Như vậy, nhu cầu đào tạo chính là những kiến thức, kỹ năng, phương pháp và quan điểm mà học viên cần học để đáp ứng những nguyện vọng trong công việc và cuộc sống của họ...17 Xác định nh
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Hồng Minh
Trang 2LĐ-TB&XH : Lao động Thương binh và Xã hội
THPT : Trung học phổ thông
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 3Số hiệu
2.2 Tình hình sử dụng đất do quá trình Quy hoạch, chỉnh trang
2.5 Công tác giải tỏa và các dự án giai đoạn 2007-2011 452.6 Diện tích đất bị thu hồi từ năm 2007-2011 472.7 Cơ cấu tuổi của lao động thuộc diện thu hồi đất 512.8 Quy mô và ngành nghề đào tạo quận Cẩm Lệ 562.9 Chính sách của Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động
2.10 Nhu cầu tuyển dụng lao động phân theo ngành kinh tế
2.12 Tỷ lệ thời gian giảng dạy trong các cơ sở đào tạo nghề 662.13 Cơ cấu tỷ lệ học sinh tốt nghiệp hàng năm theo ngành nghề 662.14 Các hình thức đào tạo nghề của quận Cẩm Lệ 682.15 Danh mục đào tạo nghề, thời gian đào tạo, mức hỗ trợ 69
2.17 Chất lượng học viên của các cơ sở đào tạo nghề 743.1 Dự báo lực lượng lao động Quận, giai đoạn 2013-2020 833.2 Dự báo lao động qua đào tạo nghề của các ngành
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG 2
Chất lượng học viên của các cơ sở đào tạo nghề 2
Dự báo lao động qua đào tạo nghề của các ngành 2
giai đoạn 2013-2020 2
DANH MỤC HÌNH VẼ 3
MỤC LỤC 4
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
CHƯƠNG 1 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ 7
1.2.1 Xác định mục tiêu đào tạo nghề 16 Luật giáo dục (năm 2005, điều 33, trang 25, 26) quy định về mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp như sau: "Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề
nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm được việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội củng cố quốc phòng, an ninh" Điều này có nghĩa là giáo dục nghề nghiệp trong đó có đào tạo nghề phải lấy mục tiêu đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng, thái độ, ý thức nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu lao động xã hội là chính, đồng thời với khả năng phát triển toàn diện của chính họ trong nghề nghiệp và trong
xã hội, phù hợp với chiến lược phát triển nguồn nhân lực, phát
Trang 6Xác định mục tiêu đào tạo nghề phải xuất phát từ yêu cầu thực tế của công việc, về ngành nghề, từ mục tiêu, chiến lược phát triển của đơn vị, địa phương chứ không phải từ ý muốn chủ quan, tự phát của người lao động Như vậy mới đảm bảo lực lượng lao động đào tạo nghề phù hợp, tránh tình trạng vừa thiếu vừa thừa như thực tiễn hiện nay Nếu mục tiêu đào tạo sát với yêu cầu của xã hội thì người được đào tạo có chất lượng sau khi ra trường sẽ có khả năng phục vụ với hiệu suất và chất lượng cao, tức là hiệu quả sẽ cao Ngược lại, mặc dù người học được đào tạo có chất lượng cao nhưng khả năng phục vụ xã hội của họ vẫn bị hạn chế, tức là không phù hợp với nhu cầu sử dụng, như vậy hiệu quả đào tạo sẽ thấp Những yêu cầu đối với mục tiêu dạy học là: 16
- Mục tiêu dạy học phải được diễn đạt theo yêu cầu của người học chứ không phải chức năng của người dạy Người học là chủ thể thực hiện mục tiêu để chiếm lĩnh khả năng mới 16
- Mục tiêu dạy học phải thiết thực, phù hợp và có tính khả thi 17
- Xác định trình độ cần đạt được và phương pháp để đo lường được mức độ thành công của người học 17
- Xác định được trình độ hiện có của học sinh và thời gian, cơ sở vật chất [16, tr.25] 17 1.2.2 Xác định nhu cầu đào tạo nghề 17 Nhu cầu đào tạo của một người là những gì người đó cần học để có thể đạt được một mục tiêu nhất định trong cuộc sống hay công việc của họ Thông thường, nhu cầu học thường xuất phát từ những mong muốn hay nguyện vọng của chính người học Đôi khi, người học không tự mình thấy ngay được những nhu cầu đó mà cần phải
Trang 7Như vậy, nhu cầu đào tạo chính là những kiến thức, kỹ năng,
phương pháp và quan điểm mà học viên cần học để đáp ứng những nguyện vọng trong công việc và cuộc sống của họ 17 Xác định nhu cầu đào tạo cần xác định bao nhiêu người cần phải đào tạo, ở trình độ nào trong những ngành nghề nào Thường phân tích ở những yếu tố sau: 17
- Các nhà xây dựng, thiết kế các khoá đào tạo có thể coi trọng các ý kiến của lao động thuộc diện thu hồi đất, những ý tưởng mà những người lao động hiểu rõ nhất 17
- Lao động thuộc diện thu hồi đất không tin vào các nhà xây dựng, thiết bị và tổ chức các khoá đào tạo hay họ thấy bị áp đặt bởi
những người này bởi vì họ đã từng bị áp đặt bởi cảm tính trong khi
họ nghĩ rằng họ thực sự cần loại thông tin khác hoặc bởi vì họ đã từng trải qua những khoá đào tạo vô bổ (không có tác dụng) 17
- Nông dân không nhận thức được nhu cầu đào tạo của mình là như thế nào và có các cơ hội nào về đào tạo 18
- Các nhu cầu đào tạo bị chi phối bởi những nhóm người có quyền lực nhất định như những người có vai trò định hướng, lãnh đạo,
mà không kể đến lợi ích của những nhóm người dễ bị tổn thương như lao động nghèo, phụ nữ, trẻ em và các đối tượng dễ bị tổn thương khác 18 Những khó khăn này cho ta thấy với bất kỳ chương trình phát triển, chương trình đào tạo nào cũng cần phải tiến hành phân tích các bên liên quan thật cẩn thận ngay từ giai đoạn đầu Kết quả đạt được sẽ có ý nghĩa và phù hợp hơn nếu như mọi thành viên liên
Trang 8Vì vậy, xác định và phân tích nhu cầu đào tạo là bước phải tiến hành trước tiên để có một chương trình đào tạo hiệu quả Đây là công việc vô cùng quan trọng để đảm bảo đáp ứng nhu cầu học tập của học viên, đồng thời đảm bảo rằng đào tạo đứng trên quan điểm
“lấy học viên làm trung tâm” Xác định nhu cầu đào tạo là cơ sở để lập kế hoạch đào tạo Xác định nhu cầu đúng sẽ đánh giá được cấp
độ năng lực hiện tại của mỗi cá nhân và khả năng phản ứng của học viên đối với các nội dung đào tạo cũng như số lượng và chất lượng của từng ngành nghề, cấp bậc chuyên môn cần đào tạo Kết quả đánh giá nhu cầu đào tạo giúp thiết kế các khóa đào tạo sau có thể đáp ứng được những nhu cầu chung và cả những nhu cầu riêng biệt của nhóm học viên mục tiêu 18 Xác định nhu cầu đào tạo không chính xác sẽ dẫn đến việc mất cân đối giữa yêu cầu và đào tạo, giữa đào tạo và sử dụng Trong thực tiễn quản lý vẫn còn gặp tình trạng này, do không xác định được nhu cầu đào tạo nghề một cách chính xác, toàn diện nên cơ cấu đào tạo thiếu cân đối, không đồng bộ, một số ngành nghề thiếu nguồn lực lao động, công nhân kỹ thuật một cách trầm trọng, nhưng có nghề đào tạo ra lại không sử dụng hết, không sử dụng đúng nghề
đã đào tạo Để xác định nhu cầu đào tạo, cần phải tìm hiểu và bám sát mục tiêu kinh tế xã hội của địa phương, cơ cấu kinh tế cần
hướng đến 18
Để đào tạo gắn với thị trường lao động, phải có định hướng về sự phát triển của các ngành nghề trong xã hội Nhà nước phải xây dựng hệ thống thông tin về hướng phát triển của các ngành nghề,
dự báo về nguồn nhân lực và thị trường lao động Ở các nước phát
Trang 9công việc này) Ngoài ra, người dân còn được cung cấp những phần mềm tin học, những trang Web miễn phí về lĩnh vực nghề nghiệp [1, tr.18] 19 1.2.3 Xác định chương trình đào tạo nghề 19 Theo luật dạy nghề, trình độ đào tạo nghề gồm sơ cấp, trung cấp và cao đẳng Ứng với mỗi trình độ có chương trình, nội dung đào tạo, thời gian đào tạo được qui định cụ thể 20 Việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình sao cho hợp lý và sát với nhu cầu đào tạo cũng như sát với nghề đào tạo để học viên có thể nắm vững được nghề sau khi tốt nghiệp là vấn đề quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo [1, tr.27] 20 1.2.4 Lựa chọn hình thức, phương pháp đào tạo nghề 20 Hiện nay có nhiều phương pháp đào tạo, mỗi phương pháp có cách thức thực hiện và ưu nhược điểm riêng Do vậy, cần lựa chọn
phương pháp tối ưu để vừa đạt được các mục tiêu đặt ra vừa tiết kiệm được kinh phí đào tạo .20
Để đánh giá kết quả cần phải đánh giá chương trình đào tạo bằng các phương pháp khác nhau để xác định xem nó có đáp ứng được với yêu cầu, mục tiêu đưa ra không, hiệu quả làm việc của các người lao động sau khi được đào tạo nghề có đáp ứng được với yêu cầu công việc thực tế hay không .23 Trong quá trình đào tạo, việc kiểm tra, đánh giá là một khâu cơ bản, là một nhiệm vụ thường xuyên của nhà trường Trên cơ sở đánh giá kết quả, cần phải điều chỉnh nội dung, chương trình đào tạo cho phù hợp hơn [10, tr.27] 23 1.2.6 Đặc điểm của lao động bị thu hồi đất 23
Trang 10những người lao động bị thu hồi đất sản xuất (đất sản xuất nông nghiệp và mặt bằng sản xuất, kinh doanh các ngành nghề phi nông nghiệp), đất đai chính là tư liệu sản xuất, là nơi giúp họ tạo ra được thu nhập, là điều kiện cần để họ có thể sinh tồn Người lao động khi
bị thu hồi đất không còn đất để tham gia vào hoạt động sản xuất
cũng tựa như họ mất đi quyền lợi của chính mình 24
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT 25
1.3.1 Chính sách của Nhà nước đối với người bị thu hồi đất 25
1.3.2 Nhân tố thuộc về người học nghề 26
1.3.3 Nhân tố thuộc về hệ thống cơ sở đào tạo nghề 26
1.3.4 Nhân tố thuộc về điều kiện, kinh tế - xã hội 28
Các yếu tố bên ngoài tác động đến chất lượng đào tạo nghề thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: thể chế chính trị, kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, địa lý, truyền thống - văn hoá Tuy nhiên cần quan tâm hơn đến một số yếu tố cơ bản như: hội nhập kinh tế và xu hướng toàn cầu hoá; sự phát triển KT – XH, cơ chế - chính sách, qui mô – cơ cấu lao động, nhận thức xã hội về đào tạo nghề [8, tr.37] 29
1.4 KINH NGHIỆM ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG 29
CHƯƠNG 2 32
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN 32
QUẬN CẨM LỆ 32
2.2.1 Thực trạng xác định mục tiêu đào tạo nghề 61
Trang 11Bảng 2.17 Chất lượng học viên của các cơ sở đào tạo nghề 74 2.3.1 Thành công của công tác đào tạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất 762.3.2 Hạn chế của công tác đào tạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất 77
- Vẫn còn thói quen ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà Nước 79
- Do trở ngại về trình độ học vấn cũng như vấn đề tuổi tác đã ảnh hưởng đến việc học nghề của người lao động 79 c) Hệ thống cơ sở đào tạo nghề 79
- Các cơ sở đào tạo nghề tổ chức các lớp chưa linh hoạt, chưa phù hợp với đặc điểm của lao động, đây thường là các lao động chính trong hộ nên rất khó tạm dừng công việc để đi học .79
- Mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các đô thị trong khi đó lao động nơi bị thu hồi đất thường là lao động nông thôn phần lớn thu nhập thấp, chi phí học tập tại đô thị cao nên dù nhu cầu học nghề rất lớn nhưng khó thoã mãn được 79
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, phương tiện phục vụ cho giảng dạy, học tập chưa đủ để đảm bảo điều kiện cho đào tạo nghề
có chất lượng 80
Trang 12gia quá trình đào tạo làm cho kiến thức đào tạo nghèo nàn, chưa phù hợp với thực tế và chưa đưa được công nghệ mới vào trong đào tạo 80
- Nội dung, chương trình đào tạo nặng nề dàn trải, chưa thích hợp với phần lớn lao động nông thôn vốn trình độ học vấn thấp khiến cho nhiều người lao động có nhu cầu học một nghề để lập nghiệp không có cơ hội do còn nhiều rào cản Chưa có chương trình giảng dạy những nghề truyền thống cũng như những ngành nghề được quan tâm và có nhu cầu như hiện nay 80
- Phương pháp dạy và học còn chuyển biến chậm, thời gian thực hành, thực tập ít Sự hợp tác liên kết giữa doanh nghiệp với cơ sở đào tạo nghề chưa chưa chặt chẽ, nhiều doanh nghiệp chưa thật quan tâm hợp tác với cơ sở đào tạo nghề 80
- Tài chính: Công tác huy động nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề chưa hiệu quả Chi phí đầu tư, hỗ trợ cho việc đào tạo nghề cho lao động bị thu hồi đất còn thấp 80 d) Điều kiện kinh tế - xã hội 80 Trong quá trình đô thị hóa, đất đai canh tác đã bị thu hẹp dần cung với quá trình thu hẹp và phát triển các khu đô thị mới, phát triển các khu, cụm công nghiệp, dịch vụ, du lịch Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm của người lao động Những biến đổi về quy
mô và cơ cấu việc làm sẽ gây không ít khó khăn cho người lao động
và xã hội Sự di chuyển dân cư và lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác giải quyết việc làm, dòng di cư này không chỉ gây sự quá tải về các điều kiện sinh hoạt mà còn gây sức ép đối với việc đào tạo nghề và giải quyết việc làm ở khu vực thành thị 80
Trang 13nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, năng lực của hệ thống đào tạo nghề
và các chính sách về đào tạo nghề của thành phố Đà Nẵng cũng như của quận Cẩm Lệ Tập trung phản ánh thực trạng công tác đào tạo nghề của quận trên các khía cạnh: xác định nhu cầu đào tạo nghề; xác định mục tiêu đào tạo nghề; chương trình đào tạo nghề; hình thức phương pháp đào tạo nghề, đồng thời đưa ra
những đánh giá về kết quả đào tạo nghề Qua phân tích thực trạng công tác đào tạo nghề từ năm 2007 đến năm 2011 cho thấy đã hình thành hệ thống đào tạo nghề theo 2 cấp trình độ, chuyển từ đào tạo nghề theo năng lực hiện có của cơ sở sang đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội; các cấp chính quyền đã ban hành các
chính sách hỗ trợ đối với cơ sở đào tạo nghề, người học nghề cũng như hỗ trợ kinh phí đào tạo ngắn hạn chí các đối tượng lao động bị thu hồi đất trên địa bàn quận Cẩm Lệ Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đào tạo nghề của quận cũng bộ lộ không ít những tồn tại hạn chế đòi hỏi phải được khắc phục kịp thời Thực trạng công tác đào tạo nghề trong những năm qua, cũng như nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của quận trong những năm tiếp theo đặt
ra yêu cầu cấp thiết cần phải có biện pháp khắc phục tồn tại và đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động thị thu hồi đất trên địa bàn quận Cẩm Lệ để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
của quận 81
CHƯƠNG 3 82
2011 84
2015 84
2020 84
Trang 1449.890 84
58.961 84
2 Tỷ lệ lao động qua đào tạo chung (%) 84
55,0 84
65.0 84
80,0 84
b) Mục tiêu cụ thể 89
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 99
Chương 3 tập trung trình bày rõ quan điểm, mục tiêu, định hướng đào tạo nghề của quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2013 – 2020 Trên cơ sở đó, đề xuất những giả pháp nhằm quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo nghề, đẩy mạnh xã hội hoá, liên kết, hợp tác quốc tế trong đào tạo nghề, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện đào tạo nghề, hoàn thiện cơ chế chính sách về đào tạo nghề và tăng cường quản lý nhà nước về đào tạo nghề để đảm bảo số lượng, nâng cao chất lượng lao động qua đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động 99
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế nước ta, quá trình đô thị hoá đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh Thành phố Đà Nẵng nói chung và quận Cẩm Lệ nói riêng cũng không nằm ngoài xu thế đó Có thể nói: đô thị hoá là quá trình tất yếu trong phát triển kinh tế-xã hội, và đó là xu thế tích cực tạo nên động lực mới cho phát triển kinh tế Tuy nhiên, quá trình
đô thị hoá, đặc biệt là ở các vùng thuộc diện thu hồi đất đang đặt ra nhiều vấn
đề kinh tế, xã hội cần giải quyết: hàng chục nghìn hộ nông dân mất đất sản xuất, thiếu việc làm nên thu nhập thấp và giảm dần; các tệ nạn xã hội phát triển; môi trường sinh thái bị ảnh hưởng nghiêm trọng; sự phân hoá về thu nhập và đời sống trong nội bộ dân cư tăng lên
Những năm qua, vấn đề về việc làm cho lao động bị mất đất, trình độ tay nghề lao động … đang phát sinh ngày càng phức tạp Do vậy, vấn đề đào tạo nghề cho người lao động thuộc diện thu hồi đất đã nổi lên là một trong những vấn đề bức xúc nhất cần được nghiên cứu, giải quyết
Chính vì vậy việc nghiên cứu, đánh giá những vấn đề bức xúc cần giải quyết trong đào tạo nghề cho người lao động trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng trong quá trình đô thị hoá là việc làm hết sức cần thiết, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm giải quyết vấn đề một cách cơ bản là việc làm cần thiết Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở quan trọng cho việc thực hiện các giải pháp đào tạo nghề trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn quận Cẩm Lệ nói riêng và các quận, huyện khác TP Đà Nẵng nói chung Do vậy, tôi đã chọn
vấn đề “Giải pháp đào tạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Cẩm Lệ” làm luận văn của mình.
Trang 162 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về đào tạo nghề cho lao động
- Phân tích, đánh giá khái quát thực trạng công tác đào tạo nghề cho người lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Cẩm Lệ trong những năm gần đây
- Đánh giá tình hình lao động, việc làm cho người lao động trên địa bàn quận Cẩm Lệ thời gian qua
- Phân tích tình hình đào tạo nghề cho lao động trên địa bàn quận Cẩm
Lệ thời gian qua
- Đề xuất giải pháp cần thiết nhằm đẩy mạnh và hoàn thiện việc đào tạo nghề cho người lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Cẩm Lệ trong quá trình đô thị hoá
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến việc đào tạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Chủ yếu tập trung các đối tượng thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, có tham khảo kinh nghiệm của thành phố thành phố khác
- Nghiên cứu thực trạng đào tạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007-2011
- Các giải pháp đào tạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2013-2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đánh giá, dự báo, điều tra khảo sát
Trang 175 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo nghề
Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Cẩm Lệ
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Cẩm Lệ
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Vấn đề về tạo việc làm cho người lao động là một nhu cầu cấp bách đặc biệt là đối tượng lao động thuộc diện thu hồi đất Ở thành phố Đà Nẵng cũng như các tỉnh và thành phố khác trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ đã đề cập đến vấn đề này ở nhiều góc độ
và phạm vi hẹp rộng khác nhau như:
- Đề tài cấp Nhà nước do Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương
“Nghiên cứu dự báo về chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn
và các giải pháp giải quyết việc làm trong quá trình CNH – HĐH, ĐTH” Chủ nhiệm : PGS.TS Lê Xuân Bá
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, giải pháp mang tính chung nhất (cho cả ngắn hạn và dài hạn) và hữu hiệu nhất đối với việc tạo việc làm và toàn dụng lao
động xã hội là tìm mọi cách để phục hồi các hoạt động sản xuất kinh doanh đã
có, mở mang thêm các hoạt động mới để tạo cơ hội việc làm cho người lao động bị mất việc hiện tại và những lao động trẻ tăng lên theo thời gian đồng thời phải có chiến lược đào tạo kỹ năng vả nâng cao thể lực lượng lao động để
có thể đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao cửa thị trường lao động
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2005 của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân “Giải pháp về đào tạo nghề cho người lao động ngoại thành Hà Nội trong
Trang 18quá trình đô thị hoá”
- Một số quan điểm và định hướng về giải pháp tạo việc làm và sử dụng lao động nông thôn trong điều kiện kinh tế hiện nay Tác giả: TS Chu Tiến Quang - Viện NCQLKTTW
Bài viết cụ thể hoá hơn về giải pháp tổng quát của Lê Xuân Bá bài viết này đề cập đến quan điểm và những định hướng cơ bản về sử dụng lao động
và tạo việc làm cho lao động nông thôn trong điều kiện suy giảm kinh tế hiện
nay
- Đề tài cấp bộ “Lao động và việc làm trong nông nghiệp, nông thôn”;
cơ quan chủ trì Viện Chính sách và chiến lược NN, NT chủ nhiệm Ths Vũ Thị Mão, Hà Nội 2007
- Luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề bằng biện pháp tăng cường sự liên kết giữa các trường dạy nghề với doanh nghiệp”
- Phát triển khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng và vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp Tác giả PGS, TS Nguyễn Sinh Cúc, Tổng cục Thống kê
Trong bài viết này tác giả đưa ra những vấn đề nổi cộm và những nguyên nhân trực tiếp trong việc phát triển các khu công nghiệp tập trung của đồng bằng sông Hồng, vấn đề đặt ra là củng cố các KCN đã có, đi đôi với giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh ở nông thôn và các hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp một cách đồng bộ Yêu cầu chung là đảm bảo tốt việc làm, thu nhập, đời sống của hộ nông dân mất đất nông nghiệp do phát triển KCN phải được đặt lên hàng đầu trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện và cơ chế chính sách của trung ương và địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng Từ đó kiến nghị những giải pháp đối với nông dân mất đất nông nghiệp
Trang 19- Giải quyết việc làm cho người thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp ở NASICO Theo Tạp chí cộng sản - 12/06/2010.
Trong bài viết này đưa ra mô hình giải quyết việc làm cho người dân có đất thu hồi cho sự phát triển công nghiệp tại Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Nam Triệu (NASICO) tại xã Tam Hưng, thành phố Hải Phòng Từ đó đưa ra một số kinh nghiệm trong việc giải quyết lao động, việc làm sau thu hồi đất nông nghiệp: đầu tiên là các doanh nghiệp chủ động liên doanh, liên kết chặt chẽ với chính quyển địa phương trong đào tạo, hai là chính quyền địa phương phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức dạy nghề, thứ ba là đảm bảo
sự công khai, công bằng hợp lý trong giải quyết lao động, cuối cùng là: sau khi tiếp nhận, doanh nghiệp cần có kế hoạch nâng cao tay nghề
- Thực trạng việc làm của người tao động trong các hộ dân diện thu hồi đất Tỉnh Quảng Nam Tác giả: Phạm Quang Tín Trường Đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Nghiên cứu tình hình thu hồi đất và thực trạng đời sống các hộ dân bị thu hồi đất sản xuất tình trạng việc làm của lao động trong các bộ bị thu hồi đất ở Quảng Nam để làm cơ sở xây dựng các chính sách hỗ trợ, tạo việc làm cho người dân Quảng Nam Và kiến nghị một số giải pháp như sau: cần thực hiện tốt hơn nữa việc đào tạo và tái đào tạo trình độ nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật cho lao động; hỗ trợ, cho vay vốn ưu đãi về lãi suất; tác động đến các doanh nghiệp trong việc tuyển dụng và tham gia đào tạo lao động và cuối cùng là nghiên cứu tính toán chi tiết, cụ thể sự tác động của việc thu hồi đất sản xuất và có kế hoạch giải quyết việc làm cho người lao động trước khi giải tỏa mặt bằng
- Vai trò của Nhà nước trong việc đào tạo nghề - nhìn từ góc độ kinh tế học Tác giả: TS Đỗ thị Thu Hằng (Khoa Quản lý giáo dục, trường Đại học giáo
dục, Đại học quốc gia Hà Nội), Đỗ Thị Kim Thoa (Học viên cao học, trường
Trang 20Đại học Công nghệ Harbin, Trung Quốc)
Bài viết này không chỉ làm rõ vấn đề về vai trò, chức năng của nhà nước trong đào tạo nghề cho xã hội dưới góc độ kinh tế học mà còn có ảnh hưởng trực tiếp đến
việc xây dựng chế độ đào tạo nghề phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của xã hội, tiếp cận với trình
Trang 21CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1.1 Khái niệm về nghề và đào tạo nghề
a) Khái niệm nghề
Nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với
sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, văn minh nhân loại Bởi vậy được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau [15, tr.6]
Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau:
- Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại
- Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội
- Là phương tiện để sinh sống
- Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định
Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu sự tác động mạnh mẽ của của khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lược phát triển KT-XH của mỗi quốc gia nói riêng Bởi vậy phạm trù “nghề” biến đổi mạnh
mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển KT-XH của đất nước
b) Khái niệm đào tạo nghề
- Đào tạo: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết [15, tr.6]
Trang 22Như vậy, đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá nhân để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất Đào tạo thực hiện bởi các loại hình thức tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng được tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn.
- Đào tạo nghề: “Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại
và trong tương lai” Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau. Đó là:
+ Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất về nghề nghiệp
+ Học nghề: “Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định”Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề
+ Đào tạo nghề mới: Là đào tạo những người chưa có nghề, gồm những người đến tuổi lao động chưa được học nghề, hoặc những người trong độ tuổi lao động nhưng trước đó chưa được học nghề Đào tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm lao động đào tạo nghề cho xã hội
+ Đào tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn Một số công nhân được đào tạo lại cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình độ kỹ thuật mới.Đào tạo lại thường được hiểu là quá trình nhằm tạo cho người lao động
có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề
Trang 23+ Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hoá kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng
cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn
Như vậy, xác định rõ ranh giới giữa đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại nghề hiện nay là một việc phức tạp, khó khăn Dựa vào lý thuyết qui luật số đông, các khái niệm trên được phân biệt theo các tiêu chí sau:
+ Nội dung: Nội dung học có liên quan tới nghề chuyên môn mới hay cũ + Mục đích: Để tiếp tục làm nghề cũ hay đổi nghề
+ Lần đào tạo: Lần đầu tiên hay tiếp nối
+ Văn bằng: Được cấp bằng, chứng chỉ hay không được cấp sau khi học Đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân Theo qui định của Luật giáo dục, hệ thống giáo dục bao gồm: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục học nghề, giáo dục đại học và sau đại học.Theo hệ thống khung giáo dục quốc dân thì đào tạo nghề được thực hiện
ở các cấp khác nhau, ở lứa tuổi khác nhau và được phân luồng để đào tạo nghề phù hợp với trình độ về văn hoá, khả năng phát triển của con người và độ tuổi [12, tr.4]
1.1.2 Phân loại đào tạo nghề
Có rất nhiều cách phân loại đào tạo nghề, tuỳ theo mỗi loại tiêu thức ta
có thể phân loại đào tạo nghề thành các loại hình khác nhau Trong phạm vi luận văn này chỉ xét hai tiêu thức phân loại như sau:
- Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề: Gồm đào tạo ngắn hạn và đào tạo dài hạn
+ Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới
một năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề Loại hình này có ưu điểm là
có thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người
Trang 24không có điều kiện học tập tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viên.
+ Đào tạo dài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ một
năm trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào tạo ngắn hạn
- Căn cứ vào nghề đào tạo đối với người học: gồm có đào tạo mới, đào tạo lại và đào tạo nâng cao
+ Đào tạo mới: Là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người
chưa có nghề (đào tạo mới là để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề)
+ Đào tạo lại: Là quá trình đào tạo nghề áp dụng với những người đã có
nghề song vì lý do nào đó, nghề của họ không còn phù hợp nữa đòi hỏi phải chuyển sang nghề khác, chuyên môn khác
+ Đào tạo nâng cao: Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh
nghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việc phức tạp hơn [8, tr.16]
1.1.3 Vai trò của đào tạo nghề
Với mục tiêu "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài" nhằm đáp ứng đòi hỏi sự phát triển KT-XH Cùng với các hệ thống giáo dục,
hệ thống dạy nghề cũng có chức năng chủ yếu thực hiện các mục tiêu giáo dục nói trên, đào tạo nghề góp phần quan trọng vào mục tiêu đào tạo nhân lực Để đảm bảo phát triển nguồn nhân lực, Nghị quyết Đại hội IX đã chỉ rõ "Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũ lao động, có chất lượng cao, đặc biệt là trong các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao Gắn việc hình thành các khu công nghiệp, khu công
Trang 25nghệ cao, với hệ thống các trường đào tạo nghề Phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thống trường dạy nghề trên địa bàn cả nước Mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa dạng, linh hoạt, năng động" [9; tr.12]
Trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực thực hiện sự nghiệp HĐH, công tác đào tạo nghề cần phải được đẩy mạnh cả về số lượng và chất lượng theo hai hướng đào tạo nghề dài hạn và ngắn hạn, trong đó đào tạo nghề dài hạn giữ vai trò chủ đạo Chính vì vậy giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng có tầm quan trọng góp phần quyết định chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp đổi mới và hội nhập của đất nước
CNH-Vai trò của dạy nghề được thể hiện ở những mặt sau :
- Đào tạo nghề tạo ra một lực lượng lao động có trình độ lành nghề cao,
có kiến thức và kỹ năng, đáp ứng được nhu cầu thị trường lao động và yêu cầu công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước
- Dạy nghề đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng CNH – HĐH đất nước
- Dạy nghề góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm và phát triển ngành nghề mới ở nông thôn Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, là yếu tố quyết định phát huy trí tuệ và tay nghề nguồn nhân lực cong người, ổn định và phát triển kinh tế, lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân Cung lao động thường lớn hơn cầu lao động, một trong những nguyên nhân dẫn đến cầu lao động ít là do nhiều người lao động không có trình độ kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động Do vậy đào tạo nghề sẽ tác động mạnh mẽ đến thị trường lao động, góp phần tăng cầu lao động và người lao động có việc làm [9; tr.14]
Trang 26- Dạy nghề đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động Ngoài việc nâng cao
chất lượng tay nghề, chuyên môn cho người lao động, đào tạo nghề còn góp phần nâng cao ý thức, tăng tính tổ chức kỷ luật Đây là một điều kiện thuận lợi cho bộ phận nhân lực đã qua đào tạo khi ra nước ngoài lao động Vì vậy, phát triển dạy nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động, hòa nhập thị trường lao động quốc tế là góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động khu vực nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, từng bước đưa kinh
tế nước nhà lên một tầm cao mới
- Dạy nghề góp phần thay đổi nhận thức, tư duy về vấn đề nghề nghiệp, lao động và việc làm cho một bộ phận lớn thanh niên và xã hội Khi thực hiện tốt xã hội hóa đào tạo nghề sẽ tạo ra một phong trào đào tạo nghề sâu rộng, lôi kéo toàn bộ xã hội vào quá trình học tập, nâng cao trình độ, đào tạo gắn với việc làm, từ đó thay đổi nhận thức, tư duy về vấn đề nghề nghiệp, lao động và việc làm cho một bộ phận lớn thanh niên và xã hội
- Đào tạo nghề cho lực lượng lao động góp phần vào việc đảm bảo an
sinh xã hội Trình độ dân trí thấp, cùng với việc sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ sẽ dẫn đến một bộ phận lao động dễ sa ngã vào các tệ nạn xã hội : ma túy, cờ bạc, rượu chè ảnh hưởng đến xã hội nói chung và gia đình, bản thân
họ nói riêng Vì vậy, nếu lao động bị thu hồi đất được qua đào tạo nghề một cách bài bản và khoa học sẽ giúp họ nâng cao tầm nhận thức của mình và mở
ra cho họ cơ hội tìm kiếm việc làm mới nhằm nâng cao thu nhập, từ đó giúp cho đời sống kinh tế của họ được ổn định và phát triển hơn
- Đào tạo nghề cho lực lượng lao động góp phần vào việc khác thác có hiệu quả về lợi thế, tiềm năng hát triển sẵn có tại địa phương [9, tr.21]
1.1.4 Đặc điểm, yêu cầu của hoạt động đào tạo nghề
a) Đặc điểm của hoạt động đào tạo nghề
Dạy lý thuyết và dạy thực hành nghề trong đào tạo nghề có cùng mục
Trang 27đích Nhưng lại có những nhiệm vụ khác nhau Dạy học thực hành nghề thể hiện sự khác biệt chính ở những điểm sau:
- Trong dạy thực hành nghề có mối liên hệ với sản xuất, trong khi đó dạy lý thuyết nghề có mối liên hệ gián tiếp với sản xuất
- Trong dạy thực hành nghề, đơn vị thời gian là ngày, học ở nơi đào tạo nghề như xưởng thực hành, phân xưởng sản xuất hoặc phòng thực nghiệm Nhưng trong dạy lý thuyết thời gian là các tiết học ở lớp hoặc ở phòng học
- Trong dạy thực hành nghề, số lượng học sinh rất khác nhau thường là học sinh ít Trong dạy lý thuyết số lượng học sinh thường cao hơn
- Trong dạy thực hành nghề trên cơ sở của lao động thực tế trong sản xuất mà tự tổ chức nơi làm việc, vị trí đứng máy, các quy định về an toàn, về bảo hộ lao động phức tạp hơn trong dạy lý thuyết nghề
- Lao động sư phạm của giáo viên và lao động học tập của học sinh trong dạy thực hành nghề không đơn thuần là lao động trí óc mà còn có tính chất thể hiện rõ rệt, đòi hỏi nỗ lực thể chất lớn hơn khi dạy lý thuyết [6, tr.13]
Quá trình dạy học trong đào tạo nghề có liên hệ chặt chẽ với quá trình lao động xã hội Đây là một vấn đề cơ bản trong đào tạo nghề nghiệp người giáo viên dạy thực hành phải nghiên cứu một cách nghiêm túc, bởi vì chính thông qua lao động thực tiễn đã rút ra để rồi xây dựng mục đích và nhiệm vụ của dạy học thực hành nghề
- Trong đào tạo thực hành nghề tính chất của sự lĩnh hội nhận thức của học sinh đã từng bước chuyển biển từ hoạt động có tính chất học tập thuần tuý sang tính chất học tập lao động rồi đến tính chất lao động - học tập và cuối cùng trong giai đoạn thực tập ở vị trí người công nhân hoạt động của học sinh hầu như hoàn toàn mang tính chất lao động Trong đào tạo nghề, nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội” thể hiện rất rõ nét, đồng thời cũng có điều kiện
Trang 28khách quan thuận lợi để thực hiện một cách triệt để.
- Trong dạy học thực hành nghề lao động học tập có tính chất phân hoá cao do sự đa dạng phong phú của các yêu cầu đặc trưng của hàng trăm nghề đào tạo khác nhau của các loại hình và con đường đào tạo khác nhau [6, tr.17]
b) Yêu cầu của hoạt động đào tạo nghề
Bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào, muốn đạt kết quả tốt bao giờ cũng phải đảm bảo 2 mặt chủ yếu:
- Tính chính xác, nhanh gọn của các thao tác, động tác chính là kỹ xảo
- Cách tổ chức sản xuất, hình thành kỹ năng, phát triển tư duy
Vai trò cốt lõi của dạy học thực hành nghề là hình thành kỹ năng, rèn luyện kỹ xảo nghề và phát triển kỹ năng hành dụng trên cơ sở những liên hệ hữu cơ giữa tri thức, kỹ năng và kỹ xảo
Kỹ năng và kỹ xảo là hai thuật ngữ thường được dùng để chỉ sự thực hiện các hành động, hoạt động trong đời sống hoặc trong đào tạo nghề nghiệp Hai thuật ngữ này có quan hệ chặt chẽ với nhau và phát triển trên nền kiến thức thu nhận được Kỹ năng được hình thành theo những qui luật nhất định Việc thực hành kỹ năng bắt đầu từ sự nhận thức và kết thúc là biểu hiện ở hành động cụ thể [3, tr.25]
Từ điển Tiếng Việt (2002) định nghĩa kỹ xảo là kỹ năng đạt đến mức thuần thục Kỹ xảo là năng lực thực hiện hành động với độ chính xác cao, tốc
độ nhanh và hợp lý nhất Trong tâm lý học dạy thực hành, người ta coi: “ Kỹ xảo là hoạt động hay thành phần của hoạt động đã được tự động hoá nhờ quá trình luyện tập” Trong đào tạo nghề, kỹ xảo thường bao gồm 3 loại kỹ xảo:
kỹ xảo vận động, kỹ xảo cảm giáo, kỹ xảo trí tuệ Các loại kỹ xảo này có quan
hệ mật thiết, gắn bó với nhau, khó có thể tách rời trong hoạt động nghề nghiệp [3, tr.27]
Trang 29Các cơ sở đào tạo nghề: Theo bộ Luật Lao động bao gồm tất cả các cơ
sở đào tạo ngoài hệ thống trường đào tạo chính qui như: các trường dạy nghề của các tổ chức, cơ quan, Tổng công ty, doanh nghiệp; các trung tâm đào tạo nghề quận, huyện; các trung tâm dịch vụ việc làm
Các trung tâm đào tạo nghề quận, huyện và các trung tâm dịch vụ việc làm đào tạo các lớp do các ngành và các thành phần kinh tế yêu cầu Kinh phí của các cơ sở này một phần được ngân sách nhà nước cấp, một phần do Bộ, địa phương chủ quản và người học tự đóng góp
Các trường dạy nghề tư thục và các lớp dạy nghề tư nhân: do các tổ chức, cá nhân tự tổ chức theo qui định của Nhà nước Kinh phí học tập chủ yếu do người học phải đóng góp
Hợp tác Ọuốc tế về đào tạo nghề: Sự mở cửa nền kinh tế, chính sách khuyến khích tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài khiến cho nhiều quốc gia,
tổ chức quốc tế, các công ty lớn trên thế giới đã tìm đến Việt Nam hợp tác trong nhiều lĩnh vực Chúng ta có thể khai thác khả năng của các tổ chức nước ngoài trong việc đào bồi dưỡng nghề với hình thức đào tạo thông qua hợp đồng giữa các bên, qua các dự án đầu tư có khoản mục đào tạo mới và đào tạo lại [9, tr.27]
Trang 301.2 NỘI DUNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ
1.2.1 Xác định mục tiêu đào tạo nghề
Luật giáo dục (năm 2005, điều 33, trang 25, 26) quy định về mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp như sau: "Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm được việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội củng cố quốc phòng, an ninh" Điều này có nghĩa là giáo dục nghề nghiệp trong đó có đào tạo nghề phải lấy mục tiêu đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng, thái độ, ý thức nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu lao động xã hội là chính, đồng thời với khả năng phát triển toàn diện của chính họ trong nghề nghiệp và trong xã hội, phù hợp với chiến lược phát triển nguồn nhân lực, phát triển con người của đất nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Xác định mục tiêu đào tạo nghề phải xuất phát từ yêu cầu thực tế của công việc, về ngành nghề, từ mục tiêu, chiến lược phát triển của đơn vị, địa phương chứ không phải từ ý muốn chủ quan, tự phát của người lao động Như vậy mới đảm bảo lực lượng lao động đào tạo nghề phù hợp, tránh tình trạng vừa thiếu vừa thừa như thực tiễn hiện nay Nếu mục tiêu đào tạo sát với yêu cầu của xã hội thì người được đào tạo có chất lượng sau khi ra trường sẽ có khả năng phục vụ với hiệu suất và chất lượng cao, tức là hiệu quả sẽ cao Ngược lại, mặc dù người học được đào tạo có chất lượng cao nhưng khả năng phục vụ xã hội của họ vẫn bị hạn chế, tức là không phù hợp với nhu cầu sử dụng, như vậy hiệu quả đào tạo sẽ thấp Những yêu cầu đối với mục tiêu dạy học là:
- Mục tiêu dạy học phải được diễn đạt theo yêu cầu của người học chứ
Trang 31không phải chức năng của người dạy Người học là chủ thể thực hiện mục tiêu
để chiếm lĩnh khả năng mới
- Mục tiêu dạy học phải thiết thực, phù hợp và có tính khả thi
- Xác định trình độ cần đạt được và phương pháp để đo lường được mức
độ thành công của người học
- Xác định được trình độ hiện có của học sinh và thời gian, cơ sở vật
chất [16, tr.25]
1.2.2 Xác định nhu cầu đào tạo nghề
Nhu cầu đào tạo của một người là những gì người đó cần học để có thể đạt được một mục tiêu nhất định trong cuộc sống hay công việc của họ Thông thường, nhu cầu học thường xuất phát từ những mong muốn hay nguyện vọng của chính người học Đôi khi, người học không tự mình thấy ngay được những nhu cầu đó mà cần phải có sự hỗ trợ, tư vấn của người làm công tác
đào tạo để có thể thấy rõ [11, tr.17]
Như vậy, nhu cầu đào tạo chính là những kiến thức, kỹ năng, phương pháp và quan điểm mà học viên cần học để đáp ứng những nguyện vọng trong công việc và cuộc sống của họ
Xác định nhu cầu đào tạo cần xác định bao nhiêu người cần phải đào tạo,
ở trình độ nào trong những ngành nghề nào Thường phân tích ở những yếu tố sau:
- Các nhà xây dựng, thiết kế các khoá đào tạo có thể coi trọng các ý kiến của lao động thuộc diện thu hồi đất, những ý tưởng mà những người lao động hiểu rõ nhất
- Lao động thuộc diện thu hồi đất không tin vào các nhà xây dựng, thiết
bị và tổ chức các khoá đào tạo hay họ thấy bị áp đặt bởi những người này bởi
vì họ đã từng bị áp đặt bởi cảm tính trong khi họ nghĩ rằng họ thực sự cần loại thông tin khác hoặc bởi vì họ đã từng trải qua những khoá đào tạo vô bổ
Trang 32nữ, trẻ em và các đối tượng dễ bị tổn thương khác.
Những khó khăn này cho ta thấy với bất kỳ chương trình phát triển, chương trình đào tạo nào cũng cần phải tiến hành phân tích các bên liên quan thật cẩn thận ngay từ giai đoạn đầu Kết quả đạt được sẽ có ý nghĩa và phù hợp hơn nếu như mọi thành viên liên quan đều được mời tham gia vào quá trình đánh giá nhu cầu đào tạo
Vì vậy, xác định và phân tích nhu cầu đào tạo là bước phải tiến hành trước tiên để có một chương trình đào tạo hiệu quả Đây là công việc vô cùng quan trọng để đảm bảo đáp ứng nhu cầu học tập của học viên, đồng thời đảm bảo rằng đào tạo đứng trên quan điểm “lấy học viên làm trung tâm” Xác định nhu cầu đào tạo là cơ sở để lập kế hoạch đào tạo Xác định nhu cầu đúng sẽ đánh giá được cấp độ năng lực hiện tại của mỗi cá nhân và khả năng phản ứng của học viên đối với các nội dung đào tạo cũng như số lượng và chất lượng của từng ngành nghề, cấp bậc chuyên môn cần đào tạo Kết quả đánh giá nhu cầu đào tạo giúp thiết kế các khóa đào tạo sau có thể đáp ứng được những nhu cầu chung và cả những nhu cầu riêng biệt của nhóm học viên mục tiêu
Xác định nhu cầu đào tạo không chính xác sẽ dẫn đến việc mất cân đối giữa yêu cầu và đào tạo, giữa đào tạo và sử dụng Trong thực tiễn quản lý vẫn còn gặp tình trạng này, do không xác định được nhu cầu đào tạo nghề một cách chính xác, toàn diện nên cơ cấu đào tạo thiếu cân đối, không đồng bộ, một số ngành nghề thiếu nguồn lực lao động, công nhân kỹ thuật một cách
Trang 33trầm trọng, nhưng có nghề đào tạo ra lại không sử dụng hết, không sử dụng đúng nghề đã đào tạo Để xác định nhu cầu đào tạo, cần phải tìm hiểu và bám sát mục tiêu kinh tế xã hội của địa phương, cơ cấu kinh tế cần hướng đến.
Để đào tạo gắn với thị trường lao động, phải có định hướng về sự phát triển của các ngành nghề trong xã hội Nhà nước phải xây dựng hệ thống thông tin về hướng phát triển của các ngành nghề, dự báo về nguồn nhân lực
và thị trường lao động Ở các nước phát triển như Pháp, Thuỵ Điển, Đan Mạch ,hệ thống thông tin và dự báo này hoạt động khá tốt (có cơ quan của Nhà nước đảm trách công việc này) Ngoài ra, người dân còn được cung cấp những phần mềm tin học, những trang Web miễn phí về lĩnh vực nghề
nghiệp [1, tr.18]
1.2.3 Xác định chương trình đào tạo nghề
Điều 34, Khoản 1 của Luật giáo dục năm 2005 qui định yêu cầu về nội dung giáo dục nghề nghiệp như sau: “Nội dung giáo dục nghề nghiệp phải tập trung đào tạo năng lực thực hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khỏe, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, đòi hỏi người học phải nắm vững Trên cơ sở đó hình thành thế giới quan và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để người học bước vào cuộc sống và lao động để thực hiện được mục đích giáo dục nghề nghiệp nói riêng và thực hiện các nhiệm vụ dạy học nói chung, trong thực hành nghề cũng phải bảo đảm các yêu cầu như:
Xác định chương trình đào tạo nghề là xác định trình độ cần đào tạo, ngành nghề cần đào tạo, khối lượng kiến thức, kỹ năng thực hành cần cung cấp cho người lao động để phù hợp với yêu cầu thực tiễn
Phải căn cứ vào nhu cầu thực tế của đơn vị, địa phương, cần lực lượng lao động ở những nghề nào, trình độ gì để giúp đơn vị địa phương thực hiện nhiệm vụ chiến lược của đơn vị, địa phương trong thời gian đến Trên cơ sở
đó, xây dựng chương trình đào tạo với những ngành nghề, trình độ phù hợp
Trang 34với thực tiễn, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm phù với ngành nghề được đào tạo
Theo luật dạy nghề, trình độ đào tạo nghề gồm sơ cấp, trung cấp và cao
đẳng Ứng với mỗi trình độ có chương trình, nội dung đào tạo, thời gian đào tạo được qui định cụ thể
Việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình sao cho hợp lý và sát với nhu cầu đào tạo cũng như sát với nghề đào tạo để học viên có thể nắm vững được nghề sau khi tốt nghiệp là vấn đề quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng đào tạo [1, tr.27]
1.2.4 Lựa chọn hình thức, phương pháp đào tạo nghề
Hiện nay có nhiều phương pháp đào tạo, mỗi phương pháp có cách thức thực hiện và ưu nhược điểm riêng Do vậy, cần lựa chọn phương pháp tối ưu để vừa đạt được các mục tiêu đặt ra vừa tiết kiệm được kinh phí đào tạo
Các hình thức đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng nhìn chung là rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, về cơ bản đào tạo nghề hiện nay thường
áp dụng một số hình thức chính sau đây:
+ Đào tạo nghề chính quy: Theo quy định của Luật dạy nghề, đào tạo
nghề chính quy được thực hiện với các chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại các cơ sở dạy nghề theo các khoá học tập trung và
liên tục [12, tr.26]
Có thể hiểu đào tạo nghề chính quy là loại hình đào tạo tập trung tại các trung tâm dạy nghề, các trường nghề với quy mô đào tạo tương đối lớn, chủ yếu là đào tạo các công nhân kỹ thuật có trình độ lành nghề cao
Việc đào tạo công nhân kỹ thuật thường chia làm hai giai đoạn: giai đoạn học tập cơ bản và giai đoạn học tập chuyên môn Giai đoạn học tập cơ bản là giai đoạn đào tạo nghề theo diện rộng, thường chiếm từ 70% đến 80% nội dung giảng dạy và tương đổi ổn định Còn trong giai đoạn học tập chuyên
Trang 35môn, người học được trang bị những kiến thức chuyên sâu và rèn luyện những
kỹ năng, kỹ xảo để nắm vững nghề đã chọn
Ưu điểm cơ bản của hình thức đào tạo này là: Học sinh được học một cách có hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ lý thuyết đến thực hành, tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức nhanh chóng và dễ dàng Đào tạo tương đối toàn diện cả lý thuyết lẫn thực hành
Với hình thức đào tạo chính quy, sau khi đào tạo, học viên có thể chủ động, độc lập giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận các các công việc tương đối phức tạp, đòi hỏi trình độ lành nghề cao Cùng với sự phát triển của sản xuất và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hình thức đào tạo này ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật [7, tr.26]Tuy nhiên, đào tạo chính quy cũng có nhược điểm là: Thời gian đào tạo tương đối dài; Đòi hỏi phải đầu tư lớn để đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các cán bộ quản lý nên kinh phí đào tạo cho một học viên là rất lớn
+ Đào tạo nghề tại nơi làm việc (đào tạo trong công việc):
Đào tạo nghề tại nơi làm việc là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đó người học sẽ được dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động có trình độ cao hơn Hình thức đào tạo này thiên về thực hành ngay trong quá trình sản xuất và thường là do các doanh nghiệp (hoặc các cá nhân sản xuất) tự tổ chức
Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việc thường chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa hướng dẫn cho học viên; Giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viên sau khi họ đã nắm được các nguyên tắc và phương pháp làm việc; Giai đoạn
ba, giao việc hoàn toàn cho học viên khi họ đã có thể tiến hành làm việc một
Trang 36cách độc lập [11, tr.32]
Hình thức đào tạo tại nơi làm việc có nhiều ưu điểm như: Có khả năng đào tạo nhiều người cùng một lúc ở tất cả các doanh nghiệp, phân xưởng; Thời gian đào tạo ngắn; Không đòi hỏi điều kiện về trường lớp, giáo viên chuyên trách, bộ máy quản lý, thiết bị học tập riêng nên tiết kiệm chi phí đào tạo; Trong quá trình học tập, người học còn được trực tiếp tham gia vào quá trình lao động, điều này giúp họ có thể nắm chắc kỹ năng lao động
Nhược điểm cơ bản của đào tạo tại nơi làm việc là: Việc truyền đạt và tiếp thu kiến thức không có tính hệ thống; Người dạy không có nghiệp vụ sư phạm nên hạn chế trong quá trình hướng dẫn, việc tổ chức dạy lý thuyết gặp nhiều khó khăn nên kết quả học tập còn hạn chế; Học viên không chỉ học những phương pháp tiên tiến mà còn có thể bắt chước cả những thói quen không tốt của người hướng dẫn Vì vậy, hình thức đào tạo này chỉ phù hợp với những công việc đòi hỏi trình độ không cao
+ Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp: Đây là hình thức đào tạo theo
chương trình gồm hai phần lý thuyết và thực hành Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách Còn phần thực hành thì được tiến hành ở các xưởng thực tập do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn Hình thức đào tạo này chủ yếu áp dụng để đào tạo cho những nghề phức tạp, đòi hỏi có sự hiểu biết rộng về lý thuyết và độ thành thục cao
Ưu điểm nổi bật của các lớp cạnh doanh nghiệp là: Dạy lý thuyết tương đối có hệ thống, đồng thời học viên lại được trực tiếp tham gia lao động ở các phân xưởng, tạo điều kiện cho họ nắm vững nghề; Bộ máy đào tạo gọn, chi phí đào tạo không lớn Tuy nhiên, hình thức đào tạo này chỉ áp dụng được ở những doanh nghiệp tương đối lớn và chỉ đào tạo cho các doanh nghiệp cùng ngành có tính chất giống nhau
- Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp: Hình thức đào tạo
Trang 37nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp được áp dụng khá rộng rãi trên thế giới nhưng mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam trong những năm gần đây và còn có nhiều cách hiểu khác nhau Có thế hiểu “đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp là hình thức đào tạo dựa trên hệ thống dạy và học có hai chỗ học, sự tích hợp chức năng của hai chỗ học tạo thành chức năng chung của hệ thống”.
Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp có thể được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo điều kiện, quan điểm ở tùng vùng, lãnh thổ và khu vực
Hình thức đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp xuất hiện ở Việt Nam còn quá yếu, mới chỉ thực hiện ở một số khía cạnh của việc kết hợp đào tạo và được biểu hiện ở các hoạt động như:
- Đào tạo theo đơn đặt hàng (Một số doanh nghiệp đặt hàng cho các trường đào tạo);
- Một số tổng công ty lớn thành lập trường đào tạo riêng;
- Nhà trường có xưởng sản xuất;
- Một số trường liên kết đưa sinh viên đi thực tập ở các doanh nghiệp [4, tr.22]
1.2.5 Đánh giá kết quả đào tạo nghề
Để đánh giá kết quả cần phải đánh giá chương trình đào tạo bằng các phương pháp khác nhau để xác định xem nó có đáp ứng được với yêu cầu, mục tiêu đưa ra không, hiệu quả làm việc của các người lao động sau khi được đào tạo nghề có đáp ứng được với yêu cầu công việc thực tế hay không
Trong quá trình đào tạo, việc kiểm tra, đánh giá là một khâu cơ bản, là một nhiệm vụ thường xuyên của nhà trường Trên cơ sở đánh giá kết quả, cần phải
điều chỉnh nội dung, chương trình đào tạo cho phù hợp hơn [10, tr.27]
1.2.6 Đặc điểm của lao động bị thu hồi đất
Trang 38Đặc điểm của người lao động bị thu hồi đất là một yếu tố khiến cho việc đào tạo nghề và giải quyết việc làm trở nên cần thiết Với những người lao động
bị thu hồi đất sản xuất (đất sản xuất nông nghiệp và mặt bằng sản xuất, kinh doanh các ngành nghề phi nông nghiệp), đất đai chính là tư liệu sản xuất, là nơi giúp họ tạo ra được thu nhập, là điều kiện cần để họ có thể sinh tồn Người lao động khi bị thu hồi đất không còn đất để tham gia vào hoạt động sản xuất cũng tựa như họ mất đi quyền lợi của chính mình
Phần lớn người lao động sau khi bị thu hồi đất có thu nhập thấp Sau khi bị thu hồi đất, tuy diện tích đất thị thu hẹp, nhưng đa số vẫn cố gắng tìm bám trụ với nghề nông như chăm sóc hoa màu, chăn nuôi để kiếm sống Tuy nhiên, họ chỉ biết lao động theo những phương pháp đơn giản, chưa biết áp dụng những tiến bộ công nghệ mới, họ vẫn dựa nhiều vào những kinh nghiệm lâu nay của mình đã sản xuất Vì vậy, thu nhập của những người lao động này
sau khi bị thu hồi đất trở nên rất thấp, không đủ sống [5, tr.15]
Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều lao động sống ỷ lại vào những khoản tiền trợ cấp đền bù đất Phần lớn số tiền đền bù được người dân sử dụng và việc sửa sang, xây dựng nhà ở, mua sắm phương tiện đi lại, việc học tập của con cháu, rất ít gia đình dành tiền đền bù đầu tư cho việc học nghề của con cháu,
số gia đình đầu tư vào việc mở rộng việc sản xuất kinh doanh không nhiều Một số người chỉ thích tìm những công việc nhàn hạ, ít bận rộn, không phải chịu nhiều áp lực Vì vậy, cần có những chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động
Việc thu hồi đất có một số ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người dân như ô nhiễm môi trường gây bất bình, lo lắng về sức khỏe bản thân, gia đình và cộng đồng, sự du nhập của các tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm, cờ bạc Bởi với những người lao động bị thu hồi đất sau khi bị mất việc làm, họ
là những người dễ bị lôi kéo vào các vấn đề của xã hội, là một trong những
Trang 39tác nhân gây nên những bất ổn xã hội [5, tr.43]
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT
1.3.1 Chính sách của Nhà nước đối với người bị thu hồi đất
Cơ chế, chính sách tạo việc làm của Nhà nước, của địa phương cũng là nhóm nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến đào tạo nghề và tạo việc làm cho người lao động Nghị quyết Đại hội X đã chỉ rõ: “Phát triển hệ thống hướng nghiệp và dạy nghề, nhất là các nghề cho nông dân trong lĩnh vực nông nghiệp; đa dạng hóa các loại hình dạy nghề, phát triển nhanh đào tạo nghề dài hạn theo hướng hiện đại” Những đường lối và chủ trương, chính sách của Nhà nước về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm nếu đúng và phù hợp sẽ là điều kiện rất thuận lợi để phát triển công tác dạy nghề
Trong mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi quốc gia, mỗi địa phương sẽ đề ra những cơ chế, chính sách cụ thể để tạo việc làm Một cơ chế, chính sách tạo việc làm hợp lý sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất, tạo nhiều việc làm Chính sách
và cơ chế của Nhà nước sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến tạo việc làm Nhóm nhân tố này rất đa dạng gồm các chính sách kinh tế vĩ mô, vi mô, chính sách vốn, chính sách phát triển khoa học, công nghệ,…và có thể theo ngành, lĩnh vực, vùng Hệ thống văn bản, pháp luật, chính sách của Nhà nước tạo hành lang pháp lý, môi trường thuận lợi, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh tạo nhiều việc làm mới cho người lao động Các chính sách đối với học viên học nghề, chính sách hỗ trợ lao động có hoàn cảnh khó khăn tham gia học nghề, các chế độ chính sách ưu đãi các cơ
sở đào tạo nghề, các chính sách về sử dụng đào tạo sau đào tạo
Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy nhưng các chính sách đào tạo nghề còn rất nhiều hạn chế như: phần lớn các chính sách, chế độ mang tính
Trang 40giải pháp, tình huống; một số chính sách đã ban hành đến nay có những điểm không còn phù hợp hoặc thiếu những văn bản hướng dẫn cụ thể, [3, tr.15]
1.3.2 Nhân tố thuộc về người học nghề
Học viên học nghề là nhân tố quan trọng nhất, có tính quyết định đối với công tác đào tạo nghề Trình độ văn hoá, sự hiểu biết, tâm lý, cá tính, khả năng tài chính, quỹ thời gian của bản thân học viên đều có ảnh hưởng sâu sắc tới quy mô và chất lượng đào tạo nghề Mục đích của người tham gia học nghề là sau đào tạo, bằng vốn kiến thức lĩnh hội được, họ có thể phát triển nghề hiện có, hoặc tạo được việc làm hay có thêm việc làm mới để tăng thu nhập, ổn định cuộc sống Do đó sau đào tạo cần trang bị thêm cho người học kiến thức kinh doanh, khởi sự doanh nghiệp Ngoài ra cần tăng cường liên kết với các doanh nghiệp giới thiệu người học vào làm việc [7, tr.18]
1.3.3 Nhân tố thuộc về hệ thống cơ sở đào tạo nghề
Đào tạo nghề chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố thuộc về cơ sở đào tạo nghề bao gồm: cơ sở vật chất; tài chính cho dạy nghề; đội ngũ giáo viên; chương trình, giáo trình đào tạo; tuyển sinh, việc làm; kiểm tra đánh giá, cấp văn bằng chứng chỉ, những yếu tố này được coi là những yếu tổ đảm bảo chất lượng của đào tạo nghề Chúng ta xét một số yếu tố chính như sau:
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị: Cơ sở vật chất bao gồm: phòng học,
xưởng thực hành cơ bản và thực tập sản xuất, thư viện, học liệu, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập Đây là yếu tố hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến chất lượng của đào tạo nghề Máy móc, trang thiết bị là những thứ không thể thiếu trong quá trình đào tạo nghề, nó giúp cho học viên
có điều kiện thực hành để hoàn thiện kỹ năng Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiện đại, theo sát công nghệ sản xuất thực tế bao nhiêu thì học viên càng có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng trong công việc bấy nhiêu Do vậy, cơ sở vật chất trang thiết bị cho đào tạo nghề đòi