Định tội danh trong trường hợp đồng phạm là một vấn đề hết sức quan trọng, là giai đoạn có ý nghĩa quyết định của quy trình áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án hình sự; là cơ sở cầ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HUỲNH
ĐỊNH TỘI DANH TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Tất Viễn
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự là do có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội Tội phạm có thể do một người thực hiện, cũng có thể do nhiều người thực hiện Khi tội phạm được thực hiện bởi nhiều người và trong hành động của họ có sự liên hệ mật thiết, tác động lẫn nhau thì được gọi là đồng phạm Đồng phạm
là hình thức “phạm tội đặc biệt”, đòi hỏi những điều kiện riêng, khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ về số lượng người tham gia phạm tội, mối liên hệ giữa các đối tượng trong cùng vụ án cũng như tội phạm mà cả nhóm hướng tới thực hiện So với tội phạm do một người thực hiện, đồng phạm thường nguy hiểm hơn, vì khi một nhóm người cùng cố ý tham gia thực hiện hành vi phạm tội, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội sẽ tăng lên đáng kể, nhất là khi có sự câu kết chặt chẽ về tổ chức và cách thực hiện, phát triển thành “phạm tội có tổ chức”
Định tội danh trong trường hợp đồng phạm là một vấn đề hết sức quan trọng, là giai đoạn có ý nghĩa quyết định của quy trình áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án hình sự; là cơ sở cần thiết, đầu tiên để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với từng người phạm tội Trên cơ sở xác định từng người trong vụ án có đồng phạm, phạm tội gì thuộc điều, khoản, điểm nào của BLHS thì khi xét xử, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng một hình phạt tương xứng với tính chất nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của từng người tham gia cùng với việc xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết khác thuộc về nhân thân, nguyên nhân và điều kiện dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo Chính vì vậy, định tội được xem là tiền đề, điều kiện cho việc quyết
Trang 4định hình phạt đúng đắn, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng và chống tội phạm Nếu định tội danh không chính xác đối với từng người trong vụ án có đồng phạm
sẽ dẫn đến áp dụng hình phạt nặng hơn hoặc nhẹ hơn cho bị cáo dẫn đến vi phạm pháp luật, không bảo vệ được quyền lợi của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm giảm uy tín của các cơ quan trực tiếp đấu tranh bảo vệ pháp luật
Thạnh Phú là một trong 3 huyện duyên hải của tỉnh Bến Tre gồm những cánh đồng bằng phẳng xen kẽ với những giồng cát và những khu rừng ngập mặn, phần lớn đất đai do ảnh hưởng thủy triều của biển Đông nên bị nhiễm mặn Việc phát triển nông nghiệp, nhất
là cây lúa, gặp nhiều khó khăn, năng suất thường bấp bênh Là một huyện nằm ở cuối dòng sông Cửu Long, đất đai phần lớn bị nhiễm mặn, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, việc phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của dân gặp không ít khó khăn [44] Trong những năm gần đây, mặc dù có nhiều đổi mới, đời sống người dân nơi đây đã được cải thiện nhưng tình hình tội phạm diễn ra cũng không ít phức tạp Các cơ quan tiến hành tố tụng cũng gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết vụ án vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà quan trọng nhất là các chủ thể định tội danh chưa nắm vững và nhận thức đúng những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh nói chung và định tội danh trong trường hợp đồng phạm nói riêng Chính vì vậy, việc lựa chọn vấn đề “Định tội danh trong trường hợp đồng phạm từ thực tiễn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre” làm đề tài luận văn thạc sĩ là đáp ứng yêu cầu cấp thiết hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ khoa học pháp lý, đồng phạm hay định tội danh trong trường hợp đồng phạm không phải là vấn đề mới trong khoa
Trang 5học pháp lý hình sự, có rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết khoa học đăng trên các tạp chí của nhiều nhà nghiên cứu lý luận, luật gia hình sự và cán bộ thực tiễn đề cập đến nội dung này trong thời gian qua như:
- Lê Cảm – Trịnh Quốc Toản (2011), Định tội danh (Lý luận,
lời giải mẫu và 500 bài tập), Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà
Nội Sách đã đề cập đến khái niệm, đặc điểm cơ bản, các dạng và các giai đoạn định tội danh; định tội danh đối với tội phạm hoàn thành; đối với tội phạm chưa hoàn thành cũng như hướng dẫn phương pháp định tội danh [7]
- Phan Anh Tuấn (2001), Định tội danh trong trường hợp một hành vi thỏa mãn dấu hiệu của nhiều cấu thành tội phạm, Tạp chí Khoa học pháp lý số 02 Theo tác giả, Vấn đề định tội danh và xác định khung hình phạt trong trường hợp hành vi phạm tội thỏa mãn dấu hiệu của nhiều CTTP là một vấn đề phức tạp đang còn tranh luận trong thực tiễn cũng như lý luận khoa học Luật Hình sự Bài viết đã chỉ ra trong trường hợp nào thì xét xử một tội, trường hợp nào xét xử nhiều tội? Cơ sở lý luận để giải thích vấn đề này như thế nào? [42, tr 6-10]
Ngoài ra, còn một số công trình khác có liên quan đến đề tài luận văn như: Giáo trình lý luận chung về định tội danh, tập thể tác giả do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nhà xuất bản Công an nhân
dân, Hà Nội, 2003 [44]; Hoàng Văn Thành (2014), Kỹ năng xác định
tội danh trong vụ án hình sự, http://tks.edu.vn [48]; Lê Văn Luật
(2015), Bàn về định tội danh đối với một số tội xâm phạm sở hữu, Đại học luật TP HCM, [17, tr 9-12]; Phạm Văn Beo (2014), Xung đột quan điểm trong việc xác định tội danh,Tạp chí Luật học [1,
tr.15-21]; Đoàn Tấn Minh (2010), Phương pháp định tội danh và
Trang 6hướng dẫn định tội danh đối với các tội phạm trong Bộ luật hình sự hiện hành, Nxb Tư pháp [19]; Cao Thị Oanh (2002), Vấn đề về mặt chủ quan của đồng phạm, Tạp chí Luật học, (số 2) [20, tr 19-21]
Các công trình nói trên đã đi sâu nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động định tội danh hoặc vấn đề đồng phạm, xác định vai trò đồng phạm Tuy nhiên chưa có một công trình nào phân tích rõ các đặc điểm và yêu cầu đặt ra khi định tội danh các vụ án có đồng phạm Điều này cho thấy việc lựa chọn đề tài định tội danh trong trường hợp đồng phạm là đáp ứng nhu cầu thực tiễn và lý luận hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ lý luận và thực tiễn hoạt động định tội danh trong trường hợp đồng phạm từ thực tiễn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, luận văn đề xuất các giải pháp góp phần định tội danh đúng trong trường hợp đồng phạm theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục tiêu trên, luận văn đi sâu giải quyết các nhiệm vụ
cơ bản:
- Nghiên cứu làm rõ lý luận về hoạt động định tội danh trong trường hợp đồng phạm
- Nghiên cứu, làm rõ quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
về định tội danh trong trường hợp đồng phạm
- Khảo sát thực trạng, đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động định tội danh trong trường hợp đồng phạm trên địa bàn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 74.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh trong trường hợp đồng phạm trên địa bàn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung, luận văn nghiên cứu định tội danh trong trường hợp đồng phạm theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam; Do định tội danh là hình thức áp dụng pháp luật nên Luận văn không nghiên cứu quy định của pháp luật thành một mục riêng Những quy định có liên quan sẽ được tác giả phân tích đan xen theo từng vấn đề
- Phạm vi về không gian: Luận văn chỉ nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự về định tội danh trong trường hợp đồng phạm tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
- Phạm vi về thời gian khảo sát: Từ năm 2012 đến năm 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận là phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về định tội danh trong trường hợp đồng phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả sưu tầm, hệ thống, nghiên cứu các văn bản pháp luật, các công trình nghiên cứu liên
quan đến hoạt động định tội danh trong trường hợp đồng phạm
- Phương pháp thống kê, phân tích số liệu: Từ các báo cáo tổng kết hoạt động định tội danh trong trường hợp đồng phạm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, Tòa án nhân dân huyện
Thạnh Phú qua các năm từ 2012 đến 2016
Trang 8- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Tác giả khảo sát một số bản án xét xử vụ án có đồng phạm để làm rõ các đặc điểm của hoạt
động định tội danh trong trường hợp đồng phạm
- Phương pháp chuyên gia: Tác giả trực tiếp trao đổi, phỏng vấn các chuyên gia như: Kiểm sát viên VKSND, Thẩm phán TAND
có các nghiên cứu khoa học và thực tiễn về hoạt động định tội danh
trong trường hợp đồng phạm
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ hơn lý luận
về chế định định tội danh trường hợp đồng phạm trong khoa học luật
hình sự Việt Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Bên cạnh việc hoàn thiện về mặt lý luận, với việc vận dụng, phân tích các vụ án cụ thể và rút ra những vướng mắc thường gặp trong quá trình giải quyết các vụ án đồng phạm, đề tài cũng có ý nghĩa như một nguồn tài liệu tham khảo và vận dụng cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Luật sư đang trực tiếp tham gia định tội danh trong trường hợp đồng phạm trên địa bàn huyện Thạnh
Phú và cả nước nói chung
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương
Chương 1 Những vấn đề chung về định tội danh trong trường
hợp đồng phạm
Chương 2 Thực tiễn định tội danh trong trường hợp đồng
phạm tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
Chương 3 Các giải pháp nhằm đảm bảo định tội danh đúng
trong trường hợp đồng phạm
Trang 9Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH
TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM
1.1 Khái quát về đồng phạm
Tội phạm có thể do một chủ thể thực hiện cũng có thể là sự phối hợp cùng tham gia của nhiều chủ thể khác nhau Khi một tội phạm được thực hiện bởi nhiều người phạm tội thì việc xác định tội danh và trách nhiệm hình sự đối với họ là rất phức tạp Hành vi phạm tội trong trường hợp đồng phạm phải xâm hại cùng khách thể Do vậy, để xác định những người đồng phạm có cố ý cùng thực hiện một tội phạm hay không, cần phải xác định xem hành vi nguy hiểm cho
xã hội của những người trong đồng phạm thực hiện có xâm hại đến cùng một quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ hay không và các yếu tố khác Cụ thể là:
Các dấu hiệu đặc trưng của đồng phạm
- Dấu hiệu về mặt khách quan của đồng phạm
Dấu hiệu thứ nhất, đồng phạm đòi hỏi phải có sự cùng tham gia của hai người trở lên vào việc thực hiện tội phạm và những người tham gia thực hiện tội phạm phải có đủ điều kiện của chủ thể tội phạm, tức là phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự Nếu họ không có hai điều kiện này hoặc thiếu một trong hai điều kiện này thì vấn đề đồng phạm sẽ không đặt ra đối với họ
Dấu hiệu thứ hai, những người đồng phạm phải cùng thực hiện tội phạm (cố ý) Điều này có nghĩa là những người tham gia bằng hành vi của mình đều góp phần thực hiện tội phạm hoặc thúc đẩy việc thực hiện tội phạm Cố ý cùng thực hiện tội phạm đòi hỏi mỗi người đồng phạm phải tham gia vào tội phạm với một hoặc một số
Trang 10hành vi sau: Hành vi thực hiện tội phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục thực hiện tội phạm, hành vi giúp sức thực hiện tội phạm Tương ứng với bốn hành vi này là bốn loại người đồng phạm bao gồm: Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức
và người thực hành
- Dấu hiệu về mặt chủ quan của đồng phạm
Đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều
có lỗi cố ý Lỗi cố ý trong đồng phạm được thể hiện trên hai phương diện:
Về lý trí, mỗi người đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình
Về ý chí, những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung, cùng mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh
Ngoài hai dấu hiệu khách quan và chủ quan bắt buộc đã nêu, đối với những tội phạm mà dấu hiệu cấu thành tội phạm có yếu tố bắt buộc là mục đích thì đồng phạm còn đòi hỏi thêm dấu hiệu là “có cùng mục đích” Nếu không thỏa mãn dấu hiệu cùng mục đích sẽ không có đồng phạm, trong trường hợp này những người tham gia sẽ chịu trách nhiệm hình sự độc lập với nhau
Các loại người đồng phạm
Khoản 2 điều 20 BLHS quy định về các loại người đồng phạm, trong đó nêu rõ có bốn loại người đồng phạm, đó là: người tổ
chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức Người tổ
chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội
phạm Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực
Trang 11hiện tội phạm Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy
người khác thực hiện tội phạm Người giúp sức là người tạo những
điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm
Các dạng đồng phạm
Căn cứ vào đặc điểm về mặt chủ quan thì đồng phạm được phân loại thành: Đồng phạm không có thông mưu trước và đồng phạm có thông mưu trước
Đồng phạm không có thông mưu trước, hình thức này được
hiểu như sau:“Đồng phạm không có thông mưu trước là hình thức
đồng phạm trong đó không có sự thoả thuận bàn bạc với nhau trước giữa những người đồng phạm hoặc là có sự thoả thuận nhưng không đáng kể"
Đồng phạm có thông mưu trước:“Đồng phạm có thông mưu
trước là hình thức đồng phạm trong đó những người đồng phạm đã
có sự thoả thuận bàn bạc trước với nhau về tội phạm cùng thực hiện”
Dựa vào những đặc điểm về mặt khách quan có thể chia đồng phạm thành hai loại là đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp
Đồng phạm giản đơn:“Đồng phạm giản đơn là hình thức đồng
phạm trong đó những người cùng tham gia vào vụ phạm tội đều có vai trò là người thực hành”
Đồng phạm phức tạp:“Đồng phạm phức tạp là hình thức đồng
phạm trong đó có một hoặc một số người tham gia giữ vai trò là người thực hành, còn những người khác giữ vai trò xúi giục, tổ chức hay giúp sức”
Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm đặc biệt mà định nghĩa pháp lý của nó đã được các nhà làm luật nước ta ghi nhận tại
Khoản 2 Điều 17 BLHS năm 2015: “Phạm tội có tổ chức là trường
Trang 12hợp đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”
1.2 Lý luận về định tội danh trong trường hợp đồng phạm
1.2.1 Khái niệm định tội danh trong trường hợp đồng phạm
Khái niệm định tội danh
Theo PGS.TSKH Lê Cảm và Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội: Định tội danh là quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên cơ
sở các chứng cứ các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của
vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật [4]
Theo Tiến sĩ luật Phạm Văn Beo thì, định tội là việc xác nhận
về mặt pháp lý sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm
cụ thể tương ứng được quy định trong bộ luật hình sự [1]
Như vậy, định tội danh vừa là hoạt động tư duy vừa là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) do người tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định về mặt pháp lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện có phạm tội không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, được quy định tại điều luật nào của Bộ luật Hình sự (đang có hiệu lực pháp luật)
Trang 13Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về định tội danh
trong trường hợp đồng phạm như sau: Định tội danh trong trường
hợp đồng phạm là hoạt động áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật dựa vào các dấu hiệu cấu thành tội phạm để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành
vi nguy hiểm cho xã hội của người thực hành đã thực hiện (trong mối quan hệ với những người khác trong đồng phạm) với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng
1.2.2 Đặc điểm và ý nghĩa của việc định tội danh trong trường hợp đồng phạm
1.2.2.1 Đặc điểm của việc định tội danh trong trường hợp đồng phạm
Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn định tội danh ở nước ta cho thấy, định tội danh trong trường hợp đồng phạm có những đặc
điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, hành vi phạm tội trong đồng phạm phải xâm hại
cùng khách thể
Thứ hai, khi định tội danh trong đồng phạm cần xem xét dấu
hiệu về mặt khách quan của đồng phạm
Thứ ba, trong đồng phạm thì hành vi của người thực hành là
căn cứ để định tội
Thứ tư, ngoài những đặc điểm trên thì cũng cần lưu ý rằng, người
đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành
1.2.2.2 Ý nghĩa của việc định tội danh trong trường hợp đồng phạm
Định tội danh là một giai đoạn cơ bản của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Định tội danh đúng có ý nghĩa chính trị