Trong những năm qua công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác của VKSND tỉnh Quảng Ngãi đã có sự tiến bộ, góp phần đảm bả
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG THANH LIỄU
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN
CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC CỦA KHỎE NGƯỜI KHÁC THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ
THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG THANH LIỄU
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN
CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC CỦA KHỎE NGƯỜI KHÁC THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC
TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ ràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi
Hà Nội, Ngày 31 tháng 7 năm 2017
Tác giả luận văn
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LẬP PHÁP TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 7
1.1 Khái niệm kiểm sát điều tra các vụ hình sự 7 1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự đối với cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 11 1.3 Nội dung của hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của Viện kiểm sát 14 1.4 Khái quát lịch sử các quy định của pháp luật về kiểm sát điều tra nói chung, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự từ khi thành lập Viện kiểm sát nhân dân đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 36 1.5 Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về kiểm sát điều tra các
vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 39
CHƯƠNG 2 KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 43
2.1 Thực trạng kiểm sát điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 43 2.2 Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong kiểm sát điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và nguyên nhân 54
CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHÁC NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 66
Trang 53.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về kiểm sát điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác 66 3.2 Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 68
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6KSĐT : Kiểm sát điều tra
KSV : Kiểm sát viên
TTHS : Tố tụng hình sự
VKS : Viện kiểm sát
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu
2.1
Số vụ án và bị cáo xét xử sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thực hiện so
với số tội phạm ở Quảng Ngãi
44
2.2 Số vụ án, bị can VKS phải thụ lý KSĐT (Điều 104 BLHS) 47 2.3 Số vụ án Viện kiểm sát đã đình chỉ điều tra (Điều 104 BLHS) 49 2.4 Số vụ án Tòa án đã đình chỉ điều tra (Điều 104 BLHS) 50
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tín cấp t iết của đề t i
Trong những năm qua, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, du lịch góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nhiều vấn đề tiêu cực trong xã hội cũng nảy sinh, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp Đáng chú ý là tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi tăng về số vụ và người phạm tội ngày càng gia tăng, hậu quả thiệt hại gây ra ngày càng lớn về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và gây ra dư luận xấu trong xã hội Việc thu thập tài liệu, chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có VKSND trong giai đoạn điều tra đối với các vụ án này còn nhiều hạn chế Vì vậy, việc nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động điều tra và xử lý của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với loại tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi là rất cần thiết
Trong những năm gần đây Đảng ta đã có những chủ trương hết sức quan trọng về trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã nhấn mạnh: Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp…nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội,
xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi
thi hành nhiệm vụ [2]
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đặt ra nội dung “Tăng cường trách nhiệm của công tố
trong hoạt động điều tra” [3]; Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng
xác định: “Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm
Trang 9trọng tâm” Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định:
“Bảo đảm tốt hơn các điều kiện để VKSND thực hiện hiệu quả chức năng thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” [5]
Theo quy định Hiến pháp năm 2013 [20] và Điều 4 Luật tổ chức VKSND năm
2014 [21] thì VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình bằng hoạt động
thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, trong đó có hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm góp phần đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong những năm qua công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác của VKSND tỉnh Quảng Ngãi đã có
sự tiến bộ, góp phần đảm bảo cho hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố vụ án, khởi tố bị can, hoạt động điều tra thu thập chứng cứ và lập hồ sơ đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra được tuân thủ theo quy định của pháp luật Thông qua hoạt động này của VKSND tỉnh Quảng Ngãi đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa loại tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở địa phương Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của VKSND trong giai đoạn kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nói chung, các vụ
án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót như: Chưa thực hiện tốt công tác kiểm sát việc phân loại xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, hoạt động kiểm sát điều tra từ đầu, kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án còn chưa thật chủ động, chưa đầy đủ, toàn diện, việc phát hiện những vi phạm trong hoạt động điều tra của CQĐT chưa được thường xuyên, kiên quyết, còn hiện tượng nể nang Do vậy, đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của việc giải quyết các vụ án hình sự
Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát điều tra và xử lý các loại tội phạm hình sự nói chung, tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác nói riêng, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: “Kiểm sát điều
tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Trang 10theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” làm luận
văn Thạc sĩ Luật học
2 T n n n i n cứu đề t i
Đến nay chưa có một công trình khoa học nghiên cứu về kiểm sát điều tra các
vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Chỉ có một số một số bài báo khoa học đề cập tới một số khía cạnh và ở những mức độ khác nhau về hoạt động của VKSND trong giai đoạn điều tra tội phạm hoặc có một số công trình khoa học nghiên cứu về hoạt động của
VKSND Trong đó, có một số đề tài khoa học sau: Kỹ năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, NXB Đại học quốc gia
Hà Nội, 2006 [12] ''Nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành
quyền công tố với vấn đề thông khâu và chuyên khâu trong công tác kiểm sát hình sự'', đề tài nghiên cứu cấp Bộ, do Ngô Văn Đọn chủ biên, năm 2004 [10]; ''Quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp'', của Lê Hữu Thể (chủ biên), Đỗ Văn
Đương, Nông Xuân Trường, năm 2008 [25]
Bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí có: "Nâng cao chất lượng thực hành
quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần đẩy mạnh cải cách tư pháp"
của Hà Mạnh Trí, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2003
Chuyên đề: “Thực trạng và giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm ma
túy” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi do VKSND tỉnh Quảng Ngãi thực hiện năm 2016
hoặc Luận văn thạc sĩ Luật học: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động
điều tra các vụ án về tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Trần
Hoàng Tuấn, năm 2015; Luận văn thạc sĩ Luật học: “Biện pháp ngăn chặn tạm
giam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Nguyễn Công Thành năm 2016;
Luận văn thạc sĩ Luật học: “Kiểm sát khám nghiệm hiện trường từ thực tiễn tỉnh
Quảng Ngãi” của tác giả Đinh Trường Giang, năm 2016;
Mặc dù có nhiều công trình khoa học nghiên cứu ở những góc độ, phạm vi khác nhau về KSĐT ở những giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự, trong đó có nghiên cứu về KSĐT đối với một số loại tội phạm, nhưng chưa có công trình nào
Trang 11nghiên cứu, khảo sát về KSĐT đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác trên một địa bàn cụ thể là tỉnh Quảng Ngãi Luận văn là
công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này ở cấp độ luận văn thạc sĩ Các công trình nghiên cứu đã được thực hiện là nguồn tư liệu tham khảo cho học viên thực hiện luận văn tốt nghiệp cao học của mình
3 Mục đíc v n iệm vụ n i n cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm sát điều tra các
vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi, nhằm đánh giá một cách khách quan thực trạng kiểm sát điều tra tội phạm này trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2012 đến 2016, từ đó rút ra những mặt tích cực và hạn chế, nguyên nhân tồn tại và những vướng mắc đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm sát điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, quá trình nghiên cứu, tác giả tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ mặt lý luận về kiểm sát điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng kiểm sát điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2012 đến 2016 Chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế, nguyên nhân tồn tại trong kiểm sát điều tra đối với loại án này
- Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong thời gian tới
4 Đối tƣợn v p ạm vi n i n cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 12Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động Kiểm sát điều tra các vụ án
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các vấn đề về công tác kiểm sát điều tra của VKSND đối với các vụ án hình sự cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự
năm 1999[19] xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2012 đến 2016
5 P ƣơn p áp lu n v p ƣơn p áp n i n cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học, thảo luận, tọa đàm và trực tiếp khảo sát …
6 Ý n ĩa lý lu n v t ực tiễn của lu n văn
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn kiểm sát điều tra các vụ án
về cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian từ năm 2012 đến 2016
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn đưa ra Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, là tài liệu tham khảo để phục vụ cho cán bộ của Viện kiểm sát trong hoạt động thực tiễn
7 Kết cấu của lu n văn
Trang 13Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận và lập pháp tố tụng hình sự về kiểm sát điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Chương 2 Các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về kiểm sát điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3 Hoàn thiện các quy định của pháp luật và các giải pháp khác nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LẬP PHÁP TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN
HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC
1 1 K ái niệm kiểm sát điều tra các vụ n sự
Theo quy định của Hiến pháp thì VKSND thực hành quyền công tố và kiểm
sát các hoạt động tư pháp Tại Điều 4 Luật tổ chức Viện KSND năm 2014[21] quy
định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự…Theo quy định này thì kiểm sát điều tra là một trong những nội dung thuộc kiểm sát hoạt động tư pháp cho nên nhiệm vụ của VKSND là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của các Cơ quan điều tra mà các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Theo từ điển Luật học thì: Công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra của Cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra bằng các hoạt động sau: kiểm sát việc tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra; Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra; Phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra; Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy
bỏ các biện pháp ngăn chặn; Hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của Cơ quan điều tra; Yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra, thay đổi, xử lý Điều tra viên vi phạm pháp luật; nếu hành vi của Điều tra viên
đó có dấu hiệu phạm tội thì khởi tố về mặt hình sự; Quyết định đình chỉ hoặc tạm tạm đình chỉ điều tra, quyết định truy tố bị can; Kiến nghị với các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm
Mục đích của kiểm sát điều tra là nhằm đảm bảo pháp luật được tuân thủ một
Trang 15cách nghiêm chỉnh và thống nhất trong suốt cả quá trình điều tra vụ án hình sự Kiểm sát điều tra các vụ án hình sự là hoạt động của VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự phát sinh trong giai đoạn tiền khởi tố đến giai đoạn điều tra (từ khi CQĐT tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến khởi tố vụ án hình sự và đến khi CQĐT làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra), nhằm đảm bảo cho quá trình điều tra vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm việc điều tra phải khách quan, toàn diện đầy đủ, chính xác; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh
Như vậy, kiểm sát điều tra trong các vụ án hình sự là hoạt động của VKSND
kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật TTHS phát sinh trong quá trình tiếp nhận, giải quyết thông tin về tội phạm và khởi tố, điều tra, nhằm đảm bảo cho quá trình giải quyết thông tin về tội phạm và điều tra vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật
* Phân biệt chức năng thực hành quyền công tố với chức năng kiểm sát điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Tại Khoản 1, Điều 107 Hiến pháp năm 2013[20] có quy định: “Viện kiểm sát
nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” và Điều 2 Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014[21]cũng quy định: “Viện kiểm sát nhân
dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Như vậy, thực hành quyền công tố là một
trong hai chức năng hiến định Viện kiểm sát nhân dân
Về bản chất, thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
(Khoản 1, Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014) [21]
Trong quá trình tố tụng hình sự, hoạt động thực hành quyền công tố bao gồm:
Trang 16- Khởi tố bị can: Để có được quyết định khởi tố bị can, cơ quan công tố phải khởi tố vụ án và điều tra, xác minh
- Truy tố bị can ra trước tòa án trên cơ sở kết quả điều tra vụ án và chứng minh được người phạm tội
- Buộc tội bị cáo và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa bằng cách công bố bản cáo trạng, tham gia xét hỏi, trình bày lời luận tội và tranh luận trước phiên tòa sơ thẩm; nếu vụ án bị kháng cáo hoặc kháng nghị thì có mặt để tham gia xét hỏi và trình bày lời kết luận về kháng cáo, kháng nghị trước phiên tòa phúc thẩm
Tại Khoản 1, Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014[21] xác định:
"Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự" Theo đó, Viện kiểm
sát nhân dân thực hành quyền công tố của mình trong những lĩnh vực sau:
- Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố
- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự
- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố tội phạm
- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
- Điều tra một số loại tội phạm
- Thực hành quyền công tố trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự
Từ bản chất, nội dung, phạm vị hoạt động thực hành quyền công tố nêu trên có thể thấy công tác thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm:
- Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
- Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật
- Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật
Trang 17Tại Điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014[21] quy định:chức
năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự…Mục đích của kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm: đảm bảo việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, việc giải quyết vụ án hình sự … được thực hiện đúng quy định của pháp luật Kiểm sát điều tra là bộ phận của kiểm sát hoạt động tư pháp
Theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của BLTTHS[18] thì VKSND kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong TTHS có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia
tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này
Kiểm sát các hoạt động điều tra là một khái niệm mới, nhưng trên thực tế đã được VKSND thực hiện từ những năm 1960 tức là ngay từ khi được thành lập Đó
là công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự Theo Hiến pháp, BLTTHS và pháp luật hiện hành thì kiểm sát điều tra là một lĩnh vực hoạt động chỉ thuộc một cơ quan duy nhất là VKSND Hoạt động KSĐT bắt đầu từ giai đoạn phát hiện tội phạm (tiếp nhận giải quyết tố giỏc, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố) đến khi VKS có quyết định truy tố người phạm tội ra Tòa án nhân dân hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án đã có hiệu lực pháp luật Mục đích của kiểm sát các hoạt động điều tra là bảo đảm cho các hoạt động điều tra phải chấp hành đúng các trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn đã được pháp luật quy định Do vậy, khái niệm kiểm sát các hoạt động điều tra được hiểu là: Hoạt động của VKSND trong việc bảo đảm cho các hoạt động điều tra được thực hiện theo quy định pháp luật
Từ phân tích nêu trên, chúng tôi rút ra nhận thức về chức năng KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là: Hoạt động kiểm sát các hoạt động điều tra của
Trang 18Cơ quan CSĐT các vụ án hình sự từ khi CQĐT tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố, đến giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án nhằm bảo đảm cho các hoạt động điều tra được tuân thủ theo trình tự đúng quy định của BLTTHS và đúng pháp luật
1 2 K ái niệm, đặc điểm, ý n ĩa oạt độn kiểm sát điều tra các vụ án
n sự đối với cố ý â t ƣơn tíc oặc â tổn ại c o sức k ỏe của n ƣời khác
1.2.1 Khái niệm
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được
quy định ở Điều 104 BLHS năm 1999[19] Tội này bao gồm hành vi: "Gây thương
tích cho người khác" Đây là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể
con người, gây ra những thương tích nhất định (để lại dấu vết) và những thương tật
nhất định cho người khác "Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác" là hành vi
dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể con người gây ra những tổn hại nhất định (tỷ lệ thương tật nhất định) cho sức khỏe của nạn nhân, mặc dù không để lại dấu vết trên thân thể họ, hoặc làm mất chức năng hoạt động của một bộ phận cơ thể của nạn nhân, làm giảm chức năng hoạt động của bộ phận đó
Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm kiểm sát điều tra các vụ án cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau: Kiểm sát
điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự phát sinh từ khi tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giai đoạn điều tra vụ án đối với người có hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đã bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố nhằm đảm bảo cho quá trình điều tra được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật
1.2.2 Đặc điểm
Hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác có một số đặc điểm cụ thể như sau:
Trang 19- Kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nói chung và các vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng là hoạt động chỉ do VKSND tiến hành, là một chức năng của VKS được quy định trong TTHS: Theo quy định của pháp luật thì VKSND các cấp là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Thông qua việc thực hiện chức năng này, VKSND góp phần thực hiện quyền lực Nhà nước, bảo đảm mọi hành vi xâm phạm tới lợi ích Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật
- Chủ thể thực hiện hoạt động KSĐT là Viện kiểm sát và các chủ thể có chức danh trong Ngành kiểm sát gồm: Viện trưởng, Phó viện trưởng VKSND, Kiểm sát viên (sau đây gọi chung là Kiểm sát viên) theo quy định của BLTTHS, Luật tổ chức VKSND
- Quá trình kiểm sát điều tra các vụ án CYGTT các Kiểm sát viên chỉ được áp dụng các biện pháp và phương tiện theo quy định của pháp luật và theo chức năng, quyền hạn của ngành Kiểm sát nhân dân và của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án
- Hoạt động KSĐT của VKSND trong giai đoạn điều tra các vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được diễn ra trực tiếp đối với mọi hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, nhằm mục đích bảo đảm tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra
- Là hoạt động kiểm sát điều tra các hoạt động điều tra của Cơ quan CSĐT và
cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra từ tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, đến khi khởi tố vụ án hình
sự và kết thúc khi vụ án được kết thúc điều tra chuyển sang giai đoạn truy tố Hoạt động kiểm sát điều tra này của VKSND được tiến hành công khai theo đúng trình
tự, thủ tục do BLTTHS
Ngoài ra đặc điểm của hoạt động kiểm sát điều tra đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác còn góp phần bảo đảm việc tiếp nhận tin báo tố giác về tội phạm, khởi tố vụ án, khởi tố bị can điều tra vụ án
Trang 20được chính xác
1.2.3 Ý nghĩa của hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Một là, hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác sẽ đảm bảo mọi hành vi phạm tội cố ý gây thương tích điều phải được điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội Mặc khác, giúp việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can
có căn cứ, đúng pháp luật; đồng thời tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị khắc phục, góp phần răn đe và phòng ngừa tội phạm Thực tiễn trong những năm qua đã chứng minh, công tác KSĐT các vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đã có tác dụng góp phần trong cuộc phòng ngừa và đấu tranh loại tội phạm này, giữ vững trật tự an toàn xã hội
Hai là, hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác bảo đảm sự tuân thủ pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự là một trong những bảo đảm của nguyên tắc Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự với nhiệm vụ làm cho mọi hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải tuân thủ các quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự [18] Đối tượng của kiểm sát điều tra là sự tuân thủ pháp
luật trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự của CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra vụ án hình sự để xác định tội phạm
và người phạm tội Khi phát hiện có vi phạm pháp luật của các đối tượng kể trên trong vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Viện kiểm sát
có trách nhiệm kịp thời áp dụng các biện pháp thích hợp do pháp luật quy định để loại trừ vi phạm đó Với việc quy định trách nhiệm, quyền năng này, Nhà nước đòi hỏi ở Viện kiểm sát giám sát, thực hiện và bảo đảm một nền tố tụng công bằng,
Trang 21khách quan, đúng pháp luật và có hiệu lực, hiệu quả
1.3 Nội dun của oạt độn kiểm sát điều tra các vụ án cố ý â t ƣơn tíc oặc â tổn ại c o sức k ỏe của n ƣời k ác của Viện kiểm sát
Theo quy định của pháp luật thì VKSND thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp bằng các phương pháp kiểm tra giám sát toàn bộ quá trình hoạt động
tư pháp do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện Nội dung của hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đó là: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra các vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của Cơ quan CSĐT và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Để thực hiện nhiệm vụ đấu tranh và phòng ngừa tội phạm CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, trong hoạt động Cơ quan CSĐT và VKSND luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm đảm bảo cho mọi hành vi phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đều phải được điều tra kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh, không để bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện bằng các công tác sau đây:
1.3.1 Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Theo quy định tại Điều 101 và Điều 103 BLTTHS[18] thì CQĐT, VKS có
trách nhiệm phải tiếp nhận tố giác và tin báo về tội phạm do công dân, cơ quan, tổ chức cung cấp Sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm trong thời hạn hai mươi ngày đối với vụ việc đơn giản và trong thời hạn không quá hai tháng đối với
vụ việc phức tạp, CQĐT phải có trách nhiệm xác minh làm rõ để ra quyết định và gửi đến VKS cùng cấp; VKS có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm nói chung trong đó có tội cố ý thương tích
Khởi tố vụ án nói chung và đối với vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng, sau khi vụ án được khởi tố thì cơ quan khởi tố vụ án
có trách nhiệm gửi quyết định khởi tố vụ án đến VKSND để tiến hành kiểm sát việc
Trang 22khởi tố Đây là một trong những hoạt động tố tụng của VKS khi thực hiện chức năng kiểm sát đối với CQĐT nhằm bảo đảm việc khởi tố vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được kịp thời, có căn cứ, đúng pháp luật Theo
đó, VKS cũng phải kiểm sát chặt chẽ việc khởi tố bị can trong các vụ án hình sự cũng như vụ án Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Quyết định khởi tố bị can chỉ được ban hành trên cơ sở quyết định khởi tố
vụ án, là căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng hình sự áp dụng các biện pháp điều tra nhằm làm rõ tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phương tiện của bị can gây ra Hoạt động kiểm sát việc khởi tố bị can về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác không chỉ là quyền, mà còn là nhiệm vụ của VKS nhằm đảm bảo CQĐT khởi tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đảm bảo hoạt động điều tra các vụ án này được kịp thời nhằm chuẩn bị tốt cho giai đoạn truy tố, xét xử sau này
Theo quy định tại Điều 126 BLTTHS[18], khi có đủ căn cứ để xác định một
người đã thực hiện hành vi phạm tội thì CQÐT ra quyết định khởi tố bị can, VKS có trách nhiệm xem xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của CQĐT
Hoạt động kiểm sát việc khởi tố bị can của VKS được thực hiện trong thời hạn
24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, CQĐT phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho VKS cùng cấp để xét phê chuẩn việc khởi tố Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, VKS phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can
và gửi ngay cho CQĐT ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; VKS ra quyết định phê chuẩn và quyết định phê chuẩn này phải được gửi ngay cho CQĐT cùng cấp và cho bị can
1.3.2 Kiểm sát việc khởi tố vụ án và khởi tố bị can trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
* Kiểm sát việc khởi tố vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Khởi tố vụ án là hệ quả logíc của việc xác minh giải quyết tin báo tội phạm,
Trang 23quyết định khởi tố vụ án là sự kiện pháp lý kết thúc giai đoạn này đồng thời mở đầu cho giai đoạn tiếp theo là giai đoạn điều tra vụ án Theo quy định tại các Điều 37,
109, 113 BLTTHS [18] thì CQĐT, VKS và Tòa án có trách nhiệm ra quyết định
khởi tố vụ án để tiến hành điều tra hành vi phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo trình tự TTHS Sau khi vụ án được khởi tố thì hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án phát sinh, CQĐT hoặc một số cơ quan được giao thẩm quyền điều tra có trách nhiệm phải gửi quyết định khởi tố vụ án đến VKSND
để tiến hành kiểm sát việc khởi tố Đây là một trong những hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng kiểm sát đối với CQĐT nhằm đảm bảo việc khởi tố vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được kịp thời, có căn cứ đúng pháp luật Vì vậy, Viện kiểm sát phải nắm bắt kịp thời việc ban hành các quyết định khởi tố để kiểm sát tính có căn cứ, tính hợp pháp và khắc phục những sai sót nếu có
Khoản 1 Điều 109 BLTTHS [18] quy định “VKS thực hành quyền công tố,
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố vụ án hình sự, đảm bảo mọi tội phạm được phát hiện đều phải được khởi tố, việc khởi tố vụ án có căn cứ và hợp pháp” Thông qua hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án, VKS có quyền hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án khi những quyết định này không đảm bảo căn cứ của cơ quan có thẩm quyền Trong trường hợp này VKS có quyền trực tiếp ra quyết định khởi tố vụ án, quyết định thay đổi hay bổ sung quyết định khởi tố vụ án và giao Cơ quan điều tra tiến hành điều tra (Điều 104, 106, 112
BLTHS[18]) Căn cứ để khởi tố vụ án hình sự là khi đã xác định sự kiện có dấu hiệu tội phạm, dựa trên các căn cứ quy định tại Điều 100 BLTTHS 2003[18] Tuy
nhiên, do yêu cầu của sự hài hòa giữa mục tiêu của cuộc đấu tranh phòng chống vi phạm và tội phạm; lợi ích, nguyện vọng của người bị hại nên BLTTHS năm 2003
[18] quy định về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (quy
định tại khoản 1 Điều 104 BLHS[19]) chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu
cầu khởi tố vụ án hình sự của người bị hại Nếu trường hợp người bị hại rút yêu cầu
mà cơ quan chức năng xác định là việc rút yêu câu đó xác định là trái ý muốn của
Trang 24họ do đe dọa, cưỡng bức, ép buộc Thì tuy người yêu cầu đã rút yêu cầu thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiếp tục tố tụng với vụ án đó
Mặt khác theo Điều 104 BLTTHS[18] cũng quy định qua việc xét xử tại phiên
tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra, Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu VKS khởi tố Đối với trường hợp VKS nhận được yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử, thì phải xem xét
và quyết định việc khởi tố, nếu có căn cứ thì ra quyết định khởi tố và chuyển đến CQĐT tiến hành hoạt động điều tra, nếu thấy không có căn cứ thì có quyền ra quyết định không khởi tố và thông báo cho Hội đồng xét xử biết Đối với trường hợp VKS nhận được quyết định khởi tố của Hội đồng xét xử, VKS phải xem xét và quyết định việc điều tra Nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử có căn
cứ thì VKS quyết định việc điều tra và chuyển quyết định này đến Cơ quan điều tra
có thầm quyền Nếu không có căn cứ thì VKS có quyền kháng nghị lên Tòa án cấp
trên (khoản 2 Điều 109 BLTTHS[18])
* Kiểm sát việc khởi tố bị can trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Quyết định khởi tố bị can trong vụ án hình sự nói chung, vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng chỉ được ban hành trên cơ sở quyết định khởi tố vụ án, là căn cứ để cơ quan tiến hành TTHS áp dụng các biện pháp điều tra nhằm làm rõ tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị can gây ra Hoạt động kiểm sát việc khởi tố bị can về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác không chỉ là quyền, mà còn là nhiệm vụ của VKS nhằm đảm bảo CQĐT khởi tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đảm bảo hoạt động điều tra các vụ án này kịp thời, chuẩn bị tốt cho giai đoạn truy tố, xét xử sau này
Theo quy định tại Điều 126 BLTTHS[18] thì khi có đủ căn cứ để xác định
một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì CQĐT ra quyết định khởi tố bị can Việc quy định trên thể hiện căn cứ ra quyết định khởi tố bị can chặt chẽ hơn căn cứ
ra quyết định khởi tố vụ án Nếu quyết định khởi tố bị can không chính xác, không
Trang 25đúng luật sẽ gây khó khăn cho quá trình điều tra, xác minh sự thật của vụ án, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, gây tác hại xấu về mặt chính trị - xã hội, giảm sút lòng tin của công dân đối với các cơ quan tố tụng, với Nhà nước Xác định được tính chất quan trọng của việc ra quyết định khởi tố bị can nên
khoản 4 Điều 126 BLTTHS[18] đã quy định là VKS có trách nhiệm phải phê chuẩn
quyết định khởi tố bị can của CQĐT
Hoạt động kiểm sát việc khởi tố bị can của Viện kiểm sát thể hiện ở chỗ: Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho VKS cùng cấp để xem xét phê chuẩn việc khởi tố Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can và gửi ngay cho CQĐT Việc quy định này sẽ đảm bảo cho VKS tiến hành kiểm sát điều tra được ngay từ giai đoạn đầu, hạn chế thấp nhất việc khởi tố oan sai, đảm bảo việc khởi tố đúng người, đúng tội
Trong quá trình điều tra, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác thì Cơ quan điều tra, VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can Như vậy thay đổi quyết định khởi tố bị can là trường hợp việc xác định tội danh trong quyết định khởi
tố bị can chưa đúng, cần phải áp dụng khung, khoản khác, điều khác hoặc có sai sót trong quyết định khởi tố bị can cần phải sửa chữa bổ sung
Việc khởi tố bị can là hoạt động tố tụng có ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của người bị khởi tố Cho nên Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định khởi tố bị can; thay đổi bổ sung quyết định khởi tố bị can cho người bị khởi tố
và phải giải thích rõ quyền và nghĩa vụ cho bị can theo quy định tại Điều 49
BLTTHS năm 2003[18]
Nhiệm vụ của VKSND là đảm bảo ban hành các quyết định phát sinh trong quá trình điều tra vụ án có căn cứ và hợp pháp Do vậy, quá trình KSĐT đòi hỏi Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến hành vi mà bị can đã thực hiện Đồng thời, Kiểm sát viên cần có kiến thức vững vàng về Luật hình
Trang 26sự, TTHS, về chế độ quản lý xã hội để đánh giá đúng hành vi mà bị can đã thực hiện Ngoài ra, Kiểm sát viên còn có thể trực tiếp áp dụng các biện pháp khác như tham gia vào quá trình lấy lời khai, hỏi cung bị can, thảo luận với Điều tra viên về những vấn đề có liên quan đến khởi tố bị can Trên cơ sở đó kịp thời yêu cầu CQĐT hoặc VKS ra quyết định hủy bỏ, bổ sung, thay đổi, ban hành quyết định khởi tố bị can chính xác, đúng luật, tránh xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của công dân, tránh việc ra quyết định nhiều lần, hạn chế việc trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung ở các giai đoạn sau, ảnh hưởng tiến độ giải quyết án
1.3.3 Kiểm sát các hoạt động điều tra trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
* Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
Khám nghiệm hiện trường là hoạt động nghiệp vụ trong TTHS, do các cơ quan
tiến hành tố tụng tiến hành nhằm thu thập, nghiên cứu và đánh giá dấu vết, vật chứng và các tin tức, tài liệu tại hiện trường phục vụ công tác điều tra và xử lý tội phạm Mục đích của khám nghiệm hiện trường vụ án không chỉ là việc phát hiện thu lượm dấu vết, vật chứng và những tin tức, tài liệu nhằm củng cố làm chứng cứ pháp lý mà còn thể hiện việc kịp thời rút ra những thông tin cần thiết từ sự phản ánh vật chất để phục vụ cho công tác điều tra tiếp theo
Theo quy định tại Điều 150 BLTTHS[18] thì Điều tra viên tiến hành khám
nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm nhằm phát hiện dấu vết của tội phạm, những chứng cứ và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án Khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khi khởi tố vụ án hình sự; trong mọi trường hợp, trước khi tiến hành khám nghiệm, Điều tra viên phải thông báo cho VKS cùng cấp biết Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường Khi khám nghiệm, phải có người chứng kiến; có thể để cho bị can, người bị hại, người làm chứng tham gia khám nghiệm Những hiện trường cần những chuyên môn sâu thì phải mời chuyên gia tham gia khi khám nghiệm Ví dụ, khi phát hiện có người chết mà chưa rõ nguyên nhân thì phải mời bác sĩ pháp y tham gia khám nghiệm để kết luận nguyên nhân chết Trong khi khám nghiệm, Điều tra viên phải tiến hành
Trang 27chụp ảnh; vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô hình, thu lượm và xem xét tại chỗ dấu vết của tội phạm, đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án; ghi rõ kết quả việc xem xét đó vào biên bản khám nghiệm hiện trường Trong trường hợp không thể xem xét ngay được thì đồ vật, tài liệu thu giữ phải được bảo quản, giữ nguyên dạng hoặc niêm phong đưa về nơi tiến hành điều tra
Đối với các vụ án hình sự CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dẫn đến hậu quả chết người thì thường là sau khi nạn nhân đưa đi cấp cứu do vết thương nặng dẫn đến tử vong, nhưng cũng có trường hợp mấy ngày sau hoặc có thể hàng tháng sau nạn nhân mới tử vong Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau nên hiện trường thường hay bị xáo trộn Do đó, hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường đòi hỏi phải tỷ mỷ, thận trọng và khách quan
Ngay sau khi tiếp nhận tin báo tội phạm CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, VKS có trách nhiệm phân công Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc điều tra tại hiện trường Trước khi khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải yêu cầu Cơ quan CSĐT thông báo sự việc xảy ra để tham gia ý kiến vào việc chuẩn bị khám nghiệm và chủ động trong việc kiểm sát khám nghiệm Khi khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải chú ý nội dung và biện pháp khám nghiệm của Điều tra viên; Việc khám nghiệm hiện trường phải được lập biên bản và thực
hiện theo đúng quy định tại Điều 95, Điều 125, Điều 150 BLTTHS[18] Trên cơ sở
khám nghiệm hiện trường, nếu xác định có dấu hiệu tội phạm mà Cơ quan CSĐT không khởi tố vụ án để điều tra, thì Kiểm sát viên phải báo cáo đề xuất lãnh đạo cấp mình để xem xét quyết định
Khám nghiệm tử thi là hoạt động điều tra do Điều tra viên tiến hành, có bác sĩ
pháp y và có người chứng kiến nhằm nghiên cứu, đánh giá, thu thập thông tin từ dấu vết bên ngoài, bên trong tử thi; xác định thương tích dẫn đến cái chết của nạn nhân và cùng với việc nghiên cứu, đánh giá hệ thống dấu vết thu thập được trong hoạt động khám nghiệm hiện trường để xác định tính chất của vụ việc đã xảy ra có hay không có dấu hiệu của tội phạm để quyết định sự việc cần hay không cần khởi
tố vụ án hình sự Trong mọi trường hợp việc khám nghiệm tử thi phải được thông
Trang 28báo trước cho VKSND cùng cấp biết Kiểm sát viên phải có mặt để giám sát quá trình khám nghiệm tử thi; Kiểm sát viên phải yêu cầu CQĐT thực hiện theo quy
định tại các Điều 95, Điều 125 và Điều 151 BLTTHS[18] Trường hợp cần phải
khai quật tử thi thì Kiểm sát viên phải kiểm tra về sự cần thiết và nội dung quyết định khai quật tử thi của CQĐT trước khi ra hiện trường, phải yêu cầu CQĐT thông báo cho gia đình nạn nhân và chính quyền địa phương về lý do khai quật tử thi
* Kiểm sát việc trưng cầu giám định trong hoạt động điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Giám định là vấn đề quan trọng đối với việc phát hiện và xử lý vụ án hình sự nói chung, các vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng Kết quả giám định là một trong những tài liệu, chứng cứ quan trọng để xác định những tình tiết cần phải chứng minh trong vụ án hình sự Vì vậy Kiểm sát viên được phân công thụ lý các vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác phải nắm vững tinh thần và nội dung của BLTTHS năm 2003[18] về quy định
giám định tư pháp để áp dụng thực hiện đảm bảo đúng quy định của pháp luật, phải chủ động phát hiện các vấn đề cần phải giám định để yêu cầu CQĐT tiến hành trưng cầu giám định cho phù hợp (như giám định pháp y, giám định kế toán tư pháp ) Việc trưng cầu giám định và giám định lại phải thực hiện theo quy định tại
các Điều 155, Điều 159 BLTTHS[18] Đối với quyết định trưng cầu giám định của
CQĐT và kết luận giám định, Kiểm sát viên phải kiểm sát những vấn đề sau: Nội dung yêu cầu giám định phải cụ thể, sát với sự việc và những vấn đề cần giải đáp; Kết luận của Giám định viên giải đáp các nội dung của quyết định trưng cầu giám định
Nếu thấy có nghi ngờ về tính khách quan, tính khoa học của bản kết luận giám định, hoặc thấy kết luận của Giám định viên không phù hợp với các chứng cứ khác
do CQĐT thu thập, thì Kiểm sát viên phải báo cáo lãnh đạo có thẩm quyền để yêu cầu CQĐT hoặc trực tiếp yêu cầu Giám định viên giải đáp thêm, quyết định trưng cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại Yêu cầu Giám định viên đã giám định lần trước không được giám định lại và phải giao nộp đầy đủ tài liệu có liên quan cho
Trang 29người giám định lại
* Kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can
Hoạt động hỏi cung bị can là biện pháp tố tụng mà CQĐT áp dụng công khai, trực tiếp với bị can nhằm phát hiện, thu thập và củng cố chứng cứ, làm rõ toàn bộ sự thật về hành vi phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của bị can hoặc đồng phạm (nếu có) đã bị khởi tố, cũng như những tình tiết khác có liên quan để phục vụ cho công tác điều tra, xử lý đối với vụ án
Để hoạt động hỏi cung bị can đáp ứng yêu cầu khách quan, toàn diện và đúng pháp luật thì VKS phải giám sát hoạt động hỏi cung của CQĐT Căn cứ pháp luật
để VKS thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc hỏi cung bị can đó là
Điều 113, Điều 131 BLTTHS[18], Điều 15 Luật tổ chức VKS năm 2014[21] và Điều 16 quy chế công tác kiểm sát điều tra[36]
BLTTHS cho phép nhưng không bắt buộc Kiểm sát viên trực tiếp tham gia vào việc hỏi cung bị can Thông thường hoạt động này được thực hiện gián tiếp qua nghiên cứu hồ sơ vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, nếu thấy chứng cứ chưa rõ ràng, lời khai giữa bị can, nhân chứng và người bị hại có mâu thuẫn hoặc phát hiện việc hỏi cung của CQĐT không khách quan như: Mớm cung, bức cung, dụ cung, dùng nhục hình hoặc khi bị can phản cung thì Kiểm sát viên thụ lý vụ án phải trực tiếp tham gia hỏi cung bị can Để cho việc hỏi cung đạt yêu cầu, mục đích đặt ra, đòi hỏi Kiểm sát viên phải nắm vững hồ sơ vụ án, các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội của bị can, xác định rõ nội dung cần làm sáng tỏ
và phải dự liệu được diễn biến của cuộc hỏi cung để có phương pháp, chiến thuật hỏi cung phù hợp Qua đó, Kiểm sát viên phát hiện các vi phạm pháp luật để khắc phục kịp thời hoặc tìm những điểm còn mâu thuẫn, vấn đề cần chứng minh trong vụ
án
Khi kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can, Kiểm sát viên cần phải nắm vững về nhân thân, trình độ, tâm lý, các mối quan hệ của bị can để có các biện pháp đấu tranh, làm rõ hành vi phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của họ một cách có hiệu quả Có những trường hợp bị can ngoan cố, từ chối
Trang 30trả lời các câu hỏi chỉ vì họ tin tưởng sẽ có người giúp đỡ, nhờ ô dù hoặc có thể dùng tiền bạc để mua chuộc người tiến hành tố tụng Vì vậy Kiểm sát viên cần phải nắm vững các quan hệ xã hội của bị can và có biện pháp đấu tranh để bị can hiểu rằng không còn cách nào khác là thành khẩn khai báo để được hưởng khoan hồng của Nhà nước
Ngoài ra, trong những vụ án mà người phạm tội là người chưa thành niên thì VKS phải kiểm sát bảo đảm việc tiến hành hoạt động hỏi cung bị can phải có mặt người giám hộ tham gia Đây là quy định bắt buộc nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên phạm tội
Tóm lại, kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can phải bảo đảm ba yếu tố, đó là khách quan, trung thực và đúng pháp luật Kết quả lời khai của bị can phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án đã thu thập được thì được coi là chứng cứ Nếu lời khai của bị can không trung thực, không khách quan thì lời khai đó không có giá trị chứng minh tội phạm, dẫn đến việc kết luận, giải quyết vụ án không khách quan Chính vì vậy, việc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động hỏi cung của VKS là rất quan trọng, góp phần vào việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội một cách đúng đắn và khách quan
* Kiểm sát hoạt động lấy lời khai người làm chứng
Lấy lời khai người làm chứng là một biện pháp điều tra được tiến hành nhằm thu thập, mô tả và ghi chép theo trình tự TTHS những thông tin do người làm chứng cung cấp về những tình tiết của vụ án đang được điều tra và những tin tức tài liệu khác mà người làm chứng biết có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm Việc lấy lời khai người làm chứng phải đảm bảo chính xác, khách quan,
theo đúng quy định tại các Điều 55, Điều 133, Điều 135, Điều 136 BLTTHS[18]
Trong các vụ án hình sự cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người
khác thì thường xảy ra ban ngày, có nhiều người có mặt tại hiện trường chứng kiến,
có mối quan hệ thân thuộc, nhiều người là họ hàng Đó là những người gần gũi với
bị can trong công việc và ít nhiều bị ràng buộc mối quan hệ hoặc quyền lợi vật chất
từ hành vi phạm tội của bị can Có trường hợp vừa là bị can và cũng là nhân chứng
Trang 31về hành vi phạm tội của bị can khác trong vụ án Do vậy, khi tiến hành kiểm sát hoạt động lấy lời khai của họ phải luôn chú ý đến độ tin cậy khi họ trình bày về một vấn đề nào đó có liên quan đến chính họ Trong nhiều trường hợp nhân chứng trong
vụ án là bị can và bản thân họ lường trước được điều đó nên trong quá trình làm việc, họ tìm cách đưa ra những tình tiết, chứng cứ có lợi nhằm loại trừ trách nhiệm hình sự của họ trong vụ án Ngoài ra trong nhiều trường hợp người biết việc không muốn làm chứng họ sợ mất thời gian, sợ bị trả thù nên họ thường do dự, chần chừ, lẫn tránh khai báo Mặt khác, trong số những người làm chứng có thể có cả những người có mối quan hệ đối với đối tượng phạm tội Những người này thường có xu hướng khai bớt xén những tình tiết bất lợi cho bị can, thậm chí khai sai sự thật gây khó khăn cho quá trình điều tra Do đó khi đánh giá lời khai, tài liệu của người làm chứng cung cấp, phải khai thác triệt để mối quan hệ của họ với bị can, các yếu tố ảnh hưởng đến chính xác, khách quan của chúng CQĐT có nghĩa vụ thực hiện quy
định tại khoản 3 Điều 55 BLTTHS 2003[18] để người làm chứng có thể yên tâm
công tác với cơ quan bảo vệ pháp luật VKS có thể trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm sát hoạt động này để bảo đảm việc lấy lời khai người làm chứng theo đúng luật định, có căn cứ và hợp pháp, trở thành chứng cứ chứng minh trong vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
* Kiểm sát hoạt động khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản của Cơ quan điều tra
Trong các vụ án hình sự CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì việc kê biên tài sản ít thực hiện, chủ yếu là thực hiện việc khám xét, thu giữ, tạm giữ là hung khí sử dụng gây án hoặc thu giữ quần áo đối tượng mặc có dấu vết của tội phạm; nhưng số lượng vụ án ra lệnh khám xét đối với loại án này không nhiều vì các vụ án xảy ra đa số không phải là nơi ở của đối tượng gây án và sau khi gây án đối tượng thường vứt hung khí hoặc vật mang dấu vết tội phạm tại hiện trường vụ án hoặc trên đường bỏ chạy
Do vậy, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc khám xét của Cơ quan CSĐT đảm bảo tính có căn cứ và hợp pháp Khi thực hiện kiểm sát việc khám xét,
Trang 32140 đến Điều 148 BLTTHS [18] và hướng dẫn của VKSNDTC, Bộ công an, Bộ tư
pháp và Bộ tài chính về bảo quản, giao nhận vật chứng và tài sản tạm giữ Đối với những trường hợp CQĐT đề nghị phê chuẩn lệnh khám người, chỗ ở, chỗ làm việc Kiểm sát viên phải khẩn trương nghiên cứu, xem xét thận trọng yêu cầu của CQĐT; kịp thời báo cáo, đề xuất với lãnh đạo có thẩm quyền quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn Chỉ khi có căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì mới quyết định phê chuẩn áp dụng biện pháp khám xét và phải bảo đảm hoạt động khám xét phải tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, không được lợi dụng khám xét mà xâm phạm một cách trái pháp luật các quyền, lợi ích đó
Kiểm sát viên yêu cầu CQĐT sau khi khám xét xong, phải thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp Kiểm sát viên phải nghiên cứu các lệnh, các biên bản khám xét của CQĐT để kịp thời phát hiện và yêu cầu sửa chữa các vi phạm pháp luật Phải yêu cầu theo dõi và kiểm tra việc bảo quản tài sản vật chứng, giải quyết xử lý kịp thời những vấn đề liên quan đến vật chứng, tài sản
* Kiểm sát quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác của Cơ quan Cảnh sát điều tra
Đình chỉ điều tra là biện pháp tố tụng do CQĐT áp dụng ở giai đoạn điều tra
vụ án khi có một trong những căn cứ do pháp luật tố tụng hình sự quy định Việc nhà làm luật xây dựng chế định “Đình chỉ điều tra” là thể hiện quan điểm bên cạnh việc xử lý nghiêm minh tội phạm và người phạm tội, Nhà nước ta luôn có chính sách khoan hồng nhân đạo đối với người phạm tội, đặc biệt là không làm oan người
vô tội Nên đình chỉ điều tra vụ án hình sự trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ của CQĐT phải ra quyết định đình chỉ khi có căn
cứ để đình chỉ điều tra
Theo quy định tại khoản 2 Điều 164 BLTTHS[18] thì CQĐT ra quyết định
đình chỉ điều tra khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và
Điều 107 của Bộ luật này hoặc tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của BLHS,
Trang 33hoặc đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đó thực hiện tội phạm Quá trình điều tra nhiều vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra trong trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều 105 BLTTHS[18], một số vụ án đình chỉ điều tra thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của BLHS[19] đó là: Do sự chuyển biến
của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho
xã hội nữa, có thể xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho họ, chuyển giao cho cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội xử lý Một số trường hợp kết quả điều tra không chứng minh được bị can đã phạm tội, nhưng để né tránh trách nhiệm khiếu nại, khiếu tố của bị can, CQĐT không áp dụng đúng, chính xác lý do đình chỉ là “Vì không có sự việc phạm tội” hoặc “Hành vi không cấu thành tội phạm” theo luật quy định, mà lấy lý do: “Đã khắc phục hậu quả, chưa đến mức phải truy tố”
Khi tiến hành hoạt động kiểm sát việc đình chỉ điều tra thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để kiểm tra căn cứ của việc đình chỉ điều tra theo quy định
tại Điều 164 BLTTHS[18] Nếu thấy việc đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra
bị can là đúng thì Kiểm sát viên phải báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến vật chứng, các biện pháp ngăn chặn đã áp dụng và tài sản đã bị tạm giữ nếu thấy lý do việc đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can là không đúng thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo VKSND có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra của CQĐT, đồng thời yêu cầu phục hồi điều tra vụ án
Đối với vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tạm đình chỉ điều tra thì Kiểm sát viên phải kiểm tra tính có căn cứ trong việc tạm đình chỉ
điều tra theo quy định Điều 160, Điều 169 BLTTHS[18] Nếu không biết bị can
đang ở đâu thì yêu cầu CQĐT ra quyết định truy nã bị can theo quy định tại Điều
160, Điều 161 BLTTHS[18] Nếu thấy việc tạm đình chỉ điều tra không có căn cứ
thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT, đồng thời ra văn bản yêu cầu tiếp Trường hợp việc tạm đình chỉ điều tra có căn cứ thì VKS phải theo dõi, khi thấy lý do tạm đình
Trang 34chỉ điều ra không còn thì yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra vụ án
1.3.4 Kiểm sát hoạt động lập hồ sơ vụ án hình sự cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2014[21]; điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự[18]
và Điều 33 Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, ban hành kèm
theo quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008[36] của Viện kiểm sát
nhân dân Tối cao thì khi thực hiện nhiệm vụ kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra
Hồ sơ điều tra vụ án hình sự gồm các tài liệu, biên bản hoạt động điều tra là kết quả điều tra của CQĐT, VKSND và các cơ quan khác có thẩm quyền được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do các chủ thể là Kiểm sát viên, Điều tra viên và những người có thẩm quyền tiến hành Các tài liệu, chứng cứ này được thiết lập, thu thập theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS, nhằm chứng minh tội phạm và các tình tiết khác của vụ án
Hồ sơ điều tra vụ án hình sự là toàn bộ những tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nhằm chứng minh hành vi xảy ra là phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có liên quan đến vụ án
Hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra vụ án hình sự CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là việc Viện kiểm sát nhân dân (Kiểm sát viên) thực hiện các thao tác nghiệp vụ để kiểm tra, giám sát các hoạt động điều tra của CQĐT (Điều tra viên) và các cơ quan được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm đảm bảo mọi hoạt động của các cơ quan này được tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự
Thông qua hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Kiểm sát viên kiểm tra và nắm chắc được các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên thu thập trong từng giai đoạn điều tra từ đó đề ra
Trang 35yêu cầu điều tra, định hướng điều tra, nhằm kịp thời bổ sung chứng cứ và hoàn thiện các thủ tục tố tụng của vụ án; Phát hiện những vi phạm của Điều tra viên khi tiến hành tố tụng để kiến nghị khắc phục Kết quả hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ
vụ án là căn cứ để VKSND thực hiện “Quyền công tố Nhà nước”, quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định tố tụng của CQĐT; Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn trong quá trình điều tra vụ án
Hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra vụ án hình sự CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được tiến hành từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm xảy ra, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh các tố giác, tin báo tội phạm đến khi Cơ quan điều tra kết thúc đề nghị truy tố hoặc tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án Kiểm sát viên kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án thông qua việc trực tiếp kiểm sát các hoạt động điều tra của CQĐT như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, hoặc gián tiếp thông qua việc nghiên cứu các biên bản hoạt động điều tra như: Biên bản hỏi cung bị can; biên bản ghi lời khai nhân chứng, bị hại; biên bản thu giữ vật chứng; tài liệu liên quan hoặc nghiên cứu các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Theo quy định tại Điều 8 Thông tư 01/2010-TTLN-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010 của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao-Bộ Công an-Tòa án nhân dân
Tối cao[38] hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra
bổ sung thì: “Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra phải phối hợp chặt chẽ ngay từ khi tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và trong suốt quá trình điều tra vụ án Điều tra viên phải chủ động gửi đầy đủ, kịp thời các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được cho Kiểm sát viên thụ lý vụ án và thực hiện đầy đủ, kịp thời các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được cho Kiểm sát viên thụ lý vụ án và thực hiện đầy đủ các yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát Kiểm sát viên phải thường xuyên theo dõi, nắm chắc tiến độ điều tra vụ án, nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên đã thu thập, kịp thời đề ra yêu cầu điều tra, chủ động phối hợp với Điều tra viên để điều tra làm rõ những vấn đề cần chứng minh ngay trong giai đoạn điều tra
vụ án; đồng thời kiểm sát chặt chẽ các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, bảo đảm việc điều tra khách quan, toàn diện, đúng pháp luật”
Trang 36Trong thực tiễn, một trong các tiêu chí đánh giá về trình độ, năng lực của Kiểm sát viên khi tiến hành hoạt động kiểm sát điều tra thông qua hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra đó là ban hành được bản yêu cầu điều tra thật sự đảm bảo chất lượng Tùy theo từng vụ án cụ thể, Kiểm sát viên có thể đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản hoặc bằng miệng trong trường hợp kiểm sát trực tiếp một số hoạt động điều tra của Điều tra viên như kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can, lấy lời khai người bị hại, người làm chứng Nội dung yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên thể hiện kinh nghiệm nghiệp vụ trong công tác kiểm sát; kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án; kiến thức pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, khả năng tư duy đánh giá chứng cứ Yêu cầu của Kiểm sát viên sẽ định hướng để Điều tra viên lựa chọn, áp dụng các biện pháp điều tra phù hợp thu thập, củng cố chứng
cứ làm sáng tỏ sự thật vụ án không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
1.3.5 Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn trong vụ
án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Biện pháp ngăn chặn là hình thức cưỡng chế do các cơ quan tiến hành tố tụng
áp dụng đối với người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo, người bị kết án khi các
cơ quan này có căn cứ cho rằng cần thiết phải ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc
họ gây khó khăn cho điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Theo quy định của BLTTHS thì quá trình giải quyết các vụ án hình sự cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, CQĐT và VKS trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng hoặc thay thế một trong những biện pháp ngăn chặn sau: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị
để bảo đảm cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, bảo đảm hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi
Để hỗ trợ đắc lực cho việc điều tra, truy tố, xét xử có hiệu quả cao và để bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, BLTTHS đã quy định VKSND được phê chuẩn các quyết định bắt của CQĐT (trừ trường hợp bắt quả tang hoặc bắt truy nã, đầu thú) và có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn Để
Trang 37thực hiện nhiệm vụ trên, khi tiến hành hoạt động KSĐT các vụ án hình sự cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, VKSND phải thực hiện kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng hoặc thay đổi các biện pháp ngăn chặn cụ thể sau:
* Kiểm sát việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc truy nã
Qua hoạt động thực tiễn cho thấy, đối với các vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có đông người tham gia dẫn đến hậu quả làm chết người, thường là sau khi gây án người phạm tội thường có biểu hiện bằng hành vi cất giấu hung khí, che giấu cho đồng bọn hoặc có biểu hiện thông cung, xuất phát từ
sự cấp bách của tình thế buộc phải ngăn chặn ngay hành vi đe dọa gây thiệt hại hoặc tiếp tục gây thiệt hại cho công dân, ngăn ngừa người bị tình nghi phạm tội chạy trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ, tài liệu Vì vậy, việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp và phạm tội quả tang trong các vụ án này xảy ra phổ biến Tuy nhiên việc áp dụng hai biện pháp này chưa được bảo đảm chất lượng, còn nhiều trường hợp bắt giữ hình sự sau đó xử lý hành chính Việc chấp hành các thủ tục tố tụng sau khi bắt của Cơ quan CSĐT đôi lúc chưa được chấp hành nghiêm chỉnh
Do đặc thù riêng của loại tội phạm CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thường áp dụng chủ yếu biện pháp ngăn chặn là bắt người trong trường hợp khẩn cấp và quả tang Nên hoạt động KSĐT của VKS phải được tiến hành chặt chẽ ngay sau khi họ đã bị bắt Kiểm sát viên phải kiểm sát việc bắt người trong
trường hợp khẩn cấp theo quy định tại Điều 81 BLTTHS[18] và yêu cầu Cơ quan
CSĐT sau khi bắt khẩn cấp phải báo ngay cho VKS bằng văn bản kèm theo tài liệu
có liên quan đến việc bắt khẩn cấp để VKS xét phê chuẩn Trong trường hợp cần thiết Kiểm sát viên phải kiểm tra trực tiếp các căn cứ bắt khẩn cấp Nếu thấy không
đủ căn cứ thì báo cáo lãnh đạo có thẩm quyền ra quyết định không phê chuẩn và yêu cầu CQĐT hoặc trực tiếp ra quyết định trả tự do ngay cho người bị bắt
Kiểm sát viên phải yêu cầu Cơ quan CSĐT, sau khi nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, phải lấy lời khai ngay người bị bắt và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt
Trang 38Đối với trường hợp người bị bắt theo lệnh truy nã thì Kiểm sát viên yêu cầu CQĐT sau khi lấy lời khai phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh truy nã và ra quyết định tạm giữ, giải ngay người đó đến trại tạm giam nơi gần nhất
Tóm lại, bắt người là biện pháp cưỡng chế về tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang và người cần bắt trong trường hợp khẩn cấp khi có đủ căn cứ do pháp luật tố tụng hình sự quy định Biện pháp này hạn chế quyền quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người được quy định trong Hiến pháp và Pháp luật, nên việc bắt người được quy định chặt chẽ và khi áp dụng đòi hỏi cần phải thận trọng, chính xác, kịp thời, đúng luật Việc bắt người đúng pháp luật, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghiệp vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng Nếu ngược lại sẽ ảnh hưởng xấu đến uy tín của cơ quan Nhà nước, các cơ quan bảo vệ pháp luật và mất lòng tin của nhân dân
* Kiểm sát việc tạm giữ
Tạm giữ được hiểu là biện pháp ngăn chặn do cơ quan có thẩm quyền áp dụng với nội dung là hạn chế quyền tự do trong thời hạn do pháp luật tố tụng hình sự quy định đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm bảo đảm cho CQĐT có thời gian tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu để
có cơ sở quyết định việc khởi tố bị can
Từ định nghĩa trên thì biện pháp tạm giữ chỉ được áp dụng trong các trường hợp đó là, đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã Trong bất kỳ mọi trường hợp tạm giữ nào, CQĐT đều phải gửi quyết định tạm giữ cho
VKS cùng cấp để VKS thực hiện chức năng kiểm sát như Điều 86 BLTTHS[18] đã
quy định: “Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định này phải được gửi cho VKS cùng cấp Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ” Khi nhận được quyết định
Trang 39tạm giữ, gia hạn tạm giữ của CQĐT, VKS tiến hành kiểm tra ngay tính có căn cứ và hợp pháp của việc tạm giữ, gia hạn tạm giữ để báo cáo Viện trưởng, Phó viện trưởng xử lý Nếu thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ hoặc trực tiếp ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và yêu cầu Cơ quan điều tra trả tự do ngay cho người bị tạm giữ Nếu xét thấy việc gia hạn tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì ra quyết định không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ và yêu cầu người đã ra quyết định tạm giữ trả tự do ngay cho người bị tạm giữ theo
quy định tại Điều 87 BLTTHS[18] Nếu thấy việc gia hạn tạm giữ có căn cứ và cần
thiết thì ra quyết định phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ
Phương pháp kiểm sát việc tạm giữ, chủ yếu VKS thông qua việc nghiên cứu
hồ sơ tài liệu của CQĐT Trong trường hợp cần thiết có thể gặp, hỏi trực tiếp người
bị tạm giữ để từ đó có cơ sở khẳng định việc áp dụng biện pháp tạm giữ của CQĐT
là đúng quy định của pháp luật
* Kiểm sát việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, VKS, Toà án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS hiện hành quy định hình phạt tù từ hai năm và có căn cứ để cho rằng người
đó trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội Tạm giam
là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, đối tượng bị tạm giam bị tước bỏ một số quyền tự do thân thể và bị hạn chế một số quyền nhân thân khác Trong giai đoạn điều tra, việc áp dụng biện pháp tạm giam của CQĐT đều phải chịu sự kiểm sát chặt chẽ của VKS thông qua quyền phê chuẩn của VKS, “Lệnh tạm giam của những
người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 BLTTHS[18] này phải được Viện
kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành
Để thực hiện hoạt động kiểm sát việc bắt bị can để tạm giam trong các vụ án hình sự cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, Kiểm sát
viên phải nắm vững quy định tại Điều 80 và Điều 88 BLTTHS[18] Khi CQĐT đề
Trang 40nghị phê chuẩn lệnh bắt, tạm giam bị can, thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu thẩm định các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án một cách thận trọng, trực tiếp kiểm tra chứng cứ trước khi báo cáo lãnh đạo có thẩm quyền ký phê duyệt Nếu thấy vấn đề
gì chưa rõ thì yêu cầu Điều tra viên thu thập tài liệu bổ sung chứng cứ Chỉ phê chuẩn tạm giam đối với bị can phạm tội trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều
88 BLTTHS[18] Những trường hợp xét thấy không cần tạm giam thì ra quyết định
không phê chuẩn và có thể yêu cầu áp dụng biện pháp ngăn chặn khác Ngược lại nếu phát hiện để lọt người phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì yêu cầu CQĐT ra lệnh bắt tạm giam để VKS phê chuẩn hoặc VKS trực tiếp ra lệnh bắt, tạm giam Trong trường hợp cần thiết thì VKS có thể ra lệnh bắt tạm giam để phục
vụ công tác điều tra Trường hợp vụ án phức tạp cần gia hạn thời hạn tạm giam bị can thì yêu cầu CQĐT phải có văn bản đề nghị VKS gia hạn thời hạn tạm giam để
điều tra theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 120 BLTTHS[18]
* Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn khác
Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án phải kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn khác của Cơ quan điều tra gồm: Cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 91 BLTTHS), bảo lĩnh (Điều 92 BLTTHS, đặt tiền hoặc tài
sản có giá trị để bảo đảm (Điều 93 BLTTHS))[18], bảo đảm việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn này có căn cứ, đúng quy định của pháp luật
Qua thực tiễn cho thấy, BLTTHS nước ta hiện nay quy định về ba biện pháp này chưa chặt chẽ và đầy đủ về thẩm quyền ban hành, thủ tục áp dụng, đối tượng bị
áp dụng và chế tài khi có vi phạm Hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện pháp cấm
đi khỏi nơi cư trú (Điều 91 BLTTHS), bảo lĩnh (Điều 92 BLTTHS), đặt tiền hoặc
tài sản có giá trị để bảo đảm (Điều 93 BLTTHS)[18] đối với tội phạm hình sự nói
chung, tội phạm CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng chỉ mang tính hình thức, chỉ thực hiện ở hoạt động kiểm sát việc CQĐT ra các quyết định, nội dung quyết định và thẩm quyền ra các quyết định trên có căn cứ, đúng trình tự tố tụng hình sự hay không Chưa thực hiện được kiểm sát được việc thi hành các quyết định của CQĐT như thế nào Việc quản lý bị can rất lỏng lẻo, cơ