Quản lý nhà nước về trật tự đô thị từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (Lv thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự đô thị từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (Lv thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự đô thị từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (Lv thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự đô thị từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (Lv thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự đô thị từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (Lv thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự đô thị từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (Lv thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự đô thị từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (Lv thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự đô thị từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (Lv thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự đô thị từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (Lv thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự đô thị từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (Lv thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự đô thị từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (Lv thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự đô thị từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (Lv thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỮU HOÀNG
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỮU HOÀNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, cho phép tôi trân trọng cảm ơn TS Hoàng Thị Ngân đã giúp đỡ,
hướng dẫn tôi về mọi mặt để hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Học viện Khoa học xã hội đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ cho bản thân trong 02 năm qua để có được kết quả học tập như hôm nay
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, Cán bộ-Công chức Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội, HĐND thành phố Đà Nẵng, UBND thành phố Đà Nẵng và các Sở, Ban ngành của thành phố đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi để có được những kết quả trong công tác Quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn thành phố, góp phần cho bản thân hoàn thành luận văn
Cảm ơn những người thân, bạn bè đồng nghiệp, anh chị em học viên cùng khóa, cùng lớp đã giúp đỡ, chia sẽ, động viên tôi những lúc khó khăn để hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu
là trung thực, khách quan Những kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Hữu Hoàng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNGVẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ 7
1.1 Đô thị và trật tự đô thị 7
1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò về trật tự đô thị 11
1.3 Các yếu tố bảo đảm quản lý nhà nước về trật tự đô thị 20
1.4 Chủ thể quản lý nhà nước về trật tự đô thị 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 26
2.1 Hiện trạng trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 26
2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 31
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 49
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 57
3.1 Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về trật tự đô thị 57
3.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa thành phố Đà Nẵng 60
KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc xây dựng và phát triển đất nước đòi hỏi đô thị phát triển một cách
có kiểm soát, theo quy hoạch, đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước “Cần phải
phát triển đô thị một cách vững chắc, có trật tự, nhằm xây dựng một đô thị đoàng hoàng hơn to đẹp hơn”
Trong những năm qua, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tốc độ phát triển đô thị diễn ra khá nhanh Việc xây dựng và phát triển các đô thị này, đòi hỏi phải được thực hiện theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt và đúng với quy chuẩn, tiêu chuẩn cho phép đối với từng khu vực Tuy nhiên, trên thực
tế việc vi phạm trật tự đô thị không còn là chuyện xa lạ ở các đô thị trong suốt thời gian qua Tình hình vi phạm trật tự đô thị đã và đang là một vấn đề nóng trong thực
tế các đô thị nước ta hiện nay; dường như đây chính là mặt trái của đô thị hoá với tốc độ quá nhanh trong khi quản lý nhà nước về đô thị lại chưa đáp ứng kịp Hiện tượng xây dựng không phép, sai với nội dung giấy phép xảy ra ở nhiều nơi trên cả nước, đặc biệt ở thành phố lớn, như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh,… có thể nhận thấy các công trình vi phạm pháp luật về xây dựng ngày càng nhiều và đa dạng hơn Mức độ không chỉ dừng lại ở mấy căn hộ tập thể cơi nới không xin phép hay nhà trong kiệt xây ban công lấn chiếm không gian công cộng,
mà nhà riêng sai theo kiểu nhà riêng, biệt thự sai kiểu biệt thự, các vi phạm về đất đai diễn ra ngày càng nhiều và phức tạp Đồng thời các vi phạm về trật tự vỉa hè, trật tự an toàn giao thông, về phòng cháy chữa cháy, về cư trú…cũng gia tăng và diễn biến phức tạp Điều này đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về trật tự đô thị phải được quan tâm một cách thực sự đúng mức
Thực tế cho thấy, song song với những mặt tích cực, sự phát triển đô thị nước ta trong những năm qua đã tạo ra sức ép khá lớn về nhiều mặt, có nguy cơ dẫn đến sự phát triển không bền vững Quá trình phát triển đô thị đã, đang nảy sinh nhiều vấn đề lớn, như gia tăng dân số cơ học ở các đô thị lớn; tình trạng lấn, chiếm đất xây dựng
Trang 9nhà trái phép vi phạm các chỉ giới, sai với quy hoạch ngày càng nghiêm trọng; nhiều khu công nghiệp hình thành không theo một khuôn mẫu về phòng cháy, chữa cháy và
xử lý chất thải; sự bùng nổ các phương tiện cơ giới gây ách tắc giao thông, Bên cạnh đó, quá trình phát triển đô thị cũng chính là nguyên nhân làm mất cân bằng sinh thái, làm giảm chất lượng môi trường sống, làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên Đây chính là thách thức của công tác quản lý nhà nước về trật tự đô thị tại các thành phố trên cả nước
Thành phố Đà Nẵng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của khu vực Miền Trung và Tây Nguyên, là đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương, trong quá trình chỉnh trang, phát triển của thành phố trong thời gian qua, cũng không tránh khỏi những tồn đọng trong trật tự xây dựng đô thị, giao thông đô thị, quản lý cư trú, phòng cháy chữa cháy,
Với những lý do yêu cầu cấp bách như vậy, cần thiết phải có những nghiên cứu khoa học để tìm ra những giải pháp phục vụ cho quá trình phát triển của thành
phố Đà Nẵng nói chung, trật tự đô thị ở Đà Nẵng nói riêng Đề tài “Quản lý nhà
nước về trật tự đô thị từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” được lựa chọn là xuất phát
từ nhu cầu đó, để đánh giá những thực trạng, tìm giải pháp và phương hướng nhằm
bổ sung thêm về lý luận, áp dụng vào thực tế quản lý trật tự đô thị ở thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay có rất nhiều đề tài nghiên cứu quản lý nhà nước về đô thị nói chung và quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực nói riêng được nhiều tác giả đề cập, như:
- “Phát triển Đô thị bền vững” do TS Nguyễn Thế Nghĩa - TS Tôn Nữ
Quỳnh Trân chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 2002, trong đó nội dung cuốn sách tác giả đã nêu lên những đặc thù và đưa ra những phương hướng giải quyết theo nguyên tắc bền vững trong đô thị Đặc biệt, nêu lên những trường hợp cụ thể về việc phát triển đô thị ở Việt Nam và các nước trên thế giới Tác giả đã phân tích những ưu, khuyết điểm của quá trình phát triển một đô thị cụ thể trong những
Trang 10năm qua, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc quy hoạch, chỉnh trang
và phát triển các đô thị khác trong tương lai
- Giáo trình “Quản lý đô thị” do GS TS Nguyễn Đình Hương và ThS Nguyễn
Hữu Đoàn chủ biên, Nhà xuất bản thống kê Hà Nội năm 2003, giáo trình gồm 10 chương, mỗi chương tương ứng với một vấn đề đặt ra cho quản lý đô thị Giáo trình
cơ bản đã cung cấp những quan niệm về đô thị, quản lý đô thị, phân loại đô thị, quá trình phát triển đô thị Việt Nam, các mô hình quản lý đô thị và nêu lên một số giải pháp, trách nhiệm của Nhà nước trong quản lý những lĩnh vực hoạt động được quan tâm tại đô thị, như: Quản lý đất đai; Cơ sở hạ tầng; Dân số và Lao động; Phát triển kinh tế; Giao thông và thông tin; Môi trường; An ninh xã hội và Tài chính đô thị
- “Quản lý đô thị thời kỳ chuyển đổi” của TS Võ Kim Cương, Nhà xuất bản
xây dựng năm 2004, tác giả nêu một số vấn đề về quản lý đô thị trong thời kỳ chuyển đổi và đúc kết những kinh nghiệm thực tế, đưa ra các quan điểm, giải pháp quản lý đô thị
- “Quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực” phần III do PGS TS Đinh Văn
Mậu, GS TS Lê Sỹ Thiệp và TS Nguyễn Trịnh Kiểm chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật năm 2009, trong đó chuyên đề 20 có đề cập đến QLNN về đô thị nhưng chỉ mới tiếp cận ở một vài khái niệm và gợi ý một số điểm liên quan mà không đi sâu nghiên cứu và đề ra giải pháp thực hiện
- “Pháp luật và Quản lý đô thị” do TS KTS Lê Trọng Bình chủ biên, Trường
Đại học Kiến trúc, Hà Nội năm 2009, tác giả đã đề cập đến những kiến thức cơ bản
về quản lý và phát triển đô thị, giúp cho người nghiên cứu nhận thức đúng đắn về quy luật phát triển đô thị, nắm vững những công cụ chủ yếu để quản lý đô thị là pháp luật, quy hoạch và bộ máy QLNN, đảm bảo cho đô thị phát triển một cách trật
tự, phù hợp với quy luật khách quan và hình thái kinh tế xã hội nước ta
- Vai trò của nhà nước đối với phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam do PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội năm 2011, cuốn sách đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để phát
Trang 11huy vai trò của nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở nước ta
- Chuyên đề “Quản lý nhà nước về đô thị và nông thôn” của PGS.TS Phạm Kim
Giao, tập bài giảng Học viện Hành chính, Hà Nội năm 2011, tác giả giới thiệu những vấn đề cơ bản hai khu vực, hai môi trường, hai loại hình thái định cư của con người và tác giả luận chứng trong quá trình phát triển của xã hội, do chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và lao động xã hội theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, môi trường sống hay định cư nông thôn sẽ dần thu hẹp lại và ngược lại môi trường sống hay định cư đô thị
sẽ tăng lên và mở rộng thay thế dần cho môi trường định cư nông thôn
- “Đại cương Quản lý đô thị trong điều kiện toàn cầu hóa và phát triển bền
vững” do GS.TS Phạm Hữu Khiển và PGS.TS Lưu Kiếm Thanh chủ biên, Nhà
xuất bản Lao động, Hà Nội năm 2011, cuốn sách đã phân tích những vấn đề phát triển xã hội trong bối cảnh của một số quốc gia trên thế giới nói chung, bối cảnh của Việt Nam nói riêng và đề cập đến vấn đề quản lý xã hội đô thị trong những điều kiện hiện đại
- “Quản lý đô thị” của TSKH Nguyễn Ngọc Châu, Nhà xuất bản Xây dựng,
Hà Nội năm 2012, tác giả đã nêu lên một số khái niệm về đô thị, quản lý đô thị, lịch
sử hình thành và phát triển đô thị Đồng thời, cuốn sách cung cấp những kiến thức mới về quản lý một số lĩnh vực cụ thể của đô thị, như dịch vụ công cộng, giao thông
và vận tải đô thị, môi trường, cấp thoát nước đô thị giúp cho người đọc nắm được những kiến thức cơ bản về quản lý đô thị
Ngoài ra, còn nhiều đề tài nghiên cứu quản lý nhà nước trên các lĩnh vực như đất đai, giao thông đô thị, an sinh xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường và tài nguyên, quy hoạch đô thị, Tuy nhiên, qua tìm hiểu, rà soát thì việc nghiên cứu đề tài quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cho thấy chưa
có công trình nghiên cứu nào Từ thực tế công tác của bản thân thấy được sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài này, góp phần đưa ra các kiến nghị khoa học để khắc phục những hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về trật tự đô thị
Trang 12trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm xây dựng thành phố Đà Nẵng ngày càng văn minh, hiện đại
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận, phân tích thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về trật tự
đô thị trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về trật tự đô thị; Đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân, hạn chế của hoạt động quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; Xác định các phương hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về trật tự đô thị tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về trật tự đô thị và thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Trang 13Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, cũng như của các cấp chính quyền thành phố Đà Nẵng về hoạt động quản lý nhà nước về trật tự đô thị
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đã có sự kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, quy nạp, diễn dịch,…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống dưới góc độ pháp luật hành chính về hoạt động quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Công trình này có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong quá trình học tập và nghiên cứu
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản
lý nhà nước về trật tự đô thị nói chung và trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về trật tự đô thị
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về trật tự đô
thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNGVẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
TRẬT TỰ ĐÔ THỊ
1.1 Đô thị và trật tự đô thị
1.1.1 Quan niệm về Đô thị
Theo nghĩa Hán – Việt, đô thị là từ ghép của 2 chữ “đô” và “thị” Thị có nghĩa
là “chợ”, “đô” có nghĩa là sự đông đúc, chợ thì luôn phải đông, phải tập trung con người và vật dụng trao đổi buôn bán Đô thị được hình dung là nơi tập trung khu dân cư sinh sống bằng các ngành nghề phi nông nghiệp
Theo giáo trình “Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị”, đô thị Việt Nam được hiểu là: “một khu dân cư, trong đó lực lượng lao động chủ yếu là phi nông
nghiệp, sống và làm việc theo lối sống thành thị”[40]
Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (2004) có giải thích: “Đô thị là nơi
dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể có cả nông nghiệp, là thành phố hoặc thị trấn, thị tứ” [34] Như vậy, đô thị được hiểu là khu vực thành phố, thị
xã, thị trấn, thị tứ, những trung tâm phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa của một quốc gia, một vùng, một địa phương
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị năm 2015, “Đô thị là khu vực tập
trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”.[32,tr.1]
Như vậy, đô thị là nơi tập trung đông dân cư với mật độ cao, là trung tâm kinh
tế, chính trị, văn hóa, đa phần nhân dân lao động chủ yếu là phi nông nghiệp, có cơ
sở hạ tầng hiện đại để phục vụ và phát triển kinh tế xã hội cho một vùng lãnh thổ, một địa phương
Trang 15* Phân loại đô thị ở Việt Nam
- Theo Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về phân loại
đô thị, thì các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị được xem xét, đánh giá trên cơ
sở hiện trạng phát triển đô thị tại năm trước liền kề năm lập đề án phân loại đô thị hoặc tại thời điểm lập đề án phân loại đô thị, theo đó, việc phân loại đô thị dựa trên các tiêu chí cơ bản sau:
- Chức năng đô thị: Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định;
- Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên;
- Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn;
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động;
- Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và
Trên cơ sở đó, có các loại đô thị sau:
Thứ nhất, đô thị đặc biệt là đô thị có quy mô dân số tối thiểu từ 5 triệu người
Trang 16trở lên, mật độ dân số khu vực nội thành từ 15.000 người/km2, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động và trên 60% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị
Thứ hai, đô thị loại I, trong đó đô thị trực thuộc trung ương có quy mô dân số
từ 1 triệu người trở lên, mật độ dân số bình quân ở khu vực nội thành từ 12.000 người/km2 Còn đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số từ 500 nghìn người trở lên, mật độ dân số bình quân khu vực nội thành từ 10.000 người/km2 Đồng thời, đô thị loại I có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 85% so với tổng số lao động và các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 50% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị
Thứ ba, đô thị loại II, trong đó đô thị trực thuộc trung ương có quy mô dân số
phải đạt trên 800 nghìn người, mật độ dân số bình quân ở khu vực nội thành từ 10.000 người/km2 Còn đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số từ 300 nghìn người trở lên, mật độ dân số bình quân khu vực nội thành từ 8.000 người/km2 Đồng thời,
đô thị loại II có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 80%
so với tổng số lao động và các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 40% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị
Thứ tư, đô thị loại III là đô thị có quy mô dân số từ 150 nghìn người trở lên,
với mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km2 trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 75% so với tổng số lao động và các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 40% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị
Thứ năm, đô thị loại IV là đô thị có quy mô dân số từ 50 nghìn người trở lên,
với mật độ dân số khu vực nội thị từ 4.000 người/km2 trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động
Thứ sáu, đô thị loại V là đô thị có quy mô dân số từ 4 nghìn người trở lên, với
mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km2 trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại các khu phố xây dựng tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động
Trang 171.1.2 Quan niệm về trật tự đô thị
Theo Từ điển Tiếng Việt, trật tự được hiểu là “chế độ do chính quyền quy định
để gìn giữ sự an ninh: bảo vệ trật tự, trị an, hay là sự sắp xếp hàng lối trước sau, trên xuống được đảm bảo theo quy tắc nhất định” [35] Trật tự đô thị là nói về tình
trạng an toàn, an ninh đô thị liên quan đến những điều kiện căn bản tạo môi trường dân sự phát triển và bền vững
Có quan niệm cho rằng, trật tự đô thị là “khái niệm về tổ chức quản lý xã hội đô
thị, đảm bảo tình trạng và môi trường dân sự đối với công dân đô thị, đồng thời cũng bảo đảm trật tự xã hội trên cơ sở các yếu tố con người và các yếu tố cấu trúc của xã
hội đô thị trong điều kiện được kiểm soát và phát triển”
Như vậy, có thể hiểu trật tự đô thị là sự điều chỉnh, sắp xếp các quan hệ xã
hội đô thị hoạt động theo một quy tắc, quy chuẩn phù hợp các quy định của pháp luật hiện hành để đảm bảo cho môi trường dân sự đô thị được phát triển bền vững theo những nguyên tắc nhất định
* Các tiêu chí đánh giá trật tự đô thị
Trật tự đô thị là việc nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội theo đúng quy tắc, quy chuẩn của pháp luật hiện hành vì vậy để đánh giá đô thị đó có trật tự hay không thì căn cứ vào các tiêu chí sau:
Thứ nhất, căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật ban hành có phù hợp
với thực tế hay không, có được mọi người dân chấp nhận không Muốn vậy pháp luật phải đảm bảo lợi ích hài hòa giữa người dân và nhà nước Nếu các văn bản được mọi người đồng tình thì việc tổ chức thực hiện vào thực tế sẽ đem lại hiệu quả rất cao và ngược lại sẽ rất khó khăn trong tổ chức thực hiện, có khi phải hủy bỏ vì không khả thi
Thứ hai, năng lực của chủ thể quản lý, vì mục đích của chủ thể là sắp xếp, điều
chỉnh các quan hệ xã hội dân sự đô thị được thực hiện theo một quy tắc nhất định
Do đó, năng lực chủ thể cao thì khả năng dự đoán, ban hành những quyết định điều chỉnh quan hệ đó sẽ có tính chất hiệu quả tốt hơn
Thứ ba, căn cứ vào quy hoạch tổng thể sẽ dự đoán được mức độ ổn định của
Trang 18sự phát triển, vì quản lý đô thị là quản lý nhiều lĩnh vực khác nhau và phải đảm bảo tính đồng bộ Vì vậy sẽ có những chiến lượt quy hoạch tổng thể dài hạn và ngắn hạn
để thực hiện hiệu quả ý đồ quản lý của chủ thể
Thứ tư, căn cứ vào nhận thức hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của công
dân để đánh giá được nơi đó có trật tự hay không Nếu ý thức pháp luật của công dân thấp thì không thể thi hành pháp luật đúng được Do vậy trên một địa bàn mà nhiều người dân hiểu biết về pháp luật thì rõ ràng việc chấp hành thực thi pháp luật được thuận lợi và rõ nét hơn
Thứ năm, căn cứ vào mặt bằng trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức ở các cơ quan chuyên trách Trong tổ chức thực hiện QLNN về trật
tự đô thị, thì phẩm chất chính trị, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ là khâu quan trọng nhằm truyền tải có hiệu quả những ý đồ, mục đích từ cơ quan quản lý đến thực tiễn
Thứ sáu, căn cứ vào cơ sở vật chất, phương tiện của cơ quan tổ chức thực hiện
việc quản lý về trật tự đô thị Ở địa phương, đơn vị, cơ quan nào chăm lo đến đầu tư trang thiết bị, phương tiện, có những điều kiện vật chất thuận lợi để thực thi quyền lực, thì nơi đó công tác quản lý nhà nước về trật tự đô thị được chú trọng đảm bảo tốt hơn
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về trật tự đô thị
Quản lý nhà nước được hiểu theo 2 nghĩa: theo nghĩa rộng, QLNN là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp Theo nghĩa hẹp, QLNN chỉ bao gồm hoạt động hành pháp Đây cũng là cách hiểu trong khoa học Luật hành chính
Tóm lại, từ phương diện của khoa học Luật hành chính thì QLNN là một loại
hoạt động của Nhà nước, được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền (trước hết
và chủ yếu là các cơ quan QLNN, là các cá nhân có thẩm quyền), trên cơ sở Hiến pháp, Luật và để thi hành Hiến pháp, Luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một mục tiêu đã được xác định trước
Trang 19Quản lý nhà nước về trật tự đô thị là hoạt động mang tính chất quyền lực của
cơ quan hành chính nhà nước, nhằm tạo ra các điều kiện để xác lập, duy trì và ổn định các quan hệ về trật tự đô thị, theo quy định của pháp luật về trật tự đô thị Đây
là một hoạt động có vai trò, vị trí rất quan trọng trong lĩnh vực an ninh trật tự đô thị QLNN về trật tự đô thị là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền được tiến hành trên cơ sở pháp luật, nhằm bảo vệ trật
tự đô thị QLNN về trật tự đô thị được tiến hành trên các lĩnh vực: ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về trật tự đô thị; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
về trật tự đô thị; quản lý quy tắc trật tự đô thị; quản lý kết cấu hạ tầng trật tự đô thị…
Từ những nhận thức chung về trật tự đô thị, về QLNN có thể đi đến quan
niệm: Quản lý nhà nước về trật tự đô thị là hoạt động của cơ quan hành chính nhà
nước và cá nhân có thẩm quyền, trên cơ sở Hiến pháp, Luật để can thiệp vào các lĩnh vực đô thị như: giao thông đô thị, xây dựng đô thị, trật tự xã hội đô thị nhằm điều chỉnh các hoạt động đô thị đi theo một quy tắc, một trật tự nhất định, đảm bảo đúng theo mục tiêu đã được xác định trước
Quản lý nhà nước về trật tự đô thị có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, QLNN về trật tự đô thị có thể do nhiều chủ thể tham gia Tuy nhiên,
trong hệ thống chủ thể QLNN về trật tự đô thị, các cơ quản lý hành chính nhà nước
là chủ thể chủ yếu, những cơ quan này thực hiện quản lý với tư cách đại diện công quyền mang quyền lực nhà nước
Thứ hai, QLNN về trật tự đô thị dựa trên cơ sở pháp lý trực tiếp là pháp luật
về trật tự đô thị Việc ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về trật tự đô thị là toàn bộ nội dung quản lý của QLNN về trật tự đô thị
Thứ ba, QLNN về trật tự đô thị là hoạt động của con người, liên quan đến
nhiều lĩnh vực của đời sống, tác động trực tiếp đến nhu cầu sinh hoạt của con người, các hoạt động này có những tính chất phức tạp theo sự phát triển chung của xã hội
Do vậy, QLNN về trật tự đô thị đòi hỏi phải được thực hiện khoa học, nhanh chóng
Trang 20phù hợp với sự vận động của đô thị
Thứ tư, QLNN về trật tự đô thị có nội dung rất rộng như: quản lý về phòng,
chống tội phạm; quản lý về phòng, chống tệ nạn xã hội; quản lý về trật tự ATGT; quản lý về phòng cháy, chữa cháy; quản lý về trật tự hành chính (quản lý cư trú, tạm trú, tạm vắng, hộ khẩu, quản lý con dấu, quản lý vũ khí, vật liệu nổ); quản lý trật tự xây dựng Trong giới hạn của luận văn, xuất phát từ thực tế, đề tài này chỉ đề cập đến 04 lĩnh vực chính là: 1) QLNN về trật tự xây dựng; 2) QLNN về phòng cháy, chữa cháy; 3) QLNN về trật tự giao thông đô thị; 4) QLNN về cư trú; 5) QLNN về cảnh quan, mỹ quan đô thị
* Vai trò của quản lý nhà nước về trật tự đô thị
Một là, nhà nước quyết định tốc độ nhanh hay chậm của sự phát triển kinh tế -
xã hội
Xã hội càng phát triển đòi hỏi trật tự xã hội nói chung, trật tự đô thị nói riêng càng hiện đại, phục vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn, tiện nghi, văn minh hơn và an toàn hơn trật tự đô thị tốt sẽ tạo điều kiện giao lưu kinh tế, phát triển đồng đều giữa các vùng lãnh thổ làm giảm chênh lệch về mức sống và dân trí giữa các vùng Có thể nói, sự phát triển của kinh tế – xã hội và mức độ bảo đảm trật tự đô thị cũng là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia Trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước hiện nay, muốn CNH, HĐH đất nước, việc xây dựng và phát triển trật tự đô thị phải đi trước một bước Vai trò của trật tự đô thị không chỉ dừng lại ở góc độ phát triển kinh tế mà còn ở chỗ thúc đẩy phát triển xã hội Ở đâu có trật tự đô thị phát triển ở đó có hoạt động giao lưu văn hóa, giáo dục, y tế sôi động hơn, hiệu quả hơn Nói cách khác, trật tự đô thị phát triển làm cho nhu cầu đời sống dân sinh được đáp ứng tốt hơn
Tóm lại, xã hội càng phát triển thì trật tự đô thị phải ngày càng tốt hơn là một
tất yếu Khi kinh tế phát triển thì trật tự đô thị ngày càng phát triển theo với trật tự,
an toàn cao để đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống Tốc độ phát triển của trật tự
đô thị cùng mức độ an toàn, thuận tiện của nó và phát triển kinh tế là một quan hệ tỷ
lệ thuận
Trang 21Hai là, nhà nước quyết định sự đảm bảo trật tự an toàn xã hội
Hoạt động trật tự đô thị diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, liên quan đến mọi tầng lớp dân cư, mọi chủ thể trong xã hội trật tự đô thị được bảo đảm, tức tài sản, tính mạng, mọi lợi ích chính đáng khác người dân được đảm bảo, người dân có cuộc sống yên lành, ổn định, nhu cầu đi lại, phát triển kinh tế được thuận lợi là điều kiện góp phần để đảm bảo trật tự an toàn xã hội
Trật tự an toàn xã hội được quan niệm là trạng thái của các quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi hệ thống quy phạm pháp luật của nhà nước, quy phạm chính trị, quy phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục trong đời sống cộng đồng của một dân tộc, một nhà nước, là tình trạng xã hội ổn định, ở đó mọi công dân sống và lao động có tổ chức, có kỷ cương, mọi lợi ích chính đáng được bảo đảm, không bị xâm hại
Như vậy, trật tự đô thị là một bộ phận không thể tách rời, có quan hệ khăng khít với trật tự an toàn xã hội; trật tự đô thị được đảm bảo thì mới góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội trật tự an toàn xã hội được đảm bảo vững chắc sẽ là cơ sở,
là điều kiện để giữ vững trật tự đô thị, củng cố phát huy tính pháp chế XHCN trong QLNN về trật tự đô thị
1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về trật tự đô thị
QLNN về trật tự đô thị là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền được tiến hành trên cơ sở pháp luật, nhằm bảo vệ trật tự đô thị Để QLNN về trật tự đô thị có hiệu quả, các cơ quan hành chính nhà nước theo thẩm quyền phải thực hiện các hoạt động xây dựng và ban hành các văn bản quản lý về trật tự đô thị; tổ chức thực hiện các văn bản quản lý về trật tự đô thị;
xử lý vi phạm các quy định về trật tự đô thị Đây là ba khâu quan trọng của quy trình QLNN về trật tự đô thị QLNN về trật tự đô thị sẽ không đạt được mục tiêu nếu thiếu đi một trong ba khâu đó Giữa ba khâu trong quy trình quản lý tồn tại mối quan hệ khăng khít không thể tách rời, nó cấu thành nội dung của QLNN về trật tự
đô thị
Thứ nhất, xây dựng, ban hành văn bản quản lý nhà nước về trật tự đô thị
Trang 22Hiến pháp năm 2013 ghi rõ “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến
pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật” Muốn quản lý
bằng pháp luật thì trước hết phải có luật pháp; luật pháp phải đúng, phải đủ Để QLNN về trật tự đô thị, đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực có liên quan đến trật tự đô thị Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là kết quả của quá trình nhận thức sự vận động, phát triển của đô thị Đây là sự ghi nhận về mặt nhà nước nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ có liên quan đến trật tự đô thị trong thực tiễn quản lý Trên cơ sở đó, xây dựng các thể chế quản lý phù hợp, tạo lập hành lang pháp lý cho những quan hệ ấy phát triển theo đúng định hướng của Nhà nước
Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về trật tự đô thị là hoạt động không thể thiếu trong cơ chế lãnh đạo, quản lý lĩnh vực có liên quan đến phát triển đô thị, đây là sự nối tiếp hoạt động lãnh đạo của Đảng, đồng thời nó là khâu đầu tiên của quy trình QLNN về trật tự đô thị Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về trật tự đô thị là khâu quan trọng, có tính chất quyết định đối với hai khâu còn lại của quy trình QLNN về trật tự đô thị, đó là tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về trật tự đô thị và xử lý vi phạm pháp luật về trật tự đô thị Nhà nước quy định thẩm quyền cho từng cơ quan trong việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực liên quan đến quản lý trật tự đô thị Căn cứ pháp lý cho hoạt động này
là Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức HĐND và UBND, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Xây dựng năm 2003, Luật Đất đai năm
2003, Luật Nhà ở năm 2006, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, Luật Cư trú năm
2006, Luật Giao thông đường bộ năm 2008, Luật Phòng cháy, chữa cháy năm 2001
và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành và xử lý vi phạm hành chính của Chính phủ, các Bộ, Ngành có liên quan trong thực hiện các luật trên Các cơ quan này được trao những chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể trong thực hiện những nội dung của QLNN về trật tự đô thị
Trang 23Chính phủ là cơ quan thống nhất QLNN về trật tự đô thị, có thẩm quyền trình các dự án luật, pháp lệnh có nội dung liên quan đến QLNN về trật tự đô thị, cũng như ban hành các văn bản quy định chi tiết thi hành các Luật có liên quan để áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam
Pháp luật về trật tự đô thị hoàn thiện mới có khả năng tạo lập được cơ sở pháp
lý vững chắc cho toàn bộ sự vận động phát triển của các quan hệ xã hội đô thị Hệ thống pháp luật về trật tự đô thị chỉ hoàn thiện khi đáp ứng được đầy đủ bốn tiêu chí, đó là tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, có kỹ thuật pháp lý cao
Trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về trật tự đô thị, công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực có liên quan trật tự đô thị
có tầm quan trọng, nhằm khắc phục kịp thời những hạn chế của pháp luật về trật tự
đô thị, nâng cao chất lượng của pháp luật về trật tự đô thị, tính pháp điển và tạo điều kiện cho công tác quản lý văn bản, cho việc sử dụng, áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực trật tự đô thị đảm bảo phù hợp với thực tế
Thứ hai, tổ chức thực hiện văn bản quản lý nhà nước về trật tự đô thị
Thực tế chứng minh, pháp luật được ban hành tự thân nó không thể đi vào đời sống mà phải thông qua việc tổ chức thực hiện trên thực tế Tổ chức thực hiện pháp luật về trật tự đô thị nhằm đưa các quy phạm pháp luật về trật tự đô thị vào điều chỉnh các quan hệ về lĩnh vực đô thị, được tiến hành trên hai bình diện chủ yếu là triển khai thực hiện và áp dụng pháp luật về trật tự đô thị
Về triển khai thực hiện pháp luật QLNN về trật tự đô thị: Trong phạm vi thẩm
quyền, các cơ quan QLNN tổ chức triển khai các quy định trong các văn bản pháp luật về trật tự đô thị bằng việc tập huấn, hướng dẫn thực hiện tại các cơ quan, đơn vị
cơ sở, tuyên truyền phổ biến giáo dục cho các đối tượng quản lý bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp Trong tổ chức thực hiện pháp luật về trật tự đô thị, các cấp, các ngành ở Trung ương cũng như các địa phương phải có sự phối hợp một cách đồng bộ, nhịp nhàng thì mới thực hiện pháp luật về trật tự đô thị một cách có hiệu quả
Về áp dụng pháp luật QLNN về trật tự đô thị: Đây là việc các cơ quan nhà
Trang 24nước có thẩm quyền quản lý các lĩnh vực có liên quan về trật tự đô thị bằng các hoạt động nghiệp vụ, với trình độ chuyên môn cao của các cán bộ, công chức có thẩm quyền, tổ chức cho các chủ thể tham gia hoạt động trật tự đô thị thực hiện những quy định của pháp luật về trật tự đô thị để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể trong lĩnh vực trật tự đô thị
Với nội dung trên, hoạt động áp dụng pháp luật về trật tự đô thị là sự tác động quản lý bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền và một số cơ quan khác của Nhà nước được ủy quyền để thi hành pháp luật về trật tự đô thị Đây là yếu
tố quyết định sự tuân thủ nghiêm chỉnh các quy phạm pháp luật về trật tự đô thị, tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về trật tự đô thị
Tổ chức thực hiện pháp luật QLNN về trật tự đô thị là hoạt động quan trọng của cơ quan hành chính nhà nước Ở nhiều Bộ, Ngành, Tỉnh, Thành phố hàng năm phải thực hiện tổng kết hoạt động năm trước và đề ra nhiệm vụ năm sau Đối với Luật mới, Nghị định, Nghị quyết mới của Chính phủ còn phải lập chương trình hành động, xác định tiến độ thực hiện, phân công cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp Đây là cơ sở để tiến hành giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong QLNN về trật tự đô thị
Thanh tra là một chức năng thiết yếu của QLNN, là hoạt động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, thường được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách, theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Từ cách hiểu đó, thanh tra QLNN về trật tự đô thị là một chức năng thiết yếu của cơ quan chuyên trách thực hiện kiểm tra các đối tượng quản lý trên lĩnh vực liên quan đến trật tự đô thị nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sai lầm, xử
lý vi phạm trong hoạt động chấp hành các quy định pháp luật của nhà nước về trật
Trang 25Kiểm tra trật tự đô thị là việc xem xét các hành vi, hoạt động chủ thể có chấp hành đúng các chủ trương, chính sách pháp luật nhà nước trên các lĩnh vực trật tự
đô thị, từ đó xem xét các mức độ vi phạm để kịp thời xử lý theo quy định
Xử lý vi phạm pháp luật về trật tự đô thị có thể được hiểu là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, quyết định
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính hay hình sự đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực về trật tự đô thị
Vi phạm pháp luật về trật tự đô thị có thể phát sinh các loại vi phạm pháp luật như: vi phạm pháp luật dân sự; vi phạm pháp luật hành chính; vi phạm kỷ luật nhà nước (chủ yếu đối với cán bộ, công chức, viên chức hành chính trực tiếp hoạt động QLNN về trật tự đô thị); vi phạm pháp luật đất đai; vi phạm pháp luật xây dựng; vi phạm pháp Luật Cư trú; vi phạm pháp luật giao thông đường bộ; vi phạm pháp luật phòng cháy và chữa cháy; vi phạm pháp luật hình sự
Do vậy, xử lý vi phạm pháp luật về trật tự đô thị có thể được tiến hành ở hai mức độ: xử lý vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi pham pháp luật về trật tự đô thị (tùy theo từng trường hợp cụ thể)
Xử lý vi phạm hành chính về trật tự đô thị chủ yếu là áp dụng xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân và tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm quy định
về trật tự đô thị, các điều kiện đảm bảo ổn định trật tự đô thị mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính
1.2.3 Phương pháp quản lý nhà nước về trật tự đô thị
Quản lý nhà nước về trật tự đô thị là một trong những hoạt động của quản lý
Trang 26Nhà nước Để thực hiện hiệu quả công tác quản lý về trật tự đô thị, Nhà nước đã đưa ra những hình thức và phương pháp quản lý phù hợp để quá trình quản lý đạt hiệu quả nhất
Phương pháp quản lý nhà nước về trật tự đô thị là cách thức thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của chủ thể quản lý đối với chủ thể thực thi nhằm đạt được những hành vi xử sự cần thiết Quản lý nhà nước đối về trật tự đô thị đã và đang thực hiện các phương pháp sau:
- Phương pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục Đây là nhóm phương pháp
cơ bản, đầu tiên được nhà nước thường xuyên sử dụng để tạo động viên, khuyến khích các chủ thể thực thi, người dân luôn phát huy năng lực, tinh thần vì sự nghiệp chung
- Nhóm phương pháp kinh tế Là cách thức tác động gián tiếp đối với đối tượng quản lý bằng các cơ chế, kích thích tạo sự quan tâm nhất định tới lợi ích vật chất thông qua các chính sách như khen thưởng, nêu gương để người dân có động lực và tự điều chỉnh hànhđộng nhằm thực thi đúng quy định của Nhà nước, góp phần vào lợi ích chung
- Nhóm phương pháp tâm lý – xã hội Nhóm phương pháp thể hiện các cách thức mà chủ thể quản lý có thẩm quyền đặt ra tác động đến các đối tượng bằng các
cơ chế, biện pháp logic tâm lý – xã hội để biến các yêu cầu cao của nhà quản lý thành các yêu cầu, ý thức tự giác của người dân
- Nhóm phương pháp quản lý hành chính – tổ chức Đây là nhóm phương pháp mang tính chất bắt buộc Thực hiện phương pháp này mang tính quy định của pháp luật và kế hoạch rõ ràng Qúa trình thực hiện quản lý đòi hỏi cả chủ thể quản
lý có thẩm quyền và đối tượng bị quản lý phải tuân thủ tất cả các mệnh lệnh, quyết định, chỉ thị đã được ban hành
- Phương pháp cưỡng chế hành chính về trật tự đô thị Đây là biện pháp cưỡng chế hành chính được áp dụng nhằm mục đích đảm bảo trật tự, kỷ cương pháp chế trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về trật tự đô thị Áp dụng để dập tắt những hành vi vi phạm pháp luật, ngăn chặn hậu quả thiệt hại do các tổ chức, cá
Trang 27nhân gây ra, hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính do các cơ quan, người
có thẩm quyền áp dụng
1.3 Các yếu tố bảo đảm quản lý nhà nước về trật tự đô thị
Như đã nêu ở trên, trật tự đô thị là khái niệm nói về tình trạng an toàn, an ninh đô thị liên quan đến những điều kiện căn bản tạo môi trường dân sự phát triển bền vững Vì vậy, QLNN về trật tự đô thị chịu sự tác động bởi các yếu tố sau:
Thứ nhất, hệ thống thể chế
Theo giáo trình của Học viện Hành chính quốc gia, “Thể chế bao gồm toàn bộ
các cơ quan nhà nước với hệ thống quy định do nhà nước xác lập trong hệ thống văn bản pháp luật của nhà nước và được nhà nước sử dụng để điều chỉnh và tạo ra các hành vi và mối quan hệ giữa nhà nước với công dân, các tổ chức nhằm thiết lập trật tự kỷ cương xã hội”
Hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước là sự tác động của quyền lực nhà nước đến các chủ thể trong xã hội; công dân và tổ chức; thể nhân hay pháp nhân, công pháp hay tư pháp (công quyền), mang đặc trưng cưỡng bức kết hợp với thuyết phục, giáo dục Thể chế hành chính nhà nước với một hệ thống pháp luật (bao gồm luật, các văn bản pháp quy dưới luật) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành là cơ sở pháp lý cho các cơ quan hành chính nhà nước các cấp thực hiện quản lý, bảo đảm thống nhất QLNN trên phạm vi quốc gia
Pháp luật - theo định nghĩa phổ quát là “toàn bộ các quy tắc xử sự do nhà nước
- đại diện cho xã hội đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của nhà nước, được nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một trật tự có lợi cho nhà nước và xã hội” Vì xã hội là “tổng hòa các mối quan hệ giữa người và người”
nên nội dung và phạm vi điều chỉnh của pháp luật cũng hết sức rộng rãi và phức tạp, được phân chia thành các bộ phận pháp luật khác nhau, tương xứng với các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người Pháp luật về trật tự đô thị là một trong những bộ
phận pháp luật đó
Hệ thống pháp luật được đồng bộ, hoàn thiện sẽ là tiền đề, điều kiện để chủ
Trang 28thể và khánh thể quan hệ pháp luật về trật tự đô thị căn cứ thi hành Vì vậy, pháp luật càng rõ ràng, thống nhất là cở sở để cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng Trong thực tế hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật QLNN về trật tự đô thị chưa được tổng hợp thành những bộ luật bao trùm nội dung của công tác này Vì vậy, các cơ quan phải sử dụng các cơ sở pháp lý nằm ở nhiều văn bản khác nhau
Từ đó, cần gấp rút xây dựng hệ thống quy định quy chuẩn liên quan đến các hoạt đông xã hội đô thị gắn liền với yêu cầu an toàn và an ninh đô thị Những thể chế quy định cần phản ánh đúng, chính xác các yêu cầu về tiêu chuẩn an toàn, cơ chế bảo đảm điều kiện cho an ninh và an toàn các sinh hoạt dân sự của sinh hoạt đô thị
Thứ hai, năng lực thực hiện pháp luật của bộ máy quản lý về trật tự đô thị
Đây là yếu tố quyết định bảo đảm QLNN bằng pháp luật về trật tự đô thị với những lý do sau đây:
Pháp luật là cơ sở của quản lý, nhưng nếu không được thực hiện, thực hiện
không đúng, không kịp thời thì “pháp luật có cũng như không” Vì lẽ đó, thực hiện
pháp luật đầy đủ, chính xác, kịp thời là yếu tố quyết định hiệu lực, hiệu quả quản lý, cho dù quản lý lĩnh vực nào, do cơ quan nhà nước nào tiến hành Nhưng điều đó, suy cho cùng là phụ thuộc vào năng lực thực hiện pháp luật của bộ máy quản lý Yếu tố có tính quyết định tạo thành năng lực thực hiện pháp luật của bộ máy quản lý chính là tính hợp lý của bộ máy chính chính quyền các cấp Một bộ máy mạnh là bộ máy luôn thích ứng với mọi biến đổi xã hội, vì vậy nhận thức cần khắc phục tư duy siêu hình trong tổ chức bộ máy, phải luôn tìm tòi sáng kiến sao cho bộ máy quản lý thường xuyên được đổi mới, cải cách, đáp ứng được tối đa nhu cầu của quản lý xã hội, quản lý trật tự đô thị, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, đô
thị hóa và hội nhập quốc tế
Năng lực quản lý về trật tự đô thị ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý, năng lực quản lý thể hiện ở việc hoạch định, đưa ra các chính sách, quyết đoán phù hợp với thực tiễn địa phương Đồng thời, nói lên khả năng am hiểu các chủ trương, chính sách, có tài thuyết phục, tuyên truyền nhân dân tự chấp hành các quy định pháp luật của nhà nước về trật tự đô thị Mặt khác, có biện pháp và chủ động trong
Trang 29xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh và xử lý kịp thời những sai phạm xảy ra, từ đó sẽ tạo được uy tín, niềm tin trong nhân dân đối với cán bộ, công chức nhà nước
Thứ ba, phẩm chất, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản
lý trật tự đô thị
Với mặt trái của cơ chế thị trường đặt ra người cán bộ công chức làm công tác quản lý trật tự đô thị phải có phẩm chất và trình độ nhất định Như chúng ta biết, trong các lĩnh vực QLNN thì QLNN về trật tự đô thị là lĩnh vực rất nhạy cảm, dễ sa vào tiêu cực trước những cò mồi, chung chi của các đối tượng vi phạm nhằm giảm nhẹ hình thức vi phạm, như: vi phạm trật tự giao thông, xây dựng
Vì vậy, đội ngũ làm công tác quản lý trật tự đô thị, ngoài trình độ chuyên môn,
để có khả năng nhận định đúng tình hình, hệ quả các hành vi, khả năng áp dụng các chế tài có liên quan đảm bảo thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật, còn đòi hỏi người cán bộ làm công tác này phải có phẩm chất chính trị vững vàng,
có đạo đức tốt, phân biệt đúng sai tránh sa vào những tiêu cực, tệ nạn xã hội gây ảnh hưởng đến công tác quản lý và bất bình trong nhân dân
Thứ tư, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động QLNN về trật tự đô thị
Đây là những phương tiện, công cụ cơ bản để đảm bảo cho công tác quản lý, đơn cử trong quá trình quản lý trật tự ATGT mà công an giao thông không có còi, baton, xe công vụ thì không thể ra hiệu để dừng xe, kiểm tra xử lý và tịch thu phương tiện; cũng như trong quá trình chưa cháy mà không có xe chữa cháy, bình chữa cháy và một số phương tiện khác thì rất khó khăn trong thực thi nhiệm vụ Vì vậy, việc trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động QLNN về trật tự đô thị là rất cần thiết và đảm bảo cho công tác này được thực thi hiệu quả
Thứ năm, sự tham gia của nhân dân vào hoạt động QLNN về trật tự đô thị
Như chúng ta đã biết, nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân vì vậy mọi chủ trương, chính sách và các hoạt động QLNN đều đảm bảo lợi ích của nhân dân Bên cạnh đó, số lượng cán bộ phụ trách công tác quản lý lĩnh vực trật tự đô thị quá mỏng so với yêu cầu của nhiệm vụ trên thực tế Vì vậy, để
Trang 30hoàn thành nhiệm vụ, cần có sự tham gia tích cực của người dân, nên cán bộ quản
lý trật tự đô thị phải biết phát huy lực lượng nồng cốt, những người có uy tín và gắn
bó chặt chẽ với nhân dân, để nhân dân tin yêu mà làm tai mắt, giúp đỡ cho lực lượng thực hiện nhiệm vụ Trong thực tiễn cũng đã chứng minh, ở nơi nào nhân dân tích cực, đồng tình với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, đồng tình với cách làm việc của cán bộ, tận tình giúp đỡ cán bộ thì ở nơi đó trật tự
đô thị được đảm bảo và an toàn
Xây dựng ý thức thị dân, văn minh đô thị để người dân có ý thức giữ gìn cảnh quang đô thị, tự giác chấp hành các quy định về trật tư đô thị, đây là giải pháp căn
cơ và quan trọng, nhưng lâu dài
Mạnh dạn giao cho người dân quản lý cây xanh trước nhà, khuyến khích trồng hoa, cây cảnh đẹp tại các bồn hoa trước nhà
Tăng cường trách nhiệm tổ trưởng dân phố và tinh thần tự quản của người dân đối với công trình công cộng nơi người dân cư trú
Thường xuyên tham vấn ý kiến người dân khi thực hiện quyền QLNN đối với trật tự đô thị
Có cơ chế chính sách bảo vệ và đãi ngộ đặc biệt với những người có tình thần trách nhiệm, mạnh dạn phản ảnh những hành vi sai phạm của cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về trật tự đô thị nhờ đó mà cơ quan QLNN đã kịp thời phát hiện và
xử lý hiệu quả
1.4 Chủ thể quản lý nhà nước về trật tự đô thị
Quản lý nhà nước về trật tự đô thị có thể do nhiều chủ thể tham gia, không thể chỉ do nhà nước, nhất là trong xu thế xã hội hóa Tuy nhiên, trong hệ thống chủ thể QLNN về trật tự đô thị thì nhà nước, trực tiếp là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước là chủ thể chủ yếu Những cơ quan này thực hiện quản lý với tư cách đại diện công quyền, mang quyền lực nhà nước Vì lẽ đó, các quyết định quản lý về trật
tự đô thị có giá trị pháp lý, có tính chất bắt buộc, cưỡng chế; đa số các quan hệ quản
lý phát sinh trong quá trình quản lý là những quan hệ hành chính, các bên chủ thể
Trang 31không có địa vị pháp lý bình đẳng; phương pháp điều chỉnh là phương pháp quyền
uy, mệnh lệnh - phục tùng
Theo đó, chủ thể QLNN về trật tự đô thị là các cơ quan, cá nhân, tổ chức được nhà nước trao quyền Về cơ bản các đô thị được quản lý bởi địa phương (cấp tỉnh trở xuống) Tuy nhiên, có một số nhiệm vụ và trách nhiệm quản lý được giữ lại
ở cấp trung ương Những nội dung này được quản lý bởi một số cơ quan quản lý ngành của Chính phủ như: Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công an Ngoài ra, bộ quản lý đa lĩnh vực cũng tham gia và quản
lý một số nội dung liên quan đến các hoạt động trật tự đô thị Các chủ thể được quy định nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể như sau: Ngoài quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính và UBND cấp huyện, xã
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuốc Trung ương có nhiệm vụ và quyền hạn:
Chỉ đạo và tiến hành mọi biện pháp cần thiết để bảo đảm trật tự đô thị trên địa phương mình; giải tỏa lòng đường, vỉa hè bị chiếm dụng Phải đảm bảo vỉa hè dành cho người đi bộ, lòng đường chỉ dành cho việc giao thông các loại phương tiện
cơ giới và thô sơ
Quy định cụ thể việc sử dụng một phần bên trong vỉa hè của một số đường phố đặc biệt để bán hàng hóa nhưng không được ảnh hưởng đến trật tự đô thị; Chỉ đạo UBND cấp dưới có kế hoạch sắp xếp nơi họp chợ, buôn bán thuận lợi cho nhân dân nhưng tuyệt đối không được vi phạm trật tự đô thị
Quy hoạch và chỉ đạo thực hiện quy hoạch xây dựng bến xe, bãi đỗ xe, quản
lý hoạt động của các bến xe Đề xuất chính sách ưu tiên phát triển vận tải khách công cộng, tổ chức quản lý vận tải khách công cộng trong đô thị
Trang 32Kết luận Chương 1
Bằng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh đã làm rõ một số khái niệm cơ bản nhất về đô thị, các tiêu chí để xác định, phân loại đô thị đã xác định được các tiêu chuẩn quan trọng để xác định đô thị Đồng thời, từ việc tìm hiểu các quan niệm
về đô thị và những đặc điểm của QLNN nói chung, trên cơ sở đó đã rút ra quan niệm, đặc điểm vai trò của QLNN về trật tự đô thị, từ đó đã khái quát, làm rõ các bộ phận cấu thành QLNN về trật tự đô thị
Quản lý nhà nước về trật tự đô thị là hoạt động quan trọng của nhà nước, nhằm đáp ứng các nhu cầu xã hội dân sự đô thị, đặc biệt trong quá trình chỉnh trang đô thị như hiện nay, đây là lĩnh vực cần được chú trọng, quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện, để sớm điều chỉnh các mối quan hệ này đi vào nề nếp, tuân theo một khuôn khổ nhất định đúng với chương trình quy hoạch tổng thể đã đề ra Quản lý nhà nước nói chung, trong đó QLNN về trật tự đô thị nói riêng phải gắn liền với pháp luật QLNN về trật tự đô thị có rất nhiều lĩnh vực cần phải điều chỉnh Công cụ quan trọng để thực hiện việc quản lý là pháp luật, pháp luật tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động dân sự đô thị và là công cụ có tính bắt buộc thực hiện các quy định để đảm bảo trật tự đô thị Đồng thời, cũng là cơ sở để xử lý các vi phạm xảy ra Nội dung chủ yếu của pháp luật QLNN về trật tự đô thị (như: pháp luật quản lý về trật tự xây dựng đô thị, pháp luật về quản lý trật tự ATGT, pháp luật quản lý về phòng cháy, chữa cháy và pháp luật quản lý về cư trú) cũng đã được đề cập đến một cách tổng quát
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ
TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Hiện trạng trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trong một đô thị hiện đại, vấn đề trật tự đô thị của người dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã trở thành vấn đề chung của cộng đồng và có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của mọi người, đồng thời tác động mạnh đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
đô thị cấp quốc tế và phát triển bền vững
* Điều kiện tự nhiên:
Thành phố Đà Nẵng trải dài từ 15°15' đến 16°40' Bắc và từ 107°17' đến 108°20' Đông Phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía tây và nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp biển Đông Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 764km
về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam, cách kinh đô thời cận đại của Việt Nam là thành phố Huế 108 km về hướng Tây Bắc
Diện tích tự nhiên: 1.283,4km2
Đà Nẵng có 6 quận nội thành, 2 huyện và 56 phường, xã Các quận: Cẩm Lệ, Hải Châu, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Thanh Khê và 2 huyện: huyện Hòa
Trang 34Vang và huyện đảo Hoàng Sa
Dân số: 1.046.876 người; mật độ: 892 người/km2 (2015)
* Điều kiện Kinh tế - Xã hội
tế
Đà Nẵng là Cửa ngõ phía Đông của Hành lang Kinh tế Đông – Tây (EWEC) Hành lang Kinh tế Đông - Tây là một trong năm hành lang kinh tế được phát triển theo sáng kiến của Ngân hàng Phát triển Châu Á ở khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông Đây là tuyến đường bộ dài 1.481 km nối hai bờ Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương đi qua 13 tỉnh/thành phố của 4 nước, bắt đầu từ thành phố cảng Mawlamyine đến cửa khẩu Myawaddy (Myanma), đi qua Thái Lan, Lào và điểm đến cuối cùng là cảng Tiên Sa - Đà Nẵng của Việt Nam
Hành lang Kinh tế Đông - Tây không chỉ đem lại cơ hội cho các quốc gia trên tuyến đường đẩy mạnh hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và nâng cao mức sống cho nhân dân, mà còn tạo khả năng cho các doanh nghiệp của các nước tiếp cận tốt hơn các vùng nguyên liệu, thị trường dịch vụ, vốn, công nghệ và lao động , tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư và buôn bán qua biên giới, đa dạng hóa hoạt động
kinh tế và xuất khẩu, thúc đẩy phát triển du lịch
Đà Nẵng là Cửa vào của các di sản văn hoá và di sản thiên nhiên thế giới Đà
Nẵng nằm ở trung tâm của “Con đường di sản thế giới” kết nối các di sản thế giới ở miền Trung - Việt Nam, bao gồm: Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình); cố đô Huế với hai di sản là Quần thể di tích Cố đô Huế và Nhã nhạc cung đình Huế; tỉnh Quảng Nam với hai di sản là: Thánh địa Mỹ Sơn và đô thị cổ Hội
Trang 35An Cùng với hai di sản thế giới khác là cố đô Luang Prabang và quần thể Angkor Wat, chương trình này kết hợp thành một chương trình hợp tác du lịch lớn hơn là
"Lào, Campuchia, Việt Nam: 3 quốc gia, một điểm đến”
Cơ sở hạ tầng
Cảng Tiên Sa là cảng thương mại lớn thứ ba của Việt Nam sau cảng Sài Gòn
và cảng Hải Phòng Năng lực bốc dỡ hàng hoá 4 triệu tấn/năm, có thể tiếp nhận các loại tàu hàng có trọng tải 45.000DWT và các tàu chuyên dùng khác như tàu container, tàu khách, tàu hàng siêu trường siêu trọng Từ cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) hiện có các tuyến tàu biển quốc tế đi Hồng Kông, Singapore, Nhật Bản, Đài Loan
và Hàn Quốc
Sân bay Đà Nẵng được tổ chức hàng không quốc tế xác định là điểm trung chuyển của đường bay Đông - Tây Công suất phục vụ 6 triệu lượt khách/năm Tổng Công ty hàng không Cảng hàng không miền Trung đã có kế hoạch nghiên cứu
mở rộng nhà ga để đạt mức 10 triệu hành khách mỗi năm vào năm 2020
Hệ thống đường giao thông không ngừng được mở rộng, với nhiều công trình lớn trên địa bàn thành phố như đường Nguyễn Tất Thành, đường Ngô Quyền, đường Hoàng Sa, đường Trường Sa, cầu Sông Hàn, cầu Tuyên Sơn, cầu Thuận Phước… Hệ thống giao thông kết nối với các tỉnh, thành bên ngoài có hầm đường
bộ Hải Vân, Quốc lộ 14B, Quốc lộ 1A và sắp tới là đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi tạo điều kiện thuận lợi về giao thông và phát triển du lịch và làm thay đổi cơ bản diện mạo của một đô thị thuộc loại sầm uất nhất ở miền Trung, Việt
Nam
Hệ thống bưu chính - viễn thông: Đà Nẵng là một trong ba trung tâm bưu chính, viễn thông lớn của Việt Nam; là một trong ba điểm kết nối cuối cùng quan trọng nhất của mạng trung kế đường trục quốc gia và điểm kết nối trực tiếp với Trạm cáp quang biển quốc tế SEA-ME-WE 3 với tổng dụng lượng 10Gbps kết nối Việt Nam với gần 40 nước ở Châu Á và Châu Âu Mạng lưới viễn thông trên địa bàn hiện này gồm 2 tổng đài chính và 12 tổng đài vệ tinh với dụng lượng hơn 40.000 số Hệ thống kết nối mạng không dây (wifi) đang được triển khai xây dựng
Trang 36dự kiến cuối tháng 6/2013 sẽ hoàn thành và đưa vào hoạt động với 250 điểm kết nối
và người dân có thể sử dụng nhiều dịch vụ tiện ích thông qua hệ thống này
Kinh tế
Đà Nẵng được xác định là một trong những trung tâm kinh tế với tốc độ tăng
trưởng kinh tế liên tục ở mức cao và khá ổn định
Với những ưu đãi thiên nhiên ban tặng và nỗ lực không ngừng của chính quyền thành phố trong việc nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch, Đà Nẵng đã
và đang trở thành 1 trong những điểm hẹn du lịch hấp dẫn nhất trong khu vực
Du lịch được xác định là một trong các ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố Hơn 5 năm qua, thành phố Đà Nẵng đã nỗ lực xây dựng hình ảnh một đô thị năng động, hiện đại và môi trường trong sạch gắn với chiến lược phát triển các chuỗi sự kiện, lễ hội cộng đồng Nằm trên “Con đường Di sản thế giới”, Đà Nẵng còn được biết đến như một điểm hẹn của các sự kiện và lễ hội Từ các lễ hội truyền thống như
Lễ hội Quán Thế Âm, lễ hội Cầu Ngư, lễ hội Đình làng Túy Loan, Đình làng Hải Châu cho đến các sự kiện nổi bật như Cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế, Cuộc thi
dù bay quốc tế,… đã và đang thu hút hàng triệu lượt khách du lịch đến với Đà Nẵng
mỗi năm
2.1.2 Tình hình trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Từ nhiều năm qua, thành phố Đà Nẵng đã có những bước phát triển mạnh mẽ
ở nhiều lĩnh vực, nhất là về hạ tầng cơ sở, hình thành nên diện mạo một đô thị hiện đại, văn minh Đà Nẵng đang chuyển sang giai đoạn phát triển về chiều sâu, trong
đó hướng đến việc trở thành thành phố giàu đẹp, an bình, văn minh, hiện đại
Nhìn lại sau 14 năm thành phố Đà Nẵng được công nhận đô thị loại 1, có thể thấy diện mạo đô thị ở thành phố Đà Nẵng thay đổi nhanh chóng và rõ rệt Diện mạo thành phố Đà Nẵng đến nay đã được xây dựng khá hoàn chỉnh với việc chỉnh trang và mở rộng đô thị Để có thể trở thành một đô thị phát triển bền vững, trong quá trình quy hoạch đô thị, các chuyên gia quy hoạch và các nhà quản lý đô thị cần
nỗ lực nhằm giữ lại đến mức cao nhất có thể đối với hồn đô thị thể hiện trên từng con đường, từng khúc sông hay từng công trình kiến trúc Vấn đề được đặt ra là làm
Trang 37sao bảo tồn thật tốt các di sản văn hóa để chính các di sản văn hóa ấy đủ tư cách tham gia vào quá trình phát triển, chẳng hạn trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn hoặc chí ít cũng là nơi chốn lưu giữ hồn đô thị trong mắt những cư dân luôn nhạy cảm với thời quá khứ
Tuy nhiên, hiện nay tình hình trật tự đô thị, vệ sinh môi trường trên địa bàn quận vẫn còn nhiều phức tạp: tình trạng xây dựng công trình, nhà ở không có giấy phép hoặc sai với nôi dung giấy phép xây dựng đã được cấp, tình trạng lấn chiếm vỉa hè, lòng đường kinh doanh, buôn bán, họp chợ trái phép còn diễn ra; các loại hình kinh doanh, dịch vụ và nhu cầu xây dựng các công trình, nhà ở đang phát triển mạnh làm cho tình trạng vi phạm trật tự an toàn giao thông ngày càng gia tăng, chưa được xử lý dứt điểm đã ảnh hưởng đến trật tự đô thị, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường và mỹ quan đô thị
Nhận thức được vấn đề đó, các cấp chính quyền ở thành phố Đà Nẵng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về đảm bảo trật tự đô thị - môi trường Trong quá trình thực hiện, các cơ quan ban ngành đã luôn bám sát với tình hình thực tế, từng bước giải quyết được những bức xúc của người dân về trật tự đô thi, môi trường; công tác quản lý trật tự xây dựng, trật tự vỉa hè ngày càng đi vào chiều sâu, từng bước khắc phục được tình trạng gây mất trật tự, mỹ quan vỉa hè, đô thị; tình trạng xây dựng không phép, sai phép giảm đáng kể
Tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban
Bí Thư TW Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm
trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa và khắc phục
ùn tắc giao thông”; Chỉ thị số 43-CT/TU ngày 25/12/2014 của Ban Thường vụ
Thành ủy về “Năm văn hoá, văn minh đô thị 2015”, và Kế hoạch số 06/KH-UBND
ngày 14/01/2015 của UBND thành phố Đà Nẵng về triển khai thực hiện Chỉ thị số 43-CT/TU của Ban Thường vụ Thành ủy
Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đã đưa ra nhiều giải pháp thiết thực như đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức, viên chức
và người dân trên địa bàn; nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước của Đội
Trang 38kiểm tra quy tắc đô thị quận, phường và các cơ quan chức năng Đồng thời tăng cường công tác kiểm soát, xử lý nghiêm vi phạm để nâng cao ý thức của người dân Tăng cường phối hợp công tác quản lý trật tự đô thị, quản lý xây dựng, phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường Kiểm tra việc thực hiện xây dựng công trình theo giấy phép xây dựng và quy hoạch được duyệt; xử lý nghiêm và kịp thời đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm trật tự xây dựng, những vi phạm về trật tự đô thị, vệ sinh môi trường, lấn chiếm vỉa hè, lòng đường, công viên… trên địa bàn quận Bên cạnh đó thường xuyên đẩy mạnh việc kiểm tra chấp hành quy trình, quy chế đối với cán bộ, công chức thực hiện công vụ, phòng chống tiêu cực trong thi hành công vụ…
Các Ban ngành đoàn thể của thành phố Đà Nẵng luôn chủ động đề ra nhiều biện pháp phối hợp thực hiện, công tác trật tự xây dựng, trật tự đô thị và vệ sinh môi trường trên địa bàn có nhiều chuyển biến tích cực Cơ chế thông tin, phản ánh khi phát hiện hành vi vi phạm về trật tự xây dựng được mở rộng, hiệu quả trong công tác kiểm tra, ngăn chặn và xử lý được nâng cao Công tác trật tự đô thị, vệ sinh môi trường từng bước có chuyển biến tích cực, ý thức của người tham gia giao thông được nâng lên
2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.2.1 Xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà nước về trật tự đô thị của chính quyền thành phố Đà Nẵng
2.2.1.1 Xây dựng, ban hành văn bản về quản lý trật tự xây dựng
Với thực trạng chỉnh trang đô thị đang diễn ra rất nhanh, các dự án tiến hành triển khai theo phân kỳ đang gấp rút hoàn thành tiến độ, một bộ phận nhân dân đã bất chất pháp luật, cố tình xây dựng nhà trái phép khi chưa có giấy phép xây dựng nhằm kiếm lợi nhuận trong công tác giải tỏa đền bù, tái định cư Vì vậy, công tác QLNN về trật tự xây dựng là vấn đề cấp bách mà lãnh đạo thành phố Đà Nẵng quan tâm chỉ đạo thực hiện, nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng xây dựng nhà không phép, sai phép trên địa bàn
Để quản lý và hạn chế tình trạng trên, thành phố Đà Nẵng đã ban hành nhiều
Trang 39văn bản cụ thể như: Chỉ thị số 12/CT-UB ngày 22/5/2015 về xử lý một số vấn đề cấp bách trong việc xây dựng nhà, công trình trái phép tại các khu quy hoạch trên thành phố Đà Nẵng, Chỉ thị số 16/CT-UB ngày 22/6/2016 về xử lý một số vấn đề nhà, đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; Công văn số 1029/UBND-QLĐTh ngày 22/01/2016 của Chủ tịch UBND thành phố về việc xử lý công trình xây dựng sai phạm trong quá trình xét cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình; Công văn
số 3597/UBND-ĐBGT ngày 17/6/2015 của Chủ tịch UBND thành phố về việc cho phép sửa chữa nhà cấp 4 để giải quyết nhu cầu bức xúc về nhà ở trong khi chờ giải tỏa tại các dự án trên địa bàn thành phố; Quyết định số 9365/QĐ-UBND ngày 03/12/2012 của UBND thành phố về việc phối hợp xử lý vi phạm trật tự xây dựng
đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; Công văn số 8775/UBND-QLĐTh ngày 23/10/2012 về việc xử lý công trình xây dựng gây lún nứt công trình lân cận
Đặc biệt, để kịp thời chấn chỉnh tình trạng chuyển nhượng đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng sản xuất, đất trồng lúa để làm nhà trái phép với mục đích hưởng lợi trong chính sách bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất, Thành ủy Đà Nẵng đã ban hành Chỉ thị số 10-CT/TU ngày 04/7/2011 về tăng cường công tác quản lý và
sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, sau đó, Chủ tịch UBND thành phố
có Quyết định số 6048/QĐ-UBND ngày 18/7/2011 ban hành kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 10-CT-TU và Quyết định số 6048/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND thành phố
Những văn bản trên chính là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan ban ngành có thẩm quyền lấy làm căn cứ áp dụng, thi hành, thực hiện tốt nhiệm vụ và qua đây cũng có thể thấy rằng công tác QLNN được xây dựng, ban hành trên là cơ
sở quan trọng để cơ quan tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ và qua đây cũng có thể nói rằng công tác QLNN về trật tự xây dựng được thành phố Đà Nẵng rất quan tâm, chú trọng
2.2.1.2 Xây dựng, ban hành văn bản về quản lý Phòng cháy, chữa cháy
Để thực hiện chức năng QLNN về PCCC, căn cứ Điều 3, Điều 47 của Nghị
định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của các
Trang 40Bộ, Ngành Trung ương, UBND thành phố Đà Nẵng theo tình hình thực tế của địa phương đã xây dựng, ban hành nhiều văn bản có liên quan nhằm thống nhất chỉ đạo thực hiện các quy định của pháp luật PCCC, cụ thể từ năm 2010 đến nay, UBND thành phố đã ban hành Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày 23/4/2008 về việc đẩy mạnh công tác PCCC trên địa bàn thành phố Đặc biệt, sau khi công bố quyết định số 1798/QĐ-BCA ngày 26/5/2011 về việc tổ chức Bộ máy của Sở Cảnh sát PCCC thành phố Đà Nẵng, để đáp ứng công tác PCCC trong tình hình mới, Thành ủy Đà Nẵng đã ban hành Chỉ thị số 12/CT-UBND ngày 19/10/2010 về việc triển khai thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm cấp bách trong công tác PCCC và cứu nạn, cứu hộ Ngoài ra, nhằm khắc phục những hạn chế sau 10 năm thực hiện và tiếp tục nâng cao hiệu quả Luật PCCC, Thành ủy Đà Nẵng ban hành Chỉ thị số 20-CT/TU ngày 26/4/2012 về tăng cường lãnh đạo công tác PCCC và cứu nạn, cứu hộ; Quyết định số 501/QĐ-UBND ngày 22/3/2012 ban hành quy chế hoạt động ban chỉ đạo PCCC
Tất cả các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo do trung ương, thành phố ban hành được triển khai phổ biến đến các quận, tổ dân phố, khu dân cư
2.2.1.3 Xây dựng, ban hành văn bản về quản lý trật tự an toàn giao thông
Để triển khai các văn bản quy phạm pháp luật thực hiện hiệu quả ở địa phương, đảm bảo trật tự ATGT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, hằng năm UBND thành phố Đà Nẵng đều ban hành kế hoạch triển khai năm ATGT và chương trình hành động để thực hiện các biện pháp cụ thể thực hiện công tác quản lý trật tự ATGT, như: Chỉ thị số 17/2017/CT-UBND ngày 14/8/2017 về việc đẩy mạnh công tác bảo đảm ATGT và trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; Quyết định số 13/2011/QĐ-UBND ngày 16/5/2016 và Quyết định số 55/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của UBND thành phố ban hành Quy định về quản lý và sử dụng tạm thời vỉa hè ngoài mục đích giao thông trên các tuyến đường thuộc địa bàn thành phố
Đà Nẵng; Quyết định số 65/2017/QĐ-UBND ngày 27/1/2017 ban hành quy định một số nội dung về tổ chức giao thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; Quyết định
số 29/2013/QĐ-UBND ngày 27/9/2013 ban hành quy định về tổ chức quản lý, hoạt