Từ đó đưa racác kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác khai thác Nghiệpvụ Bảo Hiểm Hàng Hóa Vận Chuyển Nội Địa tại công ty Bảo Minh ThăngLong.. 1.4 CÔN
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
BẢO MINH THĂNG LONG Chuyên ngành : Tài chính bảo hiểm
Trang 2
BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
-LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI : THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KHAI THÁC HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN NỘI ĐỊA TẠI CÔNG TY
BẢO MINH THĂNG LONG Chuyên ngành : Tài chính bảo hiểm
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ VẬN CHUYỂN NỘI ĐỊA, CÔNG TÁC KHAI THÁC VÀ KÍ KẾT HỢP ĐỒNG
4
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA BẢO HIỂM HÀNG HÓA 4
1.2 TÁC DỤNG CỦA HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN NỘI ĐỊA 6
1.3 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BH HÀNG HOÁ VCNĐ 8
1.3.1 Đối tượng và phạm vi của bảo hiểm hàng hoá vận chuyển nội địa 8
1.3.2 Những chi phí thuộc trách nhiệm bảo hiểm 9
1.3.3 Loại trừ bảo hiểm 10
1.3.4 Thời hạn bảo hiểm 11
1.3.5 Thủ tục mua bảo hiểm, giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm 11
1.3.6 Phí bảo hiểm 13
1.3.7 Nghĩa vụ của người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất 13
1.4 CÔNG TÁC KHAI THÁC HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ VẬN CHUYỂN NỘI ĐỊA 15
1.4.1 Vai trò của công tác khai thác đối với hoạt động kinh doanh BH Hàng Hóa Vận Chuyển Nội Địa 15
1.4.2 Quy trình khai thác 16
Trang 41.4.3 Các kênh khai thác Bảo hiểm Hàng Vận Chuyển Nội Địa 18CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KHAI THÁC BẢO HIỂM
HÀNG HOÁ VẬN CHUYỂN NỘI ĐỊA TẠI BẢO MINH THĂNG LONG
23
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BẢO MINH THĂNG LONG 232.1.1 Tổng Công Ty Cổ Phần Bảo Minh 232.1.2 Công Ty Bảo Minh Thăng Long 252.1.3 Kết quả hoạt động nghiệp vụ BH Hàng Hải của Bảo Minh Thăng Long các năm gần đây 272.2 TÌNH HÌNH KHAI THÁC TẠI BẢO MINH THĂNG LONG 282.2.1 Quy trình khai thác 282.2.2 Những thuận lợi và khó khăn của Bảo Minh Thăng Long trong công tác khai thác Bảo Hiểm Hàng VCNĐ 362.2.3 Đánh giá kết quả khai thác BH Hàng Hoá VCNĐ tại BMTL 392.3 Đánh giá về những mặt còn hạn chế của công tác khai thác Nghiệp vụ
BH Hàng VCNĐ tại BMTL 48CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN NỘI ĐỊA 523.1 MỤC TIÊU TRIỂN KHAI CÔNG TÁC KHAI THÁC CỦA BMTL 523.1.1 Định hướng hoạt động chung 523.1.2 Định hướng hoạt động về nghiệp vụ BH Hàng VCNĐ tại BMTL 533.2 GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KHAI THÁC BH HÀNG VCNĐ TẠI BMTL 533.2.1 Giải pháp chung 533.2.2 Nhóm giải pháp về sản phẩm và phí bảo hiểm 54
Trang 53.2.3 Nhóm giải pháp về kênh phân phối 56
3.2.4 Giải pháp về công tác đánh giá rủi ro 58
3.2.5 Giải pháp về công tác đề phòng hạn chế tổn thất 59
3.2.6 Giải pháp về công tác bồi thường 60
3.2.7 Giải pháp về công tác khách hàng 61
3.2.8 Giải pháp về công tác cán bộ 63
3.2.9 Giải pháp về công tác quản lí 65
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 66
3.3.1 Về phía nhà nước 66
3.3.2 Về phía công ty và Tổng công ty 67
3.3.3 Kiến nghị chung 68 KẾT LUẬN 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 71
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BH : Bảo hiểm
BMTL : Bảo minh Thăng Long
NMBH : Người mua bảo hiểm
GTHH : Giá trị hàng hóa
TCKT : Tài chính kế toán
TLP : Tỷ lệ phí
SAP : Service Advertisting Protocol
STBH : Số tiền bảo hiểm
STBT : Số tiền bồi thường
SGS : Công ty giám định của Thụy Sỹ
VC : Vận chuyển
VCNĐ : Vận chuyển nội địa
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Năm 2012 vừa qua có thể coi là 1 năm nhiều thách thức đối với nềnkinh tế nói chung và ngành bảo hiểm nói riêng, các doanh nghiệp bảo hiểm đãchủ động có những thay đổi đáng kể về quan điểm, chiến lược kinh doanh.Thay vì tăng trưởng nhanh, tăng trưởng bền vững có lẽ sẽ là mục tiêu hàngđầu của các doanh nghiệp bảo hiểm trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến đổi.Với mục tiêu đó, ngành Bảo hiểm vẫn nằm trong top các ngành nghề duy trìtốc độ tăng trưởng tốt nhất tại Việt Nam
Đóng góp một phần không nhỏ vào doanh thu và tốc độ tăng trưởngcủa ngành Bảo Hiểm là Nghiệp Vụ Bảo Hiểm Hàng Hải, trong đó có NghiệpVụ Bảo Hiểm Hàng Hoá Vận Chuyển Nội Địa Nghiệp vụ này vừa là độnglực thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế, vừa là nghiệp vụ quan trọng của mỗiDoanh Nghiệp Bảo Hiểm Vì vậy việc hoàn thiện một cách toàn diện NghiệpVụ Bảo Hiểm Hàng Hoá VCNĐ này là một yêu cầu cấp thiết để nâng caohiệu quả hoạt động của mỗi doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng và toàn ngànhnói chung Mặt khác hàng hóa vận chuyển nội địa thường gặp nhiều rủi ronhư: trách nhiệm của người chuyên chở là rất hạn chế và việc khiếu nại bồithường lại rất khó khăn; bên cạnh đó việc mua bảo hiểm bảo vệ được nhiềulợi ích của doanh nghiệp khi có tổn thất và tạo ra tâm lý an tâm trong kinhdoanh Vì vậy, việc phát triển thị trường bảo hiểm hàng hoá vận chuyển nộiđịa là rất cần thiết
Nhận thức được tầm quan trọng của Nghiệp Vụ Bảo Hiểm Hàng HoáVận Chuyển Nội Địa, nên trong thời gian thực tập ở Phòng Hàng Hải củaCông Ty Bảo Minh Thăng Long em đã tìm hiểu nghiên cứu và chọn đề tài:
Trang 9“Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác khai thác Hợp Đồng Bảo Hiểm Hàng Hoá Vận Chuyển Nội Địa tại Công Ty Bảo Minh Thăng Long”.
2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu.
a Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng và hiệu quả công tác khai thác Hợp đồng Bảo Hiểm HàngHóa Vận Chuyển Nội Địa trong quá trình phát triển của công ty Trong đóchú trọng đến hiệu quả khai thác trong giai đoạn từ 2006 đến 2012
b Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác khai thác Nghiệp vụ BảoHiểm Hàng Hóa Vận Chuyển Nội Địa tại Bảo Minh Thăng Long để rút rađược những so sánh, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn, làm rõ các hạn chếmà công ty còn gặp phải trong quá trình triển khai nghiệp vụ Từ đó đưa racác kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác khai thác Nghiệpvụ Bảo Hiểm Hàng Hóa Vận Chuyển Nội Địa tại công ty Bảo Minh ThăngLong
3 Phạm vi nghiên cứu.
a Thời gian nghiên cứu: Quá trình kinh doanh của Bảo Minh ThăngLong, tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2006 – 2012
b Địa bàn nghiên cứu: Công ty Bảo Minh Thăng Long – Số 2, Giảng Võ,
Ba Đình, Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp ghi chép
Trang 10- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
- Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp bảo hiểm
- Phương pháp so sánh.
5 Kết cấu luận văn tốt nghiệp.
Luận văn tốt nghiệp có kết cấu gồm 3 phần như sau:
Chương 1 Khái quát chung về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển nội địa, công tác khai thác và kí kết hợp đồng.
Chương 2 Thực trạng công tác khai thác Bảo Hiểm Hàng Hoá Vận Chuyển Nội Địa tại Bảo Minh Thăng Long.
Chương 3 Một số kiến nghị đơn vị về công tác khai thác.
Luận văn tốt nghiệp này được hoàn thành là nhờ sự giúp đỡ tận tình củaban giám đốc, các anh chị cán bộ Phòng Hàng Hải của Công ty Bảo MinhThăng Long đã tạo điều kiện cho em tham khảo tài liệu của Công ty Đặc biệthơn nữa là sự hướng dẫn tận tình của TS Trịnh Hữu Hạnh người trực tiếphướng dẫn đề tài, thầy đã giúp em giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quátrình làm luận văn và đi đúng định hướng ban đầu Em cũng xin chân thànhcảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Tài Chính Bảo Hiểm, cũng như các thầy
cô trong trường đã giảng dạy giúp đỡ em trong 4 năm học qua Chính các thầy
cô đã cho em những kiến thức cơ bản và những kiến thức chuyên môn để emhoàn thành tốt luận văn này, cũng như trong công việc của mình sau này Mặc
dù đã rất cố gắng nhưng chuyên đề của em cũng không tránh khỏi nhữngthiếu sót, vì vậy em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo trongbộ môn Bảo hiểm cũng như của cán bộ Phòng Hàng hải thuộc Công ty BảoMinh Thăng Long để luận văn được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ VẬN CHUYỂN NỘI ĐỊA, CÔNG TÁC KHAI THÁC VÀ KÍ KẾT HỢP ĐỒNG.
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA BẢO HIỂM HÀNG HÓA.
- Tại sao phải mua bảo hiểm hàng hoá.
Ngành bảo hiểm đã ra đời do có sự tồn tại khách quan của các rủi ro màcon người không thể khống chế được Nếu có những rủi ro xảy ra mà không
có các khoản bù đắp thiệt hại kịp thời của các nhà bảo hiểm, đặc biệt là nhữngrủi ro mang tính thảm hoạ gây ra tổn thất rất lớn thì chủ phương tiện vậnchuyển và chủ hàng gặp rất nhiều khó khăn về tài chính trong việc khắc phụchậu quả do các rủi ro đó gây ra Vì vậy, sự ra đời và việc tham gia bảo hiểmcho hàng hoá trở thành một nhu cầu rất cần thiết Bên cạnh đó, vận tải hànghoá chịu tác động của điều kiện thiên nhiên như: mưa, bão, lũ lụt, vì quãngđường di chuyển dài lại qua nhiều vùng khí hậu rất khác nhau Các yếu tốthiên nhiên diễn ra không tuân theo một quy luật nhất định nào Vì vậy, mặc
dù khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và có thể dự báo thời tiết nhưng rủi
ro vẫn có thể xảy ra Đặc biệt trong điều kiện thời tiết khí hậu hiện nay cónhiều biến đổi bất thường, các hiện tượng thiên nhiên xảy ra ngày càng nhiều,nhất là các cơn bão nên tổn thất cũng dễ xảy ra hơn
Trong quá trình vận chuyển đôi khi rủi ro tai nạn, đâm va và trục trặc
kỹ thuật do sai sót về phương tiện vận chuyển cũng có thể xảy ra Công táccứu hộ không phải lúc nào cũng kịp thời và nhanh chóng Mặt khác thị trườngvận tải hàng hoá thường rất lớn và nhất là hiện nay số lượng phương tiện vậnchuyển nhiều, đa dạng với trọng tải ngày càng lớn và giá trị hàng hoá ngàycàng cao,cho nên nếu rủi ro xẩy ra tổn thất là khôn lường
Trang 12Người chuyên chở cũng có thể gây ra tổn thất cho hàng hoá do sai sót.Nhưng ở các nước trên thế giới, kể cả việt Nam các doanh nghiệp bảo hiểmđều giới hạn trách nhiệm với trách nhiệm dân sự của người chuyên chở hànghoá Do đó, chủ hàng hoá vận chuyển không thể gánh chịu hết tổn thất khi rủi
ro xảy ra
Để kịp thời khắc phục những rủi ro, tổn thất, một mặt người ta ngàycàng hiện đại hoá, nâng cao chất lượng các phương tiện và đội ngũ người vậnchuyển, mặt khác phải tiêu đến một biện pháp hữu hiệu để giải quyết các thiệthại bằng bù đắp kinh tế, đó là thông qua bảo hiểm - hình thức phân tán rủi rotheo nguyên lý cộng đồng Vì vậy, sự ra đời và việc tham gia bảo hiểm chohàng hoá vận chuyển trở thành một nhu cầu rất cần thiết
- Vai trò của bảo hiểm hàng hoá.
Thứ nhất, giảm bớt rủi ro cho hàng hoá do hạn chế tổn thất nhờ tăng
cường bảo quản kiểm tra đồng thời kết hợp các biện pháp đề phòng và hạn chếtổn thất
Khi đánh giá rủi ro để giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảohiểm sẽ thông báo cho bên mua bảo hiểm những việc làm cần thiết để bảo vệđối tượng bảo hiểm Trong một số trường hợp, những điều kiện đó thuộc dạngđiều kiện cho việc xác lập hợp đồng bào hiểm mà bên mua bảo hiểm luôn phảithực hiện nếu muốn tham gia bảo hiểm Những trường hợp khác, đề xuất củadoanh nghiệp bảo hiểm sẽ liên quan đến việc điều chỉnh phạm vi bảo hiểm,phí bảo hiểm… Các biện pháp doanh nghiệp bảo hiểm có thể áp dụng chonhững trường hợp vi phạm cũng rất nghiêm khắc như là: tăng phí bảo hiểm,đơn phương chấm dứt hợp đồng, thậm chí là không trả tiền bảo hiểm khi thiệthại xảy ra do các biện pháp phòng ngừa đã không thực hiện
Trang 13Thứ hai, khi các công ty có tổn thất hàng hoá xảy ra trong quá trình vận
chuyển sẽ được bồi thường một số tiền nhất định giúp họ bảo toàn được tàichính trong kinh doanh
Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra đã có đủ hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiềnbảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải giải quyết bồi thường, trả tiền bảohiểm đầy đủ theo thoả thuận của hợp đồng bảo hiểm Nếu doanh nghiệp chậmtrễ trong bồi thường, trả tiền bảo hiểm sẽ phải trả cả lãi đối với số tiền chậmtrả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân Hàng Nhà Nước quy định tại thời điểmtrả tiền, tương ứng với thời gian chậm trả
Thứ ba, thúc đẩy nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa cũng như ngành bảo
hiểm trong nước phát triển, góp phần tạo việc làm tăng thu nhập cho ngườidân, tăng thu cho ngân sách nhà nước
1.2 TÁC DỤNG CỦA HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN NỘI ĐỊA.
BH hàng hóa vận chuyển nội địa là nghiệp vụ BH gắn liền với quá trìnhvận chuyển hàng hóa nội địa Nó có ý nghĩa rất to lớn đối với đời sống kinh tế
xã hội:
Trước hết, BH hàng hóa vận chuyển nội địa nhằm khắc phục hậu quả
tài chính của rủi ro: Hoạt động kinh doanh có thể đem lại lợi nhuận khổng lồcho các thương gia nhưng khi rủi ro tổn thất xảy ra đối với hàng hóa thì họ sẽgặp phải khó khăn rất lớn về tài chính mà đôi khi bản thân họ không thể tựgánh chịu được Rủi ro có thể mang lại những thiệt hại tài chính bất thườngcho các cá nhân, tổ chức Khi có thiệt hại về tài sản, các cá nhân và tổ chứcrất cần đến nguồn tài chính kịp thời để bù đắp thiệt hại, lấy lại sự ổn định tàichính Như vậy, khi tham gia BH hàng hóa vận chuyển nội địa, người thamgia BH sẽ có được sự bảo đảm cho hàng hóa là tài sản của mình, nhờ đó mà
Trang 14họ có được trạng thái an toàn về tinh thần, giảm bớt âu lo, tạo tâm lí ổn định,kích thích mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh.
Thứ hai, BH hàng hóa vận chuyển nội địa tạo điều kiện cho các nhà BH
thường xuyên nghiên cứu rủi ro, thống kê tổn thất, tìm kiếm các biện phápphòng tránh, giảm thiểu tổn thất đồng thời phát triển các dịch vụ cứu trợ, phốihợp với khách hàng tổ chức thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo vệhàng hóa trong quá trình vận chuyển là đối tượng BH góp phần giảm thiểu rủi
ro, tốn kém cho toàn thể cộng đồng
Thứ ba, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa ra đời góp phần tạo nên
công ăn việc làm cho xã hội Cùng với các nghiệp vụ BH khác trên thị trường,
BH hàng hóa vận chuyển nội địa đã thu hút một lực lượng lớn lao động làmviệc tại các công ty BH, doanh nghiệp môi giới BH, mạng lưới đại lí BH vàcác nghề liên quan như giám định tổn thất, định giá tài sản …
Thứ tư, hoạt động kinh doanh BH hàng hóa vận chuyển nội địa phát
triển sẽ tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, tăng nguồn vốn đầu tư vàonền kinh tế
Ngoài ra, từ những kết quả thu được từ nghiệp vụ Bh hàng hóa vận chuyểnnội địa, các doanh nghiệp BH có điều kiện thực hiện các hoạt động xã hội nhưtừ thiện, hoạt động công ích … góp phần thực hiện công bằng xã hội, nângcao đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng và toàn xã hội
Như vậy, trong nền kinh tế đất nước, vai trò của vận chuyển hàng hóanội địa quan trọng bao nhiêu thì BH hàng hóa vận chuyển nội địa càng quantrọng bấy nhiêu Điều này ngày càng được chứng minh qua những kết quả và
ý nghĩa mà BH mang lại trong thời gian qua
Đối với người thuê vận chuyển hàng hóa và công ty vận chuyển thìmua bảo hiểm là một giải pháp an toàn Đối với công ty vận tải: khi mua bảo
Trang 15hiểm trách nhiệm dân sự hàng hóa trên xe (loại bảo hiểm áp dụng đối với xekinh doanh vận tải hàng hóa) Trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm, công tybảo hiểm sẽ thanh toán cho công ty vận tải số tiền mà công ty vận tải số tiềnmà công ty phải bồi thường theo quy định đối với những thiệt hại về hàng hóavận chuyển trên xe hoạt động kinh doanh vận tải trong lãnh thổ Việt Nam.Đồng thời, công ty bảo hiểm còn thanh toán cho công ty vận tải chi phí cầnthiết và hợp lí nhằm ngăn ngừa và hạn chế tổn thất hàng hóa, chi phí giámđịnh tổn thất hàng hóa, chi phí bảo quản, bốc dỡ hàng hóa, chi phí lưu khotrong quá trình vận chuyển khi xe bị tai nạn.
Đối với người thuê vận chuyển: nên mua BH hàng hóa vận chuyểntrong lãnh thổ Việt Nam, Khi có rủi ro xảy ra với hàng hóa vận chuyển củamình thì công ty bảo hiểm sẽ có trách nhiệm bồi thường cho những mất mátvà thiệt hại đó, Chi phí bỏ ra cho việc mua bảo hiểm là rất nhỏ so với giá trịmột lô hàng nhưng đem đến một sự an tâm cho người cho thuê vận chuyển
1.3 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BH HÀNG HOÁ VCNĐ.
1.3.1 Đối tượng và phạm vi của bảo hiểm hàng hoá vận chuyển nội địa.
1.3.1.1 Đối tượng.
Đối tượng của Bảo Hiểm Hàng Hoá vận chuyển trong lãnh thổ ViệtNam là hàng hoá các loại được vận chuyển bằng đường bộ, đường sắt vàđường thuỷ với tuyến hành trình như sau:
- Thuộc phạm vi lãnh thổ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa ViệtNam;
- Từ Việt Nam đi các nước lân cận;
- Từ nước ngoài được quá cảnh ở Việt Nam để sang các nước khác
Trang 16(Các nước lân cận như Lào, Campuchia, và các cảng phía nam Trung Quốcnhư: càng Phòng Thành, cảng Kì Xá, cảng Bắc Hải, và các cảng thuộc đảoHải Nam…)
Do đối tượng là hàng hoá vận chuyển cho nên ngoài hàng hoá còn cócác chi phí liên quan đến quá trình vận chuyển cũng được bảo hiểm như cướcphí vận tải, phí bảo hiểm, lãi ước tính nếu có
1.3.1.2 Phạm vi.
Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển nội địa bảo hiểm cho các rủi ro đượcgây ra trực tiếp từ một trong những nguyên nhân sau:
a Cháy hoặc nổ
b Động đất, bão lụt, gió lốc, sóng thần và sét đánh
c Phương tiện vận chuyển bị đắm, bị lật đổ, bị rơi, mắc cạn, đâm va nhauhoặc đâm va vào vật thể khác hay bị trật bánh
d Cây gãy đổ, cầu cống, đường hầm và các công trình kiến trúc khác bịsập đổ
e Phương tiện chở hàng bị mất tích
f Hy sinh tổn thất chung
1.3.2 Những chi phí thuộc trách nhiệm bảo hiểm.
Trường hợp xảy ra tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm, người bảo hiểm còn phải chịu trách nhiệm đối với các chi phí sau đây:
- Chi phí hợp lí do người được bảo hiểm, người làm công hay đại lí của họ chi nhằm phòng tránh hoặc giảm nhẹ tổn thất cho hàng hoá được bảo hiểm
- Chi phí hợp lí cho việc dỡ hàng, lưu kho và gửi tiếp hàng hoá được bảo hiểm tại một nơi dọc đường đi do hậu quả của rủi ro thuộc phạm vi, trách nhiệm bảo hiểm
Trang 17- Những chi phí hợp lí cho việc giám định và xác định tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm.
- Chi phí tổn thất chung và chi phí cứu hộ
1.3.3 Loại trừ bảo hiểm.
Trừ khi có thoả thuận khác, người bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệmđối với những mất mát, hư hỏng hay chi phí gây ra bởi:
a Chiến tranh, đình công, nội chiến, cách mạng, khởi nghĩa, phản loạnhoặc quần chúng nổi dậy, cướp, mìn, thuỷ lôi, bom hoặc các dụng cụchiến tranh khác
b Hậu quả trực tiếp hay gián tiếp của phóng xạ hay nhiễm phóng xạ phátsinh từ việc sử dụng năng lượng điện tử, hạt nhân và/ hoặc phản ứnghạt nhân, phóng xạ tương tự
c Hành động xấu, cố ý hay hành vi phạm pháp của người được bảo hiểmhay người làm công cho họ
d Những mất mát, hư hỏng hay chi phí do khuyết tật vốn có hoặc do tínhchất đặc thù của loại hàng hoá được bảo hiểm
e Xếp hàng quá tải hoặc sai quy cách an toàn về hàng hoá gây nguy hiểmtrong trường hợp người được bảo hiểm và người làm công của họ biếtđược tình trạng này
f Đóng gói sai quy cách, bao bì không thích hợp hoặc hàng bị hỏng trướckhi xếp lên phương tiện vận chuyển
g Rò chảy thông thường, hao hụt trọng lượng hay giảm thể tích thôngthường của hàng hoá được bảo hiểm trong quá trình vận chuyển (baogồm cả việc xếp hàng vào container)
h Phương tiện vận chuyển không đủ khả năng lưu hành, không đảm bảo
an toàn giao thông
Trang 18i Những mất mát, hư hỏng hoặc chi phí có nguyên nhân trực tiếp dochậm trễ, dù chậm trễ đó do một rủi ro được bảo hiểm gây ra.
1.3.4 Thời hạn bảo hiểm.
Trách nhiệm bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực từ khi hàng hoá được xếp lênphương tiện chuyên chở tại địa điểm xuất phát ghi trong hợp đồng bảo hiểmđể bắt đầu vận chuyển, trách nhiệm này tiếp tục có hiệu lực trong suốt quátrình vận chuyển bình thường và kết thúc vào lúc hàng hoá được dỡ khỏiphương tiện chuyên chở tại nơi đến ghi trong hợp đồng bảo hiểm
Trong quá trình chuyên chở nếu vì những lí do được bảo hiểm nói trênmà phải chuyển tải, thay đổi hành trình thì bảo hiểm này vẫn giữ nguyên hiệulực nếu người bảo hiểm thông báo ngay cho người bảo hiểm biết về việc xảy
ra hoặc thay đổi đó và phải trả thêm phí bảo hiểm trong trường hợp cần thiết
1.3.5 Thủ tục mua bảo hiểm, giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm.
1.3.5.1 Thủ tục mua bảo hiểm.
Khi có nhu cầu bảo hiểm, người mua bảo hiểm phải làm một giấy yêucầu bảo hiểm trong đó ghi rõ:
- Tên người được bảo hiểm
- Tên hàng hoá, loại bao bì, cách đóng gói và kĩ mã hiệu của hàng hoáđược đóng gói
- Trọng lượng, số lượng hàng hoá và giá trị hàng hoá được bảo hiểm
- Hành trình vận chuyển (nơi đi, nơi đến và nơi chuyển tải nếu có)
- Tên chủ phương tiện vận chuyển, loại phương tiện và số đăng kí củacác phương tiện vận tải đó
- Ngày tháng phương tiện khởi hành và dự đoán ngày đến
Người bảo hiểm sẽ căn cứ vào giấy yêu cầu để cấp “Giấy chứng nhận bảohiểm” Người được bảo hiểm phải thanh toán phí bảo hiểm cho Người bảo
Trang 19hiểm ngay khi nhận được Giấy chứng nhận bảo hiểm Bảo hiểm chỉ có hiệulực khi đã nộp phí bảo hiểm đầy đủ.
Nếu sau khi hợp đồng bảo hiểm được kí kết mà có bất kì thay đổi nàovề những thông tin đã cung cấp liên quan đến lô hàng được bảo hiểm thìngười được bảo hiểm có trách nhiệm thông báo cho người bảo hiểm biết ngaykhi họ được biết sự thay đổi đó Người bảo hiểm sẽ cấp Giấy sửa đổi bổ sungvà có thể yêu cầu người được bảo hiểm trả thêm phí bảo hiểm
Nếu người được bảo hiểm cố tình khai báo sai, giấu diếm hay gian dốithì người bảo hiểm được miễn trách nhiệm đã quy định theo hợp đồng bảohiểm, nhưng vẫn được quyền thu phí bảo hiểm
Giấy chứng nhận bảo hiểm có thể thay thế hợp đồng bảo hiểm và có thểchuyển nhượng cho một người khác bằng cách người được bảo hiểm hayngười có quyền thay mặt họ ký hậu ở mặt sau
1.3.5.2 Giá trị bảo hiểm.
Giá trị bảo hiểm là giá trị của hàng hoá (được kê khai trên hoá đơn)cộng với cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm Giá trị bảo hiểm có thể gồmcả lãi ước tính, nhưng theo quy định của Việt Nam, khoản lãi ước tính nàykhông lớn hơn 10% trị giá bảo hiểm
Như vậy giá trị bảo hiểm có thể là giá CIF hoặc giá CIF cộng với lãiước tính
1.3.5.3 Số tiền bảo hiểm.
Số tiền bảo hiểm là một phần hoặc toàn bộ giá trị bảo hiểm, tức là bằnghoặc nhỏ hơn giá trị bảo hiểm
Khi mua bảo hiểm, nếu số tiền bảo hiểm bằng giá trị bảo hiểm, thì gọilà mua bảo hiểm đúng giá trị, khi bồi thường tổn thất (do rủi ro bảo hiểm gâyra) bao nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu
Trang 20Nếu số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểm thì gọi là mua bảo hiểmdưới giá trị, khi bồi thường người bảo hiểm sẽ căn cứ vào tỉ lệ giữa số tiềnbảo hiểm với giá trị bảo hiểm.
Nếu số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm thì phần lớn hơn đókhông được thừa nhận, không được bồi thường dù có thu phí bảo hiểm
1.3.6 Phí bảo hiểm.
Có 3 loại phí:
- Phí tham khảo do bộ tài chính quy định
- Phí thông lệ: thông thường lấy theo mức phí của hợp đồng trước đó
- Phí cạnh tranh: dựa trên sự chào phí cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảohiểm
Cách tính phí: Phí bảo hiểm = Tỷ lệ phí x STBH
1.3.7 Nghĩa vụ của người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất.
Khi xảy ra tổn thất cho hàng hoá thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm,người được bảo hiểm hay người làm công cho họ, hoặc đại diện của họ phải:
Thứ nhất, khai báo ngay với cơ quan chức trách địa phương để xử lý và
lập biên bản theo luật lệ hiện hành
Cơ quan chức trách địa phương là chính quyền nơi xảy ra sự cố bảohiểm, tức là nơi hàng hoá gặp rủi ro tổn thất Tuỳ từng trường hợp mà tiếnhành lập các biên bản cần thiết:
+ Trường hợp hàng hư đổ vỡ thì lập biên bản hàng hư hỏng đổ vỡ…+ Trường hợp hàng mất mát thiếu hụt thì lập biên bản hàng mất mátthiếu hụt…
Thứ hai, thông báo ngay cho người bảo hiểm hoặc đại diện cho họ tại
địa phương gần nhất đến giám định trong thời gian sớm nhất
Trang 21Về nguyên tắc, khi có sự cố bảo hiểm xảy ra, phải thông báo ngay chocông ty bảo hiểm biết và yêu cầu họ đến giám định Trong trường hợp ngườibảo hiểm không đến giám định và không chỉ định một người giám định cụ thểthì chủ hàng có thể mời một tổ chức giám định hợp pháp như Vinacontrol,SGS…giám định.
Thứ ba, áp dụng mọi biện pháp cần thiết để cứu chữa và bảo quản hàng
hoá nhằm hạn chế tổn thất
Khi có sự cố bảo hiểm xảy ra, trong khả năng của mình, người đượcbảo hiểm phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết để cứu chữa, bảo quản hànghoá để tổn thất đã xảy ra không xảy ra lớn hơn Các chi phí hợp lí do ngườiđược bảo hiểm bỏ ra nhằm hạn chế tổn thất thuộc trách nhiệm của người bảohiểm đều được người bảo hiểm bồi thường
Ngược lại, trong khả năng có thể của mình, người được bảo hiểm lạikhông hành động gì, hoặc không áp dụng mọi biện pháp cần thiết để cứuchữa, bảo quản hàng hoá thì người bảo hiểm có quyền từ chối bồi thường, dùtổn thất là do một rủi ro được bảo hiểm gây ra
Thứ tư, làm các thủ tục cần thiết để bảo lưu quyền đòi bồi thường đối
với người chuyên chở hay người thứ 3 khác có trách nhiệm đối với tổn thất,mất mát hàng hoá trong tai nạn ấy:
Trong trường hợp tổn thất hàng hoá thuộc trách nhiệm của người bảohiểm nhưng cũng thuộc trách nhiệm của người thứ ba thì người được bảohiểm có thể tiến hành đòi người bảo hiểm bồi thường nhưng phải làm các thủtục bảo lưu quyền đòi bồi thường của mình đối với người thứ ba để sau khi đãbồi thường cho người được bảo hiểm thì người bảo hiểm sẽ thế quyền ngườiđược bảo hiểm đòi lại người thứ ba Nếu người được bảo hiểm không bảo lưuđược quyền đòi bồi thường của mình đối với người thứ ba thì cũng mất quyềnđòi bồi thường đối với người bảo hiểm
Trang 221.4 CÔNG TÁC KHAI THÁC HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ VẬN CHUYỂN NỘI ĐỊA.
1.4.1 Vai trò của công tác khai thác đối với hoạt động kinh doanh BH Hàng Hóa Vận Chuyển Nội Địa.
Thị trường bảo hiểm ngày càng trở nên sôi động, các doanh nghiệp bảohiểm đang cạnh tranh nhau gay gắt để giành được nhiều thị phần bảo hiểmhơn Vì vậy, doanh nghiệp bảo hiểm nào cũng chú trọng vào khâu khai thác,nâng cao hiệu quả của hoạt động khai thác Bởi lẽ, khai thác là khâu quantrọng nhất, là khâu đầu tiên của một nghiệp vụ bảo hiểm, không có khai thácthì không có các khâu tiếp theo Khai thác có ý nghĩa quyết định đến sự thànhbại của một nghiệp vụ bảo hiểm nói riêng và của toàn doanh nghiệp bảo hiểmnói chung
Công tác bảo hiểm thể hiện chất lượng của dịch vụ bảo hiểm, từ đó thuhút khách hàng, giới thiệu với khách hàng sản phẩm của mình Bởi vì bảohiểm là một sản phẩm vô hình, nếu không giải thích cặn kẽ, giới thiệu vớikhách hàng cụ thể và chi tiết thì khách hàng không thể hiểu, nắm bắt và cónhu cầu tham gia bảo hiểm Mặt khác, nếu trong khâu khai thác không phântích, đánh giá rõ ràng về các rủi ro có thể xảy ra thì rất dễ dẫn đến tranh chấp.Như vậy, khai thác không chỉ là sự “vận động tuyên truyền” mua bảo hiểm,mà còn có mối quan hệ nhân quả với các khâu tiếp theo trong nghiệp vụ bảohiểm
Khai thác bảo hiểm được coi là đầu vào cho hoạt động sản xuất tạo ralợi thế thương mại cuối cùng cho doanh nghiệp, nó quyết định đến sự sốngcòn của doanh nghiệp Doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh dịch vụ tài chínhkhông có hoạt động sản xuất cho nên họ chủ yếu tập trung vào khai thác thịtrường Nếu công ty khai thác tốt tức là bán được nhiều hợp đồng bảo hiểm,
Trang 23mang lại doanh thu lớn sẽ là cơ sở để tăng lợi nhuận, chiếm lĩnh thị trường,nâng cao vị thế của mình trên thị trường bảo hiểm Công việc khai thác càngtrở nên khó khăn hơn trong điều kiện thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.Chính vì tính chất quan trọng của khâu khai thác mà hầu hết các doanh nghiệpbảo hiểm phải tập trung đẩy mạnh chiến lược khai thác hơn nữa.
1.4.2 Quy trình khai thác.
Tiếp cận khách hàng – Điều tra rủi ro và chào phí – Ký hợp đồng và cấp đơn bảo hiểm – cấp sửa đổi bổ sung (nếu có) – Quản lý dịch vụ sau bán hàng – Quay trở lại từ đầu quy trình
1.4.2.1 Tiếp cận khách hàng
- Tiếp cận khách hàng
Nguồn khách hàng: Các đơn vị sản xuất, mua bán, vận chuyển hàng hóa,…Thu thập thông tin khách hàng
Tên đơn vị
Địa chỉ, điện thoại, fax, email
Ngành nghề kinh doanh, thời gian hoạt động, tình hình tài chính
Mặt hàng, kim ngạch mua bán hàng hóa
Người liên hệ trực tiếp
Đã tham gia bảo hiểm hàng hóa ở đâu chưa? Đăng ký bảo hiểm và tỷ lệ phínhư thế nào?
- Giới thiệu sản phẩm
Gặp gỡ khách hàng, giới thiệu về sản phẩm cụ thể phù hợp với nhu cầu của khách hang
Trang 241.4.2.2 Điều tra rủi ro và chào phí
- Điều tra rủi ro
Nội dung: Bao gồm các thông tin:
Loại hàng hóa? Đã qua sử dụng hay chưa?
Phương thức đóng gói?
Phương thức vận chuyển?
Tuyến vận chuyển?
Giá trị tối đa/phương tiện vận chuyển? Số lượng hàng hoá VC/năm?
Bảo hiểm theo điều kiện A, B hay C?
Lịch sử tổn thất (nếu có)?
- Chào phí bảo hiểm
+ Hình thức: Bản chào phí
Phí chính: Theo loại hàng và điều khoản bảo hiểm
Phụ phí theo điều khoản bổ sung (VD: chuyền tải, xếp dỡ…)
+ Tra cứu biểu phí
Bước 1: Xác định loại hình bảo hiểm
Bước 2: Xác định phương thức vận chuyển
Bước 3: Xác định điều kiện bảo hiểm và phương thức đóng gói
Bước 4: Xác định mặt hàng và tỷ lệ phí chính
Bước 5: Xác định tỷ lệ phụ phí
Bước 6: Xác định tổng các tỷ lệ
Trang 251.4.2.3 Ký hợp đồng và cấp đơn bảo hiểm
- Yêu cầu bảo hiểm
Để được bảo hiểm cho từng chuyến hàng cụ thể, khách hàng phải gửi yêu cầu bảo hiểm:
+ Cách 1: Điền đầy đủ thông tin vào Giấy yêu cầu bảo hiểm, ký tên, đóng dấu gửi người bảo hiểm
+ Cách 2: Fax bộ hồ sơ lô hàng gồm Hợp đồng mua bán, hóa đơn, vận đơn hoặc hợp đồng vận chuyển cho người bảo hiểm (chỉ áp dụng với hợp đồng bao)
- Cấp đơn bảo hiểm
+ Đơn bảo hiểm phải được cấp từ phần mềm quản lý nghiệp vụ trừ trường hợp đường truyền gián đoạn
+ Đơn bảo hiểm không được cấp lùi ngày
+ Đơn xuất khẩu phải ghi thông tin bằng tiếng Anh
1.4.2.4 Cấp sửa đổi, bổ sung (nếu có)
- Sử dụng mẫu sửa đổi bổ sung của Công ty
- Sửa đổi thông tin:
+ Theo yêu cầu của khách hàng hoặc sai sót của khai thác viên khi cấp đơn+ Ghi đầy đủ thông tin cũ và thông tin sửa đổi lại
1.4.3 Các kênh khai thác Bảo hiểm Hàng Vận Chuyển Nội Địa.
1.4.3.1 Hệ thống đại lí chuyên nghiệp
Đây là kênh phân phối truyền thống của các doanh nghiệp bảo hiểm,trong đó đại lí bảo hiểm là các tổ chức hoặc cá nhân được doanh nghiệp uỷ
Trang 26quyền trên cơ sở hợp đồng đại lí bảo hiểm để thực hiện các hoạt động đại líbảo hiểm như giới thiệu, chào bán bảo hiểm, thu xếp việc giao kết hợpđồng… theo luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luậ cóliên quan.
Đại lí tổ chức thường có đầy đủ chính sách, các bộ phận để duy trì hoạtđộng, tìm kiếm doanh số cho công ty Bên cạnh đó, thông qua đại lí bảo hiểmdoanh nghiệp còn được tiếp xúc với số lượng lớn khách hàng giúp doanhnghiệp tiết kiệm chi phí, tiết kiệm thời gian khi liên hệ với khách hàng Đại lívừa am hiểu tình hình thực tế, đặc điểm của khách hàng vừa có hiểu biết vềcông ty bảo hiểm, luật pháp và những điều khoản trong hợp đồng Sự thamgia trung gian này vào quá trình bảo hiểm là góp phận cải thiện chất lượnghợp đồng, kéo khách hàng và công ty bảo hiểm xích lại gần nhau hơn
1.4.3.2 Môi giới
Môi giới bảo hiểm là một nhà môi giới độc lập, là người tìm kiếm cáckhoản bảo hiểm với mức giá tốt nhất cho khách hàng của họ nhà môi giớibảo hiểm không làm việc cho công ty bảo hiểm mà cho những người mua cácsản phẩm bảo hiểm
Các nhà môi giới bảo hiểm có khả năng duy trì các mối quan hệ lâu dàivới các khách hàng hơn so với các khách hàng hơn các kênh khác, do kiếnthức chuyên môn và sự tiếp xúc với khách hàng nhiều hơn hẳn các kênh khác,đạt được sự tin tưởng của khách hàng Chính vì vậy, thông qua một hệ thốngmôi giới tốt các công ty bảo hiểm sẽ duy trì được mối quan hệ tốt và bền vữngvới khách hàng, đồng thời nâng cao uy tín của doanh nghiệp bảo hiểm
Nhưng trái lại, khai thác bảo hiểm qua kênh này doanh nghiệp bảohiểm sẽ không được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nếu không có sự đồng ýcủa người môi giới Các doanh nghiệp bảo hiểm do muốn lấy thông tin khách
Trang 27hàng hoặc muốn cạnh tranh không lành mạnh với các công ty khác, chiếm lấykhách hàng có thể chi trả hoa hồng cao hơn cho môi giới để họ tư vấn chokhách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp mình Điều này không chỉ gâyhại cho khách hàng mà còn dẫn đến việc các công ty chi trả hoa hồng ở mứccao hơn so với luật định.
1.4.3.3 Kênh trực tiếp
Các sản phẩm bảo hiểm được phân phối bởi các công ty bảo hiểmkhông qua các trung gian, bằng cách sử dụng các biện pháp marketing trựctiếp như chính đội ngũ nhân viên trong doanh nghiệp hay qua điện thoại,internet hoặc email
Kênh phân phối này có ưu điểm với lực lượng bán hàng có kinhnghiệm và sự am hiểu đối với các sản phẩm bảo hiểm tạo được sự tin tưởngcho khách hàng khi mua trực tiếp tại công ty bảo hiểm và giảm bớt gánh nặngtiền hoa hồng Việc mua sản phẩm bảo hiểm thông qua kênh online có đặcđiểm chung là khách hàng có thể tiếp cận các thông tin về các sản phẩm mộtcách nhanh nhất và nhiều nhất Thông qua kênh này doanh nghiệp sẽ đa dạngđược các gói sản phẩm với mức phí hợp lí hơn, giảm chi phí bán hàng và tiếpthị Điều này mang lại nhiều sự lựa chọn cho khách hàng
Bên cạnh đó, khai thác qua kênh trực tiếp tạo khó khăn cho doanhnghiệp trong việc mở rộng thị phần vì kênh phân phối này thường được thựchiện tại một nơi giao dịch cố định như trụ sở hoặc chi nhánh công ty Khaithác qua kênh online còn có một nhược điểm là thiếu sự tương tác trực tiếpgiữa bên bán bảo hiểm và bên mua bảo hiểm Chỉ áp dụng được đối với cácsản phẩm bảo hiểm đơn giản, có giá trị thấp, chưa mở rộng cho các sản phẩmphức tạp và chưa có sự đa dạng hoá sản phẩm Bên cạnh đó ý thức của người
Trang 28dân qua kênh khai thác này còn rất thấp vì đã có một thời gian dài quen vớikênh phân phối truyền thống như đại lí hoặc môi giới.
1.4.3.4 Kênh phân phối qua ngân hàng (Bancassurance).
Các ngân hàng và các công ty bảo hiểm đã nhận ra rằng Bancassurancelà một kênh phân phối có thể giúp họ đạt được tính hiệu quả theo quy mô vàgia tăng doanh thu của họ một cách nhanh chóng trong thế kỉ 21
Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm đây là một công cụ để mở rộng thịphần, gia tăng doanh số, tiết kiệm chi phí bán hàng và giảm được chi phí phânphối sản phẩm Bancassurance còn tạo ra nguồn khách hàng mới, cơ hội chocác sản phẩm mới cho công ty bảo hiểm và giảm bớt sự phụ thuộc vào hệthống đại lí và môi giới
Ngoài những ưu điểm trên, kênh khai thác này cũng có một số hạn chế.Hiện nay cơ sở vật chất của ngân hàng còn rất hạn chế, do vậy việc bố trí mộtvị trí riêng thích hợp tại ngân hàng cho nhân viên bảo hiểm hoạt động thườngtrực để tiếp xúc với những khách hàng có nhu cầu là rất khó khăn Tính minhbạch trong tài chính của các ngân hàng còn kém, điều này tạo trở ngại lớntrong việc chia sẻ dữ liệu khách hàng giữa ngân hàng với công ty bảo hiểm
1.4.3.5 Kênh phân phối qua hệ thống dịch vụ Logistic.
Dịch vụ logistic là hoạt động thương mại theo đó thương nhân tổ chứcthực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho,lưu bãi, các thủ tục hải quan, cái thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng,đóng gói bao bì, ghi mã kí hiệu, giao hàng hoặc dịch vụ khác liên quan đếnhàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao Các dịch vụlogistic liên quan đến vận tải như dịch vụ vận tải hàng hải, vận tải đường sắt,đường bộ, đường hàng không, đường thuỷ…
Trang 29Dịch vụ này tuy mới ở Việt Nam nhưng đang hoạt động rất mạnh mẽ,đặc biệt là thị trường nội địa Sự “bắt tay” giữa các doanh nghiệp logistic vàdoanh nghiệp bảo hiểm sẽ tạo điều kiện để khai thác tối đa lợi ích giữa cá bên.Về phía khách hàng sẽ được đảm bảo sự an toàn cho hàng hoá về thủ tục cũngnhư trong quá trình vận chuyển Về phía doanh nghiệp bảo hiểm sẽ giảmđược các chi phí tìm kiếm khách hàng, Tận dụng được nguồn khách hàngrộng lớn và đa dạng của các doanh nghiệp logistic Còn về phía các doanhnghiệp logistic sẽ giảm bớt gánh nặng về tài chính phải bù đắp khi rủi ro xảy
ra Nhưng trái lại chi phí cho dịch vụ khai thác qua kênh này cũng rất cao
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KHAI THÁC BẢO HIỂM HÀNG HOÁ VẬN CHUYỂN NỘI ĐỊA TẠI BẢO MINH THĂNG LONG.
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BẢO MINH THĂNG LONG.
2.1.1 Tổng Công Ty Cổ Phần Bảo Minh.
Công ty bảo hiểm Thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh) được thành lậptheo quyết định số 1164TC/TCCB ngày 28/11/1994 và được phép hoạt độngtheo giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động kinh doanh bảohiểm số 04TC/GCN ngày 20/12/1994 của Bộ tài chính với 100% vốn nhànước trực thuộc bộ tài Bộ tài chính
Ngày 08/09/2004 Bộ tài chính đã có quyết định số 27GP/KDBH vềviệc thành lập Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh dưới hình thức chuyển đổiCông ty bảo hiểm Thành Phố Hồ Chí Minh từ doanh nghiệp Nhà nước thànhtổng công ty cổ phần Tổng công ty cổ phần Bảo Minh chính thức đi vào hoạtđộng kinh doanh theo mô hình công ty cổ phần ngày 01/10/2004
- Trụ sử chính: 26 Tôn Thất Đạm, quận 1, TP Hồ Chí Minh
Vốn điều lệ công ty cho đến nay là 1.100 tỷ đồng (đã góp 755 tỷ
đồng) Trong đó: Tổng Công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước
Trang 31(SCIC) nắm giữ 50,70%; Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm AXA (PHÁP) nắmgiữ 16,55%.
2.1.1.2 Tổ chức hoạt động.
- Mạng lưới hoạt động:
+ 59 công ty thành viên/550 Phòng giao dịch, khai thác trải đều trêntoàn quốc
+ 01 Trung tâm đào tạo chuyên biệt tại TP HCM
+ 18 Ban/Trung tâm chức năng thuộc Trụ sở chính
- Nhân sự:
+ 1.800 CBNV (48% là Nữ)
+ 4.000 Đại lý chuyên nghiệp
2.1.1.3 Đặc điểm kinh doanh.
- Lĩnh vực kinh doanh chính: Bảo hiểm phi nhân thọ và đầu tư tài chính
- Hoạt động kinh doanh chính của tổng công ty:
+ Kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
+ Kinh doanh tái bảo hiểm phi nhân thọ
+ Đầu tư tài chính
+ Giám định tổn thất
+ Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật
- Tôn chỉ hoạt động: Sự an toàn, hạnh phúc, thành đạt của khách hàng và
xã hội là mục tiêu hoạt động của chúng tôi
- Khẩu hiệu hoạt động: " Bảo Minh - Tận tình phục vụ"
Trang 32- Nguyên tắc hoạt động: Hiệu quả và phát triển bền vững.
- Tầm nhìn chiến lược: Luôn là một trong những doanh nghiệp bảo hiểmphi nhân thọ hàng đầu tại Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực kinh doanhdịch vụ tài chính, bảo hiểm
- Sứ mệnh hoạt động:
+ Mang lại sự an toàn, ổn định của nền kinh tế - xã hội
+ Góp phần thúc đẩy sự phát triển vững mạnh của thị trường bảo hiểmViệt Nam
+ Mang lại lợi ích cho các cổ đông và góp phần giải quyết công ăn việclàm cho người dân
2.1.2 Công Ty Bảo Minh Thăng Long.
Tổng công ty cổ phần Bảo Minh bao gồm 59 công ty ở hầu hết các tỉnhthành trong cả nước Trong đó có công ty Bảo Minh Thăng Long
Bảo Minh Thăng Long thành lập ngày 05/05/2006 - Quyết định số 27C/KDBH ngày 05/05/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính trên cở sở chia tách bộmáy từ Bảo Minh Hà Nội Khi mới thành lập BMTL chưa hoàn thiện về bộmáy tổ chức nhưng trong một thời gian ngắn Công ty đã xây dựng được mộtbộ máy với cơ cấu tổ chức hoàn thiện Bảo Minh Thăng Long được Tổngcông ty giao nhiệm vụ kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm, đầu tư vốn và cácdịch vụ liên quan đến bảo hiểm theo đúng Pháp luật hiện hành và phân cấpcủa Tổng công ty BMTL chịu sự quản lí của tổng công ty với tư cách là chủ
sở hữu, có trách nhiệm hạch toán phụ thuộc, có con dấu riêng, được mở tàikhoản bằng tiền Việt Nam và ngoại tệ tại các ngân hàng trong nước.Tổ chứcbộ máy của công ty bao gồm: Giám đốc, các Phó Giám Đốc, các Phòng quản
lý và nghiệp vụ, các Phòng khai thác khu vực
Trang 33- Các phòng quản lý bao gồm: Phòng tổng hợp và phòng tài chính kế toán.
- Các phòng nghiệp vụ bao gồm phòng bảo hiểm Xe cơ giới, phòng bảohiểm Con người phi nhân thọ, phòng bảo hiểm Hàng hải và phòng bảo hiểmTài sản – Kĩ thuật
- Các phòng khai thác bảo hiểm bao gồm 09 phòng: phòng khai thác số 22,phòng khai thác số 24, phòng khai thác số 25, phòng khai thác số 26, phòngkhai thác số 28, phòng khai thác số 29 và phòng khai thác số 30
- Ban Giám Đốc bao gồm 01 giám đốc và 02 phó giám đốc
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Công ty Bảo Minh Thăng Long.
Phòng khai thác nghiệp vụnghiệp vụPhòng Phòng
Phòng tổng hợp
Phòng
BH hàng hải
Phòng
BH Con người
Phòng
BH Con người
Các phòng khai thác khu vực
Phòng TS& KT
Phòng TS& KT
Trang 342.1.3 Kết quả hoạt động nghiệp vụ BH Hàng Hải của Bảo Minh Thăng Long các năm gần đây.
2.1.3.1 Đánh giá kết quả kinh doanh theo nhóm nghiệp vụ.
Bảng 2.1 Kết quả doanh thu nhóm nghiệp vụ hàng hóa
Đơn vị tính: Trđ
Nhìn chung nhóm nghiệp vụ BH Hàng Hải vẫn là nhóm đóng góp
tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu toàn Công Ty, tuy nhiên có sự sụt giảm khá lớn doanh thu trong 2 năm 2010 và 2011 Với doanh thu đạt được năm 2009 là 47.285 triệu đồng nghiệp vụ BH Hàng Hải năm 2010 đã sụt giảm 13.442 triệu đồng so với năm 2009 Năm 2011 sụt giảm 13.246 triệu đồng so với năm 2010 Trong đó, sụt giảm doanh thu nằm trong 2 nghiệp vụ BH Thân tàu và BH TNDS chủ tàu Các nghiệp vụ khác, đặc biệt là nghiệp vụ BH Hàng VCNĐ vẫn duy trì được mức thực hiện của năm trước
Trang 35Sang năm 2012, tuy có ảnh hưởng về suy thoái kinh tế nhưng doanh thuvề BHHH vẫn tăng 136,6%, số tuyệt đối 7.200 triệu đồng Tất cả các nghiệpvụ về Hàng Hải đều có tăng trưởng, chỉ có nghiệp vụ bảo hiểm tàu sông, tàuven biển tăng trưởng âm Đặc biệt cần chú ý đến nghiệp vụ BH Hàng VCNĐđều tốc độ tăng trưởng cao trên 212% so với các nghiệp vụ khác.
Bảng 2.2 Kết quả bồi thường nhóm nghiệp vụ hàng hải
(Nguồn: BC Tổng kết phòng BH Hàng Hải trong 3 năm gần đây)
Tỷ lệ bồi thường qua nhiều năm ở mức cao, nhưng 3 năm gần đây ởmức rất tốt Đóng góp không nhỏ vào thành công này là tỷ lệ bồi thường ổnđịnh của nhóm nghiệp vụ BH Hàng VCNĐ, tỷ lệ bồi thường tăng nhưng tăngphù hợp với sự tăng lên của doanh thu Công ty đánh giá đây là điểm sáng củanghiệp vụ BH Hàng Hải cần được duy trì và phát triển trong tương lai
Trang 362.2 TÌNH HÌNH KHAI THÁC TẠI BẢO MINH THĂNG LONG.
2.2.1 Quy trình khai thác.
2.2.1.1 Lưu đồ
Trang 38(i) Qua các phương tiện truyền thông đại chúng.
(ii) Các cơ quan hữu quan: Phòng Thương Mại và Công nghiệp,
Tổng cục thống kê, Hải Quan, Cơ quan thuế, Ngân Hàng…
(iii) Các đơn vị chủ quản: Bộ Thương Mại, Bộ Công Nghiệp, các
Hiệp hội (Hiệp hội dệt may, Hiệp hội giao nhận…)(iv) Các chủ hàng truyền thống và tiềm năng
b Tiếp cận khách hàng: tiếp xúc trực tiếp, gửi thư, tài liệu giới thiệu như
thư ngỏ, tài liệu giới thiệu Bảo Minh, báo cáo tài chính (Annual report).
c Nhận đề nghị: Khai thác viên phải nắm chắc nội dung bảo hiểm khi tiếpxúc khách hàng
(2) Đánh giá rủi ro, đề xuất phương án bảo hiểm (trong trường hợp khách hàng đã tham gia bảo hiểm, khách hàng đã mở hợp đồng bao thực hiện ngay theo phần cấp đơn bảo hiểm 3.b)
a Đánh giá rủi ro theo các thông số của giấy yêu cầu bảo hiểm hàng hoá
b Đề xuất phương án bảo hiểm:
(i) Cân nhắc khi nhận dịch vụ: Trong thương lượng không từ chốidịch vụ mà phải về xin ý kiến cấp cao hơn Nếu xét thấy dịch vụ quáxấu không thể nhận lúc đó mới được từ chối khách hàng bằng cách yêucầu chỉnh sửa các khiếm khuyết, làm đề phòng hạn chế tổn thất, hạnchế phạm vi bảo hiểm hoặc yêu cầu tăng tỷ lệ phí cao hơn
(ii) Nhận dịch vụ:
+ Trong phân cấp: Khai thác viên đề xuất phương án bảo hiểm cho lãnhđạo đơn vị duyệt
Trang 39+ Trên phân cấp (trên phân cấp phí và/ hoặc trên phân cấp khai thác):phải có công văn xin ý kiến Tổng Công Ty – qua phòng Bảo hiểm HàngHải.
Lưu ý: trên phân khai thác ở đây bao gồm cả phần tích tụ bảo hiểm
hàng và tàu (trị giá hàng và trị giá tàu lớn hơn phân cấp khai thác của đơnvị phải xin ý kiến Tổng công ty trước khi thực hiện) Tích tụ bảo hiểmnghĩa là hàng hoá và tàu chở hàng đều tham gia bảo hiểm tại một công ty
và có tổng số tiền bảo hiểm vượt quá hợp đồng tái bảo hiểm cố định hàng
– tàu.
(3) Chào bảo hiểm, đề phòng hạn chế tổn thất trước khi cấp đơn bảo hiểm, cấp đơn bảo hiểm:
a Chào bảo hiểm chủ động:
(i) Khi tiến hành chào bảo hiểm phải nắm rõ loại hàng hoá,phương tiện vận chuyển, tỷ lệ phí, điều khoản, mức khấu trừ… để cómột bản chào thích hợp (Tham khảo danh mục điều khoản, biểu phí,phân cấp nghiệp vụ của Tổng công ty ban hành, danh sách hội P&Iquốc tế, doanh sách tàu, danh sách đại lý giám định) Khi khách hàngkhông chấp nhận bản chào bảo hiểm thì phải tìm kiếm lý do để có thểthoả mãn yêu cầu khách hàng Chỉ đến khi không thể thoả mãn các yêucầu của khách hàng thì báo cáo lãnh đạo cấp trên để từ chối bảo hiểm.Nếu khách hàng đồng ý thì tiến hành theo các bước sau
(ii) Nhận Giấy yêu cầu bảo hiểm từ phía khách hàng Cần phảilưu ý: giấy yêu cầu bảo hiểm là một bộ phận không thể thiếu của hợpđồng bảo hiểm, thể hiện ý chí mua bảo hiểm của khách hàng nên khôngthể thiếu chứng từ này ngoại trừ trường hợp đã có thoả thuận khác vớikhách hàng như: khách hàng có thể ghi yêu cầu bảo hiểm trực tiếp vào
Trang 40các chứng từ của lô hàng, khách hàng đến mua bảo hiểm và đóng phíngay…
b Đề phòng hạn chế tổn thất trước khi cấp đơn bảo hiểm:
(i) Phương pháp đơn giản và cần thiết đối với các lô hàng vận chuểnnguyên chuyến là tìm hiểu các thông tin liên quan đến tàu hay phươngtiện chở hàng (kiểm tra tàu và phương tiện) nếu không tìm thấy tàu từcác cơ sở dữ liệu thông dụng (như Lloyd’s, IMB, Equasis…) hoặc tìnhtrạng kỹ thuật của tàu hay phương tiện và/ hoặc điều kiện kinh doanhcũng như khả năng thanh toán của chủ phương tiện không tốt thì tư vấncho khách hàng đổi phương tiện khác
(ii) Các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất nên cân nhắc từngtrường hợp cụ thể căn cứ vào kết quả đánh giá rủi ro, không thực hiệntràn lan để giảm chi phí Các biện pháp đối với hàng vận chuyển nội địanhư: đối với thiết bị siêu trường, siêu trọng và giá trị cao (>USD250,000.00) nên xem xét kỹ hợp đồng vận chuyển, phương án vậnchuyển Đối với hàng nhập đã mua bảo hiểm tại nước ngoài chỉ yêu cầungười bảo hiểm bảo hiểm từ cảng sân bay/ cảng biển vào nội địa, trườnghợp muốn mở rộng hơn Điều khoản bảo hiểm hàng hoá vận chuyển nộiđịa hoặc tương đương cần phải tổ chức giám định để loại trừ các tổn thấtxảy ra trước đó
c Cấp đơn bảo hiểm:
Căn cứ theo các chứng từ do khách hàng cung cấp để tiến hành lập hợpđồng bảo hiểm/ Đơn bảo hiểm
(i) Đăng kí số đơn bảo hiểm theo QUY ĐỊNH VỀ MÃ NGHIỆP VỤ
VÀ MÃ ĐƠN VỊ của Tổng công ty đã ban hành
(ii) Vào sổ bộ, lưu để theo dõi, chuyển bộ phận thống kê để vào sốliệu (phần việc này sẽ bỏ khi hoàn chỉnh phần mềm khai thác)