1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nâng cao hiệu quả xuất khẩu của việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

269 180 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 269
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

để có thể sản xuất được những sản phẩm đảm bảo đủ chấtlượng, mẫu mă đẹp, phong phú, từ đó cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu, tạo sự vữngmạnh trên thị trường trong nước.. Điều này có nghĩ

Trang 2

MỤC LỤC

Mở đầu 8

1 Tổng quan chung về đề tài 8

2 Tính quan trọng của đề tài 8

3 Mục tiêu nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 9

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 10

1.1 Sự cần thiết của hoạt động ngoại thương 10

1.2 Các lý thuyết, mô hình ngoại thương cổ điển 13

1.2.1 Thuyết trọng thương 13

1.2.2 Học thuyết Adam-Smith 14

1.2.3 Học thuyết lợi thế so sánh của Ricardo 14

1.2.4 Một số quan điểm hiện đại về lợi thế so sánh 17

1.2.5 Quy luật tỉ lệ cân đối của các yếu tố sản xuất (Hecksher và B.Ohlin) 21

1.3 Các học thuyết và mô hình ngoại thương hiện đại 23

1.3.1 Học thuyết Stolper – Samuelson 23

1.3.2 Học thuyết về đầu tư yếu tố và thay đổi cơ cấu sản xuất của Rybczynski .25 1.3.3 Học thuyết các giai đoạn tăng trưởng kinh tế của Rostow 26

1.3.4 Lý thuyết về khả năng cạnh tranh quốc gia 28

1.3.4.1 Mô hình kim cương của Michaele Porter 28

1.3.4.2 Các cấp độ cạnh tranh quốc gia 28

1.4 Chiến lược và chính sách ngoại thương của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 29

1.4.1 Chiến lược ngoại thương 29

1.4.2 Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô 30

1.4.3 Chiến lược thay thế hàng hóa nhập khẩu 33

Trang 3

1.4.4 Chiến lược hướng ra thị trường quốc tế 34

1.5 Kế hoạch ngoại thương của Việt Nam giai đoạn 2010-2020 45

1.5.1 Ðường lối đối ngoại Ðại hội XI và những phát triển quan trọng trong tư duy đối ngoại của Ðảng ta 45

1.5.2 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 51

1.5.2.1 Quan điểm phát triển 51

1.5.2.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế 54

CHƯƠNG 2 : KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN VÀ ĐANG PHÁT TRIIỂN Ở CHÂU Á 73

2.1 Kinh nghiệm học hỏi từ chính sách xuất khẩu của Trung Quốc 73

2.1.1 Tổng quan về hoạt động thương mại của Trung Quốc 73

2.1.1.1.Tổng quan về kinh tế Trung Quốc 73

2.1.1.2 Một số nội dung trong chính sách ngoại thương của Trung Quốc 78

2.1.1.3 Thực trạng xuất khẩu của Trung Quốc 85

2.1.2 Kinh nghiệm xuất khẩu hàng hóa cho Việt Nam 90

2.1.2.1 Những thành công trong ngoại thương của Trung Quốc từ khi mở cửa 91

2.1.2.2 Những vấn đề Trung Quốc gặp phải 93

2.1.2.3 Giải pháp của Trung Quốc 94

2.1.2.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 95

2.2 Kinh nghiệm học hỏi từ chính sách xuất khẩu của Nhật Bản 97

2.2.1 Chính sách ngoại thương với hoạt động xuất khẩu của Nhật Bản 97

2.2.2 Tác động của các chính sách đối với ngành ngoại thương của Nhật Bản .102 2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 106

2.2.4 Kết luận kinh nghiệm từ Nhật Bản 112

2.3 Kinh nghiệm học hỏi từ chính sách xuất khẩu của Hàn Quốc 113

2.3.1 Nền kinh tế của Hàn Quốc 114

Trang 4

2.3.2 Chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Hàn Quốc 116

2.3.3 Phát triển xuất khẩu ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020 121

2.3.4 Vụ Kinh tế dịch vụ kiến nghị 5 giải pháp đẩy mạnh cho xuất khẩu 123

2.4 Kinh nghiệm học hỏi từ chính sách xuất khẩu của Thái Lan 124

2.4.1 Quan điểm và mục tiêu của chính sách thương mại hướng về xuất khẩu 125

2.4.1.1 Tình hình Thái Lan giai đoạn 1961-1972 126

2.4.1.2 Chính sách Thương mại hướng về xuất khẩu của Thái Lan từ năm 1973 đến nay 126

2.4.2 Nội dung chính sách thương mại hướng về xuất khẩu 129

2.4.2.1 Các chính sách thương mại của Thái Lan 129

2.4.2.2 Điều chỉnh chính sách thương mại của Thái Lan sau khủng hoảng tài chính – tiền tệ đến nay 139

2.4.3 Một số kinh nghiệm và bài học rút ra cho Việt Nam 142

2.4.3.1 Những kinh nghiệm cần học hỏi 142

2.4.3.2 Những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện chính sách 144

CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM 145

3.1 Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1986-2011 146

3.2 Xuất khẩu theo thị trường 156

3.2.1 Khu vực châu Á – Thái Bình Dương 165

3.2.2 Khu vực châu Mỹ 170

3.2.3 Khu vực châu Âu 173

3.2.4 Khu vực châu Đại Dương 175

3.2.5 Khu vực châu Phi 176

3.3 Xuất khẩu theo mặt hàng 176

3.3.1 Cơ cấu hàng hóa theo nhóm ngành 184

3.3.2 Phân tích một số mặt hàng tiêu biểu 190

3.4 Ý kiến chuyên viên quản lý nhà nước 202

Trang 5

3.5 Ý kiến chuyên gia 204

CHƯƠNG 4 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 208

4.1 Công ty cổ phần tổng công ty may Đồng Nai (Donagamex) 208

4.1.1 Tổng quan về Donagamex 208

4.1.2 Những thuận lợi và khó khăn của công ty 216

4.1.3 Kết quả công ty đạt được 217

4.1.4 Định hướng phát triển trong tương lai 219

4.2 Công ty cổ phần Đồng Thắng (Dothaco) 220

4.2.1 Tổng quan công ty Dothaco 220

4.2.2 Thị trường xuất khẩu 221

4.2.3 Các mặt hàng xuất khẩu 221

4.2.4 Thống kê số lượng các mặt hàng xuất sang các thị trường 221

4.3 Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Thiên Phú Vinh 223

4.3.1 Giới thiệu công ty 223

4.3.2 Thực trạng xuất khẩu của doanh nghiệp giai đoạn 2009 – 2012 223

4.4 Công ty cổ phần xuất nhập khẩu An Giang 226

4.4.1 Giới thiệu công ty 226

4.4.2 Tình hình xuất khẩu qua các năm 226

4.4.3 Thống kê tổng hợp qua toàn thời kỳ 230

4.5 Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Năm Căn 232

4.5.1 Giới thiệu công ty 232

4.5.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2009 232

4.5.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2010-2011 233

4.5.4 Thống kê lượng hàng xuất khẩu 235

4.5.5 Thị trường xuất khẩu chủ yếu của công ty……… 236

Trang 6

4.6 Công ty cổ phần Việt An 237

4.6.1 Giới thiệu công ty 237

4.6.2 Tình hình sản xuất xuất khẩu của công ty trong các năm 238

CHƯƠNG 5 : PHÂN TÍCH SWOT VÀ ĐƯA RA GIẢI PHÁP 244

5.1 Phân tích Swot 244

5.1.1 Điểm mạnh 244

5.1.2 Điểm yếu 245

5.1.3 Những thuận lợi và cơ hội cho xuất khẩu Việt Nam 246

5.1.4 Một số thách thức lớn cho việc tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam 249

5.2 Định nghĩa hiệu quả hoạt động xuất khẩu 252

5.3 Giải pháp 259

5.4 Chiến lược 260

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 7

1 Tổng quan chung về đề tài

Ngoại thương là quá trình trao đổi hàng hóa – dịch vụ giữa các quốc gia với nhau.Hoạt động ngoại thương là hình thức quan hệ kinh tế quốc tế cổ điển nhất và lâu đờinhất so với các hình thức khác

Với lịch sử hơn 4000 năm dựng nước, hoạt động ngoại thương của Việt Nam đã cónhững thành tựu đáng kể như sự phát triển sự ra đời của nhiều đô thị thương mại lớnnhư Vân Đồn, Phố Hiến, Thanh Hà, Hội An, Gia Định, trong đó đáng chú ý nhất là PhốHiến vào thế kỷ thứ 16

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, nước ta tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa với mộtnền nông nghiệp sản xuất lạc hậu, một nền kinh tế bị tàn phá bởi chiến tranh và một nềncông nghiệp hợp tác xã quan liêu tập trung Đặc điểm này nói lên tính cấp thiết trongviệc bố trí lại lực lượng sản xuất, tái cơ cấu lại thành phần kinh tế và mở rộng ngoạithương, tham gia thị trường thế giới để tạo tiền đề cho sản xuất của nước ta

2 Tính quan trọng của đề tài

Bước vào thế kỷ XXI với một tầm vóc mới Ngày 11-1-2007, Việt Nam trở thànhthành viên 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Những năm qua, trên conđường hội nhập quốc tế, nước ta đã tham gia đầy đủ các định chế kinh tế toàn cầu, mởrộng thị trường hàng hóa dịch vụ, đầu tư quốc tế, đổi mới mạnh mẽ hơn và đồng bộ hơncác thể chế, đồng thời, cải tiến nền hành chính quốc gia theo hướng hiện đại

Nhưng việc mở cửa thị trường và tham gia vào sân chơi chung của toàn thế giới, đòi hỏiViệt Nam cần có những chiến lược và định hướng cực kỳ rõ ràng và cụ thể trong hoàncảnh mà “đồng tiền có thể thao túng được tất cả” như hiện nay

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm cách để nâng cao hiệu quả trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trongquá trình hội nhập thế giới

- Nhận biết nhiều loại mô hình ngoại thương từ cổ điển đến hiện đại

- Cung cấp một cách nhìn tổng quan về kinh tế ngoại thương cho sinh viên chuyênngành quản trị ngoại thương

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 8

- Điều tra thu thập dữ liệu của các công ty xuất nhập khẩu, từ đó đưa ra sang lọc

để làm cơ sở cho việc đưa ra chiến lược xuất khẩu cho tương lai

- Phỏng vấn xin ý kiến chuyên gia và các chuyên viên nhà nước để có được sự tưvấn chuyên nghiệp nhất từ các cấp

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN1.1 Sự cần thiết của hoạt động ngoại thương:

Trang 9

“Chúng ta tháo rời mỗi công việc ra từng mảnh và gửi nó khắp nơi cho người nào

đó có thể làm tốt nhất,… Cho phép bạn tạo ra các văn phòng ảo toàn cầu- không bị giới hạn của văn phòng hay biên giới của nước bạn…” – trích -THẾ GIỚI PHẲNG-

23 triệu dân Bắc Triều Tiên không đủ ăn Khoảng 37% số trẻ em tại Bắc Triều Tiên hầunhư suy dinh dưỡng kinh niên và một phần ba các bà mẹ đang nuôi con bị suy dinhdưỡng và thiếu máu

Biểu đồ 1.1a: TỔNG THU NHẬP QUỐC DÂN GIỮA HÀN QUỐC VẦ TRIỀU TIÊN

Trang 10

Biểu đồ 1.1b: SỰ THAY ĐỔI TRONG GIAO DỊCH TRUNG-TRIỀU

Rõ ràng hai qua biểu đồ ta nhận thấy rất rõ sự khác biệt giữa một đất nước có nềnngoại thương mở cửa như Hàn Quốc và một đất nước đóng cửa “cố thủ” hoặc giao dịchvới rất ít nước như Triều Tiên

Trang 11

Qua đó chúng ta có thể nhận thức rất rõ tầm quan trọng của hoạt động ngoại thươngdưới các góc độ nhìn nhận sau:

của sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân làm lợi cho nền kinh tế, mặt khác góp phầnnâng cao hiệu quả nền kinh tế trên cơ sở phân công lao động quốc tế, nâng cao năng lựcsản xuất vì sự cạnh tranh quốc tế

số lượng cũng như chất lượng của hàng hóa sản phẩm trợ nên đa dạng thông qua nghiệp

vụ xuất nhập khẩu Trong đó có cả những mặt hàng mà quốc gia không đủ nguồn lực

để sản xuất, cũng có thể dễ dàng được tìm thấy trên thị trường hiện nay

người tiêu dùng lên bằng cách cho họ nhiều sự lựa chọn vể cả chất lượng, mẫu mã, lẫn

số lượng và cũng đồng thời cho họ cơ hội để tiếp xúc với những tiện ích kèm theo sảnphẩm mà trước giờ họ không tìm được trong những sản phẩm nội địa

công nghệ, áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật, tăng năng suất lao động, tổ chức quản

lý một cách hiệu quả v.v để có thể sản xuất được những sản phẩm đảm bảo đủ chấtlượng, mẫu mă đẹp, phong phú, từ đó cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu, tạo sự vữngmạnh trên thị trường trong nước Điều này có nghĩa là hoạt động ngoại thương của mộtquốc gia đă tạo đà cho các doanh nghiệp trong nước phải liên tục đổi mới để đứng vữngtrên thị trường trong nước, từng doanh nghiệp vững mạnh cũng đồng nghĩa với việc nềnkinh tế của quốc gia đó ngày một tăng trưởng và phát triển lành mạnh Hơn nữa, đổimới công nghệ không chỉ để giữ được thị phần trong nước mà đổi mới công nghệ, tạosản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, các doanh nghiệp sẽ có thể bán được hàng hóa củamình trên thị trường quốc tế, thu khoản lợi nhuận đáng kể, đem lại nguồn ngoại tệ choquốc gia Chính yêu cầu phải phát huy được những lợi thế của quốc gia như về nguồnlực tự nhiên, nguồn lao động giá rẻ, hay khoa học kĩ thuật hiện đại đă làm cho một quốcgia lựa chọn những ngành, lĩnh vực mà quốc gia đó có lợi thế so sánh hơn quốc gia

Trang 12

khác để tập trung phát triển những ngành, lĩnh vực này Sự chuyên môn hóa sản xuất đălàm cho cơ cấu nền kinh tế dần thay đổi phù hợp với tiềm lực phát triển của quốc gia

đó Cơ cấu kinh tế phù hợp lại tạo thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Sựcạnh tranh trong hoạt động ngoại thương giữa các doanh nghiệp trong cùng một nước,giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài, giữa các quốc giavới nhau thể hiện ở chính sản phẩm hàng hóa dịch vụ mà doanh nghiệp, quốc gia đócung ứng trên thị trường Sự cạnh tranh này ngày càng gay gắt quyết liệt nhưng lại rấtlành mạnh đă làm cho năng suất lao động ngày một tăng lên và giá thành sản phẩm hạ

đến mức tối thiểu – (trích nguồn: hoạt động ngoại thương của Việt Nam-thực trạng và

+ Đối với doanh nhân:

Trong buôn bán phải chấp nhận sự lường gạt (dân tộc này làm giàu bằng cách hy sinhlợi ích của dân tộc kia)

Phải hạ thấp lương công nhân để giảm chi phí để tăng khả năng cạnh tranh

+ Nhà nước phải can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế bằng nhiều biện pháp:

Thực hiện chính sách xuất siêu

Lập rào thuế quan để bảo hộ mậu dịch

Trang 13

Thực hiện biện pháp nâng đỡ xuất khẩu.

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, muốn hòa vào sân chơi chung của thế giới thìđồng nghĩa với việc cuộc chơi phải công bằng , và người chơi không được hưởng sựbảo hộ và ưu tiên từ chính phủ của các nước Việc tuân thủ quy định của WTO là điềukiện tiên quyết bắt buộc để có thể bác bỏ sự can thiệp sâu rộng của nhà nước

1.2.3 Học thuyết lợi thế so sánh của Ricardo

_ Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào quá trình thương mại quốc tế

_ Thương mại quốc tế diễn ra khi có lợi thế so sánh (có thể là lợi thế so sánh tuyệt đối,nhưng cũng có thể là lợi thế tương đối); vì vậy xét trong tương quan so sánh lợi thếtương đối, một quốc gia có thể sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm có lợi thế so sánhhơn và nhập khẩu những sản phẩm có lợi thế so sánh kém hơn

Chưa đề cập tới chi phí vận tải và cơ cấu nhu cầu tiêu dùng của mỗi quốc gia nên khôngxác định được giá tương đối trong trao đổi sản phẩm giữa các nước Như vậy quan hệ

Trang 14

kinh tế quốc tế dựa trên căn bản lợi thế so sánh của mỗi quốc gia: tùy theo điều kiện tựnhiên và đặc điểm riêng, mỗi quốc gia có những lợi thế về mặt nào, sẽ chú trọng đếnhình thức đối ngoại phù hợp với những lợi thế đó

Giải thích hai thuật ngữ về lợi thế tương đối và lợi thế tuyệt đối

1 Lợi thế tuyệt đối của ngoại thương

A Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoạithương Khi nghiên cứu mô hình kinh tế cổ điển, chúng ta đã biết rằng các nhà kinh tế

cổ điển cho đất đai là giới hạn của tăng trưởng Khi nhu cầu lương thực tăng lên, phảitiếp tục sản trên những đất đai cằn cỗi, không đảm bảo được lợi nhuận cho các nhà tưbản thì họ sẽ không sản xuất nữa Các nhà kinh tế cổ điển gọi đấy là bức tranh đen tốicủa tăng trưởng Trong điều kiện đó A.Smith cho rằng, có thể giải quyết bằng cách pháttriển công nghiệp và sử dụng sản xuất của ngành này xuất khẩu để mua lương thực từnước ngoài về Như vậy, thông qua việc mua – bán trao đổi sản phẩm đã giải quyếtđược mặt hạn chế của tăng trưởng

Do đó, có thể nói lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phí đểsản xuất ra cùng một loại sản phẩm, khi một nước sản xuất sản phẩm có chi phí cao hơn

sẽ nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn

Lợi thế này được xem xét từ hai phía, đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí thấp sẽthu được lợi nhuận nhiều hơn khi bán sản phẩm trên thị trường quốc tế Còn đối vớinước sản xuất sản phẩm với chi phí cao sẽ có được sản phẩm mà trong nước không cókhả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem lại lợi nhuận, người ta gọi là bù đắp được

sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nước

Ngày nay, đối với các nước đang phát triển việc khai thác lợi thế tuyệt đối vẫn có ýnghĩa quan trọng khi chưa có khả năng sản xuất một số loại sản phẩm, đặc biệt là tư liệusản xuất với chi phí có thể chấp nhận được Ví dụ, việc không đủ khả năng sản xuất ramáy móc thiết bị là khó khăn đối với các nước đang phát triển, đã là nguyên nhân dẫnđến đầu tư thấp Như chúng ta đã biết, các khoản tiết kiệm chưa thể trở thành vốn đầu

Trang 15

tư chừng nào tư liệu sản xuất các doanh nghiệp cần đến chưa có Bởi vì đó là các tư liệusản xuất chưa sản xuất được trong nước mà phải nhập từ nước ngoài.

Khi tiến hành nhập những TLSX này, công nhân trong nước bắt đầu học cách sử dụngcác máy móc thiết bị mà trước đây họ chưa biết và sau đó họ học cách sản xuất rachúng Về mặt này, vai trò đóng góp của ngoại thương giữa các nước công nghiệp pháttriển và các nước đang phát triển thông qua việc bù đắp sự yếu kém về khả năng sảnxuất TLSX và yếu kém về kiến thức công nghệ của các nước đang phát triển cũng đượcđánh giá là lợi thế tuyệt đối

2 Lợi thế tương đối (so sánh)

Phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương D.Ricardo đãnghiên cứu lợi thế này dưới góc độ chi phí so sánh để sản xuất ra sản phẩm Ví dụ,chúng ta hãy xem khả năng trao đổi sản phẩm giữa Việt Nam và Nga đối với hai sảnphẩm: thép và quần áo

Bảng 1.2b

Trang 16

1.2.4 Một số quan điểm hiện đại về lợi thế so sánh

Ngày nay, khi hội nhập kinh tế quốc tế đang là một trào lưu khó có thể đảo ngược

và đang tạo ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ đối với các quốc gia thì việc quan tâm đến lợithế so sánh, năng lực cạnh tranh quốc gia, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và sứccạnh trang của hàng hóa được mọi doanh nghiệp và nhiều người quan tâm

Ba cấp độ cạnh tranh có mối quan hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc vào nhau, tạo điềukiện cho nhau nâng lên và cùng tồn tại Cụ thể là: muốn nâng cao năng lực cạnh tranhcủa một quốc gia, phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh Một doanhnghiệp muốn có năng lực cạnh tranh phải thực hiện những hàng hóa- dịch vụ mang tínhcạnh tranh cao, vì biểu hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là sản phẩm-dịch vụphải có sức hút với khách hàng ở các thị trường khác nhau

Trang 17

Sơ đồ dưới đây mô tả xây dựng năng lực cạnh tranh quốc gia phải bắt đầu từ việc xâydựng sức cạnh tranh cho sản phẩm doanh nghiệp:

Hình 1.2: Năng lực cạnh tranh quốc gia

Những chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh:

phí tài nguyên nội địa và hệ số cạnh tranh để lượng hóa sức cạnh tranh của hàng hóa

- Hệ số chi phí tài nguyên nội địa hay Hệ số đo lường lợi thế sản xuất nội địa (

Domestic Resource Cost Coefficient- DRC)

NĂNG LỰC CẠNH

TRANH QUỐC GIA SỨC CẠNH TRANH CỦA DN

SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA

TỔ CHỨC QUẢN TRỊ

TRÌNH

ĐỘ CÔNG NGHỆ

SỬ DỤNG

CÁC NHÂN

TỐ KHÁC

MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH

QUỐC GIA MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH

QUỐC TẾ

Trang 18

Trong đó: j = 1,….k là đầu vào khả thương

- J =k+1… n là nguồn lực nội địa và các đầu tư vào trung gian

- a ij là hệ số chi phí đầu vào j đối với sản phẩm thứ i

- p j∗ ¿ là giá kinh tế của các nguồn lực nội địa và các đầu vào trung gian

- p i b là giá biên giới của sản phẩm khả thương tính theo tỉ giá hối đoái kinh tế

- p b j là giá biên giới các đầu vào khả thương tính theo tỉ giá hối đoái kinh tế

Như vậy theo công thức trên:

- Tử số chỉ ra tổng các nguồn lực nội địa ( kể cả khả thương hoặc bất khả thương)được huy động ra và xuất khẩu 1 đơn vị hàng hóa của một nước hay một địa phương

- Mẫu số là giá trị ròng thu được qua xuất khẩu ( nguồn lợi ròng mang lại cho xuấtkhẩu) 1 đơn vị hàng hóa (quy ra nội tệ)

Chỉ số DRC cho biết hiệu quả sử dụng nguồn lực nội địa để tạo ra giá trị xuất khẩuròng Nói cách khác, DRC cho phép xác định hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên nộiđịa để sản xuất hàng xuất khẩu: dựa vào chỉ tiêu này mà người ta có thể quyết định sảnxuất loại hàng hóa nào để xuất khẩu sẽ có lợi hơn, qua việc tính toán ra chi phí hànghóa đó thấp hơn chi phí hàng hóa khác nhưng lại cùng thu về một lượng ngoại tệ quyđổi

DRC còn cho biết tiềm năng xuất khẩu của một loại hàng hóa nào đó hay lợi thếxuất khẩu của loiaj hàng hóa đó khi so sánh nó với 1:

- DRC >1 sản xuất để xuất khẩu không hiệu quả

- DRC <1 hàng hóa có tiềm năng xuất khẩu

Trang 19

- Với DRC càng nhỏ thì sản xuất trong nước để sản xuất hàng xuất khẩu càng hiệuquả.

- Hệ số cạnh tranh RCA (Revealed Comparative Advantage)

Phản ánh vị trí đạt được của một sản phẩm hoặc một ngành, một quốc gia trên thịtrường thế giới Có nhiều cách tính RCA:

Ví dụ có một vài nhà kinh tế:

RCA= T 1

XK 1 : T 2XK 2 = R 1 R 2

Trong đó: R1 và R2 là tỉ trọng kim nghạch xuất khẩu một loại hàng hóa trong tổng kim

ngạch xuất khẩu của một quốc gia và của cả hệ thống thế giới trong cùng khoảng thờigian

- Nếu RCA 1: hàng hóa không có lợi thế so sánh

- Nếu 1≤ RCA ≤ 2.5 : hàng hóa tương đối có lợi thế so sánh ; mức lợi thế tăng dầnkhi RCA tiến dần tới 2.5

- Nếu ≥ 2.5 : hàng hóa có lợi thế so sánh rất cao

Xét trong tương quan so sánh lợi thế tương đối, RCA của một sản phẩm nào đó ở nướcnào lớn hơn, càng chứng tỏ vị trí đạt được của sản phẩm đó có lợi thế so sánh cao hơn

sp với vị trí của sản phẩm cùng loại tại các quốc gia có hệ số RCA nhỏ hơn Vì RCAcho biết tương quan so sánh thị phần của một loại hàng hóa nào đó ( của một quốc gia)trong tổng thị phần bình quân hàng hóa của thế giới

Trong báo cáo của World Bank năm 1999 “Đánh giá tác động của VIệt Nam gia nhậpAFTA- một sự đánh giá về lượng” Các chuyên gia ASEAN đã đưa ra bảng so sánh hệ

số RCA đối với mặt hàng rau quả chế biến của các nước thể hiện như sau

RCA phi=4.5 RCA TL =3.1,RCA VN =1.5,RCA sing =0.1, RCA indo=0.6

Như vậy có thể thấy rau quả chế biến của Việt Nam tương đối có khả năng cạnh tranhhơn (1≤1.5≤ 2.5) so với indo hoặc singapor nhưng còn thua kém rất xa so với Thái lan

và Phillipines

Trang 20

Về mặt định tính: các chuyên gia đề cập đến lợi thế so sánh tĩnh và lợi thế so

sánh động

_ Lợi thế so sánh tĩnh (Static Advantage): là lợi thế đang có Những lợi thế có được mà

không cần phải đầu tư lớn về vốn và tri thức Nếu sử dụng thuật ngữ của M.Porter thìđây là lợi thế “trời cho”, lợi thế “cấp thấp” Những lợi thế này thường không vững chắc,chỉ mang tính ngắn hạn và trung hạn; nếu các điều kiện sản xuất hiện có không được cảitạo liên tục và phát triển ở mức độ cao hơn thì có thể lợi thế cạnh tranh hàng hóa sẽgiảm xuống Lợi thế so sánh tĩnh là một trong những nhân tố tạo nên chỉ số DRC

- Lợi thế so sánh động (Dynamic Advantage):

Là lợi thế “cấp cao”, lợi thế phải có đầu tư lớn về vốn và tri thức mới có (như đầu tưvào lao động với trình độ kỹ thuật và tri thức khoa học cao, cơ sở hạ tầng kinh tế hiệnđại….) Muốn có lợi thế này , ngoài việc tận dụng triệt để các nguồn lực tự nhiên và sửdụng chúng có hiệu quả, quốc gia/doanh nghiệp còn phải không ngừng đầu tư… Mớitạo ra lợi thế tiềm năng làm cơ sở cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Có nhưthế, dưới một số điều kiện nhất định về lợi thế so sánh động mới có thể biến thành lợithế so sánh trong tương lai Lợi thế so sánh dộng quyết định chỉ số RCA

Hàng hóa được sản xuất dựa trên lợi thế so sánh tĩnh sẽ không có lợi thế cạnh tranhbằng hàng hóa sản xuất dựa trên lợi thế so sánh động trên cùng một thị trường, mặc dùgiá của hàng hóa “cấp thấp” có thể thấp hơn rất nhiều so với hàng hóa cùng loại đượcsản xuất dựa vào điều kiện “cấp cao”

1.2.5 Quy luật tỉ lệ cân đối của các yếu tố sản xuất (Hecksher và B.Ohlin)

- Theo Hecksher và B.Ohlin: “Trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi nước đều hướng đếnchuyên môn hóa các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối vớinước đó là thuận lợi nhất”

- Thực tế cũng cho thấy: Khi mỗi quốc gia dựa vào lợi thế so sánh của mình, tận dụngtài nguyên, thiết lập khả năng chuyên môn hóa và tham gia vào phân công lao độngquốc tế, sẽ mang lại lợi ích cho nền kinh tế thế giới Cụ thể là:

Trang 21

Giả sử xét một mô hình trao đổi thương mại quốc tế với điều kiện thế giới chỉ có haiquốc gia A và B; giả thiết rằng cả hai quốc gia cùng có khả năng khai thác tài nguyêntrong nước để sản xuất 2 loại sản phẩm X và Y đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước.

Cả 2 đều sử dụng 50% tài nguyên để sản xuất 1 loại sản phẩm, tổng sản phẩm đượcbiểu diễn như sau:

Bảng 1.2c

Quốc gia Số sản phẩm loại X Số sản phẩm loại Y

Qua bảng trên ta rút ra được nhận xét rằng: Quốc gia A có lợi thế về việc sản xuất sảnphẩm Y và Quốc gia B có lợi thế về sản xuất sản phẩm loại X Vậy thì vấn đề đặt ra là,nếu như mỗi quốc gia tập trung chuyên môn để sản xuất một loại hàng hóa duy nhất màmình có thế mạnh và thực hiện quá trình giao thương thì số sản phẩm sẽ thay đổi nhưsau:

Bảng 1.2d

Quốc gia Số sản phẩm loại X Số sản phẩm loại Y

Qua bảng trên ta có thể thấy được thế giới đã tăng thêm 40 đơn vị sản phẩm loại X và

30 đơn vị sản phẩm loại Y

Trang 22

Vì thế xu hướng tự do hóa thương mại ngày càng phát triển mạnh trên toàn thế giới vàngay tại từng quốc gia.

gia

Quốc gia A có 120 đơn vị sản phẩm loại Y, thỏa mãn nhu cầu trong nước là 60 đơn vị;Quốc gia B có 160 đơn vị loại X thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước là 80 đơn vị

Số sản phẩm dư thừa được đem ra trao đổi giữa 2 quốc gia với giả sử tỉ lệ trao đổi là

1-1 thì mỗi nước sẽ dư ra một lượng sản phẩm khá lớn, làm đa dạng hóa sản phẩm tiêudùng trong nước và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Mô hình trao đổi như sau:

Bảng 1.2e

Quốc gia Số sản phẩm loại

X

Số sản phẩm loại Y

Sp dư thừa

Thế giới 120 đơn vị 90 đơn vị 40 đv X và 30 đv Y

1.3 Các học thuyết và mô hình ngoại thương hiện đại

1.3.1 Học thuyết Stolper – Samuelson

Trong kinh tế học hiện đại xuất hiện yếu tố thị trường Cung yếu tố sản xuất và tấtnhiên giá cả yếu tố sản xuất phụ thuộc vào quan hệ cung, cầu của thị trường Cung yếu

tố sản xuất của quốc gia mà lớn thì giá yếu tố sản xuất sẽ rẻ và ngược lại Do sự khácbiệt về giá yếu tố sản xuất mà các quốc gia có lợi thế về sản phẩm Ví dụ: Việt Nam so

Trang 23

với nhiều quốc gia thì Việt Nam có nguồn lao động dồi dào (dư thừa) nên giá nhâncông rẻ Từ lợi thế về giá nhân công Việt Nam có lợi thế về các sản phẩm về sử dụngnhiều nhân lao động như là: sản phẩm dệt may, da giầy, hàng thủ công mỹ nghệ vv…Năm 1941 Wolfgang Stolper và Paul Samuelson đã đưa ra lý thuyết như sau: “Với điềukiện toàn dụng nguồn lực sản xuất, thương mại quốc tế làm tăng giá cả yếu tố sản xuấtquốc gia dư thừa và làm giảm giá cả yếu tố sản xuất mà quốc gia khan hiếm; thươngmại quốc tế làm tăng thu nhập của chủ sỡ hữu yếu tố sản xuất quốc gia dư thừa và giảmthu nhập của chủ sỡ hữu yếu tố mà quốc gia khan hiếm”.

Để giải thích học thuyết của mình Stolper- Samuelson đưa ra mô hình nghiên cứu:

 Hai quốc gia, quốc gia 1, quốc gia 2

 Hai sản phẩm: Vải, thép; giá sản phẩm: Pc; giá sản phẩm thép: Ps

 Sản phẩm vải sử dụng nhiều lao động, sản phẩm thép sử dụng nhiều vốn

 Quốc gia 2 dư thừa lao động, quốc gia 1 dư thừa vốn

 Giá của lao động: W,lãi suất của vốn R; tỷ lệ w/r giữa 2 quốc gia dư thừa haykhan hiếm yếu tố sản xuất

Trang 24

Hình 1.3

Quốc gia 2 dư thừa lao động, quốc gia 1 dư thừa vốn nên (Pc/Ps)2< (Pc/Ps)1 và(w/r)2< (w/r)1 Khi hai quốc gia tham gia thương mại quốc tế, quốc gia 2 mở rộng sảnxuất và xuất khẩu sản phẩm vải; cầu lao động tăng, giá lao động tăng, (w/r)2 tăng Quốcgia 1 mở rộng sản xuất và xuất khẩu sản phẩm thép; cầu yếu tố tăng giá vốn tăng,(w/r)1 giảm Thương mại đã làm giá yếu tố sản xuất tại 2 quốc gia và kết thúc khi(Pc/Ps)2=(Pc/Ps)1 và (w/r)2=(w/r)1

1.3.2 Học thuyết về đầu tư yếu tố và thay đổi cơ cấu sản xuất của Rybczynski

Với giá so sánh không đổi và các yếu tố được sản xuất được toàn dụng, thì việc giatăng số lượng của một yếu tố trong sản xuất sẽ làm tăng sản lượng của sản phẩm thâmdụng yếu tố đó nhiều hơn và làm giảm sản lượng sản xuất của sản phẩm còn lại

Giả sử chúng ta có chi phí yếu tố sản xuất của 2 sản phẩm tại một quốc gia A như sau:

Trang 25

Giải hệ phương trình ta thấy: T=120, C=240 Kết quả tính toán cho thấy:

 Quy mô sản phẩm vải (sản phẩm thâm dụng yếu tố sản xuất quốc gia dư thừa)tăng 90 đơn vị sản phẩm, trong khi đó quy mô sản phẩm thép (sản phẩm thâm dụng yếu

tố mà quốc gia khan hiếm) giảm 20 đơn vị sản phẩm

Trang 26

 Quy mô sản xuất sản phẩm vải tăng nhanh hơn lượng giảm xuất sản phẩm thép.

So với trước khi có đầu tư sản phẩm vải tăng 60%, sản xuất thép giảm 20%

Chúng ta có thể dễ dàng giải thích hiện tượng này: quốc gia chỉ tăng yếu tố lao độngnên sẽ có điều kiện tăng quy mô sản xuất vải; nhưng để sản xuất vải thì có yếu tố vốn

Vì vậy quốc gia phải giảm sản xuất thép để có vốn chuyển sang sản xuất vải

Quốc gia giảm 1 sản phẩm thép sẽ dư ra 3 đơn vị vốn để sản xuất 3 đơn vị sản phẩmvải Chính vì vậy quy mô sản xuất sản phẩm vải tăng nhanh hơn lượng giảm sản phẩmthép

1.3.3 Học thuyết các giai đoạn tăng trưởng kinh tế của Rostow

Trên cơ sở nghiên cứu Walter Rostow đã đi đến kết luận: sự phát triển của một quốc gia

có các giai đoạn tăng trưởng khác nhau

Nó bao gồm năm giai đoạn: 1) giai đoạn xã hội truyền thống, 2) giai đoạn tiền cất cánh,3) giai đoạn cất cánh, 4) giai đoạn hưng thịnh, 5) thời kỳ tiêu thụ hàng hóa hàng loạt

Trong giai đoạn đầu ngành sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sảnphẩm nội địa

Lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động của quốc gia Sản xuất xã hội mang nặng tính chất khai thác từ thiên nhiên, tự cung tự cấp

Mối quan hệ kinh tế quốc tế nói chung và thương mại nói riêng còn rất hạn chế

Trên cơ sở lực lượng sản xuất phát triển và mối quan hệ kinh tế quốc tế được mở rộng,kinh tế của các quốc gia tăng trưởng nhanh chóng theo xu hướng gia tăng tỷ trọng sảnphẩm của các ngành phi nông nghiệp như : công nghiệp, dịch vụ

Để tạo điều kiện cho nền kinh tế cho nền kinh tế cất cánh trong giai đoạn này phải có sựđột phá trong các lĩnh vực:

_ Thứ nhất, hạ tầng cơ sở phải được cải tạo và nâng cấp nhằm thúc đẩy sản xuất và tăngkhả năng chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm

Trang 27

_ Thứ hai, ngành nông nghiệp phải đảm bảo an ninh lương thực, cung cấp đủ thựcphẩm cho xã hội; đồng thời chuyển sang sản xuất hàng hóa.

_ Thứ ba, ngoại thương của quốc gia phải phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu về nguyênliệu, công nghệ cho sản xuất nội địa

Trên cơ sở điều kiện được chuẩn bị ở giai đoạn trên, trong giai đoạn này các rào cảntrong nước đối với sự tăng trưởng sẽ được thay thế bằng các biện pháp kích thích tăngtrưởng

Mục tiêu tăng trưởng trở thành mục tiêu hang đầu của quốc gia

Tuy nhiên Rostow cho rằng: quốc gia muốn cất cánh được cần phải có ba điều kiện:_ Tỷ lệ phần trăm của toàn xã hội tính trong tổng sản phẩm quốc dân phải cao và ổnđịnh

_ Ngành công nghiệp phải tăng nhanh, nhất là hai khu vực; khu vực chế tạo cơ bản vàkhu vực các ngành công nghiệp phụ trợ

_ Hệ thống phát triển kinh tế như :hệ thống ngân hàng, các thị trường vốn, hệ thốngdịch vụ….v.vv… phải được chú trọng phát triển

Đây là giai đoạn kinh tế quốc gia tăng trưởng cao và hưng thịnh Các chỉ tiêu phát triểncon người tăng nhanh, công nghệ sản xuất đạt tới đỉnh cao

Thời kỳ này kinh tế phát triển, hàng hóa được sản xuất hàng loạt dựa trên cơ sở về lợithế quy mô, dân cư có mức sống cao

1.3.4 Lý thuyết về khả năng cạnh tranh quốc gia

1.3.4.1 Mô hình kim cương của Michaele Porter

Theo Michaele Porter khả năng cạnh tranh của quốc gia phụ thuộc vào sự liên kếtcủa bốn yếu tố: 1)chiến lược của doanh nghiệp,cơ cấu và sự cạnh tranh nội bộ ngành; 2)các điều kiện về cầu; 3) các ngành công nghiệp liên quan và bổ trợ; 4) các điều kiện vềyếu tố sản xuất

Trang 28

Chiến lược của doanh nghiệp, cơ cấu và sự cạnh tranh nội bộ ngành Chiến

lược của các doanh nghiệp trong một ngành luôn khác nhau Nó chi phối hoạt động đầu

tư, đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển sản phẩm, phát triển thịtrường của doanh nghiệp

là môi trường cạnh trnah của doanh nghiệp Trong một thị trường do có nhiều ngườicung và khách hàng thường có những đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm, muốn chiếmgiữ được thị phần các doanh nghiệp phải thường xuyên hiện đại hóa công nghệ, nângcao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, đổi mới mẫu mã sản phẩm

riêng và của quốc gia nói chung phụ thuộc rất lớn vào sức mạnh của các nhà cung cấpcác nhập lượng và dịch vụ bổ trợ

nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn đất, nguồn vốn, nguồn lao động và công nghệ Cácyếu tố này đóng một vai trò hết sức quan trọng để tạo ra sức cạnh tranh của doanhnghiệp nói riêng và một ngành công nghiệp nói chung

Yếu tố đầu vào được chia làm 2 nhóm : nhóm yếu tố cơ bản : a) bao gồm: điều kiện tựnhiên, tài nguyên thiên nhiên; nguồn nhân lực, nguồn vốn; b) nhóm yếu tố chất lượngnhư: cơ sở hạ tầng, nguồn lao động chất xám, máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất tiêntiến hiện đại Khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào nhóm yếu tố thứ 2

1.3.4.2 Các cấp độ cạnh tranh quốc gia

Ngày nay khả năng cạnh tranh của quốc gia bao gồm ba cấp độ sau: 1) năng lựccạnh tranh quốc gia; 2) năng lực cạnh tranh doanh nghiệp; 3) năng lực cạnh tranh củasản phẩm dịch vụ

 Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt tăng trưởngbền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội nâng cao đời sống nhândân

Trang 29

 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thịphần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và thếgiới.

 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ được đo bằng thị phần của sản phẩmhay sản phẩm đó trên thị trường

Ba cấp độ cạnh tranh này có mối quan hệ hữu cơ với nhau và tạo ra sức mạnh cạnhtranh của một quốc gia

1.4 Chiến lược và chính sách ngoại thương của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

1.4.1 Chiến lược ngoại thương

Dựa vào quan điểm ngoại thương các nước có nhiều cách khác nhau trong việc lựachọn đường lối phát triển Song nhìn chung có ba chiến lược cơ bản

_ Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô

_ Chiến lược thay thế hàng hóa nhập khẩu

_ Chiến lược hướng ra thị trường quốc tế

Mỗi cách lựa chọn đều có những tác động khác nhau đến phát triển kinh tế của cácnước

1.4.2 Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô

Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô dựa chủ yếu vào việc sử dụng rộng rãi cácnguồn tài nguyên sẵn có và các điều kiện thuận lợi của đất nước Sản phẩm xuất khẩuthô là những sản phẩm nông nghiệp và các sản phẩm khai khoáng Chiến lược này chủyếu được thực hiện ở các nước đang phát triển và nước ta hiện nay, trong điều kiệntrình độ sản xuất còn thấp, đặc biệt là trình độ của ngành công nghiệp và khả năng tíchlũy vốn của nền kinh tế còn hạn chế

Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô tạo điều kiện phát triển nền kinh tế theo chiềurộng Như khi cơ hội khai thác nông nghiệp nhiệt đới hay tài nguyên thiên nhiên xuấthiện sẽ có nhu cầu thu hút vốn đầu tư nước ngoài Thông thường các nhà đầu tư nước

Trang 30

ngoài thường đầu tư vào công nghiệp khai khoáng và công nghiệp sản xuất sản phẩmnhiệt đới Sự phát triển các thị trường sản phẩm sơ khai sẽ dẫn đến tăng nguồn vốn đầu

tư nước ngoài và tích lũy trong nước, đồng thời giải quyết công ăn việc làm cho ngườilao động và tăng đội ngũ công nhân lành nghề, dẫn đến tăng quy mô sản xuất của nềnkinh tế Ví dụ, từ khi xuất khẩu dầu mỏ, ở Việt nam đã giải quyết việc làm trực tiếp chogần 10 nghìn lao động và nông nghiệp tăng mạnh, diện tích đất trông cây công nghiệptăng hàng nghìn hecta mỗi năm, và cùng với việc mở rộng đất canh tác, một lượng laođộng tương ứng đã được huy động

Chiến lược xuất khẩu thô cũng tạo ra sự thay đổi cơ cấu của nền kinh tế Ban đầu là

sự phát triển công nghiệp khai thác và ngành công nghiệp chăn nuôi, trồng cây lươngthực và cây công nghiệp có khả năng xuất khẩu, đồng thời với những nhành này là sựphát triển chế biến, tạo ra các sản phẩm sơ chế như gạo, cà phê, cao su… Sự phát triểncủa công nghiệp chế biến tạo cơ hội cho việc gia tăng xuất khẩu sản phẩm thô, nó lại cótác động ngược lại với các ngành cung ứng nguyên liệu, tạo ra “mối liên hệ ngược”, ví

dụ như sự phát triển của công nghiệp dệt sẽ tạo ra nhu cầu đối với nguyên liệu nhưbông hoặc thuốc nhuộm, do đó đẩy mạnh sản xuất những ngành này Tác động của

“mối liên hệ ngược” đặc biệt có hiệu quả nhờ vào quy mô sản xuất lớn làm giảm chi phísản xuất và tăng cạnh tranh trên thịt trường quốc tế Sự phát triển của các ngành có liênquan còn được thể hiện qua “mối quan hệ gián tiếp” thông qua nhu cầu về hàng tiêudùng Mối liên hệ nảy sinh khi phần lớn lực lượng lao động có mức thu nhập ngày càngtăng tạo ra nhu cầu tăng thêm về hàng tiêu dùng

Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô góp phần tạo nguồn vốn ban đầu cho côngnghiệp hóa Vấn đề này chúng ta đã phân tích khi nghiên cứu về vai trò của TNTN vàbiết rằng đối với hầu hết các nước quá trình tích lũy vốn lâu dài, gian khổ và đặc biệtkhó khăn là quá trình tích lũy ban đầu Quá trình này sẽ có những thuận lợi hơn đối vớinhững nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Họ có thể khai thác sản phẩmthô để bán hoặc để đa dạng hóa đất nước Thuận lợi hơn cả là đối với những nước cónguồn dầu mỏ xuất khẩu với quy mô lớn Đối với Việt Nam xuất khẩu thô thời gian qua

Trang 31

cũng có những đóng góp đán kể chjo nguồn tích lũy của đất nước Là một nước nghèo

và thiếu ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, thiết bị, với nguồn thu hàng năm về ngoại tệ

từ xuất khẩu sản phẩm sơ chế đã tạo ra nguồn vốn đáng kể để nhập khẩu máy móc thiết

bị và công nghiệp

Trở ngại đối với sự phát triển dựa vào chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô

Một số nhà kinh tế và nhiều nhà lãnh đạo các nước đang phát triển cho rằng các mặthàng xuất khẩu thô (trừ dầu mỏ) là không thể thực sự thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế.Các lý do chủ yếu được nêu ra như sau:

- Cung sản phẩm thô không ổn định do các mặt hàng chưa qua chế biến hoặc sơ chế cónguồn gốc chủ tếu từ ngành công nghiệp và khai khoáng, đầy là những ngành mà điềukiện sản xuất cũng như kết quả của sản xuất chịu ảnh hưởng rất lớn về thời tiết, khí hậy.Trong điều kiện thời tiết thuận lợi thì cung sản phẩm thô tăng nhanh và nược lại thì sảnlượng giảm

- Cầu sản phẩm thô biến động do hai nguyên nhân cơ bản: thứ nhất do xu hướng biếnđộng về cầu sản phẩm thô được xác định trong quy luật tiêu dùng sản phẩm của Engel.Quy luật này xác định xu hướng tiêu dùng lương thực thực phẩm cơ bản tăng chậm hơnmức tăng thu nhập Ở các nước công nghiệp phát triển , mức tăng nhu cầu lương thực,thực phẩm chỉ xấp cỉ ½ mức tăng thu nhập Quy luật này làm cho sản phẩm thô có xuhướng giảm

- Nguyên nhân thứ hai là do tác động của sự phát triển khoa học công nghệ: sự thay đổicông nghệ trong công nghiệp chế biến làm cho lượng tiêu hoa nguyên nhiên vật liệu có

xu hướng giảm, mặt khác sự phát triển của khoa học công nghệ cho ra đời nhiều loạinguyên vật liệu nhân tạo, như cao su, nhựa, nilon, giả da…Những nguyên nhân nàycũng dẫn đến xu hướng giảm nhu cầu về sản phẩm thô

Trang 32

Khi cung - cầu và giá cả sản phẩm thô biến động tất yếu dẫn đến mức thu nhập biếnđộng Tuy nhiên nguồn gốc sâu xa của sự bất ổn định là do cung hàng xuất khẩu thô (vìsản lượng không ổn định nên các cơ sở nhập khẩu phải tìm cách chống lại sự mất ổnđịnh này) nhưng sự biến động của cung lại ảnh hưởng đến thu nhập ít hơn sự biến độngcủa cầu.

Để mô tả sự tác động do biến động của cung - cầu sản phẩm nhô đến thu nhập doxuất khẩu sản phẩm thô đưa lại, cần đưa ra nhận xét về độ co dãn của sản phẩm này Từnhững đặc điểm đã phân tích ở trên có thể thấy rằng đối với các nước công nghiệp pháttriển, nơi nhận đại bộ phận sản phẩm thô xuất khẩu, đô co giãn của cầu là thấp, đặc biệtđối với nông sản xuất khẩu Ngược lại cung sản phẩm thô của các nước đang phát triểnlại có độ co giãn cao

Hình 1.4a

Giải pháp khắc phục trở ngại

Giải pháp "trật tự kinh tế quốc tế mới"

Nội dung: hình thành các tổ chức để có thể khống chế đại bộ phận lượng cung trên thị

trường

Trang 33

Thực chất: ổn định D-S và tăng giá sản phẩm thô trên thị trường.

Giải pháp "kho đệm dự trữ quốc tế"

Nội dung: hình thành quỹ chung giữa các nước XNK sản phẩm thô và một hệ thống kho

hàng để ổn định D-S và tăng giá

Cơ chế hoạt động:

_ Khi giá TT tăng thì sẽ bán hàng của kho dự trữ nhằm tạo cung giả để đẩy giá xuống._ Khi giá TT giảm thì sẽ mua vào nhằm tạo cầu giả để đẩy giá lên

1.4.3 Chiến lược thay thế hàng hóa nhập khẩu:

Nội dung của chiến lược

Nội dung chiến lược này là phát triển các ngành công nghiệp trong nước để thay thếhàng nhập khẩu Thực tế chiến lược này được thực hiện đầu tiên ở các nước Mỹ LaTinh vào những thập niên 60 và nửa đầu thập niên 70, tiếp tục đến nay

Kinh nghiệm của các nước áp dụng chiến lược này trải qua 2 giai đoạn:

dùng với mục đích sản xuất hàng thành phẩm

xuất bắt đầu từ những ngành sản xuất đầu vào trung gian sau đó sản xuất hàng hóa máymóc thiết bị

Những chính sách để quyết định thành công cho giai đoạn đầu: chi phí (giá cả), chấtlượng: liên quan đến công nghệ → DN sx trong nước đối với tư liệu tiêu dùng dễ hơn làtiếp thu những công nghệ để sx sản phẩm tiêu dùng.→ khi đã có đầy đủ kinh nghiệm,vốn, đủ mọi năng lực → chuyển sang giai đoạn sau

Điều kiện tiền đề

 Sự can thiệp của chính phủ thông qua bảo hộ

Trang 34

-Nguyên tắc: bảo hộ của chính phủ sẽ chuyển dần tư mạnh sang yếu ngược trở lại songsong DN sẽ đi từ yếu đến mạnh Sự can thiệp này ko đồng nhất.

-Công cụ để bảo hộ: hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan

 Sự can thiệp của thị trường (quy mô thị trường): nếu quy mô thị trường lớn cóthể thay thế NK=XK Ngược lại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, yếu tố quyết định làquy mô dân số của 1 quốc gia

 Khả năng cung ứng (khả năng sản xuất): sự sẵn sàng của các nhà đầu tư trongnước và khả năng cung ứng vốn, công nghệ từ bên ngoài

1.4.4 Chiến lược hướng ra thị trường quốc tế

Những nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chiến lược thâm nhập thị trường thế giới

Chiến lược này được hiểu là một hệ thống những quan điểm mục tiêu định hướng,những phương thức thâm nhập thị trường trong các chiến lược marketing để đưa sảnphẩm thâm nhập có hiệu quả vững chắc ở thị trường thế giới, cần chú trọng những vấnđề:

 Xây dựng những quan điểm mục tiêu định hướng thâm nhập thị trường thế giớimột cách hợp lý bởi vì những quan điểm mục tiêu  định hướng này chỉ ra phươnghướng phát triển chung cùng với mục tiêu  cần phải đạt được trong một giai đoạn nhấtđịnh của quá trình thâm nhập thị trường thế giới Vì vậy, từng doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu  khi xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường thế giới phải quán triệt những quanđiểm mục tiêu  định hướng thâm nhập thị trường thế giới của cả nước, của địa phươngnhằm đảm bảo phát triển xuất khẩu theo mục tiêu đã định

 Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn các phương thức thâmnhập thị trường thế giới  của các doanh nghiệp và lựa chọn phương thức thâm nhập hợplý

 Xây dựng và thực hiện những chiến lược marketing mix trong từng giai đoạn cụthể

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chiến lược:

Trang 35

Ðặc điểm của thị trường: đặc điểm tổng quát của thị trường mục tiêu là

điều chính yếu cần xem xét khi xây dựng cách thức thâm nhập vì môi trường cạnh tranhkinh tế-xã hội, chính trị, luật pháp ở các nước thường không giống nhau

hỏng đòi hỏi mua bán trực tiếp nhanh, tổ chức phân phối nhanh; những sản phẩm có giátrị cao, cần kỹ thuật cao cấp đòi hỏi phải tiếp xúc trực tiếp, giải thích phẩm chất của sảnphẩm, yêu cầu dịch vụ sau bán hàng Những sản phẩm cồng kềnh đòi hỏi giảm thiểuđoạn đường chuyên chở

tức tập quán mua hàng, môi trường văn hóa mà họ chịu ảnh hưởng

lựa những sản phẩm có nhãn hiệu bán chạy, hoa hồng cao và đây là một điều trở ngại

lớn cho các nhà sản xuất  nào muốn thâm nhập thị trường mới với sản phẩm mới

kiện của doanh nghiệp trong tiến trình thâm nhập thị trường.

Ðối với các công ty đa quốc gia trên thế giới có tiềm lực mạnh, có thể thực hiệnchiến lược thâm nhập từng thị trường khác nhau trên cơ sở chủ động lựa chọn cácphương thức thâm nhập theo khả năng của doanh nghiệp, nhưng đối với các doanhnghiệp có qui mô nhỏ, trung bình, trình độ khoa học kỹ thuật và khả năng tài chính hạnchế không nên lựa chọn chiến lược thâm nhập thị trường bằng việc tổ chức sản xuất ởnước ngoài Trong trường hợp này những doanh nghiệp đó phải lựa chọn phương thứcduy nhất là xuất khẩu sản phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp ra thị trường nước ngoài

Những chiến lược xâm nhập thị trường thế giới

Ðây là phương thức thâm nhập thị trường được các quốc gia  đang phát triển  trên thếgiới  thường vận dụng, để đưa sản phẩm của mình thâm nhập vào thị trường thế giới thông qua xuất khẩu Ðối với quá trình phát triển  của nền kinh tế quốc dân, phươngthức này có ý nghĩa quan trọng sau đây:

Trang 36

- Sẽ tạo nguồn vốn quan trọng để thoả mãn nhu cầu nhập khẩu và tích lũy phát triển 

sản xuất trong nước

Thông qua xuất khẩu sẽ tạo nguồn vốn quan trọng để thoả mãn nhu cầu nhập khẩunhững tư liệu sản xuất thiết yếu phục vụ công nghiệp hóa đất nước Trong thực tiễnxuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ mật thiết với nhau, vừa là kết quả vừa là tiền đề củanhau, đẩy mạnh xuất khẩu để mở rộng và tăng khả năng sản xuất

- Ðẩy mạnh xuất khẩu được xem là một yếu tố quan trọng để kích thích sự tăng trưởngnền kinh tế quốc gia

Việc đẩy mạnh xuất khẩu cho phép mở rộng quy mô sản xuất, nhiều ngành nghề mới rađời phục vụ cho xuất khẩu Chẳng hạn phát triển  xuất khẩu gạo không những tạo điềukiện  cho ngành trồng lúa mở rộng được diện tích, tăng vụ để tăng sản lượng xuất khẩu,

mà còn thúc đẩy phát triển  các ngành khác như: dệt bao pp đựng gạo, phát triển ngànhxay xát, ngành chăn nuôi…

- Sẽ kích thích các doanh nghiệp trong nước đổi mới trang thiết bị và công nghệ sảnxuất

Ðể đáp ứng yêu cầu cao của thị trường thế giới về quy cách chủng loại sản phẩm đòihỏi một mặt sản xuất phải đổi mới trang thiết bị công nghệ, mặt khác người lao độngphải nâng cao tay nghề, học hỏi kinh nghiệm sản xuất tiên tiến; có vậy, sản phẩm mới

có thể xuất khẩu ổn định

- Ðẩy mạnh xuất khẩu sẽ góp phần tích cực để nâng cao mức sống của nhân dân

- Ðẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các nước và nângcao vai trò vị trí của nước xuất khẩu trên thị trường khu vực và quốc tế

Theo chiến lược này khi muốn xuất khẩu sản phẩm đã được sản xuất  trong nước, cácdoanh nghiệp có thể chọn một trong hai hình thức xuất  khẩu, đó là xuất  khẩu  trực tiếp

và xuất  khẩu  gián tiếp

Trang 37

Hình 1.4b

a. Hình thức xuất  khẩu  trực tiếp: (Direct Exporting)

Hình thức này đòi hỏi chính doanh nghiệp  phải tự lo bán trực tiếp các sản phẩm củamình ra nước ngoài Xuất khẩu trực tiếp nên áp dụng đối với những doanh nghiệp cótrình độ và qui mô sản xuất  lớn, được phép xuất  khẩu  trực tiếp, có kinh nghiệm trênthương trường và nhãn hiệu hàng hóa truyền thống của doanh nghiệp  đã từng có mặttrên thị trường thế giới Hình thức này thường đem lại lợi nhuận cao nếu các doanhnghiệp  nắm chắc được nhu cầu thị trường, thị hiếu của khách hàng … Nhưng ngượclại, nếu các doanh nghiệp  ít am hiểu hoặc không nắm bắt kịp thời thông tin về thịtrường thế giới và đối thủ cạnh tranh thì rủi ro trong hình thức này không phải là ít

b. Hình thức xuất  khẩu  gián tiếp: (Indirect Exporting)

Trang 38

Hình thức xuất  khẩu  gián tiếp không đòi hỏi có sự tiếp xúc trực tiếp giữa ngườimua nước ngoài và người sản xuất  trong nước Ðể bán được sản phẩm của mình ranước ngoài, người sản xuất  phải nhờ vào người hoặc tổ chức trung gian có chức năngxuất  khẩu  trực tiếp Với thực chất đó, xuất  khẩu  gián tiếp thường sử dụng đối với các

cơ sở sản xuất  có qui mô nhỏ, chưa đủ điều kiện xuất  khẩu  trực tiếp, chưa quen biếtthị trường, khách hàng và chưa thông thạo các nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu.Các doanh nghiệp có thể thực hiện xuất  khẩu  gián tiếp thông qua các hình thức sauđây:

- Các công ty quản lý xuất  khẩu  (EMC)   (Export Management Company)

Công ty quản lý xuất  khẩu  là Công ty quản trị xuất  khẩu  cho Công ty khác Cácnhà xuất  khẩu  nhỏ thường thiếu kinh nghiệm bán hàng ra nước ngoài hoặc không đủkhả năng về vốn để tự tổ chức bộ máy xuất  khẩu riêng Do đó, họ thường phải thôngqua EMC để xuất  khẩu  sản phẩm của mình

Các EMC không mua bán trên danh nghĩa của mình Tất cả các đơn chào hàng, hợpđồng chuyên chở hàng hóa, lập hóa đơn và thu tiền hàng đều thực hiện với danh nghĩachủ hàng

Thông thường, chính sách giá cả, các điều kiện bán hàng, quảng cáo … là do chủ hàngquyết định Các EMC chỉ giữ vai trò cố vấn, thực hiện các dịch vụ liên quan đến xuấtnhập khẩu và khi thực hiện các dịch vụ trên EMC sẽ được thanh toán bằng hoa hồng.Một khuynh hướng  mới của EMC hiện nay, đặc biệt là những Công ty có qui mô lớn làthường mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất  và mang bán ra nước ngoài để kiếm lời.Nói chung, khi sử dụng EMC, vì các nhà sản xuất  hàng xuất khẩu ít có quan hệ trựctiếp với thị trường, cho nên sự thành công hay thất bại của công tác xuất  khẩu  phụthuộc rất nhiều vào chất lượng dịch vụ của EMC mà họ lựa chọn

-Thông qua khách hàng nước ngoài (Foreign Buyer)

Ðây là hình thức xuất  khẩu  thông qua các nhân viên của các Công ty nhập khẩu nướcngoài Họ là những người có hiểu biết về điều kiện cạnh tranh trên thị trường thế giới Khi thực hiện hình thức này, các doanh nghiệp  xuất khẩu cũng cần phải tìm hiểu kỹkhách hàng để thiết lập quan hệ làm ăn bền vững với thị trường nước ngoài

Trang 39

-Qua ủy thác xuất  khẩu : (Export Commission House)

Những người hoặc tổ chức ủy thác thường là đại diện cho những người mua nướcngoài cư trú trong nước của nhà xuất  khẩu Nhà ủy thác xuất  khẩu  hành động vì lợiích của người mua và người mua trả tiền ủy thác Khi hàng hóa chuẩn bị được đặt mua,nhà ủy thác lập phiếu đặt hàng với nhà sản xuất  được chọn và họ sẽ quan tâm đến mọichi tiết có liên quan đến quá trình  xuất  khẩu

Bán hàng cho các nhà ủy thác là một phương thức thuận lợi cho xuất  khẩu Việcthanh toán thường được bảo đảm nhanh chóng cho người sản xuất  và những vấn đề vềvận chuyển hàng hóa hoàn toàn do các nhà được ủy thác xuất  khẩu  chịu trách nhiệm

- Qua môi giới xuất  khẩu  (Export Broker)

Môi giới xuất  khẩu  thực hiện chứng năng liên kết giữa nhà xuất  khẩu  và nhà nhậpkhẩu Người môi giới được nhà xuất  khẩu  ủy nhiệm và trả hoa hồng cho hoạt động của

họ Người môi giới thường chuyên sâu vào một số mặt hàng hay một nhóm hàng nhấtđịnh

- Qua hãng buôn xuất  khẩu  (Export Merchant)

Hãng buôn xuất  khẩu  thường đóng tại nước xuất  khẩu  và mua hàng của người chếbiến hoặc nhà sản xuất và sau đó họ tiếp tục thực hiện các nghiệp vụ để xuất  khẩu  vàchịu mọi rủi ro liên quan đến xuất  khẩu Như vậy, các nhà sản xuất  thông qua cáchãng buôn xuất  khẩu  để thâm nhập thị trường nước ngoài

Phương thức thực hiện chiến lược thâm nhập thị trường thế giới  từ sản xuất  trongnước là một chiến lược được nhiều doanh nghiệp  nước ta sử dụng

Chiến lược thâm nhập thị trường thế giới  từ sản xuất ở nước ngoài (Production in Foreign Countries)

Trong chiến lược này, có một số hình thức thâm nhập như sau:

Trang 40

Hình 1.4c

a. Nhượng bản quyền (licensing)

Theo nghĩa rộng nhượng bản quyền là một phương thức điều hành của một doanhnghiệp  có bản quyền (Licensor) cho một doanh nghiệp  khác, thông qua việc họ(licensee) được sử dụng  các phương thức sản xuất, các bằng sáng chế (patent), bí quyếtcông nghệ (know-how), nhãn hiệu (trade mark) , tác quyền, chuyển giao công nghệ(transfer engineering), trợ giúp kỹ thuật hoặc một vài kỹ năng  khác của mình và đượcnhận tiền về bản quyền từ họ (Royalty) Hình thức này có những ưu điểm và nhượcđiểm sau:

- Ưu điểm:

Doanh nghiệp  có bản quyền (Licensor) thâm nhập thị trường với mức rủi ro thấphoặc có thể thâm nhập thị trường mà ở đó bị hạn chế bởi hạn ngạch nhập khẩu, thuếnhập khẩu cao.Doanh nghiệp  được bản quyền (Licensee) có thể sử dụng công nghệ tiêntiến hoặc nhãn hiệu nổi tiếng Từ đó sản xuất  sản phẩm  có chất lượng cao để tiêu thụtrong nước và xuất khẩu

Ngày đăng: 17/11/2017, 15:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w