bày một cáchtrung thực, hợp lý, hợp pháp thì mỗi công ty kiểm toán lại có những cách thức tiếpcận và thực hiện kiểm toán khác nhau Tại Công ty kiểm toán DTL HN thì nguyêntắc tiếp cận và thực hiện kiểm toán là theo mức độ trọng yếu và rủi ro của từngkhoản mục trên báo cáo tài chính, tùy thuộc vào từng khách hàng mà các khoảnmục lại chứa đựng những rủi ro khác nhau Việc tiếp cận và thực hiện kiểm toán nợphải trả người bán tại Công ty kiểm toán DTL HN cũng không nằm ngoài phươngpháp đó
Thông thường, quy trình của một cuộc kiểm toán gồm ba giai đoạn: lập kếhoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán Tại Công ty kiểm toánDTL HN, để đảm bảo cho chất lượng kiểm toán tốt, tránh những rủi ro cao, quy
Trang 16trình kiểm toán tại Công ty kiểm toán DTL HN được phân chia ra làm bốn bước cụthể như sau:
Bước 1: Thực hiện các công việc trước kiểm toán Bước 2: Lập kế hoạch kiểm toán
Bước 3: Thực hiện kế hoạch kiểm toán Bước 4: Kết thúc kiểm toán.
Cụ thể, các công việc được tiến hành như sau:
Tuy đây là bước công việc trước kiểm toán, nhưng lại có vai trò rất quantrọng, ảnh hưởng tới việc ra quyết định có chấp nhận kiểm toán hay không của Bangiám đốc (BGĐ), đồng thời cũng có ảnh hưởng tới cả chất lượng của cuộc kiểmtoán Chính vì vậy, bước công việc này do chính các manager thực hiện, bao gồmcác công việc sau:
Thứ nhất, xem xét có chấp nhận hay tiếp tục kiểm toán khách hàng hay
không: Việc xem xét có chấp nhận kiểm toán hay không là đối với các khách hàngkiểm toán năm đầu tiên, còn đối với các khách hàng mà DTL HN đã kiểm toán cácnăm trước rồi thì các manager sẽ xem xét việc có tiếp tục chấp nhận khách hàng haykhông
Thứ hai, lựa chọn nhóm kiểm toán: tại DTL HN, nhóm kiểm toán sẽ bao
gồm các kiểm toán viên và các trợ lý kiểm toán Số lượng các thành viên và vị trítrưởng nhóm kiểm toán trong nhóm sẽ do Chủ nhiệm kiểm toán quyết định, sau đó
sẽ trình lên Giám đốc phê duyệt Số lượng và cơ cấu các kiểm toán viên và trợ lýkiểm toán sẽ phụ thuộc vào quy mô, tính chất, thời gian cuộc kiểm toán và năng lực,
Trang 17của khách hàng Ví dụ, với những khách hàng kiểm toán năm đầu tiên, khối lượngcông việc nhiều nên thông thường số lượng kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán sẽnhiều hơn, còn với những khách hàng thường xuyên thì số lượng các thành viên cóthể ít hơn Và thông thường, với những khách hàng đã được DTL HN kiểm toánnăm trước thì công việc kiểm toán năm hiện tại sẽ do nhóm kiểm toán năm trướcthực hiện vì các nhóm kiểm toán năm trước đã có những hiểu biết nhất định về tìnhhình kinh doanh và kinh nghiệm kiểm toán tại khách hàng đó
Thứ ba, lập hợp đồng kiểm toán: Đây là công việc gần cuối cùng trong giai
đoạn trước lập kế hoạch kiểm toán Việc lập hợp đồng kiểm toán được thực hiện khicông ty đã xem xét các vấn đề trên và đồng ý kiểm toán Hợp đồng kiểm toán là vănbản pháp lý đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của khách hàng và cả công ty kiểm toán.Người đại diện cho công ty đứng ra ký kết các hợp đồng kiểm toán là Giám đốccông ty
Thứ tư, công ty gửi cho khách hàng kế hoạch kiểm toán và bảng ghi các tài
liệu cần cung cấp Kế hoạch kiểm toán ở đây chỉ bao gồm những thông tin chungnhất như: thông tin về các thành viên trong nhóm kiểm toán, phạm vi công việc,thời gian bắt đầu và kết thúc công việc kiểm toán tại công ty khách hàng, yêu cầucung cấp bảng danh mục tài liệu cần thiết cho việc kiểm toán Kế hoạch này trướckhi gửi cho khách hàng cần được phê duyệt bởi các manager
Lập kế hoạch kiểm toán là một bước quan trọng không thể thiếu trong quytrình kiểm toán báo cáo tài chính, là một trong những yếu tố quyết định đến chấtlượng và hiệu quả của toàn bộ cuộc kiểm toán Nhận thấy tầm quan trọng của bướccông việc này, Công ty kiểm toán DTL HN đã thực hiện bước lập kế hoạch kiểmtoán rất chi tiết như sau:
Trang 18Thứ nhất, thu thập hiểu biết về lĩnh vực và hoạt động kinh doanh của khách
hàng: Đây là công việc rất cần thiết vì mỗi ngành nghề kinh doanh khác nhau lại ápdụng hệ thống kế toán và những quy định riêng Yêu cầu này đòi hỏi kiểm toán viênphải có những hiểu biết về tình hình kinh doanh của khách hàng ở một mức độ nhấtđịnh, mà tối thiểu cũng phải đủ để đánh giá được những sự kiện, giao dịch kinhdoanh thực tiễn có ảnh hưởng trọng yếu tới BCTC và tới hoạt động kiểm toán củakiểm toán viên Cụ thể như: những hiểu biết chung về tình hình của nền kinh tế, lĩnhvực hoạt động, tổ chức hoạt động của công ty khách hàng, cơ cấu vốn, chiến lượckinh doanh của doanh nghiệp, môi trường pháp lý mà khách hàng đang hoạt động,
Thứ hai, tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng: Trước hết cần
xác định công ty khách hàng có hệ thống kiểm soát nội bộ hay không, nếu công tykhách hàng có hệ thống kiểm soát nội bộ kiểm toán viên sẽ đi xem xét hệ thốngkiểm soát nội bộ với tất cả các hoạt động của công ty khách hàng nói chung và đốivới khoản mục nợ phải trả người bán nói riêng về các yếu tố như: môi trườngtrường kiểm soát, hệ thống kế toán, thủ tục kiểm soát và bộ phận kiểm toán nội bộ
Áp dụng vào quy trình kiểm toán nợ phải trả người bán, kiểm toán viên sẽ tìm hiểucác quy định về tính hiện hữu, tính hiệu lực và tính liên tục của hệ thống KSNB,xem xét về quy định thẩm quyền phê duyệt, đồng thời đánh giá xem các quy địnhnày được vận dụng vào thực tế có hiệu quả không
Thứ ba, thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ: Việc phân tích sơ bộ dựa trên
những thông tin ban đầu thu thập được giúp kiểm toán viên có cái nhìn tổng quáthơn về khách hàng, khả năng hoạt động và những biến động quan trọng của cáckhoản mục quan trọng trên báo cáo tài chính mà cụ thể ở đây là biến động củakhoản mục nợ phải trả người bán năm nay so với năm trước, nhằm khoanh vùngđược những bất thường có khả năng sai phạm cao
Thứ tư, xác định mức trọng yếu kế hoạch: Đây là yêu cầu bắt buộc không thể
thiếu tại Công ty kiểm toán DTL HN trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán BCTC
Trang 19Bởi xác định mức trọng yếu sẽ giúp cho các kiểm toán viên xác định được mức độsai sót có thể chấp nhận được cho toàn bộ báo cáo tài chính và cho các khoản mụctrên báo cáo tài chính Từ đó xác định được ảnh hưởng của các sai sót từ các khoảnmục trên báo cáo tài chính, mà ở đây là ảnh hưởng của những sai sót từ khoản mục
nợ phải trả người bán lên báo cáo tài chính Việc xác định mức trọng yếu của khoảnmục nợ phải trả sẽ giúp kiểm toán viên xác định được phạm vi, quy mô và thời gianthực hiện các thử nghiệm kiểm toán Việc ước lượng mức trọng yếu này là mộtcông việc phức tạp, đòi hỏi kiểm toán viên phải có trình độ chuyên môn cao, kinhnghiệm nghiệp vụ vững vàng và những hiểu biết sâu sắc về khách hàng mới có thểước lượng được Tại Công ty kiểm toán DTL HN, mức trọng yếu kế hoạch bao gồmcác yếu tố là mức trọng yếu tổng thể và mức trọng yếu chi tiết cho từng khoản mục
Để xác định mức trọng yếu thì tùy thuộc vào đặc điểm của công ty kháchhàng mà sử dụng chỉ tiêu khác nhau để xác định mức trọng yếu như doanh nghiệpniêm yết hay không niêm yết hoặc doanh nghiệp đã thành lập lâu năm hay doanhnghiệp mới thành lập Ví dụ, với công ty mới thành lập thì kiểm toán viên sẽ sửdụng tổng tài sản làm chỉ tiêu xác định mức trọng yếu; còn nếu doanh nghiệp đãthành lập lâu năm và hoạt động ổn định thì kiểm toán viên sẽ sử dụng chỉ tiêu tổngdoanh thu; với doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán thì chỉ tiêu được sửdụng cũng có thể là lợi nhuận trước thuế; các chỉ tiêu khác có thể được sử dụng nhưtổng chi phí khi kiểm toán viên đánh giá các chỉ tiêu trên là không phù hợp vớidoanh nghiệp đang được kiểm toán Sau khi xác định chỉ tiêu để tính mức trọng yếuthì thông thường, mức trọng yếu tổng thể sẽ chiếm 0.5% đến 3% chỉ tiêu đó, có thể
là tổng tài sản hoặc tổng doanh thu Mức trọng yếu chi tiết thường chiếm 10% đến20% mức trọng yếu tổng thể
Thứ năm, đánh giá rủi ro kiểm toán: Tại Công ty kiểm toán DTL HN, rủi ro
kiểm toán chung cho toàn báo cáo tài chính cũng như rủi ro kiểm toán cho cáckhoản mục được đánh giá thông qua rủi ro cố hữu, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát
Trang 20hiện Cụ thể, với khoản mục nợ phải trả người bán các kiểm toán viên cũng phảiđánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện
Rủi ro tiềm tàng luôn được các kiểm toán viên đánh giá thấp với khoản mục
nợ phải trả vì nó không chứa đựng các ước tính kế toán như khoản mục TSCĐ, cácchứng từ hoá đơn thường rất rõ rang
Rủi ro kiểm soát thì ảnh hưởng vào việc vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ
có hiệu quả hay không Như đã nói về việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ ởtrên, khi công ty khách hàng không có kiểm soát nội bộ đối với nợ phải trả ngườibán thì đương nhiên rủi ro kiểm soát sẽ là 100%, nếu công ty khách hàng có hệthống kiểm soát nội bộ thì kiểm toán viên sẽ xem xét hệ thống kiểm soát đó hoạtđộng có hiệu quả hay không thông qua việc thu thập những quy định, sổ sách,chứng từ liên quan đến nợ phải trả người bán trong kỳ Các quy định về kiểm soát
nợ phải trả như: quy định rõ từng cấp có thẩm quyền với việc phê chuẩn các nghiệp
vụ liên quan đến nợ phải trả người bán, KTV cần chú ý đến các CSDL của quy chếKSNB, như tính hiện hữu, tính lien tục và tính hiệu lực của quy chế KSNB Thôngqua việc xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ với khoản nợ phải trả người bán, cáckiểm toán viên sẽ dựa vào kinh nghiệm nghề nghiệp để xét đoán rủi ro kiểm soátđối với các khoản mục này Sau khi đánh giá được rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểmsoát đối với khoản mục nợ phải trả người bán, kiểm toán viên sẽ ước tính khốilượng các thử nghiệm cơ bản cần làm để giảm thiểu rủi ro phát hiện xuống sao chorủi ro kiểm toán với khoản mục nợ phải trả người bán ở mức chấp nhận được
Thứ sáu, thiết kế chương trình kiểm toán: Sau khi thực hiện đầy đủ các công
việc trên, kiểm toán viên đã có kế hoạch khá chi tiết cho cuộc kiểm toán Tiếp đó,các manager cùng với trưởng nhóm kiểm toán sẽ lập lên chương trình kiểm toánkhoản mục nợ phải trả người bán tại công ty khách hàng Trưởng nhóm kiểm toán
sẽ tổ chức một cuộc họp nội bộ để nói lại cho các thành viên trong nhóm về nhữngthông tin về khách hàng, những điều cần lưu ý khi đi kiểm toán và phân công công
Trang 211.3.3 Thực hiện kế hoạch kiểm toán
bán
Hiểu biết về quá trình KSNB Nợ phải trả người bán
Quá trình kiểm soát nội bộ nợ phải trả nhà cung cấp phát sinh từ việc mua tàisản, vật tư, hàng hóa, thiết bị…Trong quá trình mua hàng, khi hàng về nhập kho thì
bộ phận mua hàng phải nộp ngay hóa đơn cho phòng kế toán để làm căn cứ ghi sổ
nợ phải trả người bán Khi nhận được hóa đơn, phiếu nhập kho, kế toán phải kiểmtra tính hợp pháp của chứng từ để làm căn cứ ghi vào sổ chi tiết, sổ tổng hợp mộtcách đầy đủ, kịp thời, chính xác theo từng đối tượng phải trả
Tuy nhiên, nổi bật của kiểm soát nội bộ công nợ phải trả là các khoản nợ phảitrả luôn được kiểm tra đối chiếu thường xuyên với khách hàng, đồng thời các chứng
từ phát sinh của nợ phải trả luôn được kiểm tra đối chiếu trong mối quan hệ với cácchứng từ mua hàng ban đầu, ngoài ra các chứng từ này phải có dấu hiệu kiểm soátnội bộ Kiểm soát nợ phải trả nói chung thể hiện trên các điểm như sau:
- Có các quy định chặt chẽ về từng loại công nợ khi phát sinh và xử lý
- Có hệ thống sổ kế toán chi tiết ghi chép theo từng loại công nợ và từng đốitượng
- Có sự kiểm tra xét duyệt và phê chuẩn cho từng loại công nợ Có báo cáo công
nợ phải trả cho người bán theo từng loại công nợ, từng người bán và phải đượcphê duyệt
- Định kỳ có sự kiểm tra, đối chiếu xác nhận công nợ với người bán có liên quan
- Có quy định và kiểm tra chặt chẽ về việc sử dụng tỷ giá ngoại tệ đúng quy định
để hạch toán nợ phải trả cho người bán, đảm bảo tính thống nhất
- Có những quy định và kiểm soát chặt chẽ về từng loại công nợ phải trả cho ngườibán đảm bảo đúng sự phân loại và đúng quy định
Trình tự khảo sát kiểm soát nội bộ các khoản phải trả cho người bán
Trang 22Việc nghiên cứu , đánh giá và khảo sát về kiểm soát nội bộ khoản mục phải trảnhà cung cấp được tiến hành theo trình tự các bước sau:
Bước 1: Thiết lập hệ thống câu hỏi sẵn về kiểm soát nội bộ Nợ phải trả cho
người bán Việc thiết lập hệ thống câu hỏi này theo trình tự, đầy đủ và chặt chẽ Đểthiết lập được hệ thống câu hỏi này, yêu cầu kiểm toán viên phải có được sự hiểubiết chặt chẽ về kiểm soát nội bộ Nợ phải trả nhà cung cấp cũng như hiểu biết về sựvận hành và quy định kiểm soát đặc thù của mỗi doanh nghiệp để tạo hệ thống câuhỏi kiểm soát phù hợp
Bước 2: Trực tiếp khảo sát, thu thập, tìm hiểu về quá trình kiểm soát nội bộ các
nghiệp vụ nợ phải trả nhà cung cấp theo các cơ sở dẫn liệu của chúng
Khi khảo sát quá trình kiểm soát nội bộ Nợ phải trả nhà cung cấp ở doanhnghiệp yêu cầu kiểm toán viên phải đặc biệt lưu ý đến các cơ sở dẫn liệu của quychế kiểm soát nội bộ, như tính hiện hữu, tính hiệu lực và tính liên tục của quy chếkiểm soát nội bộ, ngoài ra kiểm toán viên còn phải chú ý đến việc chấp hành vàthực hiện các nguyên tắc trong kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp Đồng thời, KTVluôn phải đạt câu hỏi và đánh giá quá trình kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp cóhiệu lực, hiệu quả và có đảm bảo tính liên tục hay không? Quy chế kiểm soát cóhợp lý và chặt chẽ không? Những nét đặc thù và khác biệt về kiểm soát nội bộ củadoanh nghiệp cần lưu ý? Trong quá trình khảo sát, KTV phải ghi chép lại tất cảnhững kết quả đã khảo sát làm căn cứ cho việc đánh giá của KTV ở bước 3
Bước 3: Đánh giá rủi ro kiểm soát nội bộ nghiệp vụ Nợ phải trả cho người bán.
Thông qua kết quả nghiên cứu đã thu nhập được ở bước 2, KTV đánh giá rủi rokiểm soát nghiệp vụ nợ phải trả nhà cung cấpcủa doanh nghiệp ở mức độ cao, trungbình, thấp hay ở các mức độ phần trăm (5%, 10% ), việc đánh giá rủi ro kiểm soátcủa doanh nghiệp cũng có thể được minh họa bằng lưu đồ
Bước 4: Đánh giá chi phí lợi ích của việc khảo sát các quá trình.
Từ kết quả của bước 3, KTV phải tính toán dự kiến để lựa chọn tiếp các khảo sát chitiết kiểm soát hay quay về thực hiện các khảo sát cơ bản Việc tính toán cân nhắc
Trang 23luôn được KTV đặt ra trong mối quan hệ giữa chi phí kiểm toán là thấp nhất vớimức độ thỏa mãn trong kiểm toán là cao nhất và rủi ro kiểm toán là thấp nhất.
Bước 5: Thiết kế các khảo sát nghiệp vụ phải trả nhà cung cấp nhằm làm rõ và
làm thỏa mãn các mục tiêu kiểm soát nội bộ Xác định được quy mô, phạm vi ápdụng phương pháp kiểm toán cơ bản có liên quan
Trong bước này, KTV phải dựa vào kết quả của các bước trên để thiết kế các
kỹ thuật và thủ tục kiểm toán cụ thể khoa học với những mẫu kiểm toán thích hợpcho những khoản mục lựa chọn đúng đắn, thích hợp, có tính trọng yếu với nhữngchi phí ít nhất nhưng rủi ro lại thấp nhất và mức thỏa mãn cao nhất
Việc kiểm soát nôi bộ nghiệp vụ phải trả nhà cung cấpluôn theo những mụctiêu cụ thể nhất định Với mỗi mục tiêu cụ thể, sẽ có những thủ tục kiểm soát cụ thể
Do vậy, KTV phải có những kỹ thuật và thủ tục khảo sát cụ thể khoa học khácnhau
Các mục tiêu và thủ tục khảo sát kiểm soát nội bộ đối với khoản mục phải trảnhà cung cấp được minh họa cụ thể dưới bảng:
Bảng 1: Các khảo sát kiểm soát chủ yếu đối với khoản mục Phải trả người bán
Mục tiêu kiểm soát nôi bộ Thủ tục khảo sát kiểm soát
Các khoản phải trả nhà cung
nợ của người bán
2 Kiểm tra việc phê chuẩn có đúng thẩmquyền hay không? Đồng thời kiểm tra tínhđầy đủ của các chứng từ, biên bản liênquan đến Nợ phải trả người bán
Khoản Nợ phải trả nhà cung
cấpphải được tính toán và đánh giá
một cách đúng đắn
3 Kiểm tra các chứng từ nghi vấn và cácchứng từ có quá trình kiểm soát nội bộyếu kém về số tiền và cách tính toán
Trang 24Nợ phải trả nhà cung cấpđược ghi
sổ là đầy đủ
4 Kiểm tra việc đánh số liên tục của cácchứng từ mua hàng như đơn đặt hàng,phiếu nhập kho, biên bản kiểm nghiệm,chứng từ vận chuyển
5 Kiểm tra việc theo dõi các khoản nợ trêncác sổ liên quan
Nợ phải trả nhà cung cấpđược ghi
nhận là đúng kỳ
6 Kiểm tra so sánh ngày tháng trên giấy tờ
sổ sách kế toán với ngày tháng mua hànghóa dịch vụ
7 Kiểm tra dấu hiệu kiểm soát nội bộ đốivới các chứng từ mua hàng như đơn đặthàng, đơn kiến nghị mua hàng, biên bảnkiểm nghiệm, phiếu nhập kho…
Nợ phải trả nhà cung cấpphải được
ghi sổ là đúng sự phân loại và đúng
Trang 25nằm đánh giá sơ bộ các chỉ tiêu liên quan đến Nợ phải trả người bán Các thủ tụcphân tích:
- So sánh Nợ phải trả năm nay với năm trước theo từng người bán, kể cả so sánh
số phát sinh và số dư cuối năm để xác định những chênh lệch bất hợp lý, tìmkiếm nợ chưa ghi sổ hoặc ghi sổ không đúng ký
- So sánh tổng số nợ phải trả cho người bán năm nay với năm trước để phát hiệnnhững khoản chênh lệch bất hợp lý Thông thường các khoản Nợ phải trả nhàcung cấp rất ổn định do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ổn định.Nếu có chênh lệch thì có thể doanh nghiệp mở rộng quy mô, tăng công suất, giá
cả thị trường tăng, tỷ giá ngoại tệ tăng…Khi có sự biến động, KTV phải tìmđược bằng chứng hợp lý chứng minh, thường phải tập trung vào những ngườibán mới xuất hiện hoặc những chứng từ, hóa đơn có số tiền lớn để xác minh…
- So sánh danh mục người bán và danh mục các khoản phải trả nhà cung cấp nămnày với năm trước để phát hiện những người bán và những khoản phải trả mớiphát sinh trong năm, từ đó tìm ra bằng chứng chứng minh cho những người bán
và những khoản nợ phải trả nhà cung cấpmới phát sinh
- So sánh tỷ lệ nợ phải trả cuối kỳ với tổng giá trị mua vào trong kỳ của năm nàyvới năm trước để tìm ra những khoản nợ biến động tăng, giảm bất thường haynhững khoản nợ mua chịu tăng thêm hay những khoản mua vào được thanh toánngay, qua đó xác định những biến động bất thường để định hướng kiểm toán
- So sánh tỷ lệ số dư cợ phải trả cuối kỳ với tổng nợ ngắn hạn của năm này vớinăm trước để xem xét những khả năng có những khoản nợ chưa ghi sổ hay đã ghi
sổ nhưng chưa thực tế xảy ra Biện pháp kiểm tra trượng hợp này là thực hiệnkiểm tra những nghiệp vụ phát sinh vào đầu kỳ kế toán sau
Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết khoản mục Nợ phải trả người bán
Sau khi thực hiện các thủ tục phân tích, KTV sẽ thực hiện kiểm tra chi tiếtnhằm thu thập thêm các bằng chứng cho cuộc kiểm toán Về cơ bản kiểm toán
Trang 26khoản mục này bao gồm kiểm toán chi tiết nghiệp vụ nợ phải trả nhà cung cấpvàkiểm toán số dư nợ phải trả người bán.
Kiểm toán chi tiết nghiệp vụ Nợ phải trả người bán
- Kiểm toán cơ sở dẫn liệu “sự phát sinh” của nghiệp vụ ghi nhận nợ phải trả
người bán
• So sánh các khoản nợ phải trả cho người bán theo từng người bán, từng khoản
nợ đã được phản ánh trên sổ chi tiết Nợ phải trả nhà cung cấp của doanhnghiệp với các chứng từ gốc như: các hóa đơn, chứng từ thanh toán tiền, hợpđồng mua bán, thuê mượn Đặc biệt, KTV phải chú ý tới nghiệp vụ có số tiềnlớn, mới phát sinh hoặc phát sinh vào đầu hoặc cuối kỳ, chú ý đối với nhữngkhách hàng lạ, không bình thường
• Gửi thư hoặc trực tiếp yêu cầu người bán xác nhận về công nợ để có cơ sở xácminh về tính có thật của công nợ, sau đó tổng hợp các kết quả về thư đã xácnhận để có biện pháp kiểm toán bổ sung, mở rộng phạm vi kiểm toán hoặcđối chiếu qua ngân hàng
• Kiểm tra thủ tục và thẩm quyền phê chuẩn cũng như dấu hiệu của quá trìnhkiểm soát nội bộ được để lại trên các chứng từ chứng minh nguồn gốc nợ phảitrả nhà cung cấpvà các chứng từ thanh toán nợ cho người bán
• Kiểm tra các nghiệp vụ phát sinh vào đầu kỳ kế toán sau để có thêm cơ sởchứng minh cho tính có thật và tính đầy đủ của nghiệp vụ
- Kiểm toán cơ sở dẫn liệu “tính toán và đánh giá”
Kiểm toán viên phải tính toán số tiền trên các chứng từ, hóa đơn cần kiểmtoán, đặc biệt đối với những nghiệp vụ có số tiền lớn, không bình thường hoặcnghiệp vụ thanh toán bằng ngoại tệ phải được quy đổi theo đúng tỷ giá quyđịnh
- Kiểm toán cơ sở dẫn liệu “đầy đủ ”:
Trang 27Kiểm tra tính liên tục của các chứng từ, hóa đơn nghiệp vụ nợ phải trả ngườibán, đặc biệt chú ý đến các chứng từ chứng minh của các nghiệp vụ phát sinhvào đầu và cuối kỳ, kiểm toán các nghiệp vụ thanh toán nợ phải trả cho ngườibán phát sinh vào đầu kỳ kế toán sau, gửi thư , công văn hoặc trực 0tiếp nhờngười bán xác nhận về số tiền mua hàng và số dư tài khoản nợ phải trả chongười bán.
- Kiểm toán về cơ sở dẫn liệu “phân loại và hạch toán”
Để thực hiện kiểm toán cơ sở dẫn liệu này, KTV phải có sự am hiểu về từngloại nợ khác nhau để thực hiện kiểm tra cho từng loại nợ khác nhau Đồngthời, phải tổng hợp nợ phải trả cho người bán theo từng lợi nợ trên sổ kế toánchi tiết, theo từng khách nợ để đối chiếu với bảng kê công nợ và báo cáo công
nợ theo từng loại nợ, từng khách nợ Ngoài ra, kiểm toán viên còn phải kiểmtra các sổ chi tiết công nợ và quá trình ghi chép đúng phương pháp bằng cáchxem xét, đối chiếu, quan sát quá trình xử lý nghiệp vụ phát sinh và việc ghi sổ
kế toán, lập báo cáo theo đúng quy định
- Kiểm toán về cơ sở dẫn liệu “hạch toán đúng kỳ”:
Để kiểm tra các nghiệp vụ nợ phải trả cho người bán có được ghi chép đúng
kỳ hay không thì KTV cũng phải kiểm tra các chứng từ chứng minh cho cácnghiệp vụ phát sinh vào đầu kỳ kế toán sau Ngoài ra, KTV còn phải thực hiệnkiểm tra ngày tháng trên chứng từ, hóa đơn có liên quan với ngày tháng ghi sổ
và bảng kê các chứng từ hóa đơn mà người bán gửi cho doanh nghiệp
- Kiểm toán về nghĩa vụ của DN đối với Nợ phải trả nhà cung cấp (trách nhiệmpháp lý):
Các khoản nợ phải trả nhà cung cấpluôn phản ánh nghĩa vụ của DN đối vớingười bán, người cung cấp Tuy nhiên có những khoản nợ được phản ánh trên
sổ sách kế toán nhưng lại không tồn tịa thực tế hoặc có chủ nợ thực nhưng chủ
nợ không đủ tư cách pháp nhân hoặc đủ tư cách páp nhân nhưng không đủ cơ
sở để chứng minh cho tính có thật của nghiệp vụ Do đó xác minh về tính có
Trang 28thật của nghiệp vụ và sự tồn tại thực tế, đủ tư cách pháp nhân của chủ nợ đểchứng minh được cơ sở dẫn liệu của nghiệp vụ.
- Kiểm toán cơ sở dẫn liệu “tổng hợp và công bố” Nợ phải trả nhà cung cấp
trên Báo cáo tài chính:
Sau khi đã kiểm toán cơ sở dẫn liệu trên, KTV có thể kết luận về sự phù hợpgiữa số liệu sổ kiểm tra của DN, đảm bảo độ tin cậy hợp lý về các khoản nợphải trả người bán Song để kiểm tra việc trình bày và công khai Nợ phải trảnhà cung cấptrên BCTC thì KTV phải nắm được quy định và phương pháp lậpcác chỉ tiêu Nợ phải trả nhà cung cấptrên BCTC theo chuẩn mực và thông lệchung
Kiểm toán chi tiết số dư Nợ phải trả người bán
Kiểm toán Nợ phải trả nhà cung cấp thường liên quan đến các tài khoản có số
dư như: TK 331-Phải trả người bán, TK 111-Tiền mặt, TK 112-Tiền gửi ngânhàng Do vậy, quá trình kiểm toán chi tiết số dư thường bao gồm kiểm toán chitiết số dư tại khoản “ Nợ phải trả người bán, và khảo sát chi tiết số dư tài khoảnthanh toán tiền Nợ phải trả nhà cung cấp(các tài khoản vốn bằng tiền)
Thủ tục tốt nhất để kiểm tra số dư chính là gửi thư xác nhận cho người bán.Nhưg việc này trong thực tế thường không đơn giản, và tốn kém về thời giancông sức để có thể nhận được đầy đủ thư xác nhận
Trong trường hợp không thu được xác nhận từ người bán, KTV có thể thực hiệncác kỹ thuật thay thế:
• Kiểm tra tính có thật của người bán, như sự tồn tại, tính pháp lý Nếu kháchhàng là thật thì có thể thực hiện các kỹ thuật tiếp theo
• Dựa trên kết quả kiểm toán nghiệp vụ bán hàng và thu tiền phát sinh, KTVtính ra số dư và đối chiếu với số liệu của DN, tìm bằng chứng chứng minhcho chênh lệch nếu có
• Nhờ ngân hàng xác nhận về số tiền trên tài khoản công nợ phải trả ngườibán
Trang 29• Kiểm tra đối chiếu số liệu các chứng từ hóa đơn, số dư tài khoản trong sổ
kế toán của DN với bảng kê chứng từ hóa đơn số dư tại khoản của ngườibán gửi cho DN và bảng kê đối chiếu số liệu định kỳ với ngân hàng Kiểmtra lại độ tin cậy của những bảng kê này
• Ngoài ra, KTV còn tùy thuộc vào mức độ rủi ro kiểm soát và mức thỏa mãnđược kiểm soát để cân nhắc lựa chọn thêm các nghiệp vụ phát sinh vào đầu,cuối kỳ hoặc số tiền lớn…để thực hiện thủ tục kiểm toán
- Khảo sát chi tiết số dư tài khoản thanh toán tiền Nợ phải trả nhà cung cấp(cáctài khoản vốn bằng tiền)
Việc khảo sát chi tiết số dư trên các khoản thanh toán chỉ nhằm đảm bảo cáckhoản công nợ là có thật, thực sự phát sinh, và DN đã thanh toán khoản nợ đótrong năm tại chính này, hoặc năm tài chính kế tiếp Việc khảo sát này sẽ đượcthực hiện đầy đủ và chi tiết ở phần kiểm toán vốn bằng tiền Vì vậy KTV khikiểm toán Nợ phải trả nhà cung cấpsẽ tham chiếu sang phần của KTV phụ tráchphần vốn bằng tiền
1.3.4 Kết thúc và hoàn tất công việc kiểm toán Nợ phải trả người bán.
Sau khi hoàn thành giai đoạn thực hiện kiểm toán, KTV thực hiện việc tổng hợp,đánh giá các bằng chứng thu thập được nhằm soát xét và đưa ra kết luận về khoảnmục Phải trả người bán Thông thường, kết quả kiểm toán từng khoản mục thườnggồm những nội dung:
Kết luận về mục tiêu kiểm toán:
KTV nêu rõ kết luận về việc đạt hay chưa đạt được mục tiêu kiểm toán khoảnmục Nợ phải trả người bán Có thể xảy ra một trong hai khả năng:
- Đạt được mục tiêu kiểm toán: KTV thỏa mãn về kết quả kiểm tra, đánhgiá về khoản mục Nợ phải trả nhà cung cấpđã được kiểm toán vì đã có đủbằng chứng thích hợp về mọi khía cạnh để đưa ra kết luận rằng số liệu,
Trang 30thông tin tài chính đó đã được phản ánh hợp lý, đúng đắn hoặc chỉ rõthông tin đó còn chứa đựng sai sót.
- Chưa đạt được mục tiêu kiểm toán: KTV chưa thỏa mãn với kết quả kiểmtoán ở một khía cạnh nào đó, cần thu thập thêm bằng chứng bổ sung (ghi
- Nhận xét về những tồn tại của hệ thống kế toán và hệ thống KSNB đốivới khoản mục Nợ phải trả nhà cung cấpvà ý kiến đề xuất cải tiến, hoànthiện hệ thống KSNB của KTV
Các vấn đề cần tiếp tục theo dõi trong đợt kiểm toán sau liên quan đến phảitrả người bán
- Việc điều chỉnh số liệu kế toán theo ý kiến của KTV có được phản ánhđầy đủ, kịp thời vào các sổ kế toán có liên quan hay không
- Giải pháp của đơn vị đối với các vấn đề tồn tại mà KTV đã nêu
- Các sai sót đã được phát hiện trong cuộc kiểm toán sơ bộ có được xử lýkhông và mức độ ảnh hưởng đến BCTC cuối niên độ (nếu có)
Trang 31CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC NỢ PHẢI TRẢ NGƯỜI BÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN DTL – VĂN PHÒNG HÀ NỘI THỰC HIỆN.
2.1 Đặc điểm về tổ chức và hoạt động kiểm toán của công ty TNHH kiểm toán DTL – văn phòng Hà Nội.
văn phòng Hà Nội.
Công ty kiểm toán DTL (DTL) là nhà cung cấp các dịch vụ kiểm toán, kếtoán và tư vấn kinh doanh chuyên nghiệp được thành lập theo Giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh số 4102005587 ngày 09/7/2001 của Sở Kế hoạch và Đầu tư
TP HCM DTL trở thành thành viên của tập đoàn kiểm toán quốc tế CroweHorwath vào tháng 9 năm 2002
Tên công ty: Công ty TNHH Kiểm toán DTL
Tên giao dịch : DTL Auditing Limited
Trang 32140 Nguyễn Văn Thủ, Phường Đa Kao
Quận 1, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam
Với phương châm hoạt động: “DTL mong muốn trở thành người bạn đồng hành lớn của các doanh nghiệp bằng cách nỗ lực cống hiến những giải pháp có giá trị mang tính sáng tạo cho sự thành công của doanh nghiệp trong mọi môi trường kinh doanh”, DTL cùng với đội ngũ nhân viên dày dạn kinh nghiệm và phong
cách làm việc chuyên nghiệp luôn phấn đấu cung cấp cho Quí khách hàng nhữngdịch vụ tối ưu vừa đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế và vừa phù hợpvới đặc điểm kinh doanh tại Việt Nam
Hiện nay, DTL có văn phòng tại Hồ Chí Minh và Hà Nội với tổng số nhân viênlên đến 200 với 26 người có bằng Kiểm toán viên (CPA) do Bộ Tài chính cấp
Trang 33Tầm nhìn chiến lược của công ty: “DTL mong muốn trở thành một trong những
nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp hàng đầu tại Việt Nam thông qua uy tín,
chuyên môn và vị thế trên thị trường”
Vị thế của Công ty Kiểm toán DTL hiện nay: ngoài nhóm Big4 + GrantThornton, DTL là một trong năm công ty kiểm toán lớn nhất trong tổng số hơn
160 công ty kiểm toán ở Việt Nam hiện nay
Với sự tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ đòi hỏi phải mở rộng thị trườnghoạt động, ngày 07 tháng 01 năm 2008 Công ty TNHH DTL – Văn phòng HàNội (sau đây gọi tắt là DTL Hà Nội hay DTL) đã được chính thức thành lập
Tên giao dịch DTL Limited – Hanoi office
Email dtl_hanoi@horwathdtl.com.vn
Địa chỉ Tầng 7, Tòa nhà Lotus, Số 2 Đường Duy Tân, Quận Cầu Giấy, Hà
Nội, Việt Nam
Đến nay, DTL Hà Nội trở thành một trong những công ty cung cấp dịch vụ
chuyên môn lớn nhất tại Việt Nam với hơn 50 nhân viên chuyên nghiệp cung cấp
ba loại hình dịch vụ chính là kiểm toán, thuế và tư vấn DTL Hà Nội luôn khẳngđịnh được vị thế dẫn đầu của mình trên thị trường cung cấp dịch vụ kiểm toán và
tư vấn ở Việt Nam
Doanh thu của Công ty có sự tăng trưởng mạnh qua các năm Sau đây làbảng tổng hợp doanh thu của DTL HN giai đoạn 2010 – 2012
Bảng 1.1: Doanh thu của DTL HN giai đoạn 2010 – 2012
Trang 34(Nguồn: BCTC của công ty năm 2011, 2012)
Mặc dù chỉ mới được thành lập từ năm 2008, DTL HN đã dần khẳng định được vịthế của mình và phát triển mạnh mẽ qua các năm Năm 2011, doanh thu của Công
ty đạt gần 6 tỷ đồng (tăng hơn 19% so với năm 2010) Đến năm 2012, DTL HN đãkhông ngừng phấn đấu và đạt doanh thu hơn 7 tỷ đồng (tăng 23% so với năm 2011)
Hà Nội.
DTL HN cung cấp toàn bộ các dịch vụ kiểm toán, kế toán và tư vấn tài chínhcho các khách hàng trong nước và ngoài nước nằm trong khuôn khổ các chính sách,qui định nghề nghiệp của Nhà nước Việt Nam và trong phạm vi Giấy chứng nhậnđăng kí hoạt động Trong đó lĩnh vực kiểm toán là hoạt động chủ yếu mang lạidoanh thu lớn nhất cho DTL HN
Chi tiết các loại hình dịch vụ cụ thể mà DTL HN cung cấp:
Các dịch vụ kiểm toán:
Hoạt động kiểm toán là hoạt động chủ yếu của DTL Hà Nội chiếm tới gần70% doanh thu với khoảng hơn 30 nhân viên chuyên nghiệp với 12 kiểmtoán viên đăng ký hành nghề Hiện tại Công ty cung cấp các loại hình dịch
vụ kiểm toán như:
- Kiểm toán theo luật định (bao gồm kiểm toán BCTC, kiểm toán quyết
Trang 35- Kiểm toán BCTC để báo cáo thuế
- Kiểm toán chi phí hoạt động
- Kiểm toán nội bộ
- Định giá doanh nghiệp
- Soát xét thông tin tài chính
- Soát xét thông tin tài chính dựa theo các thủ tục thỏa thuận trước
- Soát xét việc tuân thủ pháp luật
Đồng thời, DTL có thể cung cấp các dịch vụ soát xét theo yêu cầu cụ thể để hỗtrợ doanh nghiệp trong quá trình tái cấu trúc, chia, tách, hợp nhất, sát nhập và giảithể
Tùy theo khối lượng công việc cần thực hiện cho cuộc kiểm toán và chi phí phảitrả cho hợp đồng kiểm toán mà mức độ đảm bảo của các loại hình dịch vụ trên lại
có những thay đổi khác nhau Dịch vụ phổ biến nhất là kiểm toán báo cáo tài chính,hiện tại công ty có thể thực hiện các cuộc kiểm toán theo nhiều hệ thống Chuẩnmực kế toán Việt Nam (VAS) và hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Đối vớidịch vụ này kiểm toán viên thường dựa trên những mục tiêu cụ thể đã thiết lập sẵn,những tiêu chí cụ thể và quá trình thực hiện của dự án để tiến hành soát xét quátrình thực hiện dự án và đưa ra kết luận về kết quả thực hiện dự án
Ngoài ra DTL còn cung cấp các dịch vụ khác như:
- Tư vấn quản lý doanh nghiệp
- Định giá doanh nghiệp
Trang 362.1.3 Đặc điểm tổ chức quản lý của Công ty TNHH Kiểm toán DTL – văn phòng Hà Nội
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức công ty TNHH kiểm toán DTL – văn phòng Hà Nội
Trang 37Hiện nay bộ máy quản lý của DTL Hà Nội gồm có một Giám đốc, một Phó Giámđốc với bốn bộ phận chính và gần 50 nhân viên.
Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban trong công ty:
Ban Giám đốc
Đứng đầu DTL Hà Nội là Giám đốc ông Nguyễn Thành Lâm, ông Lâm đồng thời
là Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH Kiểm toán DTL Phó Giám đốc của DTL HàNội là ông Lê Duy Trung Bốn phòng ban chính trong công ty được chia thành hai khốichính: khối nghiệp vụ và khối hành chính tổng hợp Trong đó khối nghiệp vụ bao gồmphòng kiểm toán tài chính và phòng xây dựng Riêng phòng kiểm toán tài chính lạiđược chia thành các phòng nhỏ hơn: phòng kiểm toán tài chính hai và phòng kiểm toántài chính ba Đứng đầu phòng kiểm toán tài chính là bà Phạm Thị Tố Loan Phòngkiểm toán xây dựng chuyên kiểm toán các dự án xây dựng cơ bản hoàn thành Chịutrách nhiệm phụ trách phòng kiểm toán xây dựng là ông Lê Duy Trung
Khối Hành chính:
- Bộ phận Hành chính: là bộ phận hỗ trợ các bộ phận khác trong việc hoàn thành
nhiệm vụ được giao, nhiệm vụ chủ yếu là lưu trữ và quản lý tài liệu, văn bản quyphạm pháp luật liên quan đến dịch vụ mà Công ty cung cấp cùng các dữ liệu liênquan đến thông tin khách hàng
- Bộ phận Kế toán: có nhiệm vụ xây dựng và thực hiện kế hoạch tài chính, thực hiện
công tác thống kê, hạch toán, kế toán và thanh quyết toán theo qui định và chế độ kếtoán áp dụng; hỗ trợ đắc lực cho Ban giám đốc trong việc điều tiết chi phí của mộtcuộc kiểm toán
- Bộ phận Công nghệ thông tin: hỗ trợ các KTV xử lý các sự cố liên quan đến máy
tính, chịu trách nhiệm về Website của Công ty, đề xuất các phương pháp tiếp cậnkhách hàng thông qua mạng internet
Trang 38 Khối Nghiệp vụ:
- Bộ phận Kiểm toán BCTC: là bộ phận có số lượng nhân viên chuyên nghiệp lớn
nhất trong DTL HN với 18 nhân viên các cấp Đây là bộ phận trực tiếp lập kếhoạch và thực hiện công việc cụ thể trong một cuộc kiểm toán BCTC
- Bộ phận Kiểm toán XDCB: với số lượng 15 nhân viên các cấp, bộ phận này chủ
yếu là các KTV có kinh nghiệm về lĩnh vực xây dựng, chịu trách nhiệm thực hiệncung cấp dịch vụ kiểm toán Báo cáo đầu tư công trình XDCB hoàn thành
- Bộ phận Tư vấn thuế: gồm những nhân viên có kinh nghiệm về công tác thuế và
nắm rõ các quy định về thuế của Nhà nước, các chuyên gia về thuế của Công ty sẽgiúp khách hàng nhận thức được các giao dịch liên quan đến thuế và giúp kháchhàng hiểu biết được những ảnh hưởng liên quan đến công việc kinh doanh của họ
- Bộ phận Tư vấn Giải pháp doanh nghiệp: bộ phận này được thành lập nhằm mục
địch trợ giúp các khách hàng có được sự cải thiện quyết định về phương hướng vàtình hình hoạt động của doanh nghiệp
Các bộ phận trong Công ty có mối liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một tổ chứcDTL HN thống nhất Công ty cũng thực hiện chính sách chọn và luân chuyển một
số nhân viên giữa Bộ phận Kiểm toán và Tư vấn nhằm tạo điều kiện nâng cao nănglực và hiểu biết của các nhân viên
2.2 Đặc điểm tổ chức kiểm toán tại công ty TNHH kiểm toán DTL – văn phòng
Hà Nội.
2.2.1 Thực hiện các công việc trước kiểm toán nợ phải trả người bán tại công ty
ABC
Thứ nhất, xem xét chấp nhận hay tiếp tục kiểm toán khách hàng: Công ty ABC
là khách hàng lâu năm của công ty, vì vậy công việc đầu tiên cần thực hiện trước khi
Trang 39kiểm toán tại công ty ABC là phải đánh giá khả năng tiếp tục chấp nhận khách hàngnày Công ty kiểm toán DTL HN đã thiết kế một quy trình riêng để đánh giá việc tiếptục chấp nhận kiểm toán khách hàng thông qua một hệ thống các câu hỏi, và việc trảlời các câu hỏi này sẽ đưa ra quyết định là có nên tiếp tục chấp nhận kiểm toán kháchhàng hay không.
Thứ hai, lựa chọn nhóm kiểm toán: Công ty ABC là khách hàng lâu năm nên
khi chấp nhận khách hàng, công ty đã cử các kiểm toán viên đã kiểm toán các nămtrước tới kiểm toán (tính tại năm hiện hành mới là năm thứ ba công ty kiểm toán công
ty ABC nên không công ty không đổi kiểm toán viên mới) Vì đây là công ty niêm yếtnên để hoàn thành công việc kịp tiến độ mà chất lượng công việc vẫn được bảo đảm,ban giám đốc đã lựa chọn nhóm kiểm toán bao gồm 5 thành viên, có cả kiểm toán viên
và các trợ lý kiểm toán và làm việc trong vòng bốn ngày
Thứ ba, lập hợp đồng kiểm toán.
Thứ tư, gửi cho khách hàng kế hoạch kiểm toán sơ bộ và bảng danh mục các
tài liệu cần khách hàng cung cấp
Các tài liệu chung mà kiểm toán viên yêu cầu gửi bao gồm: Điều lệ công ty,giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, biên bản họp hội đồng cổ đông, quy chế tàichính, thỏa ước lao động, danh sách nhân viên, sổ chi tiết các tài khoản kế toán, cáchợp đồng kinh doanh, …
Trang 402.2.2 Lập kế hoạch kiểm toán
hàng
Đặc điểm hoạt động của công ty ABC:
Công ty TNHH ABC là công ty 100% vốn nước ngoài được thành lập năm 2006theo giấy chứng nhận đầu tư số 3x/GP – KCN – NB do Ban quản lý khu công nghiệp
NB – HN cấp ngày 15/02/2006 Từ khi thành lập đến nay, công ty chưa thay đổi giấyphép đầu tư lần nào
Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 16.000.000.000 VNĐ, tương đương800.000 USD Công ty chỉ có duy nhất một cổ đông đó là công ty Q
Lĩnh vực sản xuất kinh doanh chủ yếu của công ty đó là sản xuất bao bì, chủ yếu làthùng carton Thị trường chủ yếu của công ty là thị trường trong nước, bên cạnh đócông ty cũng xuất khẩu một số mặt hàng sản xuất được ra nước ngoài
Niên độ kế toán và đơn vị tiền tệ công ty đang áp dụng:
Kỳ kế toán của công ty ABC bắt đầu từ 01/10 năm trước đến hết 30/09 năm sau.Đơn vị tiền tệ mà công ty đang áp dụng là đồng Việt Nam (ký hiệu: VNĐ)
Chính sách kế toán áp dụng
Công ty ABC áp dụng chuẩn mực, chế độ kế toán Việt Nam và cả chuẩn mực kếtoán quốc tế
Hình thức kế toán áp dụng