Quan niệm thứ nhất, chất lượng tăng trưởng kinh tế là cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quảCơ cấu tăng trưởng được thể hiện thông qua đóng góp của các ngành,
Trang 1MỤC LỤC
BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ 0
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN 0
BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ 0
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN 0
1 Sự cần thiết của đề tài 5
2 Tổng quan nghiên cứu 5
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 7
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 7
5 Phạm vi nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Đóng góp của đề tài 8
8 Kết cấu của đề tài 8
1.1 Cơ sở lý luận về tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế 9
1.1.1 Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế 9
1.1.2 Cơ sở lý luận về chất lượng tăng trưởng kinh tế 11
1.2 Phương pháp đo lường chất lượng tăng trưởng kinh tế 18
1.2.1 Phương pháp tính TFP 18
1.2.2 Phương pháp phân rã xác định các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng kinh tế 21
1.2.3 Khả năng ổn định vĩ mô nền kinh tế 25
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995 - 2015 26
2.1 Thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995 – 2015 26
2.2 Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam dựa trên phân tích các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng giai đoạn 1995 - 2015 27
Trang 22.2.1 Thực trạng sử dụng vốn và lao động của Việt Nam giai đoạn 1995 – 2015 27
2.2.2 Đóng góp của các yếu tố nguồn lực vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995 – 2015 31
2.3 Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam dựa trên phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế 36
2.3.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam 36
2.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế xét từ góc độ đóng góp của chuyển dịch cơ cấu nguồn lực và những thay đổi nội ngành 40
2.4 Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam dựa trên góc độ ổn định vĩ mô nền kinh tế 51
Chương 3: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 61
3.1 Kết luận 61
3.2 Một số khuyến nghị chính sách 62
3.2.1 Căn cứ để đưa ra khuyến nghị 62
3.2.2 Một số khuyến nghị để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2016-2020 66
3.2.3 Một số kiến nghị chính sách nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế 68
KẾT LUẬN 73
Tài liệu tham khảo 74
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Lao động đang làm việc L, tích lũy tài sản K và GDP giá so sánh của Việt Nam giai đoạn 2010 32 Bảng 2.2: Các hệ số đóng góp của tư bản và lao động vào một đơn vị sản lượng của Việt Nam qua các thời kỳ 34 Bảng 2.3: Đóng góp của các yếu tố Vốn, Lao động và TFP vào tăng trưởng GDP 35 Bảng 2.4: Dịch chuyển cơ cấu kinh tế tính theo góc hợp bởi véc tơ cơ cấu của hai năm liên tiếp 38 Bảng 2.5: Kết quả phân rã năng suất lao động của Việt Nam giai đoạn 1995
- 2015 43 Bảng 2.6: Phân rã tăng trưởng GDP theo đóng góp của quy mô, năng suất nội ngành và cơ cấu lao động 46 Bảng 2.7: Kết quả phân rã năng suất vốn của Việt Nam giai đoạn 1995 –
2015 (tính theo GDP ngành giá 2010) 48 Bảng 2.8: Phân rã tăng trưởng GDP theo đóng góp của quy mô, năng suất nội ngành và cơ cấu lao động 50 Bảng 2.9: Tốc độ tăng kinh tế theo ngành trong giai đoạn 2000-2013 (theo giá so sánh 2010) 52
Trang 4DANH MỤC HÌNH VẼ
Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam và một số nước trong khu
Biểu đồ 2.3: Tình hình đầu tư thực hiện giai đoạn 1995-2012 28 Biểu đồ 2.4: ICOR của Việt Nam giai đoạn 1996-2015 29 Biểu đồ 2.5: Tăng trưởng tích lũy tài sản của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2015 30 Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ thất nghiệp và lao động có việc làm của Việt Nam giai đoạn
Biểu đồ 2.7: Cơ cấu kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995-2015 36 Biểu đồ 2.8: Cơ cấu lao động theo ngành của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2014 41 Biểu đồ 2.9: Cơ cấu vốn theo ngành của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2015 42 Biểu đồ 2.10: Tỷ trọng các cấu phần trong tổng thay đổi năng suất lao động của
Biểu đồ 2.11: Tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số giảm phát GDP của Việt Nam giai đoạn 1995 – 2015 (GDP thực tính theo giá so sánh 2010) 53 Biểu đồ 2.12: Xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam 54 Biểu đồ 2.13: Tổng thu ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 1995-2014 55 Biểu đồ 2.14: Cơ cấu thu NSNN VN giai đoạn 1995 - 2014 57 Biểu đồ 2.15: Tăng trưởng tổng chi ngân sách nhà nước giai đoạn 1995 - 2015 58 Biểu đồ 2.16: Cơ cấu chi ngân sách của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2014 59
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể về kinh tế xã hội, đặc biệt là đối vớikinh tế Tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2015 khá cao, đạtmức trung bình 6.2% Tuy nhiên, Việt Nam đã không duy trì được đà tăngtrưởng cao trên 8% của những năm 1990 Nếu như giai đoạn 1996 – 1998, tăngtrưởng kinh tế Việt Nam đạt mức trên 8% Sau khủng hoảng tài chính tiền tệASEAN, Việt Nam dần suy giảm đà tăng trưởng, đạt mức trên 7% cho giai đoạn
2000 – 2007 và đạt mức trên 6% cho giai đoạn 2009 – 2015
Hiện tượng suy giảm đà tăng trưởng đặt ra câu hỏi về chất của tăng trưởng kinh
tế Việt Nam Tại sao tăng trưởng kinh tế Việt Nam lại suy giảm dần? Điều này
là do nguyên nhân khách quan hay chủ quan? Câu hỏi này cần được tính toánxem xét thực nghiệm và trả lời một cách nghiêm túc để tìm ra nguyên nhân suygiảm đà tăng trưởng và đưa ra những kiến nghị giải pháp phù hợp cho nền kinhtế
2 Tổng quan nghiên cứu
Cả trên thế giới và trong nước đều đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề chất lượngtăng trưởng kinh tế Ở trên thế giới, có các nghiên cứu Jorgenson, Gollop vàFraumeni (1988), Jorgenson và Fraumeni (1992), Lucas (1988) và Mankiw,Romer và Weil (1992) chỉ ra đóng góp của vốn con người tới tăng trưởng làmục tiêu chính của tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
Robert J Barro (2002) xác định chất lượng tăng trưởng kinh tế của các nướcđang phát triển Tác giả sử dụng số liệu về kỳ vọng sống, sinh sản, điều kiệnmôi trưởng, bất bình đẳng thu nhập và các khía cạnh về thể chế để đánh giá chấtlượng tăng trưởng của các nước này Kết luận của tác giả đưa ra là biến số xãhội và chính sách ảnh hưởng tới hành vi của quá trình phát triển Bên cạnh đótác giả chỉ ra ảnh hưởng tích cực của tín ngưỡng tôn giáo tới giáo dục, tích lũy
và một số biến số vĩ mô khác
Trang 6Ramon E.Lopez (2008), Vinod Thomas và Yan Wang đã nghiên cứu “Chấtlượng của tăng trưởng: Các chính sách tài khóa để được kết quả tốt hơn” Tácgiả cho rằng thế giới đang phải đối mặt với việc giảm nghèo và cải thiện phúclợi xã hội, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Các nhà hoạch địnhchính sách đối mặt với thách thức duy trì tăng trưởng cũng như cải thiện chấtlượng tăng trưởng Điều này sẽ liên quan trực tiếp đối với vấn đề giảm nghèo,mất cân bằng xã hội, cải thiện môi trường,…
Nguyễn Kế Tuấn (2011) thực hiện tìm hiểu chất lượng tăng trưởng và các cânđối vĩ mô của Việt Nam
Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu và khám phá nguồn gốc tăng trưởng của nềnkinh tế, từ đó đưa ra những đánh giá về chất lượng tăng trưởng của Việt Namtrong giai đoạn từ 1995 – 2015 Đề tài này được thực hiện dựa trên hệ thốngphương pháp phân tích mô tả và phương pháp định lượng chặt chẽ, khoa học
Trang 7nhằm đánh giá lại chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995 –
2015 và đưa ra các gợi ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh
tế Việt Nam cho giai đoạn 2016 – 2020
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của đề tài là đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam tronggiai đoạn 1995-2015 và đưa ra các gợi ý chính sách để nâng cao chất lượng tăngtrưởng kinh tế Việt Nam cho giai đoan 2016-2020
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về chất lượng tăng trưởng và cácphương pháp luận để đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế;
- Đánh giá thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995 –2015
- Đưa ra các hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng tặng trưởng kinh tếViệt Nam giai đoạn 2016 – 2020
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam được thể hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô
5 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Phân tích và đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế
- Về không gian: Ở Việt Nam, có tham khảo các tài liệu liên quan của các nướctrên thế giới
- Về thời gian: giai đoạn 1995 – 2020 (các số liệu năm 2015 sử dụng trongnghiên cứu này là số liệu ước tính)
Trang 86 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp phân tích: Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích thống kê,
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính của đề tài gồm 03chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tăng trưởng kinh tế
Chương 2: Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995 –2015
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Namgiai đoạn 2016 - 2020
Trang 9Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Cơ sở lý luận về tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế
1.1.1 Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế
a Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Vấn đề tăng trưởng kinh tế có thể coi là một trong những vấn đề đầu tiên đượcquan tâm nghiên cứu trong kinh tế học Ý niệm tăng trưởng kinh tế được đề cậpđầu tiên bởi các nhà nghiên cứu thuộc trường phái trọng thương, với quan điểm
về sự tăng lên của của cải Tuy nhiên, trường phái này đồng hóa của cải của mộtquốc gia với vàng bạc thay vì vật chất của cuộc sống Các nhà kinh tế sau đó, từAdam Smith đến thế hệ gần đây nhất như Michael Porter, Ricardo Hausman,…đều thống nhất rằng sự giàu có của một quốc gia được đánh giá thông qua sốhàng hóa dịch vụ mà người dân quốc gia đó được hưởng Khái niệm tăng trưởngkinh tế cũng được thống nhất như sau:
Tăng trưởng kinh tế phản ánh quy mô giá trị sản phẩm tăng lên hay giảm đi củanền kinh tế ở năm này so với năm trước đó hoặc của thời kỳ này so với thời kỳtrước đó Tăng trưởng kinh tế có thể biểu hiện bằng qui mô tăng trưởng và tốc
độ tăng trưởng giá trị sản phẩm mà nền kinh tế đó sản xuất ra Qui mô tăngtrưởng phản ánh sự tăng lên hay giảm đi của số tuyệt đối giá trị sản phẩm; còntốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sựgia tăng nhanh hay chậm giá trị sản phẩm của nền kinh tế giữa các năm hay cácthời kỳ
b Đo lường tăng trưởng kinh tế
Hầu hết các nhà kinh tế cũng như các quốc gia trên thế giới đều lấy giá trị sảnphẩm làm thước đo tăng trưởng Tuy nhiên, có nhiều thước đo giá trị sản phẩmkhác nhau Một vài thước đo phổ biến thường sử dụng là: Tổng sản phẩm quốcnội (GDP), Tổng thu nhập quốc dân (GNI), Thu nhập quốc dân (NI), các con sốbình quân đầu người tính từ các thước đo trên
Trang 10- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP – Gross Domestic Product) là tổng giá trị sảnphẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm vilãnh thổ của một quốc gia tạo nên trong một thời kỳ nhất định.
Cơ quan thống kê của các quốc gia thường đo lường GDP theo ba phương pháp:+ GDP là tổng giá trị gia tăng của toàn bộ nền kinh tế
+ GDP là tổng chi tiêu cho tiêu dùng cuối cùng (gồm chi tiêu của hộ gia đình,chi tiêu của chính phủ, tích lũy tài sản, chi tiêu của người nước ngoài) có loại bỏgiá trị hàng hóa nhập khẩu trong giá trị hàng hóa tiêu dùng đó
+ GDP là tổng của các khoản thu nhập từ sản xuất của nền kinh tế (gồm tiềnlương, tiền cho thuê của người có tài sản cho thuê, tiền lãi của người có vốn chovay, lợi nhuận của người chủ sản xuất, khấu hao tài sản cố định)
- Tổng thu nhập quốc dân (GNI – Gross national income) là một cách tiếp cận
từ góc độ thu nhập từ sản xuất của người dân một quốc gia thay vì của một nềnkinh tế theo phạm vi lãnh thổ
- Thu nhập quốc dân (NI – National income) là phần giá trị GNI sau khi đã trừ
đi khấu hao
c Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Trong ngắn hạn, kết quả sản lượng của nền kinh tế trong mỗi thời kỳ được cho
là kết quả cân bằng tổng cung và tổng cầu trong thời kỳ đó Vì vậy, các yếu tốtác động làm thay đổi tổng cung và tổng cầu thì sẽ làm thay đổi sản lượng củanền kinh tế trong mỗi thời đoạn của quá trình phát triển kinh tế
Trong dài hạn, xu hướng thay đổi sản lượng của mỗi nền kinh tế được cho là kếtquả sử dụng các yếu tố đầu vào Các trường phái kinh tế khác nhau, trongnhững hoàn cảnh lịch sử khác nhau, đưa ra các quan niệm khác nhau về các yếu
tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Cụ thể:
- Quan điểm truyền thống (đại diện là các nhà kinh tế như K.Marx, Solow,Kuznet) cho rằng sản lượng của nền kinh tế phụ thuộc vào vốn vật chất (K), lao
Trang 11động (L), trình độ của lao động hay còn gọi là vốn nhân lực (H), tài nguyên (N),
và hệ số công nghệ (gồm công nghệ kỹ thuật và trình độ quản lý)
Y/L = A f(K/L, H/L, N/L)
- Quan điểm hiện đại (bắt đầu từ Samuelson, Kenneth J.Arrow, Paul M Romer,David Romer, Robert Lucas,…) cho rằng, các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đếnsản lượng của nền kinh tế gồm vốn vật chất K, lao động L, và năng suất nhân tốtổng hợp TFP
1.1.2 Cơ sở lý luận về chất lượng tăng trưởng kinh tế
a Khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều nghiên cứu về chất lượng tăngtrưởng kinh tế Các nghiên cứu trên thế giới của Vinod et al (2000), Thomas et
al (2000), Barro R.J (2002) Ramon el al (2008) và ở Việt Nam nổi lên là cácnghiên cứu của Tạ Đình Phùng (GSO, Bộ KH&ĐT), Nguyễn Thị Tuệ Anh và
Lê Xuân Bá (CIEM, Bộ KH&ĐT, 2005) đều thống nhất có 6 quan niệm cơ bản
về chất lượng tăng trưởng như sau:
Trang 12Quan niệm thứ nhất, chất lượng tăng trưởng kinh tế là cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả
Cơ cấu tăng trưởng được thể hiện thông qua đóng góp của các ngành, lĩnh vực,khu vực thể chế kinh tế, thành phần kinh tế vào tổng sản phẩm của cả nền kinh
tế Cơ cấu kinh tế cũng có thể được nhìn nhận theo cách tiếp cận đóng góp củacác yếu tố đầu vào đối với tăng trưởng bao gồm vốn, lao động và năng suấtnhân tố tổng hợp (TFP) Ngoài ra, nói đến cơ cấu kinh tế, người ta còn đề cậpđến cơ cấu vốn, cơ cấu lao động theo ngành, theo vùng và theo thành phần kinhtế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là việc thay đổi tỷ trọng giữa các cấuphần của nền kinh tế Đó có thể là thay đổi tỷ trọng giá trị sản lượng của cácngành trong tổng giá trị sản lượng, thay đổi tỷ trọng nguồn lực sử dụng của cácngành, tỷ trọng đóng góp của các yếu tố đầu vào; hoặc những thay đổi về kếtcấu theo vùng, theo thành phần…của nền kinh tế
Có nhiều cách hiểu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả Cách hiểu đơngiản nhất được hiểu là nâng cao tỷ trọng những ngành hiện đại, năng suất caonhư công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng những ngành lạc hậu hoặc không bềnvững như nông nghiệp, khai thác tài nguyên,…Cách hiểu này mới chỉ lột tảđược vỏ bên ngoài của chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thực tiễn cho thấy, chuyểndịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả là phương thức chuyển dịch cơ cấu sao cho cóthể giúp tăng năng suất nhân tố của cả nền kinh tế một cách bền vững Việc dịchchuyển các yếu tố nguồn lực từ khu vực có năng suất thấp sang khu vực có năngsuất cao hơn thường kéo theo tăng năng suất trong ngắn hạn Tuy nhiên, tăngnăng suất do dịch chuyển cơ cấu kinh tế sẽ không thể kéo dài nếu như không có
sự phát triển đủ lớn của những ngành tiếp nhận nguồn lực dịch chuyển từ khuvực khác sang, bởi những nguyên nhân từ quy luật năng suất cận biên giảm dần
Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu nguồn lực chỉ được coi là có hiệu quả khi nó cóđóng góp cả trực tiếp và gián tiếp (tạo ra sự phát triển cân đối và liên kết, gópphần làm tăng năng suất nội ngành) vào việc nâng cao năng suất của cả nềnkinh tế
Trang 13Quan niệm thứ hai, chất lượng tăng trưởng theo quan niệm hiệu quả
Quan niệm này cho rằng, tăng trưởng được hình thành theo hai phương thức:
- Tăng trưởng theo chiều rộng, tức là tăng trưởng có được nhờ sự tăng lên củavốn, lao động và tăng cường khai thác tài nguyên;
- Tăng trưởng theo chiều sâu, thể hiện ở tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả
sử dụng vốn sản xuất, tăng cường chất lượng quản lý, nâng cao hiệu quả ápdụng khoa học công nghệ; hoàn thiện môi trường kinh doanh và môi trườngphát lý, v.v
Chất lượng tăng trưởng được nâng cao theo phương thức thứ hai này
Quan niệm thứ ba, chất lượng tăng trưởng kinh tế là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp hoặc hàng hóa sản xuất trong nước.
Tăng trưởng đi liền với việc nâng cao năng lực cạnh tranh là tăng trưởng có chấtlượng cao và ngược lại Khái niệm năng lực cạnh tranh được nhiều học giả bànluận Tựu chung lại, hầu hết các học giả đều quy tụ năng lực cạnh tranh (củaquốc gia, địa phương, doanh nghiệp, hàng hóa) về khái niệm năng suất Các môhình lý thuyết được xây dựng để đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao nănglực cạnh tranh của nền kinh tế cũng được đề cập theo các mức độ khác nhau Cụthể, Michael Porter đề cập đến bốn yếu tố giúp nâng cao năng lực cạnh tranhtrong mô hình kim cương gồm: nguồn lực đầu vào, các ngành phụ trợ, điều kiện
về cầu thị trường, và các yếu tố thuộc về thể chế và năng lực của doanh nghiệpcủa quốc gia đó Tư tưởng về mô hình kim cương với bốn yếu tố cơ bản củaMichael Porter sau đó được phát triển thành các mô hình khác như: Mô hìnhchín yếu tố, mô hình nhân lực,…
Dựa trên các yếu tố của các mô hình được xây dựng, các cơ quan quốc tế nhưNgân hàng thế giới, ….đã thực hiện đo lường năng lực cạnh tranh của các quốcgia Từ đó, các quốc gia có năng lực cạnh tranh tăng dần lên theo kết quả đolường này sẽ được cho là các quốc gia có chất lượng tăng trưởng đi theo chiềuhướng tốt lên
Trang 14Quan niệm thứ tư, chất lượng tăng trưởng kinh tế là nâng cao phúc lợi của công dân và gắn liền với tăng trưởng với công bằng xã hội
Theo quan điểm này, thước đo của chất lượng tăng trưởng kinh tế được thể hiện
ở chỗ tăng trưởng kinh tế đáp ứng phúc lợi cho nhân dân như thế nào Phúc lợikhông chỉ thể hiện ở thu nhập bình quân đầu người mà còn là chất lượng cuộcsống, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, cơ hội học tập và chăm lo sứckhỏe,… Còn công bằng xã hội thể hiện ở khoảng cách giàu nghèo được thu hẹp
và tỷ lệ người nghèo trong xã hội giảm bớt
Quan niệm chất lượng tăng trưởng theo phúc lợi và công bằng xã hội được cácnhà kinh tế học của OXFAM đề cao Các nghiên cứu cho thấy nếu quá quan tâmđến tăng trưởng mà ít chú ý đến công bằng xã hội sẽ dẫn tới bất ổn và tăngtrưởng sẽ không bền vững Ngược lại, nếu quá đề cao công bằng xã hội thìkhông có động lực và tiềm lực vật chất để thúc đẩy tăng trưởng Sự kết hợp hàihòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội sẽ tạo ra chất lượng của tăngtrưởng kinh tế
Quan niệm thứ năm, chất lượng tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững
Đặc trưng của tăng trưởng kinh tế có chất lượng được biểu hiện qua việc pháttriển bền vững Theo World Bank (Ngân hàng thế giới), thuật ngữ “phát triểnbền vững” là phát triển theo nguyên tắc “sự thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hômnay không làm tổn hại tới sự thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau” Pháttriển bền vững phải bảo toàn và phát triển ba nguồn vốn: tài nguyên môi trường(bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội), vốn nhân lực (chấtlượng của người lao động) và vốn vật chất (cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinhtế) Trong đó, tài nguyên môi trường thiên nhiên hiện nay được quan tâm đặcbiệt, vì công nghiệp hóa, hiện đại hóa của các quốc gia thời gian qua thường dẫntới hủy hoại về môi trường Các nghiên cứu của Ngân hàng thế giới cho thấy,mức độ ô nhiễm lúc đầu tăng cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cho tới khi thunhập bình quân đầu người đạt tới 12000 USD/năm Thu nhập bình quân đầungười tiếp tục tăng thì chất lượng môi trường giai đoạn tiếp theo được cải thiện
rõ rệt
Trang 15Quan niệm thứ sáu, chất lượng tăng trưởng kinh tế là thể chế dân chủ trong môi trường chính trị - xã hội của nền kinh tế
Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với quá trình đổi mới hệ thống chính trị từlâu đã được nhìn nhận là vừa có tính tích cực, lại vừa có tính trực tiếp Các côngtrình nghiên cứu của Huntington (1991), Rueschemeyer và Stephens (1992),…cho thấy có mối tương quan chặt chẽ giữa thu nhập đầu người và mức độ dânchủ hóa của thể chế chính trị xã hội Cụ thể hơn, tính minh bạch, ít tham nhũng
và sự tham gia của người dân vào quản lý kinh tế-xã hội sẽ tác động mạnh tớităng trưởng kinh tế và ngược lại Theo cách diễn giải của trường phái này, dânchủ chính là biểu hiện mặt chất của tăng trưởng kinh tế
Tóm lại, có thể cho rằng, chất lượng tăng trưởng là thuộc tính bên trong của quátrình tăng trưởng kinh tế, thể hiện ở tính hiệu quả của việc sử dụng các yếu tốđầu vào trong việc đạt được chỉ tiêu tăng trưởng, cấu trúc tăng trưởng phù hợpvới tiềm năng, thế mạnh và trình độ phát triển của nền kinh tế và những ảnhhưởng lan toả của nó tới các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế-xã hội
b Tiêu chí đo lường chất lượng tăng trưởng kinh tế
Đến nay, các tài liệu chính thống về kinh tế học phát triển đều chưa đưa ra đượcthước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế Dựa trên một số tài liệu đã được công
bố tại Việt Nam và trên thế giới1, đặt trong bối cảnh của một quốc gia đang pháttriển như Việt Nam, đề tài này lựa chọn một tiêu chí đo lường chất lượng tăng
trưởng tổng quát nhất là khả năng của nền kinh tế trong việc duy trì tăng trưởng cao và ổn định trong thời gian dài Ba thước đo đại diện để đo lường tiêu chí
1 Lê Huy Đức (2004), Nguyễn Thị Tuệ Anh và Lê Xuân Bá (2005), Trần Thọ Đạt (2006), Nguyễn Văn Nam (2006); Mlachila và Sampawwende (2014); Vinod Thomas (2000).
Trang 16tốt hơn, hiệu quả hơn các yếu tố đầu vào thì đóng góp của TFP sẽ cao hơn vàđược xem là nền kinh tế có chất lượng tăng trưởng cao Sở dĩ TFP là chỉ tiêuđược sử dụng để đo lường chất lượng tăng trưởng vì TFP phản ánh sự tiến bộcủa khoa học, kỹ thuật và công nghệ, qua đó sự gia tăng đầu ra không chỉ phụthuộc vào tăng thêm về số lượng của đầu vào (phương thức truyền thống) màcòn tuỳ thuộc vào chất lượng các yếu tố đầu vào là lao động và vốn Theo nghĩa
đó, chất lượng tăng trưởng kinh tế được xem xét dựa trên tốc độ tăng đóng gópcủa TFP vào tăng trưởng kinh tế Theo Tổ chức Năng suất Châu Á (APO),nguồn tăng TFP chủ yếu dựa vào 5 yếu tố chính như sau:
Chất lượng lao động: trình độ học vấn liên quan đến khả năng tiếp thu, ứngdụng những tiến bộ khoa học và công nghệ; Đào tạo nâng cao kỹ năng, tay nghềcủa người lao động; Đào tạo chuyển giao công nghệ Đầu tư vào nguồn nhânlực làm tăng khả năng và năng lực của lực lượng lao động trong việc sản xuất racác sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao là yếu tố đóng góp rất quan trọng làmtăng TFP
Thay đổi cơ cấu vốn: tăng cường đầu tư công nghệ tiên tiến như công nghệthông tin và truyền thông, công nghệ hiện đại và tự động hoá Yếu tố này thểhiện việc đầu tư vốn vào những lĩnh vực có năng suất cao, từ đó sẽ nâng caohiệu quả của cả nền kinh tế
Thay đổi cơ cấu kinh tế: là việc phân bổ các nguồn lực phát triển kinh tế giữacác ngành và thành phần kinh tế, các nguồn lực sẽ được phân bổ nhiều hơn chocác ngành hoặc thành phần kinh tế có năng suất cao hơn, từ đó đóng góp vàoviệc tăng TFP
Áp dụng tiến bộ kỹ thuật: thúc đẩy các hoạt động sáng tạo, đổi mới; nghiên cứu
và phát triển sản phẩm mới, cải tiến quy trình sản xuất; công nghệ quản lý tiêntiến ( hệ thống, công cụ quản lý tiên tiến…) Yếu tố này bao hàm các hoạt độngnhư đổi mới, nghiên cứu phát triển, thái độ làm việc tích cực, hệ thống quản lý,
hệ thống tổ chức… tác động làm nâng cao năng suất
Trang 17Thay đổi nhu cầu hàng hoá, dịch vụ: tác động tới TFP thông qua việc tăng nhucầu trong nước và xuất khẩu về sản phẩm, hàng hoá là cơ sở quan trọng để sửdụng tối ưu các nguồn lực.
Như vậy, tốc độ tăng TFP và đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế là chỉ
số phản ánh chân thực hiệu quả sử dụng nguồn lực sản xuất, là căn cứ quantrọng đánh giá tính chất phát triển kinh tế bền vững, là cơ sở phân tích hiệu quảsản xuất xã hội, đánh giá tiến bộ khoa học công nghệ, trình độ tổ chức, quảnlý của mỗi ngành, mỗi địa phương hoặc mỗi quốc gia TFP tăng đồng nghĩavới việc chất lượng tăng trưởng được nâng lên Phương pháp tính toán TFP sẽđược giới thiệu trong phần sau
(2) Đóng góp của sự mở rộng yếu tố đầu vào (vốn và lao động), tăng trưởng củanăng suất yếu tố đầu vào (năng suất vốn, năng suất lao động), và thay đổi cơ cấucác yếu tố đóng góp vào tăng trưởng và thay đổi năng suất yếu tố, gồm: đónggóp của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đóng góp của thay đổi năng suất lao độnghoặc năng suất vốn nội ngành, đóng góp của tương tác giữa chuyển dịch cơ cấukinh tế và thay đổi năng suất lao động và năng suất vốn nội ngành Chi tiết cáchtính toán và ý nghĩa của việc đóng góp của các yếu tố này tới chất lượng tăngtrưởng sẽ được trình bày trong phần dưới đây
(3) Khả năng ổn định kinh tế vĩ mô nền kinh tế, thể hiện qua sự ổn định củatăng trưởng GDP, ổn định lạm phát, giảm tỷ lệ thất nghiệp và sự ổn định củamột số biến số kinh tế vĩ mô khác như: bội chi ngân sách, nợ chính phủ,…
1.2 Phương pháp đo lường chất lượng tăng trưởng kinh tế
Trang 18- Xét trường hợp K tăng 1 đơn vị, khi đó, sản lượng tăng thêm ΔY có được doY có được dotăng 1 đơn vị K chính là sản phẩm cận biên của tư bản (MPK):
MPK = F(K + 1, L) – F(K, L)
Khi K tăng một lượng ΔY có được doK đơn vị, sản lượng tăng thêm: ΔY có được doY = MPK * ΔY có được doK
- Tương tự với trường hợp L tăng một lượng ΔY có được doL đơn vị, khi đó sản lượng tăngthêm sẽ là: ΔY có được doY = MPK * ΔY có được doL
Trang 19Như vậy, khi cả K và L cùng thay đổi tương ứng với các đại lượng ΔY có được doK và ΔY có được doL,sản lượng sẽ thay đổi một lượng:
ΔY có được doY = MPK*ΔY có được doK + MPL*ΔY có được doL
Phương trình này tương đương với:
L
L Y
MPLxL K
K Y
Phương trình này cho thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ sản lượng tăng thêm được với
tỷ lệ tăng thêm của các biến đầu vào
Tuy nhiên, trong thực tế, ngoài chịu ảnh hưởng sự thay đổi của lượng các yếu tốđầu vào, quá trình sản xuất còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự thay đổi côngnghệ kỹ thuật, trình độ quản lý, hiệu quả sản xuất, trình độ của người lao động,
và các yếu tố khác như văn hóa, thể chế, chính sách… Do việc định lượng riêngbiệt các yếu tố trên là tương đối khó, người ta coi ảnh hưởng tổng hợp của cácyếu tố này là một tham số Hàm sản xuất trở thành:
Trong đó, tham số A đại diện cho hiệu quả sản xuất có được từ nâng cao hiệuquả sử dụng tư bản và lao động nhờ vào tác động của đổi mới công nghệ, hợp lýhóa sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động của công nhân, thểchế, văn hóa, chính sách v.v…Hai nền kinh tế có cùng một lượng K và L nhưnhau, nền kinh tế có A cao hơn sẽ có kết quả sản xuất tốt hơn Theo cách nhìnnhận này, A chính là tham số phản ánh năng suất nhân tố tổng hợp của nền kinh
tế
Sự tham gia của A làm phương trình (2) trở thành:
Trang 20A L
L K
K
K
*
là đóng góp của việc gia tăng yếu tố tư bản vào tăng trưởng sản lượng
của nền kinh tế, với K K là tỷ lệ tăng trưởng tư bản trong nền kinh tế (thường đobằng tăng trưởng tổng đầu tư toàn xã hội từ thời kỳ 0 đến thời kỳ t)
L
L
*
là đóng góp của việc gia tăng yếu tố lao động vào tăng trưởng sản lượng
của nền kinh tế, với L L là tỷ lệ tăng trưởng lao động trong nền kinh tế (thường
đo bằng tăng trưởng lượng lao động tham gia làm việc của nền kinh tế từ thời
K Y
Trang 21GDP(t) = A(t)K(t)αL(t)β; α, β là hằng số
Trang 22Lấy logarit cơ số tự nhiên hai vế của phương trình, ta được:
lnY(t) = LnA(t) + α.lnK(t) + β lnL(t) (6)
Các hệ số α và β ở phương trình (6) có ý nghĩa giống như các hệ số này trongphương trình (4) Hệ số α cho biết khi K thay đổi 1% thì Y thay đổi α% Hệ số βcho biết khi L thay đổi 1% thì Y thay đổi β%
Như vậy, để tính α và β, có thể thực hiện phương trình hồi quy bội lnY(t) theolnK(t) và LnL(t) Nếu các kiểm định cần thiết cho thấy phương trình hồi quy là
có ý nghĩa và giữa các biến có quan hệ dài hạn thực sự thì có thể chấp nhận các
hệ số α và β tính được để thay vào công thức (5) và tính đóng góp của tăngtrưởng năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng sản lượng của nền kinh tế.Cách làm này có ưu điểm là đơn giản dễ sử dụng, nhưng có nhược điểm là cácgiá trị α và β được tính trung bình trong một thời kỳ dài, sau đó áp dụng chotừng năm riêng lẻ Trên thực tế, các hệ số này (phản ánh phần sản lượng củanhững nhóm sở hữu các nhân tố sản xuất khác nhau thu được trong tổng sảnlượng) thay đổi khá nhanh ở nhiều quốc gia phát triển Ngoài ra, không phảitrường hợp nào cũng cho mô hình hồi quy có ý nghĩa giữa các biến số kể trên
Đề tài này sử dụng cách tính các hệ số α và β lấy từ bảng cân đối liên ngành, vớigiả định hàm sản xuất không đổi theo quy mô (α + β = 1) Đây là phương pháphiện đang được áp dụng phổ biến trong các nghiên cứu phân tích hạch toán tăngtrưởng của Việt Nam
1.2.2 Phương pháp phân rã xác định các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng kinh tế
Trang 23Trong phần này, đề tài sẽ giới thiệu phương pháp phân rã cộng và phươngphương pháp phân rã nhân Phương pháp phân rã cộng cho phép xác định đónggóp của các yếu tố thay đổi năng suất đầu vào theo ngành và chuyển dịch cơ cấuđầu vào theo ngành tới thay đổi năng suất đầu vào chung của cả nền kinh tế.Phương pháp phân rã nhân cho phép xác định đóng góp của các yếu tố: quy môđầu vào, chuyển dịch cơ cấu đầu vào theo ngành, năng suất đầu vào theo ngànhtới thay đổi sản lượng của nền kinh tế Trong phần tính toán thực nghiệm, đề tài
sẽ thực hiện tính toán cho hai trường hợp biến số đầu vào là vốn đầu tư và laođộng của Việt Nam Mục tiêu là để trả lời các câu hỏi: thay đổi sản lượng củaViệt Nam qua từng thời kỳ là do sự đóng góp của những yếu tố nào? sự đónggóp đó có bền vững hay không? Việc phân bổ và dịch chuyển các yếu tố đầuvào sản xuất của Việt Nam có hợp lý không?
- Phân rã cộng:
Giả sử nhân tố đầu vào của sản xuất của ngành i là Xi, sản lượng của ngành i là
Yi Tổng nhân tố đầu vào của cả nền kinh tế là X và tổng sản lượng của cả nềnkinh tế là Y Ta có:
X X
Y
W
1 1
Y
W là năng suất nhân tố X của ngành i
Từ thời kỳ 0 đến thời kỳ t, giá trị sản lượng tương ứng là W0 và Wt
Ta có:
) )(
( )
( )
1
0 1
0 0
1
0
i
t i i
t i n i i n
i
t i i i
n
i
t i
t i
Trang 24Cấu phần thứ nhất của tổng bên vế phải của công thức (7) cho biết thay đổi củanăng suất nhân tố nội ngành ảnh hưởng thế nào đến thay đổi năng suất nhân tố
bình quân của cả nền kinh tế (Sau đây gọi là hiệu ứng nội ngành) Cấu phần thứ
hai của tổng bên vế phải phương trình (7) cho biết chuyển dịch cơ cấu nhân tốđầu vào giữa các ngành ảnh hưởng thế nào đến thay đổi năng suất nhân tố của
cả nền kinh tế (Sau đây gọi là hiệu ứng cơ cấu) Cấu phần còn lại cho biết ảnh
hưởng kết hợp của thay đổi năng suất nhân tố nội ngành và chuyển dịch cơ cấuphân bổ nhân tố sản xuất giữa các ngành tới thay đổi năng suất bình quân của cả
nền kinh tế (Sau đây gọi là hiệu ứng kết hợp).
Nếu hiệu ứng nội ngành dương thì việc tăng năng suất nội ngành có đóng góptích cực cho tăng năng suất nhân tố của nền kinh tế và ngược lại Nếu hiệu ứng
cơ cấu dương thì việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế có đóng góp tích cực vào tăngnăng suất nhân tố Nếu hiệu ứng kết hợp dương thì hầu hết các ngành có tỷtrọng nguồn lực tăng thì đều có năng suất nhân tố tăng, hay nói cách khác, giatăng nguồn lực sản xuất vào ngành không làm cho năng suất nội ngành giảmxuống
Trang 25Chất lượng tăng trưởng kinh tế, nếu nhìn nhận dưới góc độ thay đổi năng suấtnhân tố, sẽ được coi là tốt nếu có thể nhìn nhận được tính bền vững của ba cấu
phần trên Cụ thể, dấu của các cấu phần là dương theo thời gian sẽ hàm ý có sự
bền vững trong sự phát triển của các ngành, sự hợp lý của chuyển dịch cơ cấunguồn lực và phân bổ nguồn lực Về tỷ trọng giữa các cấu phần, các tính toánthường cho thấy, hiệu ứng kết hợp thường có giá trị nhỏ không đáng kể, do vậy,tương quan tỷ trọng của hiệu ứng nội ngành và hiệu ứng cơ cấu sẽ là chỉ báo
cho khả năng tăng năng suất bền vững của nền kinh tế Nếu tỷ trọng của hiệu ứng cơ cấu cao hơn tỷ trọng của hiệu ứng nội ngành trong nhiều năm, điều này
hàm ý tăng năng suất của nền kinh tế chủ yếu dựa vào việc dịch chuyển nguồnlực của nền kinh tế từ ngành có năng suất thấp sang ngành có năng suất cao màkhông kèm theo mức tăng năng suất nội ngành tương xứng để hấp thụ lượngnguồn lực dịch chuyển sang Phương thức tăng năng suất của nền kinh tế theocách này thường không thể tồn tại lâu, bởi việc dịch chuyển của nguồn lực giữacác ngành thường chỉ diễn ra mạnh mẽ vào thời kỳ ban đầu của một công cuộcđổi mới nào đó, sau đó, sẽ tương đối ổn định, và do đó ảnh hưởng của nó tớithay đổi của nền kinh tế chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn Nếu các ngànhtiếp nhận nguồn lực phát triển không đủ mạnh sẽ dẫn đến sụt giảm năng suấttrong những ngành đó và do vậy kéo lùi khả năng tăng năng suất chung của cảnền kinh tế
Tóm lại, chất lượng tăng trưởng kinh tế được coi là tốt nếu các cấu phần phân rã
có giá trị dương trong nhiều năm và tỷ trọng của hiệu ứng nội ngành là cao hơn
so với hiệu ứng cơ cấu trong dài hạn
- Phân rã nhân:
Ta có:
i
i i
i
X
Y X
Trang 26Từ thời kỳ 0 đến thời kỳ t, giá trị sản lượng tương ứng là Y0 và Yt Áp dụngphương pháp chỉ số của Laspeyres, ta có:
n i
t i i n
i
i i
n i
i
t i n
i
i i
n
i
i i
t
t
W S X
W S X W
S X
W S X W
S
X
W S
0 0
1
0 0 0 1
0 0
1
0 0 0
1
0 0
0
*
Thành phần đầu tiên của công thức (8) cho biết đóng góp của tỷ lệ thay đổi quy
mô nhân tố X vào tỷ lệ thay đổi sản lượng từ thời kỳ 0 đến thời kỳ t; Thànhphần thứ hai của công thức (8) cho biết đóng góp của thay đổi cơ cấu phân bổnhân tố X giữa các ngành tới tỷ lệ thay đổi sản lượng từ thời kỳ 0 đến thời kỳ t;Thành phần thứ ba của công thức (8) cho biết đóng góp của thay đổi năng suấtnhân tố X của các ngành tới tỷ lệ thay đổi sản lượng từ thời kỳ 0 đến thời kỳ t.Mỗi thành phần trên, nếu nhận giá trị lớn hơn 1, là biểu hiện của việc có gópphần làm gia tăng sản lượng của nền kinh tế; Ngược lại, nếu nhận giá trị nhỏhơn 1, các thành phần này đã làm giảm sản lượng của nền kinh tế Nền kinh tếtăng trưởng có chất lượng cao là nền kinh tế phát triển theo chiều sâu và có khả
năng ổn định lâu dài Với cách tiếp cận phân rã nhân, chất lượng tăng trưởng kinh tế được gọi là tốt nếu có hai dấu hiệu chủ yếu: giá trị của các cấu phần là lớn hơn 1, cấu phần thứ ba (phản ánh đóng góp của tăng trưởng của năng suất nội ngành tới tăng trưởng sản lượng) chiếm phần lớn và ổn định Việc đưa ra
dấu hiệu thứ hai có thể giải thích như sau: Nếu một nền kinh tế dựa chủ yếu vào
mở rộng quy mô yếu tố sản xuất (cấu phần 1 của công thức (8)) thì đó là nềnkinh tế phát triển theo chiều rộng, và khả năng mở rộng quy mô các yếu tố sảnxuất như lao động, vốn sẽ không kéo dài mãi được, do vậy, sẽ không thể tăngtrưởng cao trong thời kỳ dài Nếu một nền kinh tế dựa chủ yếu vào chuyển dịch
cơ cấu nguồn lực (cấu phần 2 của công thức (8)) thì, như trên đã nói, cơ cấunguồn lực của nền kinh tế sẽ đi vào trạng thái ổn định nếu các ngành không pháttriển tương xứng với tỷ lệ gia tăng nguồn lực mà nó nhận được Do vậy, nềnkinh tế chỉ có thể tăng trưởng cao và ổn định dựa trên sự tăng lên không ngừngcủa năng suất nội ngành Cũng vì lẽ đó, thành phần thứ 3 của công thức (8) sẽ làdấu hiệu quan trọng nhận biết chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế
Trang 271.2.3 Khả năng ổn định vĩ mô nền kinh tế
Đề tài này không đưa ra các phương pháp định lượng để đo lường khả năng ổnđịnh vĩ mô nền kinh tế Đối với tiêu chí này, đề tài chỉ sử dụng các phân tích mô
tả để đánh giá chung về sự ổn định vĩ mô của kinh tế Việt Nam qua thời kỳnghiên cứu Mục đích là để có cái nhìn về những biến động kinh tế ngắn hạnnhằm bổ sung cho những phân tích dài hạn về nền kinh tế Việt Nam được phântích theo các thước đo được đưa ra trong phần 1.2.1 và 1.2.2 kể trên
Tiểu kết chương 1: Chương này đã giới thiệu khái quát khái niệm, chỉ tiêu đo
lường và cách tính toán các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế Các tiêu chí cơ bản để đo lường chất lượng tăng trưởng kinh tế là: đóng góp của yếu tố TFP vào tăng trưởng sản lượng của nền kinh tế; cơ cấu các yếu tố đóng góp vào thay đổi năng suất và sản lượng nhìn từ góc độ thay đổi quy mô nguồn lực, chuyển dịch cơ cấu phân bổ nguồn lực và thay đổi năng suất nguồn lực nội ngành Việc nghiên cứu chất lượng tăng trưởng kinh tế sẽ giúp đánh giá về khả năng ổn định và nâng cao mức tăng trưởng của nền kinh
tế
Trang 28Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH
TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995 - 2015
2.1 Thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995 – 2015
2.2 Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam dựa trên phân tích các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng giai đoạn 1995 - 2015
2.2.1 Thực trạng sử dụng vốn và lao động của Việt Nam giai đoạn 1995 – 2015
2.2.2 Đóng góp của các yếu tố nguồn lực vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995 – 2015
2.3 Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam dựa trên phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.3.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ảnh hưởng của chuyển dịch
cơ cấu kinh tế tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Trong những năm qua Việt nam là một trong những nước có nền kinh tế pháttriển mạnh mẽ và ổn định trên thế giới Tốc độ tăng GDP bình quân hàng nămtrong thời kỳ 2000 - 2010 đạt 7% GDP bình quân đầu người năm 2010 khoảng
1200 USD, gấp 3 lần so với năm 2000 Với mức này, Việt Nam đã chuyển vị trí
từ nhóm nước nghèo nhất sang nhóm nước có mức thu nhập trung bình thấp.Tuy nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu còn diễn ra chậm
Biểu đồ 2.7: Cơ cấu kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995-2015
Trang 29Nguồn: Tổng cục thống kê
Tỷ trọng GDP của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 24.9% vàonăm 1995 xuống còn 18,89% vào năm 2010 và 16,93% năm 2015 Như vậy,trong khoảng thời gian 20 năm thì sự dịch chuyển của khu vực Nông, LâmNghiệp và Thủy sản sang các khu vực khác chỉ được khoảng 10% Trong khi tỷtrọng của khu vực công nghiệp chế biến và xây dựng tăng từ 26,51% vào năm
1995 lên 38,13% vào năm 2010 và đến năm 2015 vẫn chỉ chiếm khoảng38,78% Như vậy, trong vòng 10 năm gần đây, cơ cấu của khu vực Công nghiệp
và Xây dựng gần như không đổi Tỷ trọng GDP của khu vực dịch vụ duy trì ởmức xấp xỉ 38% Vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành của Việt Nam đãảnh hưởng như thế nào tới tăng trưởng? Để trả lời câu hỏi này, đề tài thực hiệnđánh giá ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành tới tăng trưởngkinh tế bằng phương pháp phân tích ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu tới tăngtrưởng kinh tế3 Cụ thể như sau:
Xét sự thay đổi góc giữa hai véc tơ cơ cấu theo năm, có thể thấy, cơ cấu kinh tếcủa Việt Nam thay đổi mạnh vào thời kỳ từ sau đổi mới đến trước năm 1993,sau đó, chỉ một vài năm có sự thay đổi đáng kể về cơ cấu kinh tế là 1996 – 1999
và 2006 Đây là những năm gắn với những dấu mốc quan trọng về chuẩn bị gianhập các tổ chức và diễn đàn kinh tế lớn như APEC và WTO (Việt Nam gia
3 Chi tiết trong phụ lục
Trang 30nhập APEC năm 1997 và gia nhập WTO năm 2007).Các năm còn lại trong giaiđoạn từ 1993 đến nay không có những thay đổi đáng kể về cơ cấu kinh tế.
Bảng 2.4: Dịch chuyển cơ cấu kinh tế tính theo góc hợp bởi véc tơ cơ cấu của hai năm liên tiếp 4
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ số liệu của World Bank
So với một số quốc gia thì Việt Nam có tốc độ chuyển dịch cơ cấu khá cao sauđổi mới với giá trị trung bình năm của góc giữa hai véc tơ cơ cấu trong cả giaiđoạn từ 1985 – 2012 là 2.79% Con số tương ứng ở Trung Quốc, Hàn Quốc,Nhật Bản là 1.64%, 0.97% và 0.75% trong cùng thời kỳ Nếu tính từ thời kỳ sauđổi mới (1978 – 2012) thì góc chuyển dịch trung bình năm của Trung Quốc là1.9%, của Hàn Quốc (1970 – 2012) là 1.33% và của Nhật Bản (1970 – 2012) là0.79% Vậy tốc độ chuyển dịch cao này có đóng góp gì cho tăng trưởng kinh tế?
Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi thực hiện hồi quy tăng trưởng GDP theo tốc độchuyển dịch cơ cấu kinh tế
Do số liệu theo năm không đủ dài để thực hiện mô hình hồi quy, trong nghiêncứu này chúng tôi sử dụng dữ liệu quý từ năm 1990 – 2012 để kiểm tra ảnhhưởng của chuyển dịch cơ cấu đến tăng trưởng kinh tế Nền kinh tế được chiathành ba nhóm ngành là nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp – xây dựng, vàdịch vụ Tỷ trọng của các ngành trong GDP được lấy theo số liệu tính theo giáhiện hành, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính theo GDP giá 1994
Trang 31Dưới đây là kết quả hồi quy tốc độ tăng trưởng kinh tế theo quý theo tỷ lệchuyển dịch tính theo góc giữa hai véc tơ cơ cấu Các biến giả mùa vụ được đưavào mô hình để tách ảnh hưởng mùa vụ do sử dụng dữ liệu theo quý.
Kết quả ước lượng hồi quy:
Dependent Variable: TANGTRUONG
Variable CoefficientStd Error t-Statistic Prob
Trang 32Kết quả cho thấy, trong giai đoạn 1990 – 2012, chuyển dịch cơ cấu có ảnhhưởng dương đến tăng trưởng kinh tế với độ trễ một thời kỳ (một quý) Khi tỷ lệchuyển dịch tăng 0.0076 điểm phần trăm thì trong thời kỳ sau tăng trưởng kinh
tế sẽ tăng 1 điểm phần trăm Số liệu cho thấy thay đổi góc giữa hai véc tơ cơcấu không có tác động đến tăng trưởng kinh tế với độ trễ từ hai thời kỳ trở lên Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu
có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế nhưng thời gian ảnh hưởngkhông lâu, chỉ được một năm Dường như cấu trúc nền kinh tế vẫn còn điều bấthợp lý Chuyển dịch cơ cấu chỉ đóng góp cho tăng trưởng trong một năm, chothấy, đây đơn thuần chỉ là tác động của chuyển dịch cơ cấu theo hướng dichuyển nguồn lực từ ngành có năng suất thấp sang ngành có năng suất cao, do
đó ảnh hưởng đến tăng trưởng Tuy nhiên, ảnh hưởng này không tác động lâudài đến tăng trưởng, nó hàm ý chuyển dịch cơ cấu đã không làm thay đổi tăngtrưởng năng suất trong bản thân các ngành
2.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế xét từ góc độ đóng góp của chuyển dịch cơ cấu nguồn lực và những thay đổi nội ngành
Trong phần này, nghiên cứu chia nền kinh tế Việt Nam thành 5 ngành gồm:Nông lâm thủy sản, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ thị trường, và dịch vụ phithị trường Việc phân chia này nhằm mục đích tính đến sự phát triển riêng củanhững ngành có khả năng tham gia sâu rộng vào thị trường quốc tế là nông lâmthủy sản, công nghiệp và dịch vụ thị trường Đây là những ngành có khả năng
mở rộng về lâu dài và do đó quyết định phần lớn khả năng ổn định tăng trưởngtrong dài hạn của nền kinh tế
2.3.3.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động và vốn theo ngành của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2015
- Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành:
Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế giai đoạn 1995 -2015 có sự thay đổi tươngđối rõ rệt, ngành Dịch vụ phi thị trường và ngành Công nghệ có tỷ trọng laođộng ít nhất và tăng nhẹ lần lượt là 2,4 - 6,3% và 3,4 - 5%, lao động ngành
Trang 33Công nghiệp có tỷ trọng tăng mạnh từ 9-15%, ngành Dịch vụ thị trường có tỷtrọng lao động tăng gần gấp đôi từ 14.1% - 27,4%, ngành Nông-Lâm-Ngưnghiệp vẫn luôn là ngành có tỷ trọng lao động cao nhất, tuy nhiên đã giảm mạnh
từ 71,1 - 46,3% Tựu chung lại, đang có sự chuyển dịch lực lượng lao động từngành Nông-Lâm-Ngư nghiệp sang các ngành còn lại, và đặc biệt là ngành dịch
vụ thị trường Điều này là phù hợp với định hướng về chuyển dịch cơ cấu laođộng phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Việt Nam kể từ sau đổi mớitới nay
Biểu đồ 2.8: Cơ cấu lao động theo ngành của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2014
Nguồn: Tổng cục Thống kê
- Thực trạng chuyển dịch cơ cấu vốn theo ngành: Vốn đầu tư tập trung chủ yếu
ở ba ngành công nghiệp, dịch vụ thị trường và dịch vụ phi thị trường Hai ngànhnông lâm thủy sản và xây dựng chiếm tỷ trọng vốn nhỏ Trong giai đoạn nghiêncứu, vốn đầu tư vào ngành dịch vụ phi thị trường có xu hướng giảm, còn vốnđầu tư ngành dịch vụ thị trường và ngành xây dựng có xu hướng tăng, tuynhiên, những thay đổi này không thực sự quá nhiều