1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Chuyển đổi báo cáo tài chính theo chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính quốc tế trường hợp tổng công ty điện lực miền trung

119 494 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 501,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC GIA VỚI CHUẨN MỰC TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ .... NHỮNG KHÁC BIỆT CƠ BẢN CỦA CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM VỚI

Trang 1

NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH

CHUYỂN ĐỔI BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO

CHUẨN MỰC TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ: TRƯỜNG HỢP TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN TRUNG

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60.34.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học:

TS TRẦN ĐÌNH KHÔI NGUYÊN

Đà Nẵng – Năm 2012

Trang 2

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Trang 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN ĐỐI CHIẾU 8

VÀ CHUYỂN ĐỔI BÁO CÁO TÀI CHÍNH 8

1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CHUẨN MỰC TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 8

1.1.1 Lịch sử hình thành 8

1.1.2 Giới thiệu hệ thống chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính quốc tế 9

1.1.3 Quá trình hài hòa và hội tụ với chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính quốc tế 13

1.2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC GIA VỚI CHUẨN MỰC TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 15

1.3 NHỮNG KHÁC BIỆT CƠ BẢN CỦA CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM VỚI CHUẨN MỰC TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

24

1.3.1 Những khác biệt liên quan đến trình bày báo cáo tài chính 26

1.3.2 Những khác biệt liên quan đến các chỉ tiêu về tài sản – nợ phải trả 27

Trang 4

CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM SANG CHUẨN MỰC TRÌNH BÀY

BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 29

1.4.1 Phân loại các khác biệt về đo lường và trình bày giữa VAS và IFRS 30

1.4.2 Lập các bút toán điều chỉnh cho các khác biệt về đo lường trên Bảng cân đối thử 31

1.4.3 Gộp tài khoản để trình bày trên báo cáo 32

1.4.4 Điều chỉnh các Thuyết minh cho báo cáo tài chính 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH 36

ĐƯỢC CHUYỂN ĐỔI TỪ VAS SANG IFRS TẠI 36

TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN TRUNG 36

2.1 GIỚI THIỆU VỀ TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN TRUNG 36

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Tổng công ty Điện lực Miền Trung

36

2.1.2 Cơ cấu tổ chức Tổng công ty Điện lực Miền Trung 37

2.1.3 Tổ chức công tác kế toán tại Tổng Công ty 39

2.2 TỔ CHỨC CÔNG TÁC LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI TỔNG CÔNG TY 40

2.2.1 Các qui định chung về lập báo cáo tài chính trong phạm vi Tổng Công ty

40

2.2.2 Những đặc trưng cơ bản về đo lường các đối tượng kế toán trên báo cáo tài chính hợp nhất theo VAS tại Tổng Công ty 41

Trang 5

THEO VAS VÀ IFRS CỦA TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN TRUNG

48

2.3.1 Những khác biệt liên quan đến các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán 48

2.3.2 Những khác biệt liên quan đến các chỉ tiêu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 58

2.3.3 Những khác biệt liên quan đến các chỉ tiêu trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 63

2.3.4 Những khác biệt liên quan đến các chỉ tiêu trên Thuyết minh báo cáo tài chính 63

2.3.5 Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu theo IFRS 71

2.4 ĐÁNH GIÁ VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG ĐÃ ĐƯỢC CHUYỂN ĐỔI TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT TỪ VAS SANG IFRS CỦA TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN TRUNG 71

2.4.1 Đánh giá về những nội dung khác biệt trên Báo cáo tài chính theo VAS và IFRS 71

2.4.2 Nguyên nhân của các nội dung khác biệt trên báo cáo tài chính theo VAS và IFRS 76

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78

CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC CHUYỂN ĐỔI 79

BÁO CÁO TÀI CHÍNH TỪ VAS SANG IFRS 79

TẠI TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN TRUNG 79

3.1 ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC CHUYỂN ĐỔI BÁO CÁO TÀI CHÍNH TỪ VAS SANG IFRS TẠI TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN TRUNG 79

Trang 6

3.2.1 Tổ chức dữ liệu để chuyển đổi số liệu trên Bảng cân đối kế toán từ VAS

sang IFRS 80

3.2.2 Tổ chức dữ liệu để chuyển đổi số liệu trên Báo cáo kết quả kinh doanh từ VAS sang IFRS 83

3.2.3 Tổ chức dữ liệu để chuyển đổi số liệu trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ VAS sang IFRS 88

3.2.4 Tổ chức dữ liệu để chuyển đổi số liệu trên Thuyết minh báo cáo tài chính từ VAS sang IFRS 88

3.1.5 Tổ chức dữ liệu để lập Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu theo IFRS 93

3.3 PHƯƠNG PHÁP, CÁCH THỨC THỰC HIỆN VIỆC CHUYỂN ĐỔI BÁO CÁO TÀI CHÍNH TỪ VAS SANG IFRS 94

3.3.1 Thiết kế File excel để phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính theo IFRS từ số liệu theo VAS 94

3.3.2 Cách thức thực hiện 97

3.3.3 Bổ sung và điều chỉnh Thuyết minh báo cáo tài chính theo IFRS 98

3.4 MỘT SỐ Ý KIẾN KHÁC NHẰM HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN VIỆT NAM 103

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 104

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC 110

Trang 7

BCTC Báo cáo tài chính

BCĐKT Bảng cân đối kế toán

BCKQKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanhBCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

BCĐSPS Bảng cân đối số phát sinh

IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế

IFRS Chuẩn mực trình bày BCTC quốc tếIASB Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tếSXKD Sản xuất kinh doanh

VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Trang 9

3.3 Chi tiết số liệu hàng tồn kho để trình bày trên Thuyết minh BCTC 883.4 Số liệu về tài sản cố định chờ thanh lý 893.5 Hướng dẫn điều chỉnh số liệu trên Bảng chi tiết về tình hình biến động tài sản cố định hữu hình 893.6 Hướng dẫn điều chỉnh số liệu chi tiết về tình hình biến động Chi phí xây dựng cơ bản dở dang 903.7 Bảng phân bổ chi phí trả trước dài hạn 913.8 Hướng dẫn điều chỉnh số liệu cột Tài sản khác trên Bảng chi tiết tình hình biến động TSCĐ HH 923.9 Các khoản mục theo VAS tương ứng với khoản mục theo IFRS 933.10 Hướng dẫn thu thập số liệu để lập Báo cáo thay đổi VCSH 1153.11 Mẫu bảng cân đối thử (Trial balance) trên tập tin Excel 953.12 Mẫu bảng bút toán điều chỉnh trên tập tin Excel 963.13 Mẫu BCĐKT và BCKQKD trên tập tin Excel 963.14 Điều chỉnh chi tiết Nợ phải trả trên thuyết minh BCTC theo IFRS 1003.15 Điều chỉnh chi tiết Quỹ và dự trữ khác trên thuyết minh BCTC theo IFRS 1013.16 Điều chỉnh chi tiết Giá vốn hàng bán trên thuyết minh BCTC theo IFRS 1013.17 Trình bày chi tiết Chi phí tài chính trên thuyết minh BCTC theo IFRS 1023.18 Điều chỉnh chi tiết Lãi lỗ khác trên thuyết minh BCTC theo IFRS 102

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi hoạt động kinh tế của các nước có liên hệ chặt chẽ với nhau thì việc áp dụng hệ thống chuẩn mực kế toán riêng của quốc gia sẽ là một rào cản cho sự phát triển kinh tế của nước đó Để đáp ứng nhu cầu phát triển, giải quyết vấn đề lợi ích của các nhà đầu tư trên toàn cầu, lợi ích của các chủ thể tham gia vào quá trình kinh doanh thì hệ thống chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) (trước đây là chuẩn mực kế toán quốc tế) đã bắt đầu có hiệu lực vào năm 2005, và luôn được điều chỉnh cập nhật hằng năm cho phù hợp với điều kiện kinh tế luôn thay đổi

Tuy nền kinh tế Việt Nam cũng đang gia nhập vào quá trình toàn cầu hóa, nhưng hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam chưa bổ sung bất kỳ một chuẩn mực kế toán nào cũng như chưa điều chỉnh một điều khoản nào trong các chuẩn mực hiện hành Những nghiên cứu trước đây nghiên cứu về phương diện đối chiếu giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính quốc tế cho thấy có nhiều khác biệt Do đó, một số doanh nghiệp Việt Nam muốn được niêm yết trên các sàn chứng khoán thế giới, hay muốn vay vốn nước ngoài, vay vốn của các tổ chức quốc tế để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải chuyển đổi BCTC của doanh nghiệp mình từ VAS sang IFRS

Về phương diện thực tế thì Tổng công ty Điện lực Miền Trung thường xuyên vay vốn các tổ chức tài chính trên thế giới như World Bank, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW), Các tổ chức này đòi hỏi đơn vị phải trình bày BCTC theo IFRS Tuy nhiên tại đơn vị chưa có đội ngũ nhân viên đảm nhiệm việc chuyển đổi BCTC Hàng năm việc chuyển đổi đó được thực hiện bởi công ty kiểm toán Deloitte sau khi hoàn thành BCTC hợp nhất đã kiểm toán Tuy BCTC sau chuyển đổi đó được lập bởi

Trang 13

công ty kiểm toán Deloitte, rất đáng tin cậy cho các đối tượng sử dụng, nhưng

về phía đơn vị cần có số liệu sau chuyển đổi của riêng mình để có thể đối chiếu với kiểm toán, tránh trường hợp kiểm toán có sai sót trong quá trình thực hiện chuyển đổi báo cáo Ngoài ra, việc nghiên cứu chuyển đổi BCTC theo chuẩn mực quốc tế sẽ giúp giảm thiểu chi phí dịch vụ kế toán chuyển đổi đáng kể, giúp nguồn nhân lực kế toán của Tổng công ty có thể tự chủ trong

công tác kế toán của mình Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Chuyển đổi báo cáo tài

chính theo chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính quốc tế: Trường hợp Tổng Công ty Điện lực Miền Trung” để làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của

mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

 Nhận diện những khác biệt về đo lường và công bố thông tin giữa BCTC thường niên của Tổng Công ty Điện lực Miền Trung theo VAS và IFRS;

 Định hướng việc triển khai chuyển đổi BCTC sang IFRS tại Tổng công

ty Điện lực Miền Trung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu : là hệ thống VAS và hệ thống IFRS; hai BCTC hợp nhất theo VAS và IFRS của Tổng Công ty Điện lực Miền Trung năm 2010

 Phạm vi nghiên cứu : ở luận văn này chỉ nghiên cứu BCTC hợp nhất theo VAS được chuyển đổi sang IFRS chứ không nghiên cứu về việc lập BCTC hợp nhất theo VAS như thế nào Mặt khác, BCTC được nghiên cứu là của năm 2010, do đó có một số chuẩn mực IFRS mới chưa có hiệu lực nên chưa được áp dụng

Trang 14

4 Phương pháp nghiên cứu

 Sử dụng số liệu thứ cấp, cụ thể là số liệu trên BCTC hợp nhất của Tổng công ty Điện lực Miền Trung năm 2010 theo VAS và theo IFRS, đồng thời thu thập thêm các số liệu cần thiết (nếu có)

 Phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp các nghiên cứu trước đây; phân tích, so sánh số liệu thu thập được của hai BCTC trước và sau chuyển đổi

5 Bố cục đề tài

Đề tài gồm có 3 chương với nội dung tóm tắt như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán đối chiếu và chuyển đổi Báo cáo tài chính.

Ở chương này, luận văn giới thiệu sơ về lịch sử chuẩn mực trình bày BCTC quốc tế đã hình thành như thế nào; về các nhân tố ảnh hưởng đến

sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán quốc gia với chuẩn mực trình bày BCTC quốc tế Tiếp đó, luận văn nêu những khác biệt cơ bản của chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực trình bày BCTC quốc tế và các nguyên tắc chuyển đổi BCTC từ chuẩn mực kế toán Việt Nam sang chuẩn mực trình bày BCTC quốc tế

Chương 2: Thực trạng báo cáo tài chính được chuyển đổi từ VAS sang IFRS tại Tổng Công ty Điện lực Miền Trung.

Ngoài phần giới thiệu về Tổng Công ty Điện lực Miền Trung và về tổ chức công tác lập báo cáo tài chính tại Tổng Công ty, chương này chủ yếu trình bày về những nội dung khác biệt giữa hai báo cáo tài chính theo VAS và IFRS của Tổng Công ty Từ đó, luận văn đưa ra một số đánh giá

về các nội dung đã được chuyển đổi trên báo cáo tài chính hợp nhất từ VAS sang IFRS của Tổng Công ty Điện lực Miền Trung

Trang 15

 Chương 3: Tổ chức chuyển đổi báo cáo tài chính từ VAS sang IFRS tại

Tổng Công ty Điện lực Miền Trung

Chương này trình bày về việc tổ chức dữ liệu như thế nào để có thể phục

vụ cho việc chuyển đổi BCTC từ VAS sang IFRS; và cách thức, phương pháp thực hiện việc chuyển đổi đó để Tổng Công ty Điện lực Miền Trung

có thể tự chủ trong công tác chuyển đổi BCTC từ VAS sang IFRS

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Nội dung của chuẩn mực kế toán thường bao gồm nhiều vấn đề như phạm vi của chuẩn mực, các định nghĩa, nguyên tắc ghi nhận, các vấn đề đo lường và công bố thông tin trên BCTC Đối chiếu chuẩn mực là một công việc phức tạp từ việc xem xét bối cảnh ra đời, lý do hình thành các vấn đề nêu trên, xem xét các điểm giống nhau và khác nhau của từng mục, tiểu mục trong từng chuẩn mực Trong phạm vi luận văn này chỉ quan tâm đến các vấn đề khác biệt về đo lường và khai báo vì đây là phần cốt lõi của các chuẩn mực

Đo lường và khai báo là hai vấn đề khác nhau về bản chất Nội dung của chuẩn mực kế toán liên quan đến đo lường ảnh hưởng đến các con số được trình bày trên BCTC, từ đó ảnh hưởng đến tính ‘tin cậy’ và ‘liên quan’ của thông tin kế toán Trong khi đó, những nội dung của chuẩn mực kế toán liên quan đến khai báo thông tin ảnh hưởng đến tính ‘rõ ràng’ và ‘dễ hiểu’ của thông tin kế toán [2] Trong nghiên cứu “De jure Convergence between Vietnamese and International Accounting Standards” của Th.S Phạm Hoài Hương tháng 7/2011, đã áp dụng phương pháp định lượng thông qua các chỉ số hài hòa về mặt đo lường (M-DJCS), khai báo thông tin (D-DJCS) và tổng hợp (O-DJCS) Các chỉ số này không chỉ phản ánh mức độ hoàn toàn giống nhau của các quy định kế toán giữa hai hệ thống chuẩn mực như các nghiên cứu trước đây, mà còn định lượng mức độ hài hòa trong các trường hợp phương pháp xử

Trang 16

lý liên quan đến cùng một vấn đề kế toán nào đó không hoàn toàn giống và cũng không hoàn toàn khác nhau giữa VAS và IFRS Nghiên cứu đã đưa ra mức độ hài hòa bình quân là 66,4% Mức độ hài hòa về mặt đo lường (75,8%) trong khi mức độ hài hòa về mặt trình bày là 61,9% [4].

Kết quả trên cho thấy sự khác biệt khá lớn của VAS so với IFRS, đặc biệt là về mặt trình bày BCTC Do đó, có thể dự đoán được một BCTC được trình bày theo IFRS sẽ khá là khác biệt so với một BCTC trình bày theo VAS Điều này dẫn đến việc khi chuyển đổi một BCTC theo VAS sang IFRS, vấn

đề trình bày, khai báo thông tin phải được chú trọng sao cho phù hợp với IFRS Nếu xét về mặt đo lường, thì số liệu trên BCTC theo IFRS sẽ khác so với theo VAS Từ đó, việc chuyển đổi một BCTC theo VAS sang IFRS sẽ phải tiến hành đo lường lại một số đối tượng kế toán

Nghiên cứu “Đối chiếu hệ thống VAS với hệ thống IFRS” của TS Trần Đình Khôi Nguyên năm 2012 đã chỉ ra nhiều khác biệt cơ bản Phương pháp nghiên cứu là đối chiếu tập trung vào những mục trọng tâm của các chủ đề (tài sản, nợ phải trả, doanh thu và chi phí, trình bày BCTC, hợp nhất kinh doanh và BCTC hợp nhất) về đo lường và công bố thông tin Từ đó, nghiên cứu đưa ra các đánh giá về mức độ hài hòa và nguyên nhân của sự khác biệt giữa VAS với IFRS

Trong các chuẩn mực kế toán, chuẩn mực trình bày BCTC được xem là một trong các chuẩn mực cốt lõi, ảnh hưởng rất lớn đến việc chuẩn bị một

BCTC TS Trần Đình Khôi Nguyên đã chỉ ra “khác biệt về các bộ phận cấu

thành hệ thống BCTC” [3] Theo đó, IFRS quy định có thêm Báo cáo tình

hình tài chính có tính so sánh khi doanh nghiệp thay đổi chính sách kế toán và Báo cáo về vốn chủ sở hữu Ngoài ra, Báo cáo thu nhập còn có thêm phần Thu nhập tổng hợp khác (Other comprehensive Income) Khác biệt lớn này cho thấy khi thực hiện chuyển đổi BCTC từ VAS sang IFRS thì điều lưu ý

Trang 17

trước hết là việc chuyển đổi kết cấu của các bộ phận cấu thành Để thực hiện được điều này, người làm công tác kế toán phải tổ chức kế toán một cách khoa học, sao cho vừa có thể phục vụ cho việc lập BCTC theo VAS vừa có thể phục vụ cho việc chuyển đổi BCTC.

Trong các khác biệt đó có khác biệt về cơ sở tính giá Nghiên cứu đã

chỉ ra “cơ sở giá gốc là nền tảng cơ bản trong đo lường các đối tượng kế toán

ở Việt Nam vào thời điểm lập BCTC năm trong khi cơ sở giá hợp lý luôn được đề cao trong hệ thống IFRS” [3] Như vậy có thể thấy được khi muốn chuyển đổi một BCTC từ VAS sang IFRS một cách triệt để không phải là điều dễ dàng bởi lẽ muốn áp dụng mô hình giá hợp lý trong điều kiện kinh tế

xã hội ở Việt Nam là một điều không khả thi Do đó, đối với những đối tượng

kế toán nào không thể áp dụng mô hình giá hợp lý, thì việc khai báo thông tin liên quan như chính sách kế toán cần phải tuân thủ chặt chẽ hơn các chuẩn mực IFRS

Một khác biệt nữa là về việc ghi nhận đánh giá lại tài sản hay chuyển đổi ngoại tệ,“những chuyển đổi này được xem là một phần vốn của chủ doanh

nghiệp trong kế toán Việt Nam Trong khi đó, theo IFRS thì đây được xem là lợi nhuận chưa thực hiện và được trình bày thành một khoản mục trên BCKQKD” [3] Khác biệt này có thể ảnh hưởng rất lớn đến việc chuyển đổi BCTC tại các doanh nghiệp có xảy ra các nghiệp vụ đánh giá lại tài sản hay chuyển đổi ngoại tệ Chẳng hạn ở Tổng Công ty Điện lực Miền Trung, số dư cuối kỳ của khoản vay dài hạn bằng ngoại tệ từ các tổ chức tài chính thế giới

là rất lớn Khác biệt về ghi nhận giữa VAS và IFRS khi đánh giá lại số dư ngoại tệ đó có thể làm BCTC chuyển từ lãi thành lỗ hoặc ngược lại

Thêm một khác biệt nữa là ở Việt Nam, “các quan hệ kinh tế liên quan

đến tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp, tài nguyên khoáng sản, trợ cấp chính phủ, các công cụ tài chính, tổn thất tài sản, các tài sản dài hạn chờ bán,

Trang 18

lợi ích nhân viên chưa có chuẩn mực chi phối hay chưa được quy định lồng ghép trong các chuẩn mực khác” [3] Khác biệt này cho thấy điều lưu ý khi chuyển đổi BCTC từ VAS sang IFRS phải trình bày các đối tượng này lại cho phù hợp với IFRS Chẳng hạn như cây trồng vật nuôi theo VAS đó là một trong những loại thuộc tài sản cố định hữu hình, do chuẩn mực về tài sản cố định hữu hình chi phối; trong khi đó theo IFRS thì đó lại liên quan đến tài sản sinh học do chuẩn mực về Nông nghiệp chi phối Do đó, khi chuyển đổi một BCTC từ VAS sang IFRS phải lưu ý để trình bày và đo lường lại các khoản này sao cho phù hợp hơn với IFRS.

Tóm lại, từ các kết quả nghiên cứu có thể thấy muốn chuyển đổi một BCTC từ VAS sang IFRS cần phải có phương pháp thật khoa học từ khâu tổ chức công tác kế toán đến khâu thực hiện chuyển đổi Ở khâu tổ chức công tác kế toán, doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống sổ sách một cách chi tiết và hợp lý để có thể phục vụ được cho việc lập BCTC theo VAS đồng thời cũng

có thể cung cấp được các dữ liệu cần thiết để phục vụ cho việc chuyển đổi BCTC sang IFRS Ở khâu thực hiện chuyển đổi, phải có một cách thức chuyển đổi cụ thể, khoa học để có thể thực hiện được việc chuyển đổi dễ dàng và hiệu quả

Trang 19

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN ĐỐI CHIẾU

VÀ CHUYỂN ĐỔI BÁO CÁO TÀI CHÍNH1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CHUẨN MỰC TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

1.1.1 Lịch sử hình thành

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, việc hình thành các công ty đa quốc gia, sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế và sự hình thành của các khối mậu dịch tự do đã dẫn đến nhu cầu hình thành một ngôn ngữ chung về

kế toán trong từng khu vực, và trên toàn thế giới để giảm bớt rào cản về thông tin tài chính trong quá trình hội nhập, thuận lợi hơn cho việc đầu tư ra nước ngoài và điều hành các hoạt động kinh doanh Từ đây, khái niệm kế toán quốc

tế (international accounting) được nhiều nhà học thuật bàn đến và có thể tóm lược thành 3 trào lưu lớn như sau:

(1) Kế toán quốc tế là kế toán của các công ty đa quốc gia;

(2) Kế toán quốc tế là những nguyên tắc, phương pháp kế toán được tất cả các nước chấp nhận;

(3) Kế toán quốc tế là kế toán đối chiếu, so sánh để dung hòa những khác biệt trong các quyết định đầu tư và kinh doanh của người quản lý

Để giải quyết các xung đột nói trên, ở góc độ khu vực, có thể kể đến việc hình thành các nguyên tắc kế toán chung ở từng khu vực mậu dịch tự do Điển hình của xu hướng này là hiến chương thứ 4 quy định những nguyên tắc

kế toán thống nhất trong các nước thuộc cộng đồng châu Âu Ở khu vực Đông Nam Á là việc hình thành hệ thống các chuẩn mực kế toán các nước Asean Ở góc độ toàn cầu, năm 1973 đánh dấu một bước ngoặc lớn khi Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế được thành lập để xây dựng các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận giữa các nước – tiền thân của chuẩn mực kế toán quốc

tế (IAS) sau này Những chuẩn mực kế toán quốc tế đầu tiên được ban hành

Trang 20

vào cuối thập niên 1970 như là cơ sở tham chiếu cho việc xây dựng chuẩn mực kế toán ở các quốc gia, hoặc là cơ sở cho các công ty đa quốc gia vận dụng trong chuyển đổi BCTC của mình Nhiều quốc gia do những điều kiện riêng của mình đã dựa vào hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế thay cho chuẩn mực kế toán quốc gia Tuy nhiên, do không có tính bắt buộc về mặt pháp lý ở các nước nên cũng đã hạn chế phần nào việc vận dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế Những năm 1990, xu hướng toàn cầu hóa ngày càng tăng và các thị trường vốn quốc tế tăng trưởng ngày càng mạnh đã thúc đẩy nhiều nỗ lực để tái cấu trúc lại hệ thống các chuẩn mực Năm 2005 đánh dấu một cột mốc quan trọng khi các chuẩn mực kế toán quốc tế trước đây (IAS) được thay thế bởi hệ thống chuẩn mực trình bày BCTC quốc tế (IFRS) Nhiều nước trên thế giới đã cam kết hội tụ với IFRS mà khởi đầu là Liên minh châu

Âu, tiếp theo là Úc Cho đến nay đã có hơn 100 nước trên thế giới đã sử dụng IFRS

1.1.2 Giới thiệu hệ thống chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính quốc tế

a Cơ chế ban hành chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính quốc tế

Lịch sử phát triển kế toán trên thế giới có một bề dày phát triển, nhưng

để xây dựng kế toán thành ngôn ngữ kinh doanh chung trên toàn cầu thì năm

1973 bắt đầu đánh dấu cho quá trình này Để đáp ứng yêu cầu thông tin của nhà đầu tư, các định chế tài chính quốc tế, các công ty đa quốc gia và nhiều tổ chức khác, Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế đã trải qua nhiều giai đoạn,

mà ban đầu là hình thành các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) Nội dung của các chuẩn mực bao gồm hai chủ đề lớn là đo lường và công bố thông tin thông qua các BCTC Các chuẩn mực đều có hiệu chỉnh hằng năm để đáp ứng những thay đổi khi vận dụng thực tế Đến năm 2005, hệ thống này đã được thay thế bằng chuẩn mực trình bày BCTC quốc tế (IFRS) và được nhiều nước

Trang 21

và khối kinh tế áp dụng, đặc biệt là các công ty cổ phần yết giá trên thị trường vốn quốc tế Tính đến thời điểm hiện nay (tháng 5 năm 2012), IFRS có tất cả

42 chuẩn mực, trong đó có 13 IFRS và 29 chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) Những chuẩn mực có tên IAS là những chuẩn mực kế toán kế thừa trong giai đoạn trước đây và có điều chỉnh theo từng thời kỳ nhưng vẫn áp dụng trong

Bộ IFRS Những chuẩn mực có tên IFRS là những chuẩn mực hoàn toàn mới, hoặc thay thế hoàn toàn cho một IAS không còn hiệu lực nữa

Hệ thống IFRS được xem là điển hình của hệ thống các nguyên tắc trình bày BCTC, hướng đến thị trường vốn Đây là một mô hình của trường phái kế toán Anglo-Saxon mà ở đó nó đòi hỏi tính linh hoạt cao của người làm kế toán IFRS không phải do tổ chức chính phủ ban hành mà do các tổ chức nghề nghiệp soạn thảo Cấu trúc hiện tại của việc thiết lập IFRS có thể tóm lược trên sơ đồ ở Hình 1.1

Hình 1.1: Sơ đồ về cấu trúc hiện tại của việc thiết lập IFRS

(Nguồn: Đối chiếu hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn

mực trình bày BCTC quốc tế, 2012)

Trustees của IASC

Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB)

Hội đồng tư vấn

chuẩn mực (SAC)

Nhóm xây dựng chuẩn mực

Ủy ban giải thích chuẩn mực trình bày BCTC (IFRIC)

Trang 22

Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) là tổ chức có thẩm quyền lớn nhất trong việc soạn thảo chuẩn mực trình bày BCTC quốc tế, có liên hệ với nhóm thiết lập chuẩn mực, nhóm giải thích chuẩn mực và nhóm tư vấn chuẩn mực.

Ủy ban giải thích Báo cáo tài chính quốc tế (IFRIC): gồm các chuyên gia

ở các hãng kiểm toán, người soạn thảo chuẩn mực và cả người sử dụng, có chức năng giải đáp các vấn đề kỹ thuật khi vận dụng IFRS vào trong thực tế Gần đây, ủy ban này có đề xuất những điều chỉnh chuẩn mực đối với IASB để đáp ứng các khó khăn vận dụng trong thực tế, hoặc các nhu cầu đảm bảo tính nhất quán khi sử dụng

Hội đồng tư vấn chuẩn mực (SAC) hàng năm họp mặt với IASB ba lần Hội đồng này được xem như là kênh truyền thông giữa IASB và người sử dụng chuẩn mực để trao đổi, thảo luận lộ trình của IASB SAC gồm khoảng

50 thành viên là các nhà phân tích, giám đốc điều hành, kiểm toán viên, người xây dựng chuẩn mực và người thiết lập pháp lý của các cơ sở giao dịch chứng khoán Những người xây dựng chuẩn mực đều là đại diện của tổ chức nghề nghiệp đến từ các nước như Úc, Canada, Pháp, Đức, Anh, Mỹ và Nhật Bản

b Đặc điểm của các chuẩn mực trình bày BCTC quốc tế

Tính đến thời điểm hiện nay (tháng 5 năm 2012), IFRS có tất cả 42 chuẩn mực, trong đó có 13 IFRS và 29 chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) Những chuẩn mực có tên IAS là những chuẩn mực kế toán kế thừa trong giai đoạn trước đây và có điều chỉnh theo từng thời kỳ nhưng vẫn áp dụng trong

Bộ IFRS Những chuẩn mực có tên IFRS là những chuẩn mực hoàn toàn mới, hoặc thay thế hoàn toàn cho một IAS không còn hiệu lực nữa

Đặc điểm cơ bản của IFRS thông qua các chuẩn mực đó là:

Một là, cơ sở giá hợp lý luôn được đề cao trong hệ thống IFRS nhằm hướng đến mục tiêu đảm bảo thông tin kế toán trung thực và hữu ích cho

Trang 23

người sử dụng Nhiều chuẩn mực trong hệ thống IFRS cho phép lựa chọn giữa mô hình giá gốc và giá hợp lý, hoặc ưu tiên sử dụng mô hình giá hợp lý trong một số trường hợp, chẳng hạn như tài sản cố định hữu hình, vô hình, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư vào công ty liên kết, giá trị lợi thế thương mại, BCTC hợp nhất.

Hai là, tính linh hoạt trong hệ thống IFRS rất cao Điều này thể hiện trước hết ở chuẩn mực “Khuôn khổ chung”, nó chỉ ra nguyên tắc cơ bản trong

đo lường và công bố thông tin, được xem là nền tảng để xây dựng các chuẩn mực kế toán, là nơi để tham chiếu khi vận dụng một chuẩn mực khác Tính linh hoạt của IFRS còn thể hiện ở việc công bố thông tin, nhất là các công ty

có quy mô lớn, thể hiện ở báo cáo bộ phận, hợp nhất kinh doanh với việc trình bày thông tin về các bên liên quan

c Tính vận dụng của chuẩn mực trình bày BCTC quốc tế trong thực tiễn trên toàn cầu

Năm 2002, Liên minh châu Âu đã quy định tất cả các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán có tổ chức phải áp dụng IFRS để lập BCTC hợp nhất từ năm 2005 Tuy nhiên, các nước thành viên có thể mở rộng đối tượng

áp dụng IFRS, và không nhất thiết phải là lập BCTC hợp nhất

Tính đến tháng 8 năm 2008, hơn 113 nước trên thế giới, bao gồm cả châu Âu, đang yêu cầu và cho phép áp dụng BCTC theo IFRS và 85 nước có các công ty đăng ký bắt buộc báo cáo theo IFRS theo quy định của Ủy ban chứng khoán và giao dịch

IFRS hiện được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới, bao gồm các nước thuộc Liên minh châu Âu, Ấn Độ, Hồng Kông, Úc, Malaysia, Pakistan, các nước GCC, Nga, Nam Phi, Singapore,

IFRS được kỳ vọng rằng khi áp dụng rộng rãi trên thế giới sẽ đem đến nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư và những người sử dụng BCTC khác qua

Trang 24

việc giảm thiểu chi phí so sánh các khoản đầu tư và tăng chất lượng thông tin Các công ty cũng kỳ vọng thu hút nhiều nhà đầu tư hơn Mặt khác, các công

ty đa quốc gia cũng có nhiều lợi ích hơn khi áp dụng IFRS

1.1.3 Quá trình hài hòa và hội tụ với chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính quốc tế

a Hài hòa kế toán trên phạm vi toàn cầu

Hài hòa được định nghĩa trong nhiều nghiên cứu với những góc độ khác nhau nhưng chung quy lại, đó đều là quá trình giảm thiểu những khác biệt có thể có để đi tới một ngôn ngữ chung của kế toán “Thuật ngữ hài hòa mang ý nghĩa điều chỉnh những khác biệt của hệ thống báo cáo và kế toán cho phù hợp với cách phân loại chung, và do vậy hình thành chuẩn mực kế toán

mà vẫn duy trì những khác biệt đáng kể” [8]

Những nỗ lực về hài hòa kế toán trong phạm vi toàn cầu có thể nói đến

là việc ban hành bộ chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) nhằm cho phép lựa chọn

về các phương pháp đo lường và công bộ thông tin kế toán IAS trở thành một tham chiếu quan trọng trên toàn thế giới [7] để tổ chức nghề nghiệp ở các nước thiết lập chuẩn mực của mình, hoặc là cơ sở để các nước không có đủ điều kiện xây dựng các chuẩn mực kế toán riêng làm chuẩn mực của mình

Do là một tổ chức nghề nghiệp nên trước giai đoạn 2005, IASB không có cơ chế bắt buộc các nước vận dụng IAS Điều này dấy lên những nghi ngại về tính thực tiễn của IAS đối với vấn đề hài hòa chuẩn mực kế toán

b Hội tụ kế toán trên phạm vi toàn cầu

Theo quan điểm của IASB, sự hội tụ của chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán quốc gia là quá trình loại bỏ dần sự khác biệt giữa chúng thông qua các nỗ lực hợp tác của IASB, các ban soạn thảo chuẩn mực kế toán quốc gia và cốt lõi là các nhóm tìm kiếm giải pháp tốt nhất cho các vấn đề kế toán và báo cáo Trên phương diện này, ẩn ý của khái niệm hài hòa và hội tụ

Trang 25

liên kết chặt chẽ Tuy nhiên, mục tiêu của hài hòa là loại bỏ sự khác biệt giữa các hệ thống chuẩn mực kế toán hiện tại, trong khi đó hội tụ có thể dẫn đến sự hình thành một phương pháp kế toán mới mà nó chưa hề được tồn tại trong bất kỳ tiêu chuẩn hiện hành Điều quan trọng cần lưu ý rằng quá trình hội tụ không nhất thiết ngụ ý là chuẩn mực quốc tế sẽ thay thế chuẩn mực kế toán quốc gia, ngược lại, chuẩn mực kế toán quốc gia và các chuẩn mực kế toán quốc tế có thể cùng tồn tại Hội tụ chuẩn mực kế toán là quá trình dẫn đến việc vận dụng hệ thống IFRS [12].

Vào cuối thế kỷ 20, IASC đã tiến hành một cuộc cải cách lớn để giải quyết các xung đột lợi ích ở trên IASB có nhiệm vụ phát triển một hệ thống duy nhất gồm các chuẩn mực kế toán toàn cầu, có thể dễ dàng hiểu được, có chất lượng cao và có khả năng đi vào hiện thực Những chuẩn mực đó cần phải minh bạch, đáp ứng yêu cầu thông tin có tính so sánh trong BCTC theo các mục đích chung Ngoài ra, IASB còn cộng tác với các ủy ban soạn thảo chuẩn mực các nước để đạt được sự hội tụ về chuẩn mực kế toán trên toàn thế giới Việc hội tụ IFRS mang lại những lợi ích sau:

 Làm tăng tính so sánh của BCTC xuyên quốc gia

 Làm tăng dòng dịch chuyển vốn quốc tế

 Tiết kiệm chi phí cho các công ty đa quốc gia

 Nâng cao trình độ kế toán

 Làm giảm thiểu chi phí ban hành chuẩn mực kế toán với các nước có những nguồn lực giới hạn [8], [10]

Có thể thấy những thành quả của quá trình hội tụ qua những sự kiện quan trọng sau: Ở châu Âu, năm 2002, Liên minh châu Âu đã quy định tất cả các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán có tổ chức phải sử dụng IFRS

để lập BCTC hợp nhất từ năm 2005 Tuy nhiên, các nước thành viên có thể

Trang 26

mở rộng đối tượng áp dụng IFRS, và không nhất thiết phải là lập BCTC hợp nhất Ở Úc và hơn 100 quốc gia khác trên thế giới đã quy định áp dụng IFRS.Tuy hài hòa và hội tụ kế toán đem lại lợi ích cho nền tài chính quốc gia và quốc tế như vậy, và quá trình hài hòa hội tụ đó đã đạt được những thành tựu đáng kể thì vẫn còn tồn tại những rào cản nhất định Rào cản cơ bản nhất trong quá trình hội tụ với IFRS [9]:

 Mức độ khác biệt hiện tại về thực hành kế toán giữa các quốc gia

 Không có những tổ chức kế toán chuyên nghiệp đủ mạnh ở một vài nước

1.2.1 Sự khác biệt về điều kiện kinh tế

a Nguồn cung cấp tài chính

Nguồn cung cấp tài chính quyết định đối tượng chủ yếu sử dụng thông tin tài chính và do đó quyết định đặc điểm của thông tin tài chính được cung cấp Lịch sử phát triển của kế toán trên thế giới có thể tổng kết thành hai xu hướng lớn:

Thứ nhất, tại các quốc gia có thị trường vốn phát triển mạnh như Mỹ, Anh, lợi nhuận kế toán đo lường sự thành công của nhà quản trị trong việc điều hành hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp Tại các quốc gia này, các công ty cổ phần đại chúng chiếm vị trí chủ yếu trong nền kinh tế, và thị trường chứng khoán là nơi cung cấp vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp Người sử dụng thông tin tài chính là các nhà đầu tư Do vậy, kế toán được sử

Trang 27

dụng với mục đích giúp cho nhà đầu tư đánh giá các dòng tiền trong lương lai cũng như các rủi ro kinh doanh và định giá doanh nghiệp Vì vậy, thông tin tài chính cung cấp cho đối tượng này phải đảm bảo các yêu cầu về trình bày thông tin trung thực, hợp lý và đầy đủ trên BCTC Cụ thể, BCTC không chỉ phản ánh đúng mà còn hữu ích đối với người sử dụng thông tin trên Báo cáo

Để thực hiện yêu cầu này, thường phải sử dụng xét đoán nghề nghiệp trong từng trường hợp cụ thể hơn là tuân thủ cac luật định Ngoài ra, BCTC còn phải cung cấp đầy đủ các thông tin trọng yếu giúp người đọc có thể hiểu được tình hình tài chính của doanh nghiệp, sự khai báo thiếu thông tin sẽ dẫn đến các quyết định sai lầm và thiệt hại cho các chủ đầu tư Theo đó, “những người thiết lập chuẩn mực và các quy định ở những quốc gia này phải đáp ứng nhu cầu chất lượng BCTC cao hơn không những qua việc ban hành những chuẩn mực tinh vi, phức tạp hơn mà còn ban hành nhiều chuẩn mực hơn” [13] Do

đó, ở những quốc gia này, những khác biệt của chuẩn mực kế toán quốc gia so với quốc tế sẽ không nhiều

Ngược lại, ở các quốc gia mà nguồn cung cấp tài chính chủ yếu là Nhà Nước (Pháp, các nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa…), ngân hàng (Đức, Nhật, Thụy Sĩ…) hoặc các dòng họ (Ý), kế toán chú trọng vào việc đảm bảo quyền lợi của người cho vay thông qua việc đo lường thu nhập một cách bảo thủ để tối thiểu hóa cổ tức được chia và giữ lại đủ vốn để bảo vệ cho người vay Các đối tượng sử dụng thông tin hoàn toàn có khả năng tiếp cận để thu thập và kiểm tra thông tin tài chính của doanh nghiệp, vì vậy họ không có yêu cầu cao về sự đầy đủ cũng như tính trung thực và hợp lý của thông tin Yêu cầu thường đặt ra đối với kế toán tại quốc gia này là sự tuân thủ luật định

Sự thay đổi trong nguồn cung cấp tài chính của quốc gia cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi phù hợp với hệ thống kế toán Điển hình là trường hợp của

Trang 28

Nhật Bản, sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khoán và sự giảm dần vai trò của Ngân hàng tại Nhật đã làm cho hệ thống kế toán của Nhật có thay đổi nhất định trong việc tiến gần đến việc trình bày Báo cáo tài chính theo hướng cung cấp thông tin trung thực, hợp lý và đầy đủ.

b Lạm phát

Lạm phát thường gắn liền với sự phát triển kinh tế và có ảnh hưởng lớn đến các nguyên tắc đo lường và công bố thông tin kế toán Do lạm phát cao nên việc trình bày và công bố thông tin theo giá nào sẽ ảnh hưởng đến sự sử dụng thông tin kế toán Do vậy, ở các nước có lạm phát rất cao, các doanh nghiệp thường được yêu cầu sử dụng các biện phát kế toán để loại trừ ảnh hưởng sai lệch của sự biến đổi giá cả đến các thông tin cung cấp trên BCTC Chẳng hạn, tại Mexico hay tại các nước Nam Mỹ (Brazil, Argentina) thường

sử dụng kế toán điều chỉnh mức độ giá chung (general price-level accounting) Hay tại Mỹ và Anh vào những năm cuối thập niên 70, để đối phó với mức độ lạm phát cao bất thường, các BCTC phải được điều chỉnh để phản ánh sự ảnh hưởng của sự biến đổi giá cả đến giá trị tài sản và thu nhập doanh nghiệp

c Mức độ phát triển của nền kinh tế

Mức độ phát triển kinh tế có thể quyết định sự phức tạp của lý thuyết

và thực hành kế toán Mức độ phát triển kinh tế càng cao, sự tự do kinh tế càng nhiều thì yêu cầu về trình bày báo cáo tài chính đầy đủ ngày càng tăng

Ở các nước có nền kinh tế kém phát triển, phát sinh ít hoạt động kinh tế thì những yêu cầu và sự phức tạp trong lĩnh vực thuế và kế toán tài chính rất đơn giản Khi mức độ hoạt động kinh tế và quy mô của doanh nghiệp tăng lên, sẽ dẫn đến sự gia tăng của hoạt động kế toán

Do đó, ở các nước đang phát triển, nền kinh tế phát triển tương đối đơn giản, họ không có nhu cầu về các chuẩn mực kế toán để xử lý

Trang 29

những nghiệp vụ kinh tế phức tạp Cho nên, mặc dù ở những nước này có vận dụng IAS, thì họ cũng vận dụng một cách có chọn lọc những nội dung liên quan nhất Hơn nữa, ở các nước phát triển có đầy đủ các chuẩn mực về tất cả các lĩnh vực mặc dù các chuẩn mực này có thể khác với IAS [13].

Mức độ phát triển kinh tế ảnh hưởng đến các loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong nền kinh tế và xác định loại nào là phổ biển nhất Loại nghiệp

vụ kinh tế phát sinh sẽ xác định những vấn đề mà kế toán phải đối mặt Ngày nay, nhiều nền kinh tế công nghiệp đang chuyển thành nền kinh tế dịch vụ, những vấn đề kế toán liên quan đến sản xuất, như đánh giá tài sản cố định, và ghi nhận chi phí hao mòn đang trở nên ít quan trọng hơn và những thách thức

kế toán mới như đánh giá tài sản vô hình và nguồn nhân lực là vấn đề đang được quan tâm hiện nay

Ngoài ra mức độ phát triển của xuất nhập khẩu cũng có ảnh hưởng đến

sự phát triển của kế toán Khi hoạt động xuất nhập khẩu càng tăng, nhu cầu về trình bày và công bố thông tin tài chính càng nhiều Chính sách tự do thương mại nói chung và khuyến khích xuất khẩu nói riêng làm tăng sự hợp tác giữa các quốc gia khác nhau và yêu cầu về tính so sánh của thông tin trên BCTC cũng như trình bày đầy đủ càng được nâng cao [5] Các vấn đề về chuyển đổi ngoại tệ được xem là trung tâm trong bối cảnh này Số lượng và quy mô của các công ty đa quốc gia tại một nước sẽ liên quan trực tiếp đến sự phát triển cách nguyên tắc kế toán về hợp nhất thu nhập từ nước ngoài (thu nhập bên ngoài quốc gia công ty mẹ đặt trụ sở)

Cooke and Wallace (1990) chỉ ra rằng mức độ của các quy định khai báo tài chính ở nhiều nước phát triển là có thể tác động bởi các nhân tố bên trong, trong khi đó ở các nước đang phát triển bị tác động bởi các nhân tố bên ngoài Các nhân tố bên trong chẳng hạn như giai đoạn phát triển kinh tế, mục

Trang 30

tiêu của nền kinh tế là vi mô hay vĩ mô Các nhân tố bên ngoài chẳng hạn như

sự ràng buộc thực dân - có thể giải thích cho sự áp đặt phải áp dụng chuẩn mực kế toán nào, sự tác động của các tập đoàn vượt phạm vi quốc gia, tác động của các hiệp hội kinh tế khu vực, sự quốc tế hóa của thị trường thương mại và chứng khoán thế giới, việc trở thành thành viên hoặc tham gia vào các hội nghị của các tổ chức thiết lập IAS, sự chuyển dịch quốc tế của các cá nhân hoặc doanh nghiệp kế toán chuyên nghiệp [6]

Như vậy, mức độ phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng theo nhiều hướng khác nhau đến sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán quốc gia và chuẩn mực kế toán quốc tế

d Sự đổi mới trong kinh doanh và tính phức tạp của doanh nghiệp

Sự đổi mới trong kinh doanh có thể mang đến nhiều thách thức mới cho

kế toán Kết quả là các chính sách và phương pháp kế toán mới sẽ được cải thiện Ví dụ, hợp nhất kinh doanh đã trở nên phổ biến ở châu Âu chỉ vài năm gần đây Trước đó, các quốc gia châu Âu ít quan tâm đến chuẩn mực và thực hành kế toán liên quan đến mua lại hợp nhất doanh nghiệp

Tính phức tạp của doanh nghiệp có thể quyết định tính phức tạp của phương pháp kế toán Các doanh nghiệp với quy mô và tính phức tạp khác nhau có thể có nhu cầu khác nhau về kế toán Ví dụ, một công ty lớn đang thực hiện một chiến dịch quảng cáo lớn có thể ghi nhận chi phí trả trước và phân bổ dần vào chi phí phát sinh trong kì, trong khi chương trình nhỏ hơn tại một công ty nhỏ hơn cần được ghi nhận là chi phí phát sinh trong kì Các tập đoàn lớn với nhiều lĩnh vực kinh doanh cần có các kỹ thuật trình bày BCTC khác với một doanh nghiệp nhỏ chỉ sản xuất một sản phẩm Tương tự, các tập đoàn đa quốc gia cần có hệ thống kế toán khác với những doanh nghiệp chỉ hoạt động trong nội địa của một quốc gia

Trang 31

1.2.2 Sự khác biệt về môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý có những ảnh hưởng hết sức sâu sắc đến hệ thống kế toán của các nước xuất phát từ mối quan hệ mật thiết của nó với hệ thống kế toán Dưới đây là một số nhân tố chủ yếu thuộc môi trường pháp lý tác động đến hệ thống kế toán ở các quốc gia

a Hệ thống pháp luật

Các quốc gia khác nhau có hệ thống luật pháp khác nhau nhưng nhìn chung có hai cách hình thành hệ thống pháp lý trên thế giới, đó là hệ thống pháp lý dựa trên thông luật (Common Law) và hệ thống pháp lý dựa trên đạo luật (Code/civil Law)

Hệ thống pháp lý dựa trên thông luật chỉ căn cứ vào một số giới hạn của đạo luật, chúng được giải thích bởi các tình huống xảy ra và tập hợp thành một số lượng lớn các án lệ để bổ sung cho các đạo luật Hệ thống này xuất phát từ Anh vào năm 1066, sau đó lan rộng đến nhiều quốc gia khác chịu ảnh hưởng của Anh như: Mĩ, Ireland, Ấn Độ, Úc… Tại hầu hết các quốc gia theo

hệ thống thông luật, các nguyên tắc kế toán được thiết lập bởi các tổ chức nghề nghiệp thuộc thành phần tư nhân Điều này cho phép các nguyên tắc kế toán trở nên dễ thích nghi và có tính đổi mới hơn Hệ thống kế toán tại các quốc gia này rất ít bị ảnh hưởng bởi các quy định của luật do nhà nước ban hành, không đưa ra các quy tắc cụ thể và chi tiết trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính

Hệ thống pháp lý dựa trên đạo luật chủ yếu xuất phát từ luật La Mã được hình thành từ thế kỷ VI và luật Napoleon Tại các quốc gia theo hệ thống đạo luật (Pháp, Đức, Ý…), các nguyên tắc kế toán kết hợp chặt chẽ với các luật của quốc gia và có xu hướng tuân thủ cao độ các luật lệ và thủ tục

Hệ thống kế toán tại các quốc gia này chú trọng đến việc tuân thủ luật lệ trong

Trang 32

khi tại các quốc gia theo thông luật thường dựa trên những vấn đề kinh tế thực

tế phát sinh

Sự khác biệt nền tảng về hệ thống luật pháp này đã có vai trò đáng

kể đối với thông tin kế toán Theo đó, chuẩn mực kế toán sẽ phát triển hơn ở các nước theo thông luật so với các nước theo đạo luật,

cụ thể là những nội dung còn thiếu trong chuẩn mực kế toán so với IAS của các quốc gia theo thông luật sẽ ít hơn so với các nước theo đạo luật Ngoài ra, các quy tắc kế toán của IAS sẽ có hướng dẫn giống với các quy tắc kế toán ở các nước theo thông luật hơn là các nước theo đạo luật [13]

b Chính sách thuế

Chính sách thuế là một nhân tố quan trọng khác gây nhiều ảnh hưởng đến hệ thống kế toán tại mỗi quốc gia, đặc biệt là đo lường kế toán Chính sách thuế là những quy định về các loại thuế do Nhà Nước ban hành đối với các đơn vị kinh doanh và cá nhân nhằm thực hiện việc huy động các nguồn thu ngân sách, điều tiết vĩ mô nền kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội

Mức độ ảnh hưởng của chính sách thuế đến thực hành kế toán tùy thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia và mối quan hệ giữa chuẩn mực kế toán và thuế thể hiện ở việc chấp nhận sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và lợi nhuận chịu thuế Tại một số quốc gia, chính sách thuế quy định chuẩn mực

kế toán bởi vì doanh nghiệp, ghi nhận doanh thu, thu nhập và chi phí theo mục đích tính thuế Nói cách khác, ở các quốc gia này kô có sự khác biệt giữa

kế toán tài chính và kế toán thuế Hệ thống chuẩn mực kế toán chịu nhiều sự chi phối của Nhà nước, do nhà nước ban hành thì hệ thống kế toán phải phù hợp và tuân thủ các quy định của luật thuế Kế toán viên chỉ quan tâm đến việc ghi nhận và lập BCTC tuân thủ theo các quy định của luật thuế, nên kết quả họ động kinh doanh sẽ không được phản ánh trung thực, hợp lý Do đó,

Trang 33

lợi nhuận kế toán và lợi nhuận chịu thuế sẽ không có sự chênh lệch trọng yếu Chẳng hạn như tại Đức, luật thuế quy định tỷ lệ khấu hao tối đa cho các loại tài sản cố định Tuy nhiên, trên thực tế, thời gian hữu dụng có thể không phù hợp do những đặc điểm sử dụng tài sản đặc thù của đơn vị Do đó, báo cáo tài chính được lặp theo tỷ lệ khấu hao của thuế sẽ không phản ánh trung thực tình hình lợi nhuận và tài sản của đơn vị mặc dù chúng được ghi chép và tính toán chính xác và hợp lệ.

Ở một số quốc gia khác như: Anh, Mỹ, Hà Lan, thuế ảnh hưởng không đáng kể đến việc tính toán lợi nhuận của kế toán, các doanh nghiệp lập BCTC theo chuẩn mực kế toán và số liệu này có thể khác biệt với số liệu trên bảng khai thuế Khi lập tờ khai thuế những chi phí và thu nhập không phù hợp với luật thuế sẽ được điều chỉnh lại, từ đó phát sinh sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và lợi nhuận chịu thuế Tuy nhiên, mặc dù có sự khác biệt giữa kế toán tài chính và kế toán thuế, chính sách thuế vẫn áp dụng những nguyên tắc kế toán chủ yếu

c Vai trò của Nhà nước và Hội nghề nghiệp

Hệ thống pháp lý khác nhau giữa các quốc gia sẽ dẫn đến sự khác biệt lớn về vai trò của Nhà nước trong việc thiết lập các vấn đề liên quan đến kế toán Tại một số các quốc gia như: Anh, Mỹ… Nhà nước không có vai trò đáng kể trong quá trình xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế toán Thay vào đó, chức năng này được giao cho các tổ chức nghề nghiệp đảm nhận Các hội nghề nghiệp của những quốc gia này thường hình thành từ rất lâu có đội ngũ nhân lực đông đảo, trình độ chuyên môn cao và am hiểu rộng rãi về các vấn đề kế toán thực tế phát sinh Các hội nghề nghiệp này thường ban hành các chuẩn mực nghề nghiệp về kế toán và kiểm toán được sự chấp nhận rộng rãi của xã hội và Nhà Nước Ngược lại, tại các quốc gia như: Đức, Pháp, Nhật… Nhà nước giữ vai trò quyết định trong những vấn đề về kế toán và các

Trang 34

tổ chức ngề nghiệp thường không mạnh và ít ảnh hưởng đến việc ban hành các chuẩn mực kế toán.

1.2.3 Sự khác biệt về trình độ kế toán

Sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán quốc gia và chuẩn mực kế toán quốc

tế được xem xét gồm hai khía cạnh Một là khác biệt ở những nội dung mà chuẩn mực kế toán quốc tế có đề cập trong khi chuẩn mực kế toán quốc gia không được đề cập đến – gọi tắt là những nội dung còn thiếu (absence) Hai là

ở cả hai hệ thống chuẩn mực cùng đề cập đến nhưng nội dung cụ thể thì không nhất quán với nhau – gọi tắt là những điểm khác biệt (divergence)

Quốc gia nào có mức độ phát triển về trình độ kế toán1 ít hơn, nghĩa

là có ít kinh nghiệm và kiến thức liên quan đến kế toán phức tạp thì chuẩn mực kế toán cũng có mức độ phức tạp thấp hơn Hay nói cách khác, ở những quốc gia có trình độ kế toán yếu kém, sự am hiểu về chuẩn mực kế toán thấp hơn sẽ dẫn đến nhiều nội dung sẽ không được đề cập trong hệ thống chuẩn mực kế toán của quốc gia

đó Theo đó, quốc gia nào có trình độ kế toán phát triển mạnh hơn thì hệ thống chuẩn mực kế toán sẽ phức tạp và chặt chẽ hơn (Những nội dung không được đề cập ở đây là so với hệ thống IAS) [13]

Như vậy, có thể nói rằng, ở những quốc gia có trình độ kế toán còn thấp thì chưa dự đoán hay lường trước được nhưng vấn đề có thể nảy sinh trong quá trình xử lý hạch toán các nghiệp vụ kinh tế, nhất là những nghiệp

1 Mức độ phát triển về trình độ kế toán của một quốc gia được đo lường bởi tỷ lệ số kế toán viên/kiểm toán viên hành nghề trên 100.000 người dân (Theo IFAC 2002 membership statistics in February 2003 (www.IFAC.org) Population data: US Census Bureau World Population http:// www.census.gov/ipc/)

Trang 35

vụ mới lạ, bất thường Do đó, trong quá trình ban hành chuẩn mực kế toán sẽ thiếu những nội dung đó.

“Sự liên kết giữa trình độ kế toán và sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán quốc gia và chuẩn mực kế toán quốc tế là không xác định được Một mặt, có thể nói rằng ở một quốc gia có trình độ kế toán phát triển cao thì họ tự tin và có khả năng để phát triển chuẩn mực kế toán của họ một cách độc lập

mà không phải dựa trên những tham khảo từ bên ngoài (chẳng hạn như IAS)” [13] Khi đó, sự không nhất quán về những nội dung cụ thể là điều hiển nhiên

“Mặt khác, ở các nước có trình độ kế toán cao, chẳng hạn như Úc, Anh, Hoa

Kỳ, thì lại có một đóng góp to lớn trong việc phát triển các chuẩn mực của IASC/IASB” [13] Do đó, không thể kết luận chắc chắn rằng trình độ kế toán cao hay thấp sẽ ảnh hưởng đến những nội dung khác biệt cụ thể của chuẩn mực kế toán quốc gia và quốc tế

1.3 NHỮNG KHÁC BIỆT CƠ BẢN CỦA CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM VỚI CHUẨN MỰC TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Hệ thống VAS được ban hành lần đầu vào năm 2001 và sau 5 năm đã

có 26 chuẩn mực kế toán được ban hành Việc hình thành các chuẩn mực này đáp ứng nhu cầu của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Hệ thống các chuẩn mực Việt Nam gồm những chuẩn mực cơ bản, đáp ứng nhu cầu của các giao dịch kinh tế cơ bản của đất nước Các chuẩn mực kế toán ở Việt Nam đã ban hành theo 5 đợt

Dựa vào nội dung chuẩn mực kế toán của các lần ban hành, có thể thấy việc soạn thảo và công bố các chuẩn mực đi theo một lộ trình, gắn với điều kiện kinh tế của Việt Nam có xuất phát điểm còn thấp so với các nước trên thế giới, nhưng đảm bảo phản ánh được các giao dịch kinh tế cơ bản đang phổ

Trang 36

biến trong nước Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam được xây dựng dựa trên các nguyên tắc [1] sau:

 Dựa trên cơ sở chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) và chuẩn mực trình bày BCTC quốc tế (IFRS) được cập nhật mới nhất Trong số 26 chuẩn mực ban hành thì có 24 chuẩn mực dựa trên cơ sở IAS và 2 chuẩn mực dựa trên IFRS là Hợp nhất kinh doanh và Hợp đồng bảo hiểm

 Việc xây dựng và công bố chuẩn mực kế toán Việt Nam phải phù hợp với đặc điểm và điều kiện phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện tại và tương lai gần

 Dựa trên cơ sở các luật pháp, cơ chế chính sách kinh tế, tài chính của Việt Nam và không để xảy ra xung đột về mặt pháp lý gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện

“Việc soạn thảo chuẩn mực kế toán đã hoàn toàn phù hợp với điều kiện

ở Việt Nam mà ở đó, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước trong lĩnh vực pháp luật đã ảnh hưởng không ít đến quá trình hình thành chuẩn mực” [3] Mặc dù đã có nhiều nỗ lực để xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam, nhưng trong khoảng thời gian 6 năm kể từ ngày ban hành gần nhất thì các chuẩn mực trên chưa có một lần điều chỉnh nào Điều này đặt ra câu hỏi lớn về sự khác biệt của hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam so với chuẩn mực quốc tế tính đến thời điểm hiện tại

Những phần của mục này sẽ đi sâu đối chiếu những khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực trình bày BCTC quốc tế Đối chiếu chuẩn mực là một công việc phức tạp, từ việc xem xét bối cảnh ra đời, phạm

vi của chuẩn mực, định nghĩa, ghi nhận, Trong phạm vi của mục này, luận văn chỉ nêu những khác biệt cơ bản giữa các chuẩn mực IFRS và VAS hiện tại liên quan trực tiếp đến Tổng Công ty Điện lực Miền Trung, bao gồm các

Trang 37

khác biệt liên quan đến trình bày BCTC, tài sản và nợ phải trả, doanh thu và chi phí, BCTC hợp nhất và hợp nhất kinh doanh.

1.3.1 Những khác biệt liên quan đến trình bày báo cáo tài chính

a Về Bảng cân đối kế toán

 Theo IFRS, tên gọi là Báo cáo tình hình tài chính (Statement of Financial Position) thay cho tên Bảng cân đối kế toán;

 IFRS không bắt buộc theo một mẫu biểu cụ thể hoặc trình tự trình bày các khoản mục

 Khi có thay đổi chính sách kế toán, IFRS qui định phải có thêm Báo cáo tình hình tài chính có tính so sánh

 Về các khoản mục trên BCĐKT: IAS 01 có thêm các khoản đầu tư áp dụng phương pháp vốn chủ, tài sản sinh học, Tài sản dài hạn giữ để bán, Nợ phải trả hoặc Nguồn vốn liên quan đến các tài sản dài hạn giữ để bán

 IAS 01 còn quy định khi đã trình bày tài sản và nợ phải trả thành ngắn hạn

và dài hạn thì khoản Thuế hoãn lại không được xếp vào ngắn hạn

b Về Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

 IFRS có thêm phần thu nhập tổng hợp khác để phản ánh lãi lỗ khi đánh giá lại một số tài sản, chuyển đổi ngoại tệ ở cơ sở nước ngoài, lãi lỗ thực tế với quỹ lợi ích xác định, lãi lỗ do tính giá lại tài sản tài chính chờ bán, lãi lỗ có hiệu lực với các công cụ chống rủi ro

c Về Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

 Cách phân loại dòng tiền trong chuẩn mực quốc tế có tính linh hoạt cao, đặc biệt là trường hợp dòng tiền liên quan đến lãi vay và cổ tức Sự linh hoạt này liên quan đến bản chất của khoản tiền vay sử dụng cho mục đích gì

 Phương pháp lập BCLCTT có điểm khác biệt ở nội hàm của phương pháp trực tiếp và gián tiếp

Trang 38

d Về Thuyết minh báo cáo tài chính

 IAS 1 linh hoạt hơn về công bố thông tin, chú trọng tính trọng yếu của thông tin đối với người sử dụng BCTC

 IAS 1 nhấn mạnh “trình bày trung thực đòi hỏi mô tả trung thực ảnh hưởng của các giao dịch, sự kiện và điều kiện phù hợp với định nghĩa và tiêu chuẩn ghi nhận tài sản, nợ phải trả, doanh thu và chi phí được thiết lập theo khuôn khổ chung”

 Trong IAS 24, định nghĩa về “các bên liên quan” rõ hơn; nội dung trình bày chỉ quan tâm đến giá trị các giao dịch mà không đề cập đến tỷ trọng các giao dịch; còn đề cập đến các khoản thù lao cho các nhân sự chủ chốt, giao dịch với bên liên quan là chính phủ

e Về Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu

 Tuy những thay đổi của vốn chủ sở hữu trong hệ thống báo cáo Việt Nam cũng được trình bày trong phần Thuyết minh BCTC nhưng IAS 01 yêu cầu lập riêng

1.3.2 Những khác biệt liên quan đến các chỉ tiêu về tài sản – nợ phải trả

a Về Tài sản

 Hàng tồn kho: IAS 2 loại trừ sản phẩm dở dang của hoạt động xây lắp, công cụ tài chính, tài sản sinh học ra khỏi hàng tồn kho; loại trừ phương pháp LIFO khi tính giá hàng xuất kho

 Tài sản cố định hữu hình, vô hình: Khác nhau về quy định tiêu chuẩn về giá trị ghi nhận là tài sản cố định; được lựa chọn mô hình giá hợp lý hay giá gốc vào thời điểm lập BCTC, về nhìn nhận tổn thất tài sản, về quan điểm

sở hữu đất đai; về những yêu cầu về công bố thông tin nhất là khi áp dụng

mô hình giá hợp lý; khác nhau về khái niệm ghi nhận ban đầu

Trang 39

 Đầu tư vào các công ty liên kết: IAS 28 không đề cập đến phương pháp giá gốc; khác biệt về quy định đo lường khi ngừng phương pháp vốn chủ sở hữu được đề cập rõ trong IAS 28; khác biệt liên quan đến phần sở hữu trong lãi lỗ của bên nhận đầu tư; vấn đề công bố thông tin.

 Thông tin tài chính về những khoản góp vốn liên doanh: Khác biệt các nguyên tắc trình bày tài sản, nợ phải trả, chi phí gánh chịu và doanh thu được chia từ hợp đồng hợp tác kinh doanh đồng kiểm soát; các nguyên tắc trình bày trên BCTC riêng đối với hợp đồng tài sản đồng kiểm soát; các nguyên tắc tổ chức kế toán đối với cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát

Ngoài các chuẩn mực vừa đối chiếu đã trình bày ở trên, còn có nhiều chuẩn mực mà kế toán Việt Nam chưa có Trong số này có thể phân ra thành 3 nhóm như sau:

 Nhóm các đối tượng kế toán đã hình thành từ lâu trong hoạt động kinh tế ở nước ta nhưng chưa có chuẩn mực, điển hình là hoạt động nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên

 Nhóm các đối tượng kế toán chưa được đề cập trong kế toán Việt Nam nhưng các chuẩn mực Việt Nam lại tham chiếu, đó là trường hợp của tổn thất tài sản

Nhóm các đối tượng kế toán đã tồn tại, không có chuẩn mực nhưng lại có thông tư hướng dẫn thực hiện theo hướng tuân thủ chuẩn mực quốc tế, có thể kể đến trường hợp kế toán các công cụ tài chính

b Về Nợ phải trả

 Thuê tài sản: IAS 17 quy định rõ các tài sản không áp dụng chuẩn mực này; Khác biệt về việc nhìn nhận tổn thất tài sản; Quan điểm sở hữu đất đai dẫn đến khác biệt trong ghi nhận việc thuê đất và tài sản gắn liền với đất; Mức độ công bố thông tin

Trang 40

 Lợi ích nhân viên (IAS 19): trong hệ thống VAS không có chuẩn mực quy định về vấn đề này Theo IAS 19, doanh nghiệp ghi nhận chi phí và nợ phải trả Các khoản lợi ích bao gồm: các khoản lợi ích ngắn hạn, các khoản phúc lợi hưu trí, các khoản lợi ích dài hạn khác và trợ cấp mất việc.

 Công cụ tài chính – nợ phải trả tài chính: trong hệ thống VAS không có chuẩn mực quy định về vấn đề này

1.3.3 Những khác biệt liên quan đến các chỉ tiêu về doanh thu và chi phí

 Doanh thu (IAS 18 và VAS 14): Có sự tương đồng lớn giữa hai chuẩn mực này Khác biệt chủ yếu là ở VAS 14 đề cập thêm thu nhập khác còn IAS 18 thì không, và khác biệt về công bố thông tin trên Thuyết minh BCTC

 Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái (IAS 21 và VAS 10): khác biệt các khái niệm về đồng tiền chuyển đổi; khác nhau về chuyển đổi số dư các khoản mục phi tiền tệ cuối kỳ; khác biệt về ghi nhận chênh lệch tỷ giá trong thời gian đầu tư xây dựng cơ bản, khi chuyển đổi các cơ sở, hoạt động ở nước ngoài

 Chi phí đi vay (IAS 23 và VAS 16): IAS 23 đề cập đến nguyên tắc áp dụng giá gốc, tài sản được xác định mang tính xét đoán của kế toán, và IAS 23 không còn đề cập đến phân bổ phụ trội hay chiết khấu trái phiếu, phân bổ chi phí phụ khi làm thủ tục vay

1.4 CÁC NGUYÊN TẮC CHUYỂN ĐỔI BÁO CÁO TÀI CHÍNH TỪ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM SANG CHUẨN MỰC TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Khi chuyển đổi BCTC từ VAS sang IFRS cần tiến hành 4 bước như sau:

 Xác định, phân loại các khác biệt về đo lường và trình bày cần chuyển đổi;

 Lập các bút toán điều chỉnh cho các khác biệt về đo lường trên Bảng cân đối thử (Trial balance);

Ngày đăng: 17/11/2017, 16:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Phùng Thị Đoan (2005), “Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam – Khả năng hài hòa và thống nhất với chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán của các nước khu vực ASEAN”, Hội thao tạo lập thị trường thống nhất về dịch vụ kế toán kiểm toán trong khu vực ASEAN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam – Khả năng hài hòa và thống nhất với chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán của các nước khu vực ASEAN
Tác giả: Phùng Thị Đoan
Năm: 2005
[2] ThS. Phạm Hoài Hương (2010), “Mức độ hài hòa giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng – số 5(40).2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mức độ hài hòa giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế
Tác giả: ThS. Phạm Hoài Hương
Năm: 2010
[3] TS. Trần Đình Khôi Nguyên (2012), Đối chiếu hệ thống VAS với hệ thống trình bày BCTC quốc tế, Đà Nẵng.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu hệ thống VAS với hệ thống trình bày BCTC quốc tế
Tác giả: TS. Trần Đình Khôi Nguyên
Năm: 2012
[4] Th.S Phạm Hoài Hương (2011), “De jure Convergence between Vietnamese and International Accounting Standards”, Paper submission, AFAANZ annual conference, Darwin, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: De jure Convergence between Vietnamese and International Accounting Standards
Tác giả: Th.S Phạm Hoài Hương
Năm: 2011
[5] Belkaoui A. (1985), Accounting theory, San Diego: Harcourt Brace Jovanovich International Editon Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accounting theory
Tác giả: Belkaoui A
Năm: 1985
[6] Cooke, T.E., Wallace, R.S.O. (1990), “Financial disclosure regulation and its environment: A review and further analysis”, Journal of Accounting and Public Policy (9), 79-110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial disclosure regulation and its environment: A review and further analysis
Tác giả: Cooke, T.E., Wallace, R.S.O
Năm: 1990
[7] Dumontier, P., & Raffournier, B. (1998), “Why firms comply voluntarily with IAS: An empirical investigation with Swiss data”, Journal of International Financial Management and Accounting, 9 (3), 15-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Why firms comply voluntarily with IAS: An empirical investigation with Swiss data
Tác giả: Dumontier, P., & Raffournier, B
Năm: 1998
[8] Mathews, M.R. and Perera, M.H.B., (1996), “Accounting Theory and Development”, the third edition, Melbourne: Thomas Nelsion Autralia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accounting Theory and Development
Tác giả: Mathews, M.R. and Perera, M.H.B
Năm: 1996
[9] Nobes, C. & Parker, R (2002), Comparative International Accounting, 7th edition Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparative International Accounting
Tác giả: Nobes, C. & Parker, R
Năm: 2002
[10] Shahrokh M. Saudagaran, Joselito G. Diga (1998), “Accounting Harmonization in ASEAN: Benefits, Models, and Policy Issues”, Journal of International Accounting, Auditing and Taxation Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accounting Harmonization in ASEAN: Benefits, Models, and Policy Issues
Tác giả: Shahrokh M. Saudagaran, Joselito G. Diga
Năm: 1998
[11] Soewarso, E., G. Tower, P. Hancock, and R. Taplin (2003), “A Comparative Study of De jure and De facto Disclosure between Australia and Singapore”, Asian Review of Accounting 11 (1), 18- 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Comparative Study of De jure and De facto Disclosure between Australia and Singapore
Tác giả: Soewarso, E., G. Tower, P. Hancock, and R. Taplin
Năm: 2003
[12] Wong P. (2004), “Challenges and successes in implementing international standards: achieving convergence to IFRSs and ISAs”, retrieved January 2011 from IFAC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Challenges and successes in implementing international standards: achieving convergence to IFRSs and ISAs
Tác giả: Wong P
Năm: 2004
[13] Yuan Ding, Ole-Kristian Hope, Thomas Jeanjean, Hervé Stolowy (2007), “Differences between domestic accounting standards and IAS: Measurement, determinants and implications”, Journal of Accounting and Public Policy, (26), 1-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Differences between domestic accounting standards and IAS: Measurement, determinants and implications”, "Journal of Accounting and Public Policy
Tác giả: Yuan Ding, Ole-Kristian Hope, Thomas Jeanjean, Hervé Stolowy
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w