Đây là hai tiêu chuẩn định lượng... Tài sản cố định giữ vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp... Phương hướng, nhiệm vụ kinh doanh t
Trang 1CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN CỐ ĐỊNH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỐ ĐỊNH CỦA DOANH
NGHIỆP
1.1 TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ VỐN CỐ ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1 Tài sản cố định.
a/ Khái niệm, đặc điểm tài sản cố định trong doanh nghiệp.
Trong kinh doanh, để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, tăng giátrị doanh nghiệp và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thịtrường thì các doanh nghiệp phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố của quá trình sảnxuất kinh doanh ngay từ giai đoạn đầu đi vào hoạt động: Đó chính là sức laođộng, tư liệu lao động và đối tượng lao động
Khác với đối tượng lao động (nguyên, nhiên vật liệu, sản phẩm dởdang, bán thành phẩm…) các tư liệu lao động (máy móc, thiết bị, nhà cửa,phương tiện vận tải…) là những phương tiện vật chất mà con người sử dụngđể tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó theo mục đích của mình
Tư liệu lao động là một trong các yếu tố quan trọng không thể thiếu đểtiến hành hoạt động kinh doanh Trong một doanh nghiệp thường có nhiềuloại tư liệu lao động khác nhau: Xét về mặt giá trị, có loại có giá trị rất lớn, cóloại giá trị tương đối nhỏ; Xét về mặt thời gian sử dụng, có loại có thời giansử dụng rất dài, có loại thời gian sử dụng tương đối ngắn Để thuận tiện chocông tác quản lý, người ta chia tư liệu lao động ra thành hai loại: Tài sản cốđịnh và công cụ, dụng cụ nhỏ
Việc phân chia như vậy dựa vào các tiêu chuẩn cơ bản sau:
Tiêu chuẩn về thời gian: Có giá trị sử dụng từ một năm trở lên
Tiêu chuẩn về giá trị: Phải có giá trị lớn, mức giá trị cụ thể được Chínhphủ quy định phù hợp với tình hình kinh tế của từng thời kỳ
Trang 2Đây là hai tiêu chuẩn định lượng Ngoài ra, tùy theo quy định về quảnlý tài chính ở từng Quốc gia còn có thể đưa ra một số tiêu chuẩn định tínhkhác.
Một tư liệu lao động được xếp vào tài sản cố định nếu thỏa mãn đủ tấtcả các tiêu chuẩn trên Những tư liệu lao động không đạt đủ các tiêu chuẩnquy định trên coi là những công cụ, dụng cụ lao động nhỏ
Như vậy:
Tài sản cố định của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho các hoạt động của doanh nghiệp và phải thỏa mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn là tài sản cố định.
Đặc điểm của tài sản cố định:
o Tài sản cố định tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào nhiều chu kỳcủa quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
o Tài sản cố định không thay đổi hình thái vật chất ban đầu trong suốtthời gian sử dụng, cho đến lúc hư hỏng hoàn toàn Trong quá trìnhsử dụng, tài sản cố định hao mòn dần, phần giá trị hao mòn sẽchuyển dần vào giá trị mới tạo ra của sản phẩm và được bù đắp lạibằng tiền khi sản phẩm được tiêu thụ Sau nhiều chu kỳ kinh doanhtài sản cố định mới cần đổi mới
b/ Tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định.
Theo quyết định số 206/2003/QĐ – BTC ngày 12/12/2003 của Bộtrưởng Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấuhao tài sản cố định đã quy định ( tại Điều 3) tiêu chuẩn để nhận biết tài sản cốđịnh như sau:
Tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định hữu hình:
Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai về việc sử dụngtài sản đó;
Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;
Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên;
Có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên;
Trang 3Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể
do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định hữu hình.
Tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định vô hình:
Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thỏa mãn đồngthời cả 4 tiêu chuẩn trên mà không hình thành tài sản cố định hữu hình thìđược coi là tài sản cố định vô hình
Riêng các chi phí phát sinh trong giai đoạn triển khai được ghi nhận làtài sản cố định vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp nếu thỏa mãn được
7 điều kiện sau:
a/ Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa tàisản vô hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán;
b/ Doanh nghiệp dự định hoàn thành tài sản vô hình để sử dụng hoặc đểbán;
c/ Doanh nghiệp dự tính có khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hìnhđó;
d/ Tài sản vô hình phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai;
đ/ Có đầy đủ các nguồn lực kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khácđể hoàn tất các giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng tài sản vô hìnhđó;
e/ Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giaiđoạn triển khai để tạo ra tài sản vô hình đó;
g/ Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quyđịnh cho tài sản cố định vô hinh
Tài sản cố định vô hình: Là tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng, chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả…
Lưu ý:
Trang 4 Trên thực tế, cần xem xét công dụng của tài sản để xem có phải là tàisản cố định hay không.
Một số tài sản nếu xét riêng lẻ từng bộ phận, từng thứ có thể không đủtiêu chuẩn về giá trị Tuy nhiên, khi tập hợp lại thành một hệ thốngnhững tài sản phục vụ cho một chức năng nhất định thì tập hợp tài sảnđó được coi là tài sản cố định của doanh nghiệp
Các tài sản không thỏa mãn các tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố địnhhữu hình và tài sản cố định vô hình như trên được xếp vào công cụ, dụng cụnhỏ và quản lý như tài sản lưu động
c/ Vai trò tài sản cố định và sự cần thiết phải đổi mới tài sản cố định.
Tài sản cố định giữ vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp
Tài sản cố định là yếu tố quyết định năng lực sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp: Quyết định đến quy mô sản xuất, tốc độ sản xuất, quyếtđịnh đến chất lượng sản phẩm, kiểu dáng, mẫu mã, chi phí tạo ra sảnphẩm, từ đó quyết định đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm và ảnhhưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp
Tài sản cố định là yếu tố năng động nhất trong cơ sở vật chất kỹ thuật Nótạo điều kiện thuận lợi cho người lao động thúc đẩy tăng năng suất laođộng, giảm nhẹ sự nặng nhọc cho người lao động Khi đánh giá về vai tròcủa tài sản cố định, C Mác đã chỉ ra rằng: “ Tài sản cố định là hệ thốngxương cốt và bắp thịt của sản xuất – hệ thống mạch máu của sản xuất”.Trong điều kiện hiện nay, đổi mới tài sản cố định đặc biệt là đối vớithiết bị, công nghệ là một trong các yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranhcủa các doanh nghiệp
o Nhờ đổi mới tài sản cố định mới có được năng suất cao, chất lượng sảnphẩm tốt, chi phí tạo ra sản phẩm thấp tạo điều kiện đẩy mạnh tiêu thụsản phẩm, tăng doanh thu và do đó doanh nghiệp mới có đủ sức cạnhtranh trên thị trường Xét trên góc độ này, đầu tư đổi mới tài sản cốđịnh kịp thời, hợp lý trở thành vấn đề sống còn đối với mỗi doanhnghiệp
o Đổi mới tài sản cố định kịp thời, hợp lý còn có ý nghĩa quan trọngtrong việc giảm biên chế, giải phóng lao động thủ công nặng nhọc, đảm
Trang 5bảo an toàn cho người lao động, tạo ra tư thế, tác phong của người côngnhân sản xuất lớn.
o Xét trên góc độ tài chính doanh nghiệp, sự nhạy cảm trong đầu tư đổimới tài sản cố định là một nhân tố quan trọng để giảm chi phí như: Chiphí sửa chữa lớn tài sản cố định, hạ thấp hao phí năng lượng, giảm chiphí biến đổi để tạo ra sản phẩm và là biện pháp rất quan trọng để hạnchế hao mòn vô hình trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật pháttriển nhanh, mạnh như hiện nay Việc tăng cường đổi mới tài sản cốđịnh kịp thời, đúng hướng tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp trong thu hútvốn đầu tư cho kinh doanh, tạo ra triển vọng lớn lao cho doanh nghiệpchiếm lĩnh không chỉ thị trườn trong nước mà cả thị trường khu vực vàQuốc tế
Với những ý nghĩa như trên, việc đổi mới tài sản cố định trong sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan mang tínhquy luật trong nền kinh tế thị trường và trong điều kiện tiến bộ về khoa họccông nghệ và kỹ thuật như hiện nay
d/ Phân loại tài sản cố định.
Phân loại tài sản cố định là việc phân chia toàn bộ tài sản cố định hiệncó của doanh nghiệp theo những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho nhữngyêu cầu quản lý của doanh nghiệp
Có rất nhiều cách phân loại tài sản cố định, song hiện nay các doanhnghiệp sử dụng một số cách phân loại chủ yếu sau:
Phân loại theo hình thái biểu hiện
Theo cách phân loại này, tài sản cố định của doanh nghiệp được chiathành hai loại: Tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình
Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản cố định có hình thái vật
chất cụ thể ( từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệthống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện mộthay một số chức năng nhất định) do doanh nghiệp sử dụng cho hoạtđộng kinh doanh
Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật
chất nhưng xác định được giá trị, do doanh nghiệp quản lý và sửdụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ
Trang 6hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn tài sản cốđịnh vô hình.
Tài sản cố định vô hình chỉ được thừa nhận khi xác định được giá trịcủa nó, thể hiện một lượng giá trị lớn đã được đầu tư có liên quantrực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Thôngthường, tài sản cố định vô hình gồm các loại sau:
Quyền sử dụng đất có thời hạn;
Nhãn hiệu hàng hóa;
Quyền phát hành;
Phần mềm máy vi tính;
Bản quyền, bằng sáng chế, bằng phát minh;
Giấy nhượng quyền khai thác;
Tài sản cố định vô hình khác
Lưu ý:
Các khoản sau không tính vào tài sản cố định vô hình:
Chi phí thành lập doanh nghiệp;
Chi phí đào tạo nhân viên;
Chi phí quảng cáo phát sinh trước khi thành lập doanh nghiệp;
Chi phí cho giai đoạn nghiên cứu;
Chi phí chuyển dịch địa điểm;
Lợi thế thương mại
Tất cả những chi phí này được tính vào chi phí trả trước dài hạn vàkhông được tính khấu hao mà phân bổ dần vào chi phí sản xuất kinh doanh.Thời hạn phân bổ tối đa không quá 3 năm
Phương pháp phân loại này giúp cho người quản lý có cái nhìn tổngquát về cơ cấu đầu tư vào tài sản cố định của mình, giúp doanh nghiệp thấyđược cơ cấu đầu tư vào tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình Làcăn cứ để quyết định đầu tư dài hạn, hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho phùhợp, hiệu quả nhất và có biện pháp quản lý với mỗi loại tài sản cố định
Phân loại tài sản cố định theo mục đích sử dụng
Dựa theo tiêu thức này, toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp đượcchia làm ba loại:
Trang 7 Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh: Là những tài sản cố
định đang dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạtđộng sản xuất kinh doanh phụ của doanh nghiệp
Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng: Là những tài sản cố định không mang tính chất sản xuất, do
doanh nghiệp quản lý và sử dụng cho các hoạt động phúc lợi, sự nghiệpvà các hoạt động đảm bảo an ninh quốc phòng…
Tài sản cố định bảo quản, cất giữ hộ Nhà nước: Là những tài sản cố
định doanh nghiệp bảo quản hộ, giữ hộ cho các đơn vị khác hoặc cấtgiữ hộ cho Nhà nước theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩmquyên
Cách phân loại này giúp cho người quản lý doanh nghiệp thấy được kếtcấu tài sản cố định theo mục đích sử dụng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi choviệc quản lý và tính khấu hao tài sản cố định có tính chất sản xuất ( khôngtính khấu hao cho tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, công cộng vàtài sản cố định bảo quản, cất giữ hộ ), có biện pháp quản lý phù hợp với mỗiloại tài sản cố định
Phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng
Căn cứ vào tình hình sử dụng tài sản cố định, có thể chia toàn bộ tài sảncố định của doanh nghiệp thành các loại sau:l
Tài sản cố định đang dùng: Là những tài sản cố định đang sử dụng cho
hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động phúc lợi, công cộngcủa doanh nghiệp
Tài sản cố định đang dùng trong sản xuất kinh doanh: Là các tài
sản cố định đang dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh hay
phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tài sản cố định dùng ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh: Là
các tài sản cố định dùng cho đời sống văn hóa xã hội, phúc lợi của người lao động, được đầu tư bằng quỹ phúc lợi hoặc kinh phí sự
nghiệp
Tài sản cố định chưa cần dùng: Là những tài sản cố định chưa cần thiết
cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác của doanh
Trang 8nghiệp nhưng hiện tại chưa dùng tới, đang được dự trữ để sử dụng vềsau.
Tài sản cố định không cần dùng, đang chờ thanh lý: Là những tài sản
cố định không cần thiết hay không còn phù hợp với nhiệm vụ sản xuất,kinh doanh của doanh nghiệp, cần được thanh lý, nhượng bán để thuhồi lại vốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu
Dựa vào cách phân loại này, người quản lý nắm được tổng quát tìnhhình sử dụng tài sản cố định trong doanh nghiệp Trên cơ sở đó đề ra các biệnpháp sử dụng tối đa các tài sản cố định hiện có trong doanh nghiệp, giảiphóng nhanh các tài sản cố định không cần dùng và chờ thanh lý để thu hồivốn
Phân loại tài sản cố định theo công dụng kinh tế
Căn cứ vào công dụng kinh tế có thể chia tài sản cố định thành cácnhóm sau:
Nhà cửa, vật kiến trúc: Là toàn bộ các công trình kiến trúc như nhà làm
việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, đường sá, cầu cống…
Máy móc, thiết bị: Là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt
động của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị chuyên dùng, máy móc thiếtbị công tác, dây chuyền công nghệ…
Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: Gồm các loại phương tiện vận tải
đường bộ, đường sông, đường biển, …và các thiết bị truyền dẫn về thôngtin, điện nước, băng truyền tải vật tư, hàng hóa…
Thiết bị, dụng cụ quản lý: Là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác
quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính, thiết bịđiện tử, thiết bị dụng cụ đo lường kiểm tra chất lượng, máy hút bụi, hútẩm…
Vườn cây lâu năm ( như cà phê, cao su, chè, cây ăn quả…), súc vật làm
việc ( như trâu, bò…) hoặc súc vật cho sản phẩm ( như bò sữa, trâusữa…)
Tài sản cố định khác: Là toàn bộ các tài sản cố định khác chưa được liệt
kê vào các loại kể trên như tác phẩm nghệ thuật, tranh ảnh…
Cách phân loại này thường được áp dụng rộng rãi, do nó tạo điều kiệnthuận lợi cho việc đầu tư mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản cố định Đồng
Trang 9thời, nó giúp cho doanh nghiệp lựa chọn phương pháp trích khấu hao tài sảncố định hợp lý.
Trên đây là các cách phân loại chủ yếu Ngoài ra còn có thể phân loạitài sản cố định theo quyền sở hữu… Mỗi cách phân loại đáp ứng những yêucầu nhất định của công tác quản lý trong mỗi đơn vị Trong thực tế, doanhnghiệp có thể kết hợp nhiều phương pháp phân loại tài sản cố định tùy theoyêu cầu quản lý từng thời kỳ
e/ Kết cấu tài sản cố định.
- Kết cấu tài sản cố định là thành phần và tỷ trọng về mặt nguyên giácủa từng nhóm, từng loại tài sản cố định chiếm trong tổng nguyên giá tài sảncố định tại một thời điểm
Căn cứ vào các phương pháp phân loại tài sản cố định có thể tính đượccác chỉ tiêu về kết cấu tài sản cố định Qua đó, doanh nghiệp có thể xem xétvấn đề đầu tư của mình đã hợp lý chưa để điều chỉnh
- Kết cấu tài sản cố định ở các doanh nghiệp giữa các ngành sản xuất làkhông giống nhau, thậm chí giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành nàođó cũng không giống nhau Kết cấu tài sản cố định của doanh nghiệp thay đổitheo từng thời kỳ Có thể kể đến các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới kết cấu tàisản cố định như sau:
Quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trình độ trang bị kỹ thuật cho sản xuất kinh doanh
Khả năng thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp
Phương hướng, nhiệm vụ kinh doanh trong từng thời kỳ
Ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, người ta có nhữngthông tin chuẩn về kết cấu tài sản cố định của một doanh nghiệp điển hìnhtrong ngành, thậm chí cho từng loại hình và quy mô doanh nghiệp Dựa vàochuẩn mực này và tình hình thực tế của mình mà các doanh nghiệp có thểđiều chỉnh kết cấu tài sản cho phù hợp
Kết luận:
Phân loại tài sản cố định và phân tích kết cấu tài sản cố định là một căncứ quan trọng để các nhà quản trị doanh nghiệp có cơ sở xem xét, lựa chọn đểđưa ra các quyết định đầu tư phù hợp, giúp cho việc quản lý và sử dụng tàisản cố định trong doanh nghiệp đạt hiệu quả ngày càng cao
Trang 101.1.2 Vốn cố định.
a/ Khái niệm và đặc điểm chu chuyển của vốn cố định.
Khái niệm:
Trong nền kinh tế thị trường, để có được các tài sản cố định cần thiếtcho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải đầu tư ứng trước mộtlượng vốn tiền tệ nhất định Số vốn doanh nghiệp ứng ra để hình thành tài sảncố định được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp
Gọi là số vốn đầu tư ứng trước vì:
Muốn có tài sản cố định, doanh nghiệp cần phải bỏ tiền ra ứng trước đểđầu tư, mua sắm
Trong quá trình sử dụng tài sản doanh nghiệp phải tính đến việc bảotoàn vốn và thu hồi vốn về sau khi tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ củamình
Vậy: Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận vốn đầu tư ứng trước đểhình thành nên các tài sản cố định của doanh nghiệp
Quan hệ giữa tài sản cố định và vốn cố định:
Là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các tài sản cố định nênquy mô vốn cố định lớn hay nhỏ sẽ quyết định đến tính đồng bộ của tài sảncố định, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ sảnxuất, năng lực sản xuất kinh doanh cũng như khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp
Trong quá trình tham gia vào sản xuất kinh doanh, vốn cố định thực hiệnchu chuyển giá trị của nó Sự chu chuyển này của vốn cố định chịu ảnhhưởng rất lớn bởi đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của tài sản cố định
Đặc điểm chu chuyển của vốn cố định
Khi tham gia vào sản xuất kinh doanh, vốn cố định được luân chuyểndần dần từng phần vào giá trị sản phẩm và được thu hồi dần từng phầnmột
Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới hoàn thành mộtvòng luân chuyển Hay nói cách khác, vốn cố định hoàn thành mộtvòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng
Trang 11Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản cốđịnh bị hao mòn, giá trị của tài sản cố định chuyển dần dần từng phần vào giátrị sản phẩm Theo đó, vốn cố định cũng được tách thành hai phần:
Một phần sẽ gia nhập vào chi phí sản xuất (dưới hình thức chi phí khấuhao) tương ứng với phần hao mòn của tài sản cố định
Phần còn lại của vốn cố định được “ cố định” trong tài sản cố định.Trong các chu kỳ sản xuất tiếp theo, nếu như phần vốn luân chuyểnđược dần dần tăng lên thì phần vốn “ cố định” lại dần dần giảm đi tương ứngvới mức giảm dần giá trị sử dụng của tài sản cố định Kết thúc sự biến thiênnghịch chiều đó cũng là lúc tài sản cố định hết thời gian sử dụng và vốn cốđịnh hoàn thành một vòng luân chuyển
Vốn cố định chỉ hoàn thành một vòng luân chuyển khi tái sản xuấtđược tài sản cố định về mặt giá trị – tức là khi thu hồi đủ tiền khấu hao tài sảncố định
Từ những đặc điểm trên đây của vốn cố định, ta thấy việc quản lý vốncố định của doanh nghiệp là khá phức tạp Yêu cầu đặt ra đối với công tácquản lý vốn cố định không chỉ là quản lý trực tiếp hình thái hiện vật của vốncố định mà còn quản lý cả mặt giá trị của chúng
b/ Nội dung công tác quản lý và sử dụng vốn cố định.
Vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh Tăng thêmvốn cố định trong các doanh nghiệp nói riêng và trong các ngành nói chungcó tác động lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật của doanh nghiệpvà nền kinh tế Việc sử dụng vốn cố định thường gắn với họat động đầu tư dàihạn, thu hồi vốn chậm và dễ gặp rủi ro Do vị trí then chốt và đặc điểm vậnđộng của vốn cố định tuân theo quy luật riêng, nên việc quản lý vốn cố địnhđược coi là một trọng điểm của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp
Để quản lý và sử dụng vốn cố định có hiệu quả cần phải quản lý cả vềmặt hiện vật và mặt giá trị của vốn cố định
Quản lý chặt chẽ hình thái hiện vật của vốn cố định:
Phân loại, phân cấp quản lý đối với tài sản cố định, tránh mất mát hư hỏngtrước hạn
Thực hiện sửa chữa, bảo dưỡng và nâng cấp tài sản cố định nhằm khôiphục lại năng lực hoạt động, nâng cao năng suất, tính năng, tác dụng của
Trang 12tài sản cố định, đưa vào áp dụng các quy trình công nghệ sản xuất mới làmgiảm chi phí hoạt động của tài sản cố định.
Quản lý về mặt giá trị của vốn cố định:
Quản lý chặt chẽ và sử dụng hiệu quả tiền khấu hao tài sản cố định
Áp dụng phương pháp khấu hao phù hợp cho từng loại tài sản cố định.l
Tổ chức nguồn vốn theo hướng huy động nguồn vốn dài hạn đầu tư cho tàisản cố định
Trong các doanh nghiệp, quản lý vốn kinh doanh nói chung, vốn cốđịnh nói riêng bao gồm nhiều nội dung cụ thể có liên quan mật thiết với nhau.Nhưng có thể khái quát thành 3 nội dung cơ bản:
Khai thác và tạo lập vốn cố định của doanh nghiệp
Để định hướng cho việc khai thác và tạo lập nguồn vốn cố định đápứng yêu cầu đầu tư, doanh nghiệp phải xác định được nhu cầu vốn đầu tư vàotài sản cố định trong những năm trước mắt và lâu dài
Doanh nghiệp có thể huy động vốn đầu tư vào tài sản cố định từ nhiềunguồn khác nhau như: Lợi nhuận để lại, nguồn khấu hao, nguồn vốn liêndoanh, liên kết, nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cấp, vốn vay ngân hàng…
Mỗi nguồn vốn trên đều có những ưư điểm, nhược điểm và điều kiệnthực hiện khác nhau, chi phí sử dụng khác nhau Vì thế, trong khai thác, tạolập nguồn vốn cố định, các doanh nghiệp vừa phải chú ý đa dạng hóa cácnguồn tài trợ, cân nhắc kỹ những ưu, nhược điểm của từng nguồn vốn để lựachọn cơ cấu nguồn tài trợ vốn cố định hợp lý và có lợi nhất cho doanh nghiệp.Những định hướng cơ bản cho việc khai thác, tạo lập nguồn vốn cố định làphải đảm bảo khả năng tự chủ của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh,hạn chế và phân tán rủi ro, phát huy tối đa những ưu điểm của từng nguồnvốn được huy động Điều này không chỉ đòi hỏi ở sự năng động, nhạy bén củatừng doanh nghiệp mà còn ở việc đổi mới các chính sách, cơ chế tài chính củaNhà nước ở tầm vĩ mô để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể khai thác, tạolập những nguồn vốn cần thiết
Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần xác định được kết cấu tài sản cốđịnh để đầu tư vào từng tài sản hợp lý
Bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Trang 13Bảo toàn vốn cố định về mặt hiện vật không phải chỉ là giữ nguyênhình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của tài sản cố định mà quantrọng hơn là duy trì thường xuyên năng lực sản xuất ban đầu của nó Điều nàycó nghĩa là, trong quá trình sử dụng doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ,không làm mất mát, hư hỏng, thực hiện đúng quy chế sử dụng, bảo dưỡng,sửa chữa tài sản cố định nhằm duy trì và nâng cao năng lực hoạt động của tàisản cố định Mỗi tài sản cố định đều được theo dõi và hạch toán trên sổ riêng.
Bảo toàn vốn cố định về mặt giá trị là phải duy trì được giá trị thực (sứcmua) của vốn cố định ở thời điểm hiện tại so với thời điểm bỏ vốn đầu tư banđầu, bất kể sự biến động của giá cả, sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, ảnh hưởngcủa khoa học kỹ thuật Trong trường hợp doanh nghiệp không chỉ duy trìđược sức mua của vốn mà còn mở rộng được quy mô vốn thực chất ban đầuthì doanh nghiệp đã phát triển được vốn cố định của mình
Một số biện pháp bảo toàn:
Đánh giá đúng giá trị của tài sản cố định tạo diều kiện phản ánh chínhxác tình hình biến động của vốn cố định, quy mô vốn phải bảo toàn,điều chỉnh kịp thời giá trị của tài sản cố định để tạo điều kiện tính đúng,tính đủ chi phí khấu hao không để mất vốn cố định:
Đánh giá theo nguyên giá của tài sản cố định;
Đánh giá theo giá trị còn lại
Lựa chọn phương pháp khấu hao và xác định mức khấu hao thích hợpkhông để mất vốn và hạn chế tối đa ảnh hưởng bất lợi của hao mòn vôhình
Về nguyên tắc: Là mức khấu hao phải phù hợp với hao mòn thực tếcủa tài sản cố định (hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình) Nếu khấuhao thấp hơn mức hao mòn thực tế sẽ không bảo đảm thu hồi đủ vốnkhi tài sản cố định hết thời gian sử dụng Ngược lại sẽ làm tăng chi phímột cách giả tạo làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Chú trọng đổi mới trang thiết bị, phương pháp công nghệ sản xuất đồngthời nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định hiện có của doanhnghiệp cả về thời gian và công suất, kịp thời thanh lý các tài sản cốđịnh không cần dùng hoặc đã hư hỏng, không dự trữ quá mức các tàisản cố định chưa cần dùng tránh tình trạng ứ đọng vốn
Trang 14 Thực hiện tốt chế độ bảo dưỡng, sửa chữa, dự phòng tài sản cố định,không để xảy ra tình trạng tài sản cố định bị hư hỏng trước thời hạnhoặc hư hỏng bất thường.
Trong trường hợp tài sản cố định phải tiến hành sửa chữa lớn, cầncân nhắc tính toán kỹ hiệu quả của nó Xem xét giữa chi phí sửa chữacần với việc đầu tư mua sắm tài sản cố định mới để quyết dịnh cho phùhợp Nếu chi phần sửa chữa lớn hơn mua sắm mới thì nên thay thế tàisản cố định cũ
Doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro trongkinh doanh để hạn chế tổn thất vốn cố định do các nguyên nhân kháchquan Một số biện pháp là doanh nghiệp có thể mua bảo hiểm, lập quỹdự phòng tài chính, trích trước chi phí , dự phòng giảm giá các khoảnđầu tư tài chính
Phân cấp quản lý vốn cố định.
Đối với doanh nghiệp Nhà nước, do có sự phân biệt giữa quyền sở hữuvốn và tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp và quyền quản lý kinh doanh,
do đó cần phải có sự phân cấp quản lý để tạo điều kiện cho các doanh nghiệpchủ động hơn trong sản xuất kinh doanh
Tài sản cố định sử dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất, giá trị của nó haomòn dần và được dịch chuyển từng phần vào giá trị sản phẩm làm ra Phầngiá trị thu hồi được dưới hình thức khấu hao hình thành nên quỹ khấu hao Dođó, việc lập kế hoạch khấu hao và quản lý, sử dụng quỹ khấu hao là một trọngtâm trong công tác quản lý, sử dụng vốn cố định
Lập kế hoạch khấu hao là dự kiến trước số tiền khấu hao phải trích vàphân phối sử dụng tiền trích khấu hao tài sản cố định Việc lập kế hoạch khấuhao hàng năm là một nội dung quan trọng để quản lý và nâng cao hiệu quả sửdụng vốn cố định của doanh nghiệp Thông qua kế hoạch khấu hao, doanhnghiệp thấy được nhu cầu tăng, giảm vốn cố định trong năm kế hoạch, khảnăng nguồn tài chính Do vậy, kế hoạch khấu hao là một căn cứ quan trọng đểdoanh nghiệp xem xét, lựa chọn các quyết định đầu tư đổi mới tài sản cố định
Trình tự và nội dung lập kế hoạch khấu hao gồm:
o Xác định phạm vi tài sản cố định phải trích khấu hao và tổng nguyên giátài sản cố định phải trích khấu hao đầu kỳ kế hoạch
Trang 15o Xác định giá trị tài sản cố định bình quân tăng, giảm trong kỳ kế hoạch vànguyên giá bình quân tài sản cố định phải trích khấu hao trong kỳ.
o Xác định mức khấu hao bình quân hàng năm
o Phân phối và sử dụng tiền trích khấu hao tài sản cố định trong kỳ
1.2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỐ ĐỊNH.
1.2.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.
a/ Xuất phát từ vị trí, vai trò của vốn cố định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn cố định của doanh nghiệp là thành phần cơ bản của vốn sản xuấtvà thường chiếm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ các loại vốn tự có của doanhnghiệp Vai trò của vốn cố định được thể hiện:
Một doanh nghiệp muốn bắt đầu đi vào hoạt động, cần phải bỏ ra mộtlượng tiền rất lớn để tiến hành mua sắm, đầu tư, xây dựng cơ sở vật chấtnhư: thuê đất, xây dựng nhà máy, mua sắm máy móc, thiết bị…Lượng tiềnứng ra trước này chính là vốn cố định Do đó, vốn cố định liên quan mậtthiết đến sự hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Không cóvốn cố định thì doanh nghiệp không thể tiến hành bất kỳ một hoạt độngsản xuất kinh doanh nào
Quy mô vốn cố định lớn hay nhỏ sẽ quyết định đến quy mô, trình độ trangbị máy móc, thiết bị là nhân tố quyết định tới khả năng tăng trưởng vàcạnh tranh của doanh nghiệp
Vốn cố định có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp vì phần giá trị chuyển dịch theo mức độ hao mòn tài sản cốđịnh cấu thành một bộ phận trong giá thành sản phẩm sản xuất ra và là cơsở để xác định giá bán, tạo doanh thu cho doanh nghiệp Xác định giáthành đúng đắn giúp doanh nghiệp có khả năng thu hồi nhanh, đủ số vốnđã đầu tư
Chu kỳ vận động của vốn cố định thường dài gấp nhiều lần chu kỳ vậnđộng của vốn lưu động Do đó, vốn cố định luôn gặp những rủi ro từ những
Trang 16nguyên nhân chủ quan hay khách quan làm tổn thất về vốn như: lạm phát, haomòn vô hình, thiên tai hoặc kinh doanh kém hiệu quả…
Phương thức hoàn thành vòng luân chuyển vốn cố định cũng có nhữngnét khác so với vốn lưu động Vốn lưu động được tái bù đắp toàn bộ một lầnsau khi kết thúc mỗi kỳ sản xuất kinh doanh, trong khi đó, vốn cố định lạiđược bù đắp từng phần Sau khi trích lập quỹ khấu hao hàng năm, số vốn cốđịnh còn lại chính là giá trị còn lại của tài sản cố định và các chi phí xây dựng
cơ bản dở dang khác
Việc bảo toàn tài sản cố định hay vốn cố định được thực hiện tốt khi tàisản cố định được khấu hao nhanh một cách hợp lý Đó cũng chính là mục tiêucần đạt tới của việc sử dụng vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh
b/ Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định trong doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định sẽ giúp doanh nghiệp có điều kiệnbảo toàn và phát triển vốn
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản cố định củadoanh nghiệp luôn luôn bị hao mòn và giảm dần giá trị theo thời gian Dođó, nhằm bảo toàn vốn, tránh thất thoát, lãng phí vốn đồng thời tận dụngđược năng lực sản xuất của tài sản cố định tới mức cao nhất có thể
Nâng cao hiệu quả vốn cố định sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện được cácmục tiêu kinh tế của mình
Mục tiêu phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiệnnay là:
Có lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng cao ( tối đa hóa lợi nhuận vàtăng giá trị doanh nghiệp)
Cung ứng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao, giá cảphù hợp với thị hiếu, nhu cầu của người tiêu dùng
Ngày càng mở rộng thị trường
Có nhiều cơ hội phát triển
Trong bốn mục tiêu cơ bản trên, mục tiêu lợi nhuận luôn được đặt lênhàng đầu
Trang 17Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinhdoanh đều đặt ra mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, tăng giá trị doanh nghiệp vàkhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Từ góc độ doanh nghiệp có thể thấy, lợi nhuận của doanh nghiệp chínhlà phần chênh lệch giữa thu nhập và toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra đểđạt được thu nhập đó từ các hoạt động kinh doanh đem lại
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp cuối cùng nói lên kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh và là nguồn tích lũy cơ bản để tái sản xuất mở rộng
Lợi nhuận giữ một vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của một doanh nghiệp vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơchế thị trường, doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển được hay không làphụ thuộc vào việc doanh nghiệp có tạo ra lợi nhuận hay không Vì thế, lợinhuận được coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng, đồng thời còn là một chỉ tiêu
cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Lợi nhuậntác động đến mọi hoạt động của doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp tới tìnhhình tài chính của doanh nghiệp Việc thực hiện được chỉ tiêu lợi nhuận chínhlà điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệpđược vững chắc
Do vậy, doanh nghiệp đều tìm mọi cách phấn đấu đạt lợi nhuận caonhất bằng việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Để thực hiện được, đòihỏi các doanh nghiệp phải tăng cường công tác tổ chức và quản lý sản xuất,trong đó có việc quản lý và sử dụng vốn cố định nói riêng Có như vậy mới cóthể đem lại lợi nhuận cao, thúc đẩy doanh nghiệp ngày càng phát triển bềnvững
c/ Xuất phát từ thực tế hiệu quả sử dụng vốn cố định ở các doanh nghiệp hiện nay.
Đảng và Nhà nước ta đã nhận thấy những hạn chế to lớn của nền kinhtế kế hoạch hóa tập trung, nhận thấy rõ những nguyên nhân cơ bản làm chonền kinh tế của chúng ta lạc hậu, kém phát triển, đời sống của nhân dân gặpkhó khăn
Sau năm 1986, đặc biệt là sau năm 1991, nền kinh tế nước ta chuyểnhẳn sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước
Trang 18Đứng trước thách thức của nền kinh tế thị trường, Nhà nước xóa bỏ baocấp, rất nhiều doanh nghiệp Nhà nước gặp khó khăn.
Năm 2002, theo báo cáo của 4.252 doanh nghiệp Nhà nước vào ngày31/12/2002, số vốn đầu tư vào tài sản cố định và đầu tư vào sản xuất là131.436 tỷ đồng, chiếm 76% tổng số vốn Trong tổng số tài sản cố định này,nhiều máy móc thiết bị lạc hậu so với thế giới 10 – 30 năm, trong đó có tới38% tài sản cố định chờ thanh lý Nhiều doanh nghiệp Nhà nước chưa có điềukiện để sản xuất sản phẩm mũi nhọn quốc gia đòi hỏi công nghệ cao Tổng sốdoanh nghiệp trên chỉ có 40% hoạt động có lãi, còn lại là bấp bênh và thua lỗ,
do sử dụng vốn kinh doanh ( đặc biệt là vốn cố định) kém hiệu quả Tài sảncố định ứ đọng, không sử dụng được, vốn không bảo toàn được, làm mất vốn,thất thoát, lãng phí vốn
Hiện nay, chúng ta còn tồn tại một số hạn chế như:
Việc đầu tư, xây dựng tài sản cố định ( chủ yếu về đầu tư xây dựng cơbản): Do nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản chủ yếu từ ngân sách Nhànước, còn dàn trải, thiếu tập trung, trọng tâm, trọng điểm, thời gian đầu tưkéo dài làm giảm hiệu quả đầu tư
Việc đầu tư mua sắm tài sản cố định: Chưa áp dụng các phương pháp khoahọc để lựa chọn nhà tư vấn, nhà cung cấp các thiết bị Do đó, có rất nhiềuđơn vị đã đầu tư mua sắm tài sản cố định, dây chuyền công nghệ đã lạchậu mà giá thành lại cao
Công tác kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước cònlỏng lẻo, thiếu các cơ chế, chính sách cụ thể, rõ ràng
Do trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ và công nhân của các doanhnghiệp về việc quản lý và sử dụng máy móc, thiết bị còn nhiều yếu kém,chưa làm chủ được công nghệ mới nên chưa phát huy hết được công suất,năng lực sản xuất của thiết bị cũng làm giảm hiệu quả vốn đầu tư
Kết luận:
Xuất phát từ những lý do trên, việc kiểm tra tài chính nhằm nâng caohiệu quả sử dụng vốn cố định được coi là một nội dung quan trọng của côngtác tài chính doanh nghiệp Nhờ kiểm tra hiệu quả sử dụng vốn cố định, ngườiquản lý sẽ có những căn cứ xác đáng để đưa ra các quyết định tài chính về
Trang 19đầu tư, điều chỉnh về quy mô sản xuất cho phù hợp và đề ra những biện pháphữu hiệu nhằm khai thác tiềm năng sẵn có, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng củavốn đầu tư nói riêng và vốn sản xuất nói chung Quy mô của vốn cố định vàtrình độ quản lý, sử dụng nó là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình độtrang bị kỹ thuật Do ở vị trí then chốt và đặc điểm chu chuyển vốn cố địnhtuân theo một quy luật riêng cho nên việc quản lý vốn cố định được coi là mộttrọng điểm của công tác tài chính doanh nghiệp
Có thể thấy vốn cố định phải trải qua một thời gian dài mới có thể hoànthành một vòng luân chuyển Vấn đề đặt ra cho các nhà quản trị doanh nghiệplà làm thế nào để vốn cố định trong suốt thời gian dài tham gia vào quá trìnhsản xuất kinh doanh đạt được hiệu quả cao nhất, giúp cho doanh nghiệp có thểtối đa hóa lợi nhuận
Như vậy, hiệu quả kinh doanh nói chung, hiệu quả sử dụng vốn cố địnhnói riêng được biểu thị qua mối quan hệ giữa kết quả đạt được trong quá trìnhsản xuất kinh doanh với chi phí về lao động sống và lao động vật hóa bỏ ra đểđạt được kết quả đó
Vậy hiệu quả sử dụng vốn cố định là gì?
Hiệu quả sử dụng vốn cố định là mối quan hệ giữa kết quả đạt được trong quá trình đầu tư, khai thác, sử dụng vốn cố định vào sản xuất và số vốn cố định đã sử dụng để đạt được kết quả đó.
Như vậy, quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn cố định được hiểu trênhai khía cạnh
Một là: Với số vốn cố định hiện có, có thể sản xuất thêm một lượng sảnphẩm với chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanhnghiệp
Hai là: Đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sảnxuất để tăng doanh số tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phảilớn hơn tốc độ tăng của vốn cố định
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh vô cùng gay gắt, bất kỳ mộtdoanh nghiệp nào cũng phải quan tâm đến hiệu quả đồng vốn bỏ ra Để đánh
Trang 20giá hiệu quả sử dụng vốn cố định, người ta thường sử dụng một số chỉ tiêuchủ yếu sau:
1 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định.
Doanh thu thuần trong kỳ
Hiệu suất sử dụng VCĐ =
Vốn cố định bình quân sử dụng trong kỳ Trong đó:
VCĐ đầu kỳ + VCĐ cuối kỳ
VCĐ bình quân sủ dụng trong kỳ =
2
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định có thể tham gia tạo rabao nhiêu đồng doanh thu thuần bán hàng trong kỳ
2 Hiệu suất sử dụng tài sản cố định.
Doanh thu thuần trong kỳ
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá tài sản cố định trong kỳ tạo
ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần bán hàng Chỉ tiêu này được sử dụngkết hợp với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định trong quá trình đánh giáhiệu quả sử dụng vốn cố định để cho những kết luận đầy đủ, tòan diện
3 Chỉ tiêu hàm lượng vốn cố định.
Vốn cố định bình quân sử dụng trong kỳ
Hàm lượng VCĐ =
Doanh thu thuần trong kỳ
Đây là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định.Nó phản ánh số vốn để tạo ra một đồng doanh thu thuần trong kỳ Hay nóicách khác: Để tạo ra một đồng doanh thu thuần trong kỳ cần bao nhiêu vốn cốđịnh
Hàm lượng vốn cố định càng thấp, hiệu suất sử dụng vốn cố định càngcao
4 Chỉ tiêu hệ số huy động vốn cố định.
Trang 21Số vốn cố định đang dùng trong hoạt động kinh doanh Hệ số huy động =
VCĐ Số vốn cố định hiện có của doanh nghiệp
Số vốn cố định được tính trong công thức trên được xác định bằng giátrị còn lại của tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình của doanhnghiệp tại thời điểm đánh giá, phân tích
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ huy động vốn cố định vào hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp cao hay thấp Mức độ hoạt động cao manglại hiệu quả cao và ngược lại
5 Hệ số hao mòn tài sản cố định.
Số KH lũy kế của TSCĐ tại thời điểm đánh Hệ số hao mòn TSCĐ =
Tổng nguyên giá TSCĐ tại thời điểm đánh giá
Chỉ tiêu này, một mặt phản ánh mức độ hao mòn của tài sản cố định,mặt khác, nó phản ánh tổng quát tình trạng về năng lực còn lại của tài sản cốđịnh cũng như vốn cố định ở thời điểm đánh giá
Hệ số hao mòn càng lớn chứng tỏ năng lực sản xuất còn lại của tài sảncố định càng nhỏ và ngược lại
Đồng thời, dựa vào hệ số hao mòn tài sản cố định có thể đánh giá mức độ đổimới tài sản cố định của doanh nghiệp
6 Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trước thuế vốn cố định.
Lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất LN trước thuế VCĐ =
VCĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định bình quân trong kỳ khitham gia vào sản xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế
7 Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn cố định:
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất LN sau thuế VCĐ =
VCĐ bình quân trong kỳ
Trang 22Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định bình quân trong kỳ khitham gia vào sản xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Trong các chỉ tiêu nêu ở trên, chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn cố định làchỉ tiêu cho phép ta đánh giá một cách tổng quát nhất hiệu quả sử dụng vốncố định trong kỳ của doanh nghiệp Bởi vì, trong nền kinh tế thị trường hiệnnay, tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mỗi doanh nghiệp Nếuđồng vốn của doanh nghiệp bỏ ra không có khả năng sinh lời sẽ dẫn tới việckhông bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Ngoài ra, có thể sử dụng một số chỉ tiêu bổ sung như:
Chỉ tiêu kết cấu tài sản cố định của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa nguyên giá từng nhóm, loạitài sản trong tổng nguyên giá tài sản cố định của doanh nghiệp Căn cứ vàocác phương pháp phân loại tài sản cố định có thể tính được các chỉ tiêu về kếtcấu tài sản cố định
Chỉ tiêu này có thể đánh giá được tính chất hợp lý hay không hợp lýcủa kết cấu tài sản cố định và giúp người quản lý xác định trọng tâm quản lýtài sản cố định nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hệ số trang bị tài sản cố định cho một công nhân trực tiếp sản xuất
Hệ số trang bị TSCĐ Nguyên giá tài sản cố định trực tiếp sản xuấtcho một công nhân trực =
tiếp sản xuất Số lượng công nhân trực tiếp sản xuất
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ trang bị giá trị tài sản cố định trực tiếpsản xuất cho một công nhân trực tiếp sản xuất là cao hay thấp
Thông qua chỉ tiêu này ta vừa đánh giá được mức độ trang bị tài sản cốđịnh đồng thời thấy được sự hợp lý hay bất hợp lý của số lượng lao độngtham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất
Kết luận:
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định ta phải sử dụng kết hợp cảhai chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu phân tích Ngoài ra, ta còn phải xem xét tới
Trang 23các chỉ tiêu hiện vật về tài sản cố định để có những đánh giá và kết luận chínhxác nhất.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.
a/Các nhân tố khách quan.
Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước.
Trên cơ sở pháp luật kinh tế và biện pháp kinh tế, Nhà nước tạo ra môitrường và hành lang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh vàhướng các hoạt động đó theo kế hoạch kinh tế vĩ mô Với bất cứ một sự thayđổi nào trong chế độ chính sách hiện hành đều chi phối các mảng hoạt độngcủa doanh nghiệp
Đối với vấn đề hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp thì cácvăn bản pháp luật kinh tế về tài chính, kế toán, thống kê, về quy chế đầu tư…gây ảnh hưởng lớn trong quá trình kinh doanh, nhất là các quy định về cơ chếgiao vốn, đánh giá tài sản cố định, về trích khấu hao, tỷ lệ trích lập các quỹ,cũng như các văn bản về thuế, khuyến khích hay hạn chế nhập một số máymóc, thiết bị nhất định đều có thể làm tăng hay giảm hiệu quả sử dụng vốn cốđịnh trong doanh nghiệp
Tác động của thị trường
Tùy theo mỗi loại thị trường mà doanh nghiệp tham gia, tác động đếnhiệu quả sử dụng vốn cố định, thể hiện là doanh nghiệp phải phục vụ nhữnggì mà thị trường căn cứ vào nhu cầu hiện tại và tương lai
Sản phẩm cạnh tranh phải có chất lượng cao, giá thành hạ mà điều nàychỉ xảy ra khi doanh nghiệp tích cực nâng cao hàm lượng công nghệ kỹ thuậtcủa tài sản cố định Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có kế hoạch đầu tưcải tạo, đầu tư mới tài sản cố định trước mắt cũng như lâu dài, nhất là nhữngdoanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh cao, tốc độ thay đổicông nghệ nhanh như ngành kiến trúc, thiết kế, thi công xây dựng…
Bên cạnh đó, lãi suất tiền vay cũng là một nhân tố ảnh hưởng quantrọng Lãi suất tiền vay ảnh hưởng đến chi phí đầu tư của doanh nghiệp Sựthay đổi lãi suất sẽ kéo theo những biến đổi cơ bản của đầu tư mua sắm thiếtbị, máy móc, tài sản cố định khác
Trang 24Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật
Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển thì nguy cơhao mòn vô hình của tài sản cố định lại càng cao Đây không chỉ là cơ hội chocác doanh nghiệp mà thực sự là một thách thức lớn Chính điều này buộc cácdoanh nghiệp phải chú ý hơn nữa tới tình trạng trang bị thiết bị máy móc củađơn vị mình để tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường
Các nhân tố khác
Các nhân tố này có thể coi là nhân tố bất khả kháng như thiên tai, dịchhọa có tác động trực tiếp lên hiệu quả sử dụng vốn cố định Mức độ tổn hại vềlâu dài hay tức thời là hoàn toàn không thể biết trước, chỉ có thể dự phòngtrước nhằm giảm nhẹ mà thôi
b/Các nhân tố chủ quan.
Đây là nhân tố chủ yếu quyết đinh đến hiệu quả sử dụng các tài sản cốđịnh và qua đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanhnghiệp Nhân tố này gồm nhiều yếu tố cùng tác động trực tiếp đến kết quảcuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh trước mắt cũng như lâu dài Bởivậy, việc xem xét, đánh giá và ra quyết định đối với các yếu tố này là điềucực kỳ quan trọng Thông thường, người ta xem xét những yếu tố sau:
Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
Nhân tố này tạo ra điểm xuất phát cho doanh nghiệp cũng như địnhhướng cho nó trong suốt quá trình tồn tại Với một ngành nghề kinh doanh đãđược lựa chọn, chủ doanh nghiệp buộc phải giải quyết những vấn đề đầu tiênvề tài chính:
o Cơ cấu vốn cố định của doanh nghiệp thế nào là hợp lý, khả năng về tàichính của công ty ra sao?
o Cơ cấu tài sản được đầu tư ra sao, mức độ hiện đại hóa nói chung sovới các đối thủ cạnh tranh đến đâu?
o Nguồn tài trợ cho những tài sản cố định đó đượcc huy động từ đâu, cóđảm bảo lâu dài cho sự hoạt động an toàn của doanh nghiệp haykhông?
Đặc điểm về kỹ thuật sản xuất kinh doanh
Trang 25Các đặc điểm riêng về kỹ thuật sản xuất tác động liên tục tới một số chỉtiêu quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định như hệ số đổi mớimáy móc, thiết bị, hệ số sử dụng về thời gian, công suất…
Nếu kỹ thuật sản xuất giản đơn, doanh nghiệp chỉ có điều kiện sử dụngmáy móc, thiết bị nhưng luôn luôn phải đối phó với các đối thủ cạnh tranh,với yêu cầu của khách hàng về vấn đề chất lượng Do vậy, doanh nghiệp dễdàng tăng được lợi nhuận trên vốn cố định nhưng khó giữ được chỉ tiêu nàylâu dài
Nếu kỹ thuật sản xuất phức tạp, trình độ máy móc, thiết bị cao, doanhnghiệp có lợi thế lớn trong cạnh tranh nhưng đòi hỏi tay nghề công nhân caocó thể sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn cố định
Trình độ tổ chức quản lý, tổ chức kinh doanh và hạch toán nội bộ doanhnghiệp
Để có hiệu quả cao thì bộ máy tổ chức quản lý, tổ chức sản xuát phảigọn nhẹ, ăn khớp nhịp nhàng với nhau
Với mỗi phương thức sản xuất và loại hình sản xuất, sẽ có tác độngkhác nhau tới tiến độ sản xuất, phương pháp và quy trình vận hành máy móc,số bộ phận phục vụ sản xuất kinh doanh
Mặt khác, đặc điểm của công ty về hạch toán, kế toán nội bộ doanhnghiệp (luôn gắn bó với tính chất của tổ chức sản xuất và quản lý trong cùngdoanh nghiệp) sẽ có tác động không nhỏ Công tác kế toán đã dùng nhữngcông cụ của mình (bảng biểu, khấu hao, thống kê, sổ cái…) để tính toán hiệuquả sử dụng vốn cố định và kế toán phải có nhiệm vụ phát hiện những tồn tạitrong quá trình sử dụng vốn và đề xuất những biện pháp giải quyết
Trình độ lao động, cơ chế khuyến khích và trách nhiệm vật chất trongdoanh nghiệp
Để phát huy được hết khả năng của dây truyền công nghệ, máy mócthiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh đòi hỏi trình độ quản lý và sử dụng máymóc thiết bị của công nhân cao Song trình độ của lao động phải được đặtđúng chỗ, đúng lúc, tâm sinh lý…
Để sử dụng tiềm năng lao động có hiệu quả cao nhất, doanh nghiệpphải có một cơ chế khuyến khích vật chất cũng như trách nhiệm một cáchcông bằng Ngược lại, nếu cơ chế khuyến khích không công bằng, quy định
Trang 26trách nhiệm không rõ ràng, dứt khoát sẽ cản trở mục tiêu nâng cao hiệu quảsử dụng vốn cố định trong doanh nghiệp.
1.2.4 Một số biện pháp chủ yếu góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.
a/ Lựa chọn, thực hiện tốt phương án đầu tư, xây dựng, mua sắm tài sản cố định.
Hiệu quả sử dụng vốn cố định trước hết phụ thuộc vào chất lượng củacông tác lựa chọn dự án đầu tư, mua sắm, xây dựng tài sản cố định
Trước khi đầu tư phải nghiên cứu kỹ lưỡng, kiểm tra về điều kiện, khảnăng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp mình, điều kiện cung cấp vật
tư, khả năng tận dụng thời gian làm việc và tận dụng công suất của tàisản cố định
Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định thì phải xác định đượckhâu chủ yếu để đầu tư, đầu tư đâu trước, đâu là chủ yếu… Trong thựctế, nếu khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường rấtlớn thì đầu tư phải chú ý ưu tiên cho những tài sản cố định có tính chấtsản xuất trực tiếp hơn là những tài sản có tính chất phục vụ sản xuất.Có như vậy, thì đầu tư vốn cố định mới phát huy được khả năng tối đacủa nó Phải tính toán được một cách chính xác hiệu quả kinh tế manglại, xác định cơ cấu đầu tư đúng đắn
Chỉ tiến hành mua sắm máy móc, thiết bị khi thực sự cần thiết, giảmbớt được thiết bị dự trữ đển mức cần thiết để tránh tình trạng ứ đọngvốn Mặt khác, phải lựa chọn phương án đầu tư thích hợp, mang lạihiệu quả cao nhất
Phải chú trọng quan tâm đến tiến bộ khoa học, kỹ thuật khi đầu tư muasắm tài sản cố định Tài sản cố định mua sắm không được lạc hậu, hàmlượng công nghệ có thể không cao nhưng nhất thiết phải phù hợp vớitrình độ phát triển khoa học kỹ thuật, yêu cầu và khả năng khai thác củadoanh nghiệp
Cùng với việc chủ động mua sắm tài sản cố định, để tăng năng lực sảnxuất, doanh nghiệp cần phải tổ chức, sắp xếp hợp lý cơ cấu tài sản cốđịnh trong doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp đều phải căn cứ vào thựctrạng tài sản cố định hiện có, phân tích, sắp xếp các loại tài sản cố địnhtheo yêu cầu sản xuất chính, lập tỷ lệ cần thiết giữa các phần tài sản cố
Trang 27định theo kết cấu công dụng, lập tỷ lệ phân phối theo yêu cầu côngnghệ của các tài sản cố định giữa các khâu sản xuất chính và sản xuấtphụ trợ.
Việc đầu tư mua sắm tài sản cố định phải theo xu hướng tỷ trọng tàisản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh đóng vai trò chủ đạo,chiếm tỷ trọng ngày càng cao Các loại tài sản cố định không phát huyhiệu quả trong sản xuất kinh doanh, dùng ngoài sản xuất có xu hướnggiảm xuống
b/ Quản lý chặt chẽ và huy động tối đa tài sản cố định hiện có tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định cần phải tăng cường côngtác quản lý chặt chẽ tài sản cố định từ khâu mua sắm đến khâu sử dụng
Thực hiện việc phân loại cũng như phân cấp quản lý tài sản cố định.Tiến hành giao tài sản cho từng bộ phận, cá nhân một cách rõ ràngnhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của người lao động Có chế độkhen thưởng hợp lý đối với những cá nhân có thành tích trong việc giữgìn, bảo vệ tài sản, có sáng kiến cải tiến năng lực hoạt động của tàisản Đồng thời, có biện pháp xử lý thích đáng đối với những cá nhânthiếu ý thức trách nhiệm làm mất mát, hư hỏng tài sản gây thất thoátvốn
Khai thác một cách triệt để công suất thiết kế của tài sản cố định nhằmtừng bước nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định theo cả chiều rộng vàchiều sâu, tiết kiệm đến mức tối đa vốn cố định, tăng nhanh vòng quayvốn cố định
Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản theo chiều rộng: Có thể thựchiện bằng cách tăng thời gian làm việc của tài sản Để làm đượcđiều đó phải đảm bảo thường xuyên tính cân đối về công suất sảnxuất, tăng cường việc kiểm tra, giám sát và thực hiện nghiêmchỉnh quy trình công nghệ, nâng cao thời gian công chính, nângcao hệ số công tác
Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản theo chiều sâu: Tiến hành chủyếu bằng việc hoàn chỉnh kỹ thuật sản xuất và hiện đại hóa tàisản cố định như: Tăng công suất máy móc, thiết bị như tốc độ, áp
Trang 28suất, cơ giới hóa, tự động hóa, hiện đại hóa quá trình sản xuất…hoàn thiện quy trình công nghệ, tổ chức sản xuất dây truyền…
c/ Lựa chọn phương pháp tính, trích khấu hao tài sản cố định và quản lý, sử dụng quỹ khấu hao có hiệu quả.
Trích khấu hao cơ bản là hình thức thu hồi vốn cố định phục vụ cho táisản xuất tài sản cố định nhằm đáp ứng kịp thời cho nhu cầu của sản xuất,nâng cao hiệu quả sử dụng của đồng vốn bỏ ra
Khấu hao hợp lý là một biện pháp có ý nghĩa kinh tế lớn đối với doanhnghiệp
o Khấu hao hợp lý tài sản cố định là một biện pháp quan trọng để thựchiện bảo toàn vốn cố định Thông qua thực hiện khấu hao hợp lý doanhnghiệp có thể thu hồi được đầy đủ vốn cố định khi tài sản cố định hếtthời gian sử dụng
o Khấu hao hợp lý tài sản cố định giúp cho doanh nghiệp có thể tậptrung được vốn từ tiền khấu hao để có thể thực hiện kịp thời đổi mớimáy móc, thiết bị và công nghệ
o Việc khấu hao hợp lý tài sản cố định là nhân tố quan trọng để xác địnhđúng giá thành sản phẩm và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần chú trọng tới công tác quản lý vàsử dụng có hiệu quả quỹ khấu hao Quỹ khấu hao chính là nguồn tài chínhquan trọng không những để tái sản xuất giản đơn tài sản cố định mà khi đượcsử dụng một cách linh hoạt, hợp lý còn có tác dụng tái sản xuất mở rộng tàisản cố định
d/ Thường xuyên tiến hành bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định, chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro.
Tài sản cố định trong quá trình sử dụng khó có thể tránh khỏi tình trạng
hư hỏng, xuống cấp Nếu doanh nghiệp không để ý, khai thác quá công suất,thì mức độ hao mòn của tài sản cố định càng tăng mạnh, chất lượng của tàisản cố định giảm dần và hiệu quả sử dụng nó cũng không cao
Sửa chữa tài sản cố định là việc duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa những hưhỏng phát sinh trong quá trình hoạt động nhằm khôi phục lại năng lực hoạtđộng bình thường của tài sản cố định
Trang 29Nâng cấp tài sản cố định là hoạt động cải tạo, xây lắp, trang bị bổ sungthêm cho tài sản cố định nhằm nâng cao công suất, tính năng tác dụng của tàisản cố định so với mức ban đầu hoặc kéo dài thời gian sử dụng của tài sản cốđịnh, đưa vào áp dụng quy trình công nghệ sản xuất mới làm giảm chi phíhoạt động của tài sản cố định so với trước.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần chủ động thực hiện các biện phápphòng ngừa rủi ro trong kinh doanh để hạn chế tổn thất vốn cố định do cácnguyên nhân khách quan như: Mua bảo hiểm, lập quỹ dự phòng tài chính,trích trước chi phí dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN CỐ ĐỊNH TẠI TỔNG CÔNG
TY TƯ VẤN XÂY DỰNG VIỆT NAM (VNCC).
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA VNCC.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của VNCC.
Tổng công ty tư vấn xây dựng Việt Nam – Bộ Xây dựng, là loại hìnhdoanh nghiệp Nhà nước, tên giao dịch quốc tế là Vietnam NationalContruction Consultants Corporation, viết tắt là VNCC Trụ sở chính đặt tại243A Đê La Thành – Đống Đa – Hà Nội Cùng với sự phát triển của đất nướctrong từng thời kỳ, Tổng công ty được mang các tên gọi khác nhau:
- Cục thiết kế Dân dụng thuộc Nha kiến trúc ( 4/1955 – 1961);
- Viện thiết kế Kiến trúc ( 1961 – 1969);
- Viện thiết kế Dân dụng ( 1969 – 1975);
- Viện Xây dựng Đô thị và Nông thôn ( 1975 – 1978);
- Viện Thiết kế Nhà ở và Công trình công cộng (1978 – 1993);
- Công ty Tư vấn Xây dựng Dân dụng Việt Nam (1993-6/2006);
- Tổng công ty Tư vấn Xây dựng Việt Nam ( 7/2006 đến nay)
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã mở ra thời kỳ đổimới của Đất nước, Viện Thiết kế Nhà ở và Công trình công cộng chuyển sanghướng hạch toán kinh tế trong các hoạt động sản xuất thiết kế và nghiên cứukhoa học – công nghệ Việc sắp xếp lại tổ chức và nhân lực theo Nghị định388/ HĐBT tạo nên môi trường hoạt động mới: Tổng thầu thiết kế, thi côngnhiều công trình có chất lượng cao, đáp ứng thực tế thi công và phù hợp vớicông nghệ xây dựng đang phát triển
Năm 1993, Bộ Xây dựng đã có quyết đinh đổi tên Viện Thiết kế Nhà ởvà Công trình công cộng thành Công ty Tư vấn Xây dựng Dân dụng ViệtNam Trong những năm đổi mới, cán bộ chuyên môn chủ chốt thuộc “thế hệthứ hai” đã có đủ bề dày kinh nghiệm với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao
Trang 31và năng lực quản lý vững vàng, toàn diện Ngoài chức năng chủ trì thiết kếnhững công trình lớn, giờ đây họ còn là những người hướng dẫn, chỉ đạo lớpđàn em thuộc “ thế hệ thứ ba” mới ra trường Đó chính là những điều kiệnquan trọng để đảm bảo cho Công ty có đủ năng lực đảm đương các dịch vụ tưvấn có tầm cỡ Quốc gia và Quốc tế.
Công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ phát triển mạnh.Áp dụng mô hình tổ chức chuyên môn hóa, Công ty đã đi vào quỹ đạo củamột doanh nghiệp, hạch toán độc lập trong thị trường theo định hướng XHCNtạo điều kiện cho hội nhập Quốc tế
Công ty tiến hành ba mặt công tác chính:
o Đổi mới cơ cấu tổ chức theo hướng chuyên môn hóa cao theo thể loại côngtrình và các bộ môn kỹ thuật độc lập, tập trung khâu quản lý điều hành ởcấp Công ty
o Phát huy nội lực, hiện đại hóa trang thiết bị ngành nghề, ứng dụng côngnghệ tin học, đầu tư chiều sâu vào hệ thống mạng máy tính và thiết bịchuyên dụng, sử dụng các phần cứng có cấu hình mạnh và các phần mềmtiên tiến cho diễn họa kiến trúc, tính toán các kết cấu và các bộ môn
o Tăng cường nguồn lực bằng cách đào tạo tại chỗ, đào tạo nâng cao cho cáckiến trúc sư, kỹ sư trẻ một cách có hệ thống, có quy hoạch và thườngxuyên
Từ tháng 7/2006 Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã có quyết định thành lậpTổng công ty tư vấn Xây dựng Việt Nam hoạt động theo mô hình công ty mẹ
- công ty con, trong đó VNCC là công ty mẹ và có tám Công ty thành viên lànhững công ty tư vấn thiết kế của Bộ Xây dựng
Đây là bước ngoặt quan trọng đánh dấu thời kỳ phát triển và hội nhập.Một sự đổi mới về các phương pháp quản lý, cơ cấu tổ chức, đào tạo, bổnhiệm những cán bộ trẻ có năng lực, trách nhiệm, năng động… vào các vị tríquản lý các đơn vị đã nâng cao uy tín, thương hiệu của Tổng công ty trên thịtrường tư vấn xây dựng Việt Nam và khu vực
Bộ máy lãnh đạo và các cán bộ chủ chốt, với sự đổi mới về tư duy vàphong cách quản lý, quy mô dự án và chất lượng các dịch vụ tư vấn ngàycàng lớn Thể loại công trình đã mở rộng, nhiều công trình cao 30 tầng khôngcòn là vấn đề đối với cán bộ kỹ thuật trong Tổng công ty Nhiều dịch vụ tư
Trang 32vấn thiết kế đã phát triển để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và xã hội Nhiềuchủ đầu tư mới tìm đến thương hiệu VNCC như một đảm bảo cho chất lượngnhà cung cấp dịch vụ tư vấn tốt nhất Đội ngũ cán bộ trẻ đã tự khẳng địnhđược mình, được tập thể đơn vị tin cậy và Tổng công ty giao cho những trọngtrách xứng đáng Mô hình chuyên môn hóa ngày càng phát huy hiệu quả và làhướng đi đúng đắn trong quá trình hội nhập của đất nước.
Công tác cổ phần hoá cũng đã được tiến hành, tính đến cuối năm 2007đã có 7/9 Công ty thành viên hoàn thành công tác cổ phần hoá Tổng công ty
tư vấn xây dựng Việt Nam cũng đã có văn bản trình Bộ về việc xin chủtrương cổ phần hoá toàn bộ Tổng công ty để hoàn tất lộ trình cổ phần hoá cácdoanh nghiệp Nhà nước theo chủ trương của Chính phủ Thủ tướng Chínhphủ đã ký Quyết định số 1493/QĐ-TTg ngày 08/11/2007 phê duyệt phươngán sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thuộc Bộ Xây dựnggiai đoạn 2007 – 2010
Nổi bật trong giai đoạn hiện nay là lĩnh vực hợp tác quốc tế phát triểnmạnh Nhiều đối tác quốc tế với những công ty hàng đầu thế giới đến từ Mỹ,Anh, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Singapore đã hợp tác với Tổng công ty thamgia thực hiện nhiều dự án lớn tại Việt Nam Tổng công ty đã thực hiện một sốdự án hợp tác quốc tế tiêu biểu như:
Trụ sở Bộ Công an huyện Cầu Giấy, liên doanh với GMP – InrosLackner
Tháp tài chính 68 tầng tại Thành phố Hồ Chí Minh liên doanh với ArepVille, cộng hòa Pháp
Khách sạn Marriott Hà Nội tại khu trung tâm Hội nghị Quốc gia, liêndoanh với DSA Engineering Limitted Anh và Lera Mỹ
…
Cùng với thực hiện các dự án, Tổng công ty đã giành được những giảithưởng cao trong các cuộc thi tuyển phương án kiến trúc các dự án lớn như:
Nhà Quốc hội
Bảo tàng lịch sử Việt Nam
Trụ sở VNPT
lTrung tâm Hội nghị Hưng Yên…
Trang 33Năm 2005, Tổng công ty đã nhận được Huân chương độc lập hạng IIvà nhiều năm liền đạt cờ thi đua của Bộ Xây dựng và Chính phủ.
Song song với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, Tổng công ty còn tíchcực tham gia giúp Bộ thực hiện chỉ đạo và quản lý vĩ mô: Các hội đồng tư vấncho lãnh đạo Bộ, Hội đồng nghiệm thu các đề tài, soạn thảo, góp ý các quychế, nghị định của Bộ…
Qua 54 năm kể từ ngày thành lập, từ chỗ lực lượng cán bộ còn mỏng,
cơ sở vật chất còn thiếu thốn, phạm vi hoạt động còn hạn chế, đến nay,VNCC đã trưởng thành và phát triển về mọi mặt trong cơ chế thị trường: Ổnđịnh về tổ chức, đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ và kinh nghiệm đượctăng cường, mua sắm nhiều thiết bị cho việc nâng cao năng suất lao động, cảithiện thu nhập của cán bộ nhân viên, thực hiện tốt nghĩa vụ thu nộp Ngânsách cho Nhà nước
Hiện nay, VNCC là tổ chức thiết kế kiến trúc đầu tiên của ngành Xâydựng và chiếm vị trí hàng đầu trong lĩnh vực tư vấn xây dựng Tổng công ty
Tư vấn Xây dựng Việt Nam cũng là thành viên tích cực trong các hiệp hộinghề nghiệp như: Hội Kiến trúc sư Việt Nam, Tổng hội Xây dựng
2.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của VNCC.
Là một doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng, nhiệm vụ của Tổng công
ty được Bộ Xây dựng phân công theo quyết định số 157A/BXD/TCLD ngày5/3/1993 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng
Theo đó, VNCC có các nhiệm vụ sau:
Thực hiện tư vấn đầu tư và xây dựng, tổng thầu tư vấn thiết kế các côngtrình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, khu công nghiệp vàcác loại hình công trình khác
Tổ chức nghiên cứu khoa học và nghiên cứu phát triển, đào tạo, bồidưỡng về công tác tư vấn xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phục vụđịnh hướng phát triển của toàn bộ tổ hợp Công ty mẹ - Công ty con
Đầu tư và thực hiện các quyền của chủ sở hữu phần vốn đầu tư vào cácCông ty con, Công ty liên kết
Thực hiện các ngành nghề kinh doanh khác theo quy định của phápluật
Trang 34 Lập và thẩm tra báo cáo đầu tư, dự án đầu tư xây dựng, báo cáo kinh tếkỹ thuật.
Thiết kế quy hoạch
Lập và thẩm tra thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, tổng dựtoán, dự toán công trình
Tư vấn đầu thầu.l
Quản lý dự án xây dựng
Giám sát thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị
Kiểm định chất lượng công trình, thí nghiệm đất, nước, đá, nền, cácloại cọc, móng công trình và vật liệu xây dựng
Tư vấn thiết kế hệ thống cấp thoát nước, xử lý nước thải, chất thải rắn
Tư vấn xây dựng các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Tư vấn xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn 9001
ISO- Thiết kế và thi công trang trí nột, ngoại thất
Kinh doanh bất động sản, hạ tầng kỹ thuật khu đô thị, khu công nghiệpvà vệ sinh môi trường
2.1.3 Cơ cấu và tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của Tổng công ty VNCC.
Tổng công ty tư vấn xây dựng Việt Nam có cơ cấu tổ chức bộ máy nhưsau:
Trang 35Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Châm – K43/11.09
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA TỔNG CÔNG TY
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN KIỂM SOÁT
Ban Tổng Giám Đốc
Phòng Kế hoạch và Đầu tư
Phòng Tài chính kế toán
Trang 36Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Châm – K43/11.09
Hội đồng quản trị: Là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu Nhà nước tạiTổng công ty, nhân danh Tổng công ty quyết định mọi vấn đề liên quanđến việc xác định và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, quyền lợi của Tổngcông ty Hội đồng quản trị gồm Chủ tịch Hội đồng quản trị và các thànhviên Hội đồng quản trị
Ban Kiểm soát: Có nhiệm vụ giúp Hội đồng quản trị kiểm tra, giám sáttính hợp pháp, chính xác và trung thực trong quản lý, điều h ành hoạt độngkinh doanh, trong ghi chép sổ kế toán, báo cáo tài chính và việc chấp hànhĐiều lệ Tổng công ty, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, quyếtđịnh của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ban kiểm soát gồm Trưởng ban kiểmsoát và các thành viên
Ban Tổng Giám đốc: Gồm 1 Tổng Giám đốc và 2 Phớ Tổng Giám đốc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật, điều hành hoạt độnghàng ngày của Tổng công ty theo mục tiêu, kế hoạch, phù hợp vớiĐiều lệ Tổng công ty và các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trịvà trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ
Trong đó:
Phòng Tài chính kế toán: Có trách nhiệm về quản lý tài chính và
hạch toán kế toán trong Tổng công ty, chấp hành các chế độ kếtoán Nhà nước Tham gia đề xuất với Ban Giám đốc về việc tăngcường quản lý vốn và chi phí trong quá trình hoạt động sản xuấtkinh doanh Phòng có chức năng kiểm tra, giám sát chế độ tàichính và cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời cho Ban Giám đốcvà các cơ quan chức năng của Nhà nước.Bộ máy kế toán tàichính của Tổng công ty gồm 7 người và được tổ chức như sau:
Trang 37Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Châm – K43/11.09
SƠ ĐỒ BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA TỔNG CÔNG TY VNCC
Ngoài ra, tại mỗi chi nhánh, xí nghiệp, trung tâm có các nhân viên kinhtế, thống kê, theo dõi, tập hợp chứng từ ban đầu chuyển về Tổng công ty đểphòng Tài chính kế toán kiểm tra, thanh toán và tổng hợp, báo cáo, lưu trữ
Phòng Tổng hợp: Tổ chức quản lý công tác tổng hợp, công tác
văn thư, công tác quản trị ( lập kế hoạch đầu tư chiều sâu, muasắm trang thiết bị mới), phục vụ công tác nghiên cứu sản xuất,điều kiện làm việc của Tổng công ty Bên cạnh đó, phòng còn cónhiệm vụ giải quyết các vấn đề về tổ chức hành chính, quản lýlao động, tổ chức tuyển dụng nhân viên mới theo yêu cầu của sảnxuất kinh doanh.Quản lý và thực hiện xây dựng cơ bản như xâydựng mới, cải tạo sửa chữa… Điều hành và thực hiện công tácbảo vệ, quân sự, tự vệ… xây dựng nội quy và lề lối làm việc,quản lý đội xe
Phòng Kế hoạch và đầu tư: Có nhiệm vụ xây dựng các mục tiêu
phát triển kinh doanh của Tổng công ty, tìm hiểu thị trường, pháthiện những nhu cầu về tư vấn xây dựng, hướng dẫn làm thủ tụcvà ký kết hợp đồng kinh tế, thay mặt Tổng công ty kiểm tra chấtlượng, tiến độ và chất lượng thực hiện hợp đồng kinh tế, nắmđược trình độ, khả năng của các đơn vị bạn, đánh giá thế mạnh
KT thuế
và
theo dõi công nợ
Kế
toán tiền lương
Kế
toán ngân hàng
Thủ quỹ
Trang 38Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Châm – K43/11.09
của Tổng công ty để đề xuất các biện pháp, sách lược và chiếnlược trong các hợp đồng kinh doanh chất xám
Nhìn chung, với cách sắp xếp cơ cấu và tổ chức phòng ban chức năngnày giúp cho Tổng công ty vừa có thể chuyên môn hoá cao, đồng thời có thể
đa dạng hoá công việc phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của công tác tư vấn,thiết kế như hiện nay
2.1.4 Đặc điểm tổ chức sản xuất của Tổng công ty VNCC.
a/ Tổ chức sản xuất.
Tổng công ty hoạt động sản xuất kinh doanh trên hai địa bàn chính là:
Trụ sở chính của Tổng công ty tại 243A Đê La Thành Q Đống Đa Hà Nội
Chi nhánh tại 11A Tôn Đức Thắng – Q.1 – Thành phố Hồ Chí Minh.Tổng công ty có các đơn vị trực thuộc trực tiếp tham gia vào hoạt động
tư vấn, thiết kế, khảo sát các công trình xây dựng Bao gồm: Văn phòng kiếntrúc 1,2,3,4,5; Văn phòng kết cấu 1,2,3; Văn phòng dự án; Văn phòng cơđiện, Văn phòng nước môi trường, Văn phòng kinh tế dự toán; Xí nghiệpkhảo sát, kiểm định chất lượng xây dựng; Xí nghiệp tư vấn giám sát và quảnlý dự án; Trung tâm khoa học công nghệ; Chi nhánh tại miền Nam;
Cơ cấu của các xí nghiệp, chi nhánh, các văn phòng trực thuộc Tổngcông ty có các đội, các tổ sản xuất thực hiện các khâu trong quá trình sản xuấttừ lập dự án, quy hoạch, khảo sát, tư vấn, thiết kế, thẩm định các công trìnhxây dựng cho khách hàng theo một quy trình khép kín
b/ Quy trình công nghệ.
Bao gồm các khâu:
- Khảo sát: Khi khách hàng có nhu cầu đầu tư xây dựng các công trìnhthì trước hết VNCC sẽ thực hiện thăm dò, khảo sát địa chất tại nơi sẽ tiếnhành xây dựng công trình
- Lập quy hoạch: Sau khi khảo sát xong, nếu đủ điều kiện theo quy địnhcủa Nhà nước về xây dựng thì sẽ tiến hành lập quy hoạch tổng thể và chi tiếtcông trình cần xây dựng
- Tư vấn, thiết kế: Sau khi khảo sát và lập quy hoạch sẽ thực hiện việc
tư vấn và thiết kế tổng thể, chi tiết công trình chuẩn bị đầu tư xây dựng
Trang 39Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Châm – K43/11.09
- Lập tổng dự toán đầu tư xây dựng của công trình: Đưa ra bảng dựtoán, dự kiến về kinh phí sẽ phải đầu tư để hoàn thành công trình
- Giao sản phẩm đã hoàn thành của các quá trình trên cho đơn vị chủđầu tư công trình
c/ Các yếu tố đầu vào.
Do đặc điểm là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn xâydựng, sử dụng chất xám và trí tuệ, nên các nguyên liệu, vật liệu sử dụng choquá trình sản xuất chủ yếu bao gồm: Giấy, mực, bút, các mũi khoan chuyêndùng cho lĩnh vực thiết kế xây dựng
d/ Các yếu tố đầu ra.
Sản phẩm chủ yếu là các hồ sơ, tài liệu, bản vẽ về công trình
Trong những năm qua, thị trường của VNCC đã không ngừng được mởrộng Đó là thị trường của những công trình xây dựng dân dụng, công nghiệpvà kiến trúc đô thị trong cả nước VNCC đã đảm nhận tư vấn, khảo sát vàthiết kế nhiều công trình trọng điểm, đặc biệt là các dự án lớn của Nhà nướcnhư: Thiết kế, tham gia cải tạo và giám sát thi công Hội trường Ba Đình, tưvấn, thiết kế, giám sát thi công Chợ Đồng Xuân, giám sát thi công Nhà hátlớn Hà Nội, Cảng hàng không quốc tế Nội Bài
2.1.5 Kết quả kinh doanh của VNCC.
Năm 2007, Tổng công ty tư vấn xây dựng Việt Nam đã chính thức đivào hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con Trong sự cạnh tranhmạnh mẽ của các thành phần kinh tế, ảnh hưởng khách quan của quá trìnhthực hiện công tác cổ phần hoá, nhưng bằng sự nỗ lực không ngừng của tậpthể lãnh đạo và toàn thể cán bộ nhân viên, Tổng công ty đã hoàn thành vàhoàn thành vượt mức kế hoạch năm 2007 với các chỉ tiêu sau:
Tổng giá trị sản xuất : 181 tỷ đạt 265% kế hoạch năm
Tổng doanh thu: 90,576 tỷ đồng
Tổng lợi nhuận trước thuế: 15,347 tỷ đồng
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu: 16,94%
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu đạt: 27,12%
Bước vào năm 2008, phát huy những thành quả đạt được, VNCC đã đề
ra phương hướng nhiệm vụ năm 2008:
Trang 40Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Châm – K43/11.09
Chuyên môn hoá theo lĩnh vực;
Phối hợp trong hoạt động sản xuất kinh doanh và cung cấp dịchvụ đáp ứng nhu cầu của thị trường
Đẩy mạnh nghiên cứu phát triển và đào tạo nguồn nhân lực
Cải tiến mô hình sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm vàhiệu quả kinh tế
Đẩy mạnh công tác đào tạo, nâng cao tính chuyên nghiệp vàtrình độ tư vấn cho cán bộ công nhân viên
Xây dựng cơ chế trả lương hấp dẫn, tương xứng với năng lực cánbộ để khuyến khích người tài
Năm 2008, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang lâm vào tình trạngsuy thoái có tính toàn cầu và kinh tế Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của lạmphát và sự cắt giảm, tạm dừng nhiều dự án có nguồn vốn Ngân sách nhà nướccấp đã tác động không nhỏ tới hoạt động sản xuất kinh doanh của VNCC Tuynhiên, vượt lên trên những khó khăn đó, với tinh thần quyết tâm và nỗ lựckhông ngừng của tập thể lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ nhân viên, VNCC đãhoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2008
Năm 2008, Tổng công ty ký 243 Hợp đồng kinh tế đạt tổng giá trị sảnlượng hợp đồng là 186,2 tỷ đồng Tổng công ty đã hoàn thành và hoàn thànhvượt mức kế hoạch năm 2008 với các chỉ tiêu:
+ Tổng giá trị sản xuất: 114,7 tỷ đồng đạt 135% kế hoạch năm
+ Tổng doanh thu: 100,749 tỷ đồng đạt 126% kế hoạch năm
+ Tổng lợi nhuận trước thuế trên doanh thu: 20,11%
+ Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu đạt: 13,4%
+ Thu nhập bình quân của người lao động là: 6,4 triệu đ/người/tháng.Lĩnh vực hợp tác quốc tế được tiếp tục phát triển đạt 54 tỷ đồng, chiếm28% tổng sản lượng và đứng đầu Tổ hợp VC Group về giá trị sản lượng hợpđồng hợp tác với nước ngoài
Bên cạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, công tác quản lý hànhchính, đào tạo năng lực chuyên môn, phát triển nguồn nhân lực cũng đượcTổng công ty hết sức chú trọng Tổng công ty đã phối hợp với các tổ chứcgiáo dục mở các lớp đào tạo tại chỗ và tổ chức các buổi hội thảo chuyênngành để nâng cao năng lực của cán bộ nhân viên