1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định tội danh trong trường hợp đồng phạm từ thực tiễn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre

89 167 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước hết, định tội danh là một quá trình lôgic nhất định, là hoạt động của con người về việc xác nhận và ghi nhận sự phù hợp giữa trường hợp phạm tội cụ thể đang xem xét với các dấu hiệ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HUỲNH

ĐỊNH TỘI DANH TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM

TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HUỲNH

ĐỊNH TỘI DANH TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM

TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS HOÀNG THỊ MINH SƠN

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tác giả Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Huỳnh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM 7

1.1 Khái quát về đồng phạm 7 1.2 Lý luận về định tội danh trong trường hợp đồng phạm 14

Chương 2: THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM TẠI HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE 32

2.1 Thực tiễn định tội danh trong trường hợp đồng phạm theo cấu thành tội phạm

cơ bản 33 2.2 Thực tiễn định tội danh trong trường hợp đồng phạm theo cấu thành tội phạm tăng nặng 42 2.3 Đánh giá về thực tiễn định tội danh trong trường hợp đồng phạm tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre 52

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO ĐỊNH TỘI DANH ĐÚNG TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM 63

3.1 Tăng cường triển khai các biện pháp thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 và tiếp tục hoàn thiện những quy định có liên quan đến định tội danh trong đồng phạm 63 3.2 Nâng cao vai trò của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân trong hoạt động định tội danh trong trường hợp đồng phạm 65 3.3 Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị của người định tội danh 67 3.4 Chú trọng tổng kết thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về các tội đồng phạm 75

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS) là do có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội Tội phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội, bởi vì tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với hình thức lỗi cố ý và vô ý

Tội phạm có thể do một người thực hiện, cũng có thể do nhiều người thực hiện Khi tội phạm được thực hiện bởi nhiều người và trong hành động của họ có sự liên hệ mật thiết, tác động lẫn nhau thì được gọi là đồng phạm Đồng phạm là hình thức “phạm tội đặc biệt”, đòi hỏi những điều kiện riêng, khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ về số lượng người tham gia phạm tội, mối liên hệ giữa các đối tượng trong cùng vụ án cũng như tội phạm mà cả nhóm hướng tới thực hiện Sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa những người cùng tham gia thực hiện tội phạm càng củng

cố quyết tâm phạm tội đến cùng của cả nhóm, thể hiện tính chất và mức độ nguy hiểm đáng kể của những tội phạm có đồng phạm So với tội phạm do một người thực hiện, đồng phạm thường nguy hiểm hơn, vì khi một nhóm người cùng cố ý tham gia thực hiện hành vi phạm tội, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội sẽ tăng lên đáng kể, nhất là khi có sự câu kết chặt chẽ về tổ chức và cách thực hiện, phát triển thành “phạm tội có tổ chức”

Định tội danh trong trường hợp đồng phạm là một vấn đề hết sức quan trọng,

là giai đoạn có ý nghĩa quyết định của quy trình áp dụng pháp luật để giải quyết các

vụ án hình sự; là cơ sở cần thiết, đầu tiên để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với từng người phạm tội Trên cơ sở xác định từng người trong vụ án có đồng phạm, phạm tội gì thuộc điều, khoản, điểm nào của BLHS thì khi xét xử, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng một hình phạt tương xứng với tính chất nguy hiểm cho xã hội

do hành vi phạm tội của từng người tham gia cùng với việc xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết khác thuộc về nhân thân, nguyên nhân và điều kiện dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo

Trang 7

Chính vì vậy, định tội được xem là tiền đề, điều kiện cho việc quyết định hình phạt đúng đắn, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng và chống tội phạm Nếu định tội danh không chính xác đối với từng người trong vụ án có đồng phạm sẽ dẫn đến áp dụng hình phạt nặng hơn hoặc nhẹ hơn cho

bị cáo dẫn đến vi phạm pháp luật, không bảo vệ được quyền lợi của Nhà nước, của

tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm giảm uy tín của các cơ quan trực tiếp đấu tranh bảo vệ pháp luật

Thạnh Phú là một trong 3 huyện duyên hải của tỉnh Bến Tre gồm những cánh đồng bằng phẳng xen kẽ với những giồng cát và những khu rừng ngập mặn, phần lớn đất đai do ảnh hưởng thủy triều của biển Đông nên bị nhiễm mặn Việc phát triển nông nghiệp, nhất là cây lúa, gặp nhiều khó khăn, năng suất thường bấp bênh

Là một huyện nằm ở cuối dòng sông Cửu Long, đất đai phần lớn bị nhiễm mặn, lại

bị chiến tranh tàn phá nặng nề, việc phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của dân gặp không ít khó khăn Trong những năm gần đây, mặc dù có nhiều đổi mới, đời sống người dân nơi đây đã được cải thiện nhưng tình hình tội phạm hiện nay diễn ra cũng không ít phức tạp Các cơ quan tiến hành tố tụng cũng gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết vụ án vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà quan trọng nhất là các chủ thể định tội danh chưa nắm vững và nhận thức đúng những vấn đề lý luận

và thực tiễn về định tội danh nói chung và định tội danh trong trường hợp đồng phạm nói riêng Chính vì vậy, việc lựa chọn vấn đề “Định tội danh trong trường hợp đồng phạm từ thực tiễn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre” làm đề tài luận văn thạc sĩ

là đáp ứng yêu cầu cấp thiết hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Dưới góc độ khoa học pháp lý, đồng phạm hay định tội danh trong trường hợp đồng phạm không phải là vấn đề mới trong khoa học pháp lý hình sự, có rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết khoa học đăng trên các tạp chí của nhiều nhà nghiên cứu lý luận, luật gia hình sự và cán bộ thực tiễn đề cập đến nội dung này trong thời gian qua như:

Trang 8

- Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Thị Thanh Mai (2007), Một số vấn đề về

Đồng phạm trong vụ án hình sự, Tạp chí Nghề luật, số 5 Theo các tác giả, tội phạm

do một người thực hiện, cũng có thể do nhiều người thực hiện, khi tội phạm được thực hiện bởi nhiều người và hành động có sự liên hệ mật thiết, tác động lẫn nhau thì trường hợp đó được gọi là đồng phạm Đồng phạm là hình thức phạm tội “đặc biệt”, đòi hỏi những điều kiện riêng, khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ (về số lượng người tham gia phạm tội, mối liên hệ giữa các đối tượng trong cùng vụ

án cũng như tội phạm mà cả nhóm hướng tới thực hiện)…So với tội phạm do một người thực hiện, đồng phạm thường nguy hiểm hơn, vì khi một nhóm người cùng

cố ý thực hiện hành vi phạm tội, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội sẽ tăng lên đáng kể, nhất là khi có sự câu kết chặt chẽ về tổ chức và cách thức thực hiện, phát triển thành “phạm tội có tổ chức”, do đó việc xác định trách nhiệm hình

sự đối với những người đồng phạm có một số điểm khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ Việc xác định trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm, một mặt phải căn cứ vào những nguyên tắc chung được áp dụng cho tất cả những trường hợp phạm tội, mặt khác phải tuân thủ những nguyên tắc có tính đặc thù [16, tr 10 - 13]

- Lê Cảm – Trịnh Quốc Toản (2011), Định tội danh (Lý luận, lời giải mẫu và

500 bài tập), Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách đã đề cập đến khái

niệm, đặc điểm cơ bản, các dạng và các giai đoạn định tội danh; định tội danh đối với tội phạm hoàn thành; đối với tội phạm chưa hoàn thành cũng như hướng dẫn phương pháp định tội danh [7]

- Phan Anh Tuấn (2001), Định tội danh trong trường hợp một hành vi thỏa mãn dấu hiệu của nhiều cấu thành tội phạm, Tạp chí Khoa học pháp lý số 02 Theo tác giả, Vấn đề định tội danh và xác định khung hình phạt trong trường hợp hành vi phạm tội thỏa mãn dấu hiệu của nhiều CTTP là một vấn đề phức tạp đang còn tranh luận trong thực tiễn cũng như lý luận khoa học Luật Hình sự Bài viết đã chỉ ra trong trường hợp nào thì xét xử một tội, trường hợp nào xét xử nhiều tội? Cơ sở lý luận để giải thích vấn đề này như thế nào? [42, tr 6 -10]

Trang 9

Ngoài ra, còn một số công trình khác có liên quan đến đề tài luận văn như: Giáo trình lý luận chung về định tội danh, tập thể tác giả do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2003 [44]; Trần Quang Tiệp

(2009), Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội [33]; Hoàng Văn Thành (2014), Kỹ năng xác định tội danh

trong vụ án hình sự, http://tks.edu.vn [48]; Lê Văn Luật (2015), Bàn về định tội

danh đối với một số tội xâm phạm sở hữu, Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh, [17, tr 9-12]; Phạm Văn Beo (2014), Xung đột quan điểm trong việc xác định tội

danh,Tạp chí Luật học [1, tr.15-21]; Đoàn Tấn Minh (2010), Phương pháp định tội

danh và hướng dẫn định tội danh đối với các tội phạm trong Bộ luật hình sự hiện hành, Nxb Tư pháp [19]; Cao Thị Oanh (2002), Vấn đề về mặt chủ quan của đồng phạm, Tạp chí Luật học, (số 2) [20, tr 19-21]; Cao Thị Oanh (2003), Những biểu hiện của nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự trong đồng phạm, Tạp chí Luật

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục tiêu trên, luận văn đi sâu giải quyết các nhiệm vụ cơ bản:

- Nghiên cứu làm rõ lý luận về hoạt động định tội danh trong trường hợp đồng phạm

Trang 10

- Nghiên cứu, làm rõ quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về định tội danh trong trường hợp đồng phạm

- Khảo sát thực trạng, đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động định tội danh trong trường hợp đồng phạm trên địa bàn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh trong trường hợp đồng phạm trên địa bàn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung, luận văn nghiên cứu định tội danh trong trường hợp đồng phạm theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam; Do định tội danh là hình thức áp dụng pháp luật nên Luận văn không nghiên cứu quy định của pháp luật thành một mục riêng Những quy định có liên quan sẽ được tác giả phân tích đan xen theo từng vấn đề

- Phạm vi về không gian: Luận văn chỉ nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự về định tội danh trong trường hợp đồng phạm tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre

- Phạm vi về thời gian khảo sát: Từ năm 2012 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận là phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về định tội danh trong trường hợp đồng phạm

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả sưu tầm, hệ thống, nghiên cứu các văn bản pháp luật, các công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động định tội danh

trong trường hợp đồng phạm

Trang 11

- Phương pháp thống kê, phân tích số liệu: Từ các báo cáo tổng kết hoạt động định tội danh trong trường hợp đồng phạm của Viện kiểm sát nhân dân huyện

Thạnh Phú, Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú qua các năm từ 2012 đến 2016

- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Tác giả khảo sát một số bản án xét xử

vụ án có đồng phạm để làm rõ các đặc điểm của hoạt động định tội danh trong

trường hợp đồng phạm

- Phương pháp chuyên gia: Tác giả trực tiếp trao đổi, phỏng vấn các chuyên gia như: Kiểm sát viên VKSND, thẩm phán TAND có các nghiên cứu khoa học và

thực tiễn về hoạt động định tội danh trong trường hợp đồng phạm

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ hơn lý luận về chế định

định tội danh trường hợp đồng phạm trong khoa học luật hình sự Việt Nam

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Bên cạnh việc hoàn thiện về mặt lý luận, với việc vận dụng, phân tích các vụ

án cụ thể và rút ra những vướng mắc thường gặp trong quá trình giải quyết các vụ

án đồng phạm, đề tài cũng có ý nghĩa như một nguồn tài liệu tham khảo và vận dụng cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Luật sư đang trực tiếp tham gia định tội danh trong trường hợp đồng phạm trên địa bàn huyện Thạnh Phú và cả

nước nói chung

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận

văn có kết cấu gồm 3 chương

Chương 1 Những vấn đề chung về định tội danh trong trường hợp đồng

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM

1.1 Khái quát về đồng phạm

Tội phạm có thể do một chủ thể thực hiện cũng có thể là sự phối hợp cùng tham gia của nhiều chủ thể khác nhau Khi một tội phạm được thực hiện bởi nhiều người phạm tội thì việc xác định tội danh và trách nhiệm hình sự đối với họ là rất phức tạp Hành vi phạm tội trong trường hợp đồng phạm phải xâm hại cùng khách thể Do vậy, để xác đinh những người đồng phạm có cố ý cùng thực hiện một tội phạm hay không, cần phải xác định xem hành vi nguy hiểm cho xã hội của những người trong đồng phạm thực hiện có xâm hại đến cùng một quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ hay không và các yếu tố khác Cụ thể là:

Các dấu hiệu đặc trưng của đồng phạm

- Dấu hiệu về mặt khách quan của đồng phạm

Dấu hiệu thứ nhất, đồng phạm đòi hỏi phải có sự cùng tham gia của hai người trở lên vào việc thực hiện tội phạm và những người tham gia thực hiện tội phạm phải có đủ điều kiện của chủ thể tội phạm, tức là phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình

sự và có năng lực trách nhiệm hình sự Nếu họ không có hai điều kiện này hoặc thiếu một trong hai điều kiện này thì vấn đề đồng phạm sẽ không đặt ra đối với họ

Yếu tố chủ thể tham gia thực hiện tội phạm là cơ sở quyết định tính chất của tội phạm Thực tế cho thấy, một tội phạm được thực hiện chỉ do một người thực hiện nhưng cũng có thể nó là kết quả của sự liên kết, phối hợp giữa nhiều chủ thể khác nhau Sự tham gia của nhiều người vào việc gây án đã làm cho tội phạm có sự thay đổi về chất và có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn hẳn trường hợp phạm tội riêng lẻ Dấu hiệu chủ thể đặc biệt không đòi hỏi phải có ở tất cả những người đồng phạm mà chỉ đòi hỏi ở một loại người đồng phạm là người thực hành

Dấu hiệu thứ hai, những người đồng phạm phải cùng thực hiện tội phạm (cố ý) Điều này có nghĩa là những người tham gia bằng hành vi của mình đều góp phần thực hiện tội phạm hoặc thúc đẩy việc thực hiện tội phạm Cố ý cùng thực hiện tội

Trang 13

phạm đòi hỏi mỗi người đồng phạm phải tham gia vào tội phạm với một hoặc một

số hành vi sau: Hành vi thực hiện tội phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục thực hiện tội phạm, hành vi giúp sức thực hiện tội phạm Tương ứng với bốn hành vi này là bốn loại người đồng phạm bao gồm: Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức và người thực hành

Trong một vụ đồng phạm có thể có đủ bốn loại hành vi nhưng cũng có thể chỉ

có một hoặc một số loại hành vi Người đồng phạm có thể tham gia một hoặc nhiều loại hành vi khác nhau, họ có thể tham gia tội phạm từ đầu hoặc có thể tham gia khi tội phạm đã xảy ra nhưng chưa kết thúc Bằng những hành vi cụ thể như vậy, những người tham gia vào vụ đồng phạm đều có hành vi nguy hiểm cho xã hội Những hành vi đó được thực hiện trong mối liên kết thống nhất với nhau, hành vi của mỗi người đều là điều kiện hỗ trợ cho hoạt động chung Có thể tất cả những người đồng phạm đều cùng trực tiếp thực hiện tội phạm và tổng hợp những hành vi của họ tạo thành hành vi phạm tội có đủ những dấu hiệu của cấu thành tội phạm nhất định Nhưng cũng có thể chỉ có một hoặc một số người trực tiếp thực hiện tội phạm, còn những người khác chỉ có hành vi góp phần vào việc thực hiện tội phạm

Hậu quả của tội phạm là kết quả chung do hoạt động của tất cả những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm đưa lại Giữa hành vi của mỗi người và hậu quả của tội phạm đều có quan hệ nhân quả, trong đó hành vi của người thực hành có quan hệ nhân quả trực tiếp với hậu quả của tội phạm, còn hành vi của những người khác (tổ chức, giúp sức, xúi giục) thông qua hành vi của người thực hành mà gây ra hậu quả

- Dấu hiệu về mặt chủ quan của đồng phạm

Tội phạm là một thể thống nhất của mặt khách quan và chủ quan Nếu mặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm thì mặt chủ quan là hoạt động tâm lí bên trong của người phạm tội Trong luật hình sự, đồng phạm được coi

là hình thức phạm tội đặc biệt, do vậy khi nghiên cứu đồng phạm không thể tách rời hai mặt khách quan và chủ quan

Trang 14

Đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý Ngoài ra, đối với những tội có dấu hiệu mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc, đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện phải có cùng mục đích phạm tội đó Khi thực hiện hành vi, những người đồng phạm không chỉ cố ý về hành vi của mình

mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của những người đồng phạm khác Lỗi

cố ý trong đồng phạm được thể hiện trên hai phương diện:

Về lý trí, mỗi người đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình Nếu chỉ biết mình có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không biết người khác cũng có hành

vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình thì chưa thỏa mãn dấu hiệu lỗi cố ý trong đồng phạm và do vậy chưa phải là đồng phạm Mỗi người đồng phạm còn thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện

Về ý chí, những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung, cùng mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh Những trường hợp không mong muốn có sự liên kết hành vi để cùng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội là những trường hợp phạm tội riêng lẻ Cũng là phạm tội riêng lẻ khi các hậu quả mà những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội mong muốn không đồng nhất với nhau

Ngoài hai dấu hiệu khách quan và chủ quan bắt buộc đã nêu, đối với những tội phạm mà dấu hiệu cấu thành tội phạm có yếu tố bắt buộc là mục đích thì đồng phạm còn đòi hỏi thêm dấu hiệu là “có cùng mục đích” Nếu không thỏa mãn dấu hiệu cùng mục đích sẽ không có đồng phạm, trong trường hợp này những người tham gia sẽ chịu trách nhiệm hình sự độc lập với nhau

Các loại người đồng phạm

Khoản 2 điều 20 BLHS quy định về các loại người đồng phạm, trong đó nêu

rõ có bốn loại người đồng phạm, đó là: người tổ chức, người thực hành, người xúi

giục và người giúp sức Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp

sức đều là những người đồng phạm Người thực hành là người trực tiếp thực hiện

Trang 15

tội phạm Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội

phạm Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm Trước năm 1985, người ta thường sử dụng khái niệm người tổ chức để chỉ những người đứng đầu trong các vụ án phản cách mạng Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, tổ chức không chỉ đơn thuần trong lĩnh vực chính trị mà còn khá đa dạng trong

cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội [47, tr.1- 2] Trong mối quan hệ với những người đồng phạm khác, người tổ chức được hiểu là người thành lập nhóm đồng phạm hoặc điều khiển hoạt động của nhóm Người thành lập nhóm là người có hành

vi đề xướng việc thành lập nhóm, thực hiện đề xướng và thiết lập các mối liên hệ giữa những người tham gia nhóm với nhau Trong điều khiển hoạt động của nhóm, người tổ chức có thể vạch ra phương hướng hoạt động, vạch kế hoạch thực hiện, phân công vai trò cho những người đồng phạm hoặc trực tiếp điều khiển một vụ việc cụ thể của nhóm

Người xúi giục là người bằng lời nói hoặc hành động của mình kích động, dụ

dỗ người khác thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Người xúi giục có thể là người nghĩ ra việc phạm tội và thúc đẩy người khác thực hiện hoặc thúc đẩy người

Trang 16

khác thực hiện ý định phạm tội đã có [47, tr.1- 2] Sự xúi giục có thể được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn như kích động, lôi kéo, dụ dỗ, lừa phỉnh, hứa hẹn, Chỉ được coi là người xúi giục trong đồng phạm khi hành vi xúi giục đó phải trực tiếp và cụ thể Trực tiếp tức là nhằm vào một hoặc một số đối tượng nhất định chứ không mang tính chất hô hào chung chung Cụ thể nghĩa là hành vi xúi giục phải nhằm hướng tới một tội phạm nhất định, việc tuyên truyền, phổ biến, gieo rắc tư tưởng xấu khiến người khác đi vào con đường phạm tội không được gọi là hành vi xúi giục Như vậy nếu chỉ có những lời nói, hành động ảnh hưởng tới việc phạm tội của người khác mà không có ý định thúc đẩy họ phạm tội thì cũng không phải là người xúi giục

Người giúp sức là người tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần để tội phạm được thực hiện một cách thuận lợi hơn Giúp sức về vật chất có thể là cung cấp công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội hoặc dẹp bỏ những trở ngại khách quan để tội phạm được diễn ra suôn sẻ [47, tr.1- 2] Giúp sức về tinh thần có thể là chỉ dẫn, góp ý, cung cấp tình hình hoặc giúp bằng lời hứa hẹn trước Pháp luật quy định “Giúp sức bằng lời hứa hẹn trước” là một dạng giúp sức đặc biệt trong đồng phạm, đó là việc người giúp sức hứa sẽ che dấu người phạm tội, che dấu tang chứng, vật chứng hoặc tiêu thụ tài sản có được từ việc phạm tội Hành vi giúp sức trên thực tế có thể được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động Trường hợp không hứa hẹn trước nhưng sau khi tội phạm được thực hiện họ giúp che dấu các dấu vết của tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội che dấu tội phạm theo Điều 313 Bộ luật hình sự

Các dạng đồng phạm

Để xác định một tội phạm có phải là đồng phạm hay không chúng ta có thể dựa vào dấu hiệu thuộc mặt chủ thể, chủ quan và mặt khách quan của tội phạm đó Khoa học luật hình sự và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự từ trước đến nay đều dựa vào dấu hiệu chủ quan và khách quan để phân loại các hình thức đồng phạm

Trang 17

Căn cứ vào đặc điểm về mặt chủ quan thì đồng phạm được phân loại thành: Đồng phạm không có thông mưu trước và đồng phạm có thông mưu trước

Đồng phạm không có thông mưu trước, hình thức này được hiểu như

sau:“Đồng phạm không có thông mưu trước là hình thức đồng phạm trong đó

không có sự thoả thuận bàn bạc với nhau trước giữa những người đồng phạm hoặc

là có sự thoả thuận nhưng không đáng kể"

Những người đồng phạm không có sự bàn bạc trước với nhau về kế hoạch thực hiện tội phạm, đồng thời giữa những người đồng phạm không có sự phân công vai trò như tổ chức, thực hành hay xúi giục Thuộc hình thức này có thể những người đồng phạm chỉ nhất trí về việc thực hiện tội phạm với nhau ở hiện trường và bắt tay ngay vào việc thực hiện tội phạm hoặc đồng phạm được hình thành khi có người đang thực hiện tội phạm, người khác thấy vậy cũng cùng tham gia phạm tội

Đồng phạm có thông mưu trước:“Đồng phạm có thông mưu trước là hình

thức đồng phạm trong đó những người đồng phạm đã có sự thoả thuận bàn bạc trước với nhau về tội phạm cùng thực hiện”

Ở hình thức đồng phạm này những người đồng phạm đã ít nhiều có sự bàn bạc và phân công vai trò nên họ có quan hệ phạm tội chặt chẽ hơn Loại đồng phạm này có tính chất nguy hiểm hơn loại đồng phạm không có thông mưu trước

Dựa vào những đặc điểm về mặt khách quan có thể chia đồng phạm thành hai loại là đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp

Đồng phạm giản đơn: “Đồng phạm giản đơn là hình thức đồng phạm trong

đó những người cùng tham gia vào vụ phạm tội đều có vai trò là người thực hành”

Đây là trường hợp trong đó những người đồng phạm đều tham gia thực hiện hành vi phạm tội được mô tả trong CTTP, tức là mỗi người bằng chính hành vi của mình đều trực tiếp thực hiện hoặc góp phần thực hiện tội phạm Ở hình thức đồng phạm này sự cố ý cùng cấu kết của những người phạm tội không đáng kể và chỉ hạn chế ở chỗ mỗi người đồng phạm chỉ biết về hoạt động phạm tội của một hoặc nhiều người khác tại thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm hay trong quá trình thực hiện tội phạm

Trang 18

Về mặt chủ quan, đồng phạm giản đơn thường không có sự phân công vai trò

cụ thể (như người tổ chức, xúi giục, giúp sức hay người thực hành), mà về cơ bản

họ có một vai trò là những người cùng hành động

Đồng phạm phức tạp:“Đồng phạm phức tạp là hình thức đồng phạm trong đó

có một hoặc một số người tham gia giữ vai trò là người thực hành, còn những người khác giữ vai trò xúi giục, tổ chức hay giúp sức”

Trong đồng phạm phức tạp giữa những người đồng phạm có sự bàn bạc trước

về kế hoạch phạm tội và giữa những người đồng phạm cũng có sự phân công vai trò, điều này tạo nên mối liên hệ tương đối chặt chẽ ở họ Ở hình thức đồng phạm này không chỉ có người thực hành thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP mà còn có hành vi của người tổ chức, người xúi giục hay người giúp sức

Như vậy, vai trò của từng người đồng phạm phụ thuộc vào hình thức hành vi đồng phạm mà họ thực hiện Việc tìm hiểu các hình thức đồng phạm sẽ giúp chúng

ta xác định chính xác TNHS cho từng người đồng phạm phù hợp với loại hình tội phạm mà họ thực hiện

Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm đặc biệt mà định nghĩa pháp lý của nó đã được các nhà làm luật nước ta ghi nhận tại Khoản 2 Điều 17 BLHS năm

2015: “Phạm tội có tổ chức là trường hợp đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa

những người cùng thực hiện tội phạm”

Trong đồng phạm có tổ chức, giữa những người đồng phạm vừa có sự liên kết chặt chẽ với nhau vừa có sự phân hoá vai trò, phân công nhiệm vụ tương đối rõ rệt, cụ thể Chúng ta có thể xác định đồng phạm có tổ chức dựa vào các đặc điểm của nó như sau:

Nhóm tội phạm được hình thành với phương hướng hoạt động có tính lâu dài bền vững, thể hiện ở sự ổn định thường xuyên của chúng Nhóm tội phạm luôn tồn tại kỷ luật chặt chẽ, mỗi người đồng phạm đều chịu sự điều khiển chung, thống nhất của người cầm đầu

Có sự phân công thực hiện tội phạm trong nhóm, người thì được phân công thực hiện hành vi chuẩn bị như: theo dõi quy luật hoạt động của đối tượng, đề xuất

Trang 19

phương án hành động và che dấu tội phạm, người giao nhiệm vụ thì bảo quản, thu giữ, vận chuyển, tiêu thụ tài sản chiếm đoạt được Mỗi đối tượng đều hiểu rõ trách nhiệm của mình, do đó chúng hành động có tổ chức và chặt chẽ Với đặc điểm như vậy, đồng phạm có tổ chức có nhiều khả năng cho phép phạm tội liên tục, nhiều lần, gây ra những hậu quả lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn

1.2 Lý luận về định tội danh trong trường hợp đồng phạm

1.2.1 Khái niệm định tội danh trong trường hợp đồng phạm

Khái niệm định tội danh

Trong lý luận cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, khái niệm định tội danh được hiểu ở hai nghĩa Trước hết, định tội danh là một quá trình lôgic nhất định, là hoạt động của con người về việc xác nhận và ghi nhận sự phù hợp giữa trường hợp phạm tội cụ thể đang xem xét với các dấu hiệu của một CTTP được quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự Thứ hai, định tội danh là việc đánh giá về mặt pháp lý đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội Hai nghĩa này

có sự quan hệ mật thiết với nhau trong khái niệm định tội danh

Theo PGS.TSKH Lê Cảm và Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội: Định tội danh là quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra

sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho cá thể hóa

và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật [4]

Định tội danh là một quá trình lôgic, bởi vậy để thực hiện đúng đắn quá trình này đòi hỏi phải có các tiền đề, điều kiện, cơ sở phương pháp luận, biện pháp lôgic

và kỹ thuật pháp lý Hơn nữa, định tội danh là một hoạt động do cán bộ pháp lý tiến hành, họ là những người được trang bị kiến thức nhất định về thế giới quan, có kiến

Trang 20

thức chuyên môn và kinh nghiệm Trong quá trình định tội danh, tư duy của họ bắt nguồn từ việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật pháp lý và phát triển theo những quy luật lôgic nhất định Trong lý luận và thực tiễn, khái niệm định tội danh còn được hiểu là kết quả nhất định của quá trình hoạt động do Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán hay Hội thẩm nhân dân tiến hành Điều đó có nghĩa rằng định tội danh

là sự đánh giá một tội phạm về mặt pháp lý, trên cơ sở những tài liệu đã thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử

Theo Tiến sĩ luật Phạm Văn Beo thì, định tội là việc xác nhận về mặt pháp lý

sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng được quy định trong bộ luật hình sự [1, tr.15-21]

Định tội danh cũng có nghĩa là một trong những hình thức hoạt động về mặt pháp lý, là sự đánh giá về mặt pháp lý đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội mà người có thẩm quyền đang xem xét, xác định hành vi được quy định ở điều nào của

Bộ luật hình sự Hay định tội danh là kết luận về sự phù hợp giữa trường hợp phạm tội cụ thể đang được xem xét với khái niệm về loại tội tương ứng được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự, tức là việc lựa chọn quy phạm pháp luật hình sự

để áp dụng đối với hành vi cụ thể đang xem xét Điều đó cũng có nghĩa là sự xác định hành vi xảy ra trong thực tế là hành vi tội phạm Như vậy, định tội danh thực chất là sự xác định về mặt pháp lý đối với hành vi phạm tội xảy ra trong thực tế Do

đó, điều có ý nghĩa quan trọng trong quá trình định tội danh là phải tìm được những dấu hiệu cơ bản, điển hình và quan trọng nhất, phải chỉ ra những dấu hiệu cần và đủ

để xác định thực chất của hành vi xảy ra trong thực tế Đồng thời, khi đối chiếu các dấu hiệu đó với các dấu hiệu được quy định trong một quy phạm pháp luật hình sự phải đưa ra kết luận rằng nhà làm luật khi ban hành quy phạm pháp luật đó là để áp dụng cho những trường hợp phạm tội cụ thể đang được xem xét

Như vậy, định tội danh vừa là hoạt động tư duy vừa là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) do người tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định về mặt pháp lý đối với hành vi

Trang 21

nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện có phạm tội không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, được quy định tại điều luật nào của Bộ luật Hình sự (đang có hiệu lực pháp luật) Suy cho cùng, đó là việc so sánh, đối chiếu các tình tiết hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện trong thực tế có phù hợp (thỏa mãn) với các dấu hiệu tương ứng của cấu thành tội phạm cơ bản của một tội phạm cụ thể nào đó được quy định trong phần các tội phạm trong Bộ luật Hình sự

Việc thiếu hụt một số lượng cần thiết các nghiên cứu về những vấn đề định tội danh trong khoa học hình sự nước ta đang ảnh hưởng tiêu cực đến thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử Tình trạng đó dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng Do

đó, việc xem xét, đánh giá (quan niệm về) các tình tiết thực tế của vụ án, cũng như

sự am hiểu về nội dung của quy phạm pháp luật hình sự và về mối quan hệ giữa các dấu hiệu thực tế của hành vi và các dấu hiệu được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự là những yếu tố hết sức cần thiết, không thể thiếu của việc định tội Nếu

sự thật của vụ án không được xác định đúng, nội dung vụ án không được thể hiện khách quan thì các quy phạm pháp luật được chọn lựa để áp dụng sẽ không được đúng đắn, chính xác Nói cách khác, việc định tội đúng là thể hiện chính xác mối liên hệ phù hợp giữa các tình tiết thực tế của hành vi nguy hiểm cho xã hội với quy phạm pháp luật hình sự cụ thể được chọn để áp dụng trong Bộ luật hình sự, đồng thời định tội danh đúng cũng sẽ loại trừ việc kết tội sai, không có căn cứ

Như vậy, định tội danh là một quá trình năng động và phức tạp, được tiến hành qua tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự Ở mỗi giai đoạn quá trình định tội danh mang tính chất và những đặc điểm khác nhau Do vậy, khái niệm định tội danh hiện có những quan điểm và cách hiểu rất khác nhau

Quan điểm thứ nhất cho rằng định tội danh là một trong những giai đoạn hoạt

động áp dụng pháp luật do các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử tiến hành [17, tr 9] Những người theo quan điểm này thừa nhận rằng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã căn cứ vào các tình tiết được xác định về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của một hành vi cụ thể nào đó mà quyết định xem hành vi đó có đủ dấu hiệu CTTP

đã được pháp luật quy định Quan điểm này cho thấy, khái niệm định tội danh được

Trang 22

hiểu dưới góc độ các chủ thể thực hiện nhưng lại không nói lên được việc định tội danh của những chủ thể này được thể hiện dưới hình thức nào

Quan điểm thứ hai lại cho rằng định tội danh là việc xác định và ghi nhận về

mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP được quy phạm pháp luật hình sự quy định [14, tr 4] Quan điểm này lại nêu lên một định nghĩa rất chung chung, không chỉ rõ được chủ thể có thẩm quyền định tội danh là ai và cũng không chỉ ra được việc định tội danh được thể hiện dưới hình thức nào

Quan điểm thứ ba thì định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt

động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định [44, tr 26 - 27] Quan điểm này đã chỉ ra bản chất của định tội danh, mục đích, phương pháp và quá trình định tội danh nhưng chưa nói lên được chủ thể tiến hành định tội danh và việc định tội danh được thể hiện dưới hình thức như thế nào

Quan điểm thứ tư thừa nhận, định tội danh là quá trình nhận thức lý luận có

tính lôgic, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự, để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra

sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật [4, tr 716] Quan điểm này có ưu điểm là khẳng định được định tội danh là quá trình nhận thức lý luận có tính lôgic, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự, đồng thời chỉ ra được căn cứ để

Trang 23

tiến hành định tội danh Nhưng hạn chế của quan điểm này là không chỉ ra được chủ thể có thẩm quyền định tội danh và cũng không nói lên được việc định tội danh được thể hiện dưới hình thức như thế nào

Quan điểm thứ năm cho rằng định tội danh là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt

động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền trong tố tụng hình sự nhằm đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của CTTP với các dấu hiệu pháp lý của CTTP được mô tả trong Luật hình sự, để giải quyết vụ án hình sự bằng việc ra kết luận bằng văn bản áp dụng pháp luật [17, tr 10] Quan điểm này có những ưu điểm nhất định là đã chỉ rõ được chủ thể có thẩm quyền định tội danh là các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, đồng thời chỉ

ra được việc định tội danh được thể hiện bằng văn bản áp dụng pháp luật Tuy nhiên, quan điểm này còn tồn tại hạn chế là không chỉ ra được căn cứ để các chủ thể tiến hành định tội danh

Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về định tội danh trong trường

hợp đồng phạm như sau: Định tội danh trong trường hợp đồng phạm là hoạt động

áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật dựa vào các dấu hiệu cấu thành tội phạm để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội của người thực hành đã thực hiện (trong mối quan hệ với những người khác trong đồng phạm) với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng

1.2.2 Đặc điểm và ý nghĩa của việc định tội danh trong trường hợp đồng phạm

1.2.2.1 Đặc điểm của việc định tội danh trong trường hợp đồng phạm

Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn định tội danh ở nước ta cho thấy, định tội

danh trong trường hợp đồng phạm có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, hành vi phạm tội trong đồng phạm phải xâm hại cùng khách thể

Do vậy, khi định tội danh trong trường hợp đồng phạm chúng ta phải xác định những người trong đồng phạm có cùng cố ý thực hiện tội phạm hay không; có xâm hại đến cùng quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ hay không Những người có

Trang 24

hành vi phạm tội chỉ là đồng phạm khi họ cùng cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và cùng biết là hành vi của họ cũng cùng xâm hại đến một khách thể

Thứ hai, khi định tội danh trong đồng phạm cần xem xét dấu hiệu về mặt

khách quan của đồng phạm Đó là, có hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện là chủ thể của tội phạm, cùng thực hiện tội phạm với lỗi cố ý [46] Tức là, mỗi người trong đồng phạm đều thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi

đó thực hiện trong mối quan hệ thống nhất với những đồng phạm khác Những người trong đồng phạm đều cùng cố ý hướng tới việc thực hiện cùng một tội phạm,

vì thế giữa hành vi của những người trong đồng phạm và hậu quả của tội phạm đều phải có mối quan hệ nhân quả với nhau

Thứ ba, trong đồng phạm thì hành vi của người thực hành là căn cứ để định

tội Dựa trên tính chất, hình thức thể hiện hành vi của từng người trong đồng phạm thì có bốn loại người đồng phạm [46] Đó là, người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức Trong đó, người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm Trong vụ án hình sự có thể chỉ có một người hoặc nhiều người thực hành Nếu nhiều người cùng tham gia với vai trò của người thực hành thì không cần mỗi người phải thực hiện đầy đủ các yếu tố của cấu thành tội phạm mà chỉ cần tổng hợp hành vi của những người thực hành này thỏa mãn các dấu hiệu của câu thành tội phạm

Trường hợp tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm có sự tham gia của nhiều dạng người đồng phạm (người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức) thì nguyên tắc chung khi định tội đối với hành vi của những người đồng phạm

là áp dụng Điều 20 BLHS để xác định vai trò của từng người trong đồng phạm, đồng thời định tội theo điều luật thuộc phần các tội phạm của BLHS đối với người thực hiện Trong vụ án có đồng phạm thì người thực hiện đóng vai trò quan trọng và như đã phân tích, hành vi của người thực hiện là căn cứ để định tội Người thực hiện hành vi phạm tội đến giai đoạn nào thì những người đồng phạm khác phải chịu trách nhiệm hình sự đến giai đoạn đó

Trang 25

Thứ tư, ngoài những đặc điểm trên thì cũng cần lưu ý rằng, người đồng phạm

không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành Nếu hành vi vượt quá của người thực hành cấu thành một tội phạm khác ngoài tội phạm

mà họ cùng thực hiện, vấn đề định tội danh đối với hành vi vượt quá của người thực hành không đặt ra đối với các đồng phạm khác

1.2.2.2 Ý nghĩa của việc định tội danh trong trường hợp đồng phạm

Định tội danh là một giai đoạn cơ bản của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Định tội danh đúng có ý nghĩa chính trị - xã hội, đạo đức và pháp luật rất lớn Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề định tội danh có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác xét xử vụ án hình sự Hoạt động định tội danh của các chủ thể có thể theo hai xu hướng: Định tội danh đúng hoặc định tội danh sai

Thứ nhất, định tội danh đúng là tiền đề cho việc phân hoá trách nhiệm hình

sự và cá thể hoá hình phạt một cách công minh có căn cứ pháp luật trong vụ án có đồng phạm Định tội danh đúng sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện một loạt các nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận trong Nhà nước pháp quyền như: Nguyên tắc pháp chế, trách nhiệm do lỗi, trách nhiệm cá nhân, bình đẳng trước pháp luật hình sự, nguyên tắc công minh, nhân đạo và nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm

Định tội danh đúng thể hiện áp dụng pháp luật có hiệu quả, ý thức tuân thủ pháp luật triệt để, cũng như ý thức trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp của các

cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, từ đó góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Định tội đúng sẽ loại trừ việc kết án vô căn cứ những hành vi không nguy hiểm cho xã hội, không trái pháp luật hình sự và tạo tiền đề pháp lý cho việc quyết định hình phạt công bằng đối với những người phạm tội

Thứ hai, định tội danh không chính xác sẽ dẫn đến kết án sai, không phù hợp

với sự thật khách quan của vụ án, xử lý oan người vô tội, để lọt tội phạm, xử nhẹ hoặc nặng hơn so với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Việc xử lý hình sự thiếu chính xác như thế sẽ xâm phạm đến những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm giảm uy tín của các cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế, ảnh hưởng không nhỏ đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm

Trang 26

Như vậy, định tội danh có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là cơ sở để tiến hành các hoạt động tố tụng khác Mục đích của hoạt động này là nhằm giải quyết vụ án hình sự một cách đúng đắn, đó là xử lý đúng người, đúng tội và buộc người có hành vi phạm tội phải chịu hình phạt tương ứng với tính chất và mức độ của hành vi mà họ đã thực hiện Do đó việc các cơ quan tiến hành tố tụng cần thiết phải cẩn trọng xem xét đánh giá kỹ lưỡng các chứng cứ trong vụ án

để định tội danh chính xác là yêu cầu vô cùng quan trọng phải thực hiện ngay trong giai đoạn hiện nay

1.2.3 Cơ sở và các bước định tội danh trong trường hợp đồng phạm

1.2.3.1 Cơ sở của định tội danh trong trường hợp đồng phạm

Cơ sở khoa học của định tội danh trong trường hợp đồng phạm

Mối quan hệ giữa triết học và quy phạm pháp luật hình sự trong việc định tội Triết học – hạt nhân lý luận của thế giới quan, là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới tự nhiên, về các sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ với thế giới quan đó Đối với việc xác định tội danh, triết học là cơ sở khoa học cho việc áp dụng đúng đắn các quy phạm pháp luật hình sự, là một phạm trù đặc trưng cơ bản cho bản chất nhận thức luận của quá trình áp dụng quy phạm pháp luật hình sự khi định tội, và một trong những cơ sở lý luận khoa học của triết học, đóng vai trò quan trọng khi định tội chính là phạm trù cái chung và cái riêng, cái cụ thể và cái trừu tượng v.v…Quy phạm pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra nhằm điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội Nếu như xem xét quy phạm pháp luật dưới quan điểm của triết học thì quy phạm chính là khái niệm cái chung Theo Lênin “cái chung” là phạm trù “được dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung không những có một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác” Ví dụ như khi quy phạm pháp luật hình sự quy định các dấu hiệu của cấu thành tội “cưỡng đoạt tài sản”, thì phạm trù cái chung dùng để chỉ những thuộc tính của sự vật, hiện tượng được xem xét chính là những dấu hiệu cơ bản nhất của các dạng hành vi nguy hiểm cho xã hội được đề cập dưới dạng khái quát Như vậy, khái niệm tội “cưỡng đoạt tài sản” với

Trang 27

tư cách là “hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản” được áp dụng với mọi hành vi nguy hiểm cho

xã hội có dấu hiệu của điều 135 Bộ luật hình sự “Cái riêng” theo quan điểm triết học là “phạm trù được dùng để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính… chỉ

có ở một kết cấu vật chất nhất định và không được lặp lại ở bất kỳ một kết cấu vật chất nào khác” Chẳng hạn như cùng có điểm giống nhau là đều xâm hại đến mặt khách thể là quan hệ sở hữu của công dân, nhưng mặt khách quan ở cấu thành “tội cướp tài sản” (Điều 133 Bộ luật hình sự) là hành vi “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản…”, hành vi này khác so với hành vi “lén lút” chiếm đoạt tài sản ở cấu thành “tội trộm cắp tài sản” (Điều 138

Bộ luật hình sự) Những điểm khác nhau ở hành vi khách quan của hai tội này chính

là những “cái riêng”, nghĩa là hành vi“công khai” ở “tội cướp tài sản” không thể xuất hiện trong cấu thành “tội trộm cắp tài sản” được và ngược lại hành vi “lén lút”

là dấu hiệu đặc trưng của “tội trộm cắp tài sản”, không thể đồng thời xuất hiện ở cấu thành tội cướp “Cái chung” và “cái riêng” đều là những phạm trù phản ảnh hiện thực khách quan, tuy quy phạm pháp luật hình sự không thể chứa đựng toàn bộ các dấu hiệu đa dạng, đặc trưng cho từng tội phạm cụ thể, nhưng điều đó không có nghĩa là phạm trù cái chung không phản ánh được những chi tiết khách quan Quy phạm pháp luật hình sự chỉ quy định một số dấu hiệu của tội phạm tương ứng được khái quát hoá tách ra khỏi các dấu hiệu và thuộc tính khác của tội phạm đó, vì thế khái niệm “cái chung” chứa đựng không phải sự ngẫu nhiên các dấu hiệu mà là tách

ra từ các dấu hiệu đó những dấu hiệu thể hiện bản chất của hiện tượng, để một phần nào làm sáng tỏ được quy luật khách quan của hiện thực thực tế được khái niệm đó thể hiện

Triết học xác định một cách rõ ràng mối tương quan giữa “cái riêng” và “cái chung” “Cái chung” tồn tại một cách thực tế, nhưng không hề độc lập mà thông qua các hiện tượng cụ thể, đơn nhất V.I.Lênin với quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, cũng đã chỉ ra được mối quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng” “cái

Trang 28

chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng”, còn “cái riêng” chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến “cái chung” “Cái chung” là một bộ phận của “cái riêng” còn “cái riêng” không gia nhập hết vào “cái chung”, khẳng định trên của Lênin đã phản ánh một sự thật là bên cạnh những thuộc tính được lặp lại ở các sự vật khác nhau, tức là bên cạnh “cái chung”, bất cứ “cái riêng” nào cũng còn chứa đựng những “cái đơn nhất”, những cái chỉ vốn có ở nó và không được lặp lại ở bất cứ sự vật nào nữa Trong thực tế khách quan, phạm trù “cái chung” được biểu hiện dưới những khái niệm trừu tượng, khái quát nhất về một sự kiện hiện tượng nào đó Vì thế, khi xem xét, đánh giá quy phạm pháp luật dưới góc độ phạm trù “cái chung”, thì những quy phạm pháp luật hình sự được ghi nhận trong Bộ luật hình sự có thể cũng chứa đựng các khái niệm với những mức độ trừu tượng khác nhau Ví dụ như

ở mức độ khái quát cao nhất về hành vi nguy hiểm cho xã hội được ghi nhận ở khái niệm tội phạm được quy định tại điều 8 Bộ luật hình sự; mức độ khái quát tiếp theo

là sự trừu tượng, khái quát về một nhóm hành vi có các dấu hiệu đặc trưng được quy định tại chương XII về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người, và mức độ khái quát thấp hơn nữa chính là các quy định về tội phạm cụ thể tương ứng với các điều luật trong Bộ luật hình sự

Quy phạm pháp luật là một hiện tượng của ý thức xã hội, tồn tại trong hiện thực khách quan, chính vì thế tính độc lập tương đối của phạm trù “cái chung” là cơ

sở của triết học cơ bản nhất để xác định và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Đồng thời, mốiquan hệ biện chứng giữa phạm trù “cái chung” với “cái riêng” là một trong những phương pháp luận khoa học của quá trình định tội, nhất là quá trình so sánh, đối chiếu giữa “cái chung” và “cái riêng”; giữa các tình tiết thực tế với các quy phạm pháp luật, để từ đó lựa chọn quy phạm pháp luật tương ứng cho từng trường hợp

Quy phạm pháp luật được xây dựng dựa trên các cơ sở lý luận của triết học,

vì thế giữa quy phạm hình sự và các phạm trù “cái chung”, “cái riêng” có sự tác động, biện chứng lẫn nhau Vấn đề đặt ra là việc nhận thức về mối quan hệ giữa hành vi thực tế và quy phạm pháp luật hình sự có ý nghĩa như thế nào trong quá

Trang 29

trình định tội? Quá trình định tội danh như đã đề cập là quá trình nhận thức, đối chiếu các hành vi khách quan với các quy phạm pháp luật; là sự xác định về mặt đồng nhất các dấu hiệu cơ bản của hành vi với các cấu thành tội phạm, để từ đó lựa chọn được cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng với hành vi đó Thế nên, việc quan niệm về tình tiết thực tế của vụ án; quan niệm về nội dung của quy phạm pháp luật hình sự và quan niệm về mối quan hệ giữa các dấu hiệu thực tế của hành vi và các dấu hiệu được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự là những điều cần thiết của việc định tội Nếu sự thật của vụ án không được xác định đúng, khách quan thì các quy phạm pháp luật hình sự sẽ không được áp dụng một cách đúng đắn Hay nói cách khác, việc định tội đúng chính là sự thể hiện chính xác tính chất, mối liên hệ giữa các tình tiết thực tế với các quy phạm pháp luật hình sự Hiện thực khách quan

là tổng hòa các sự kiện, hiện tượng đa dạng, phức tạp và luôn luôn biến động Chính

vì thế, chúng ta không thể đưa ra một định nghĩa, một sự nhận xét mang tính tuyệt đối nào đối với các khía cạnh của vấn đề Dù rằng đối với mọi tội danh cụ thể, nhà làm luật đều xây dựng nên những cấu thành tội phạm tương ứng, nhưng vấn đề khó khăn nhất khi định tội chính là đứng trước một hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm sao xác định, lựa chọn được dấu hiệu cấu thành phù hợp để áp dụng Ví dụ như khi

có hành vi “cố ý gây thương tích” xảy ra trên thực tế, hành vi này có thể cấu thành tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác”, hoặc có thể cấu thành tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”, trong trường hợp này người áp dụng pháp luật phải tiến hành phân biệt những dấu hiệu khác nhau của những cấu thành gần giống nhau đó để đưa ra một kết luận khẳng định phù hợp nhất với thực

tế

Cơ sở pháp luật của định tội danh trong trường hợp đồng phạm

Pháp luật hình sự có ý nghĩa quyết định trong quá trình định tội Như đã đề cập, định tội là xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho

xã hội đã xảy ra với các dấu hiệu tương ứng trong quy phạm pháp luật hình sự Quy phạm pháp luật hình sự chứa đựng những dấu hiệu đặc trưng, điển hình, bắt buộc

Trang 30

không thể thiếu được của một loại tội phạm cụ thể Những dấu hiệu đó sẽ trở thành khuôn mẫu pháp lý làm cơ sở cho người tiến hành tố tụng so sánh, đối chiếu với hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra ngoài thế giới khách quan, từ đó xác định được người phạm tội phạm tội gì, quy định tại điều, khoản nào của Bộ luật hình sự Như vậy, pháp luật hình sự là cơ sở pháp lý của việc định tội

Tại Điều 2 Bộ luật hình sự hiện hành quy định: “Chỉ người nào phạm một tội được luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Luật hình sự Việt Nam hiện hành không cho phép áp dụng nguyên tắc tương tự trong lĩnh vực hình

sự Bộ luật hình sự bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật được sắp xếp thành hai phần: phần chung và phần các tội phạm Trong đó, phần chung quy định các nhiệm

vụ, các nguyên tắc, các chế định cơ bản của luật hình sự Việt Nam Còn khi xây dựng các quy phạm của phần tội phạm, nhà làm luật đã tìm và xác định xem trong quá trình tội phạm hoá các hành vi nguy hiểm cho xã hội, dấu hiệu nào là đặc trưng,

cơ bản nhất và được lặp lại nhiều lần trong thực tế, để từ đó quy định thành các dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng

Các quy phạm phần chung tuy không nêu lên hết các dấu hiệu cụ thể của bất

kỳ một hành vi phạm tội nào, nhưng khi định tội, nhà làm luật phải đồng thời dựa vào cả hai nhóm quy phạm hình sự này Bởi lẽ, quy phạm phần chung và quy phạm phần các tội phạm có mối liên hệ hữu cơ với nhau và định tội danh chính là sự lựa chọn một quy phạm cụ thể đề cập đến một trường hợp cụ thể, vì thế việc áp dụng quy phạm phần các tội phạm phải dựa trên những quy phạm chung và nguyên tắc được quy định ở phần chung Bộ luật hình sự

Khi định tội, những quy phạm phần các tội phạm đề cập đến mô hình tội phạm một cách chi tiết, trên cơ sở đó chúng ta xác định được hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi phạm tội; còn các quy phạm hình sự tại phần chung quy định

về các dấu hiệu của cấu thành tội phạm, về các giai đoạn của tội phạm; về đồng phạm… từ đó giúp người áp dụng pháp luật phân biệt được cấu thành tội phạm cơ bản; cấu thành tội phạm tăng nặng hay cấu thành giảm nhẹ và xác định được hành

vi phạm tội đó ở giai đoạn nào của việc thực hiện tội phạm: ở giai đoạn tội phạm

Trang 31

hoàn thành; giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay giai đoạn phạm tội chưa đạt Chẳng hạn như tại Điều 20 quy định tại quy phạm phần chung đề cập đến vấn đề đồng phạm, những người trong đồng phạm và tuy điều luật này không thể hiện cụ thể tính chất đồng phạm của hành vi phạm tội tại tất cả các điều luật quy định tại quy phạm phần các tội phạm, thế nhưng trên thực tế nếu hành vi phạm tội thể hiện dưới hình thức đồng phạm thì Điều 20 quy phạm phần chung phải được áp dụng để xác định

rõ vai trò, vị trí của từng người trong đồng phạm, bên cạnh việc áp dụng điều luật trong quy phạm phần các tội phạm

Trong quá trình áp dụng pháp luật, không một cơ quan nào có quyền xem các hành vi khác không được quy định trong luật là tội phạm Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền quy định tội phạm mới (tội phạm hoá) hoặc bỏ đi một tội phạm đã được quy định trong Bộ luật hình sự (phi tội phạm hoá) Hiện nay, việc giải thích chính thức Luật hình sự được Hiến pháp trao cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Giải thích này có giá trị bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân Việc giải thích Luật hình sự của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hay của Bộ Tư pháp chỉ có giá trị bắt buộc trong phạm vi ngành Tư pháp

Khi định tội, các cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa vào cả các quy định phần chung và phần các tội phạm Bộ luật hình sự Các quy định phần chung nêu lên các nguyên tắc, nhiệm vụ của Luật hình sự, những vấn đề chung về tội phạm và hình phạt Quy định phần các tội phạm quy định những tội phạm cụ thể, loại và mức hình phạt có thể áp dụng đối với từng tội phạm cụ thể Khi định tội, ngoài việc dựa vào các điều luật quy định hành vi phạm tội cụ thể, người tiến hành tố tụng còn phải dựa vào những nguyên tắc, điều kiện đã quy định trong phần chung

Cấu thành tội phạm là căn cứ pháp lý duy nhất để định tội CTTP là khái niệm pháp lý về hành vi phạm tội, là hệ thống các dấu hiệu cần và đủ đặc trưng cho từng tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự CTTP là một phạm trù chủ quan được xây dựng một cách khách quan dựa trên quy định của luật hình sự Chính vì thế, nó đã trở thành cơ sở pháp lý để định tội CTTP, nói một cách khách quan, không thể hiện hết các yếu tố phong phú của tội phạm mà chỉ thể hiện các yếu

Trang 32

tố cần và đủ (các dấu hiệu điển hình, đặc trưng nói lên bản chất của tội phạm ấy) cho việc định tội Chính vì thế, quá trình định tội cần giải quyết hai vấn đề: nhận thức đúng đắn các dấu hiệu CTTP và xác định các tình tiết của hành vi phạm tội được thực hiện nhằm tìm ra sự đồng nhất giữa các yếu tố luật định và các tình tiết khách quan

CTTP được xem là cơ sở pháp lý duy nhất để định tội, là mô hình pháp lý có các dấu hiệu cần và đủ để xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Bởi

vì, một trong những đặc điểm của tội phạm là được quy định trong Luật hình sự Luật hình sự quy định tội phạm bằng cách mô tả các dấu hiệu của hành vi phạm tội,

từ cơ sở pháp lý đó, các nhà lý luận mới khái quát thành các dấu hiệu đặc trưng chung gọi là CTTP Vì thế, các cán bộ tiến hành tố tụng cần nhận thức đúng đắn bản chất các dấu hiệu CTTP trong quá trình định tội Chú ý, khi xem xét các dấu hiệu CTTP cần xem xét cả những quy định phần chung và phần các tội phạm Bộ luật hình sự Làm sáng tỏ CTTP và những dấu hiệu của nó là đảm bảo quan trọng đối với việc định tội Định một tội danh đúng đòi hỏi cán bộ tiến hành tố tụng phải

có trình độ pháp luật, kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ tốt, có kinh nghiệm thực tiễn Đồng thời, Nhà nước phải đảm bảo pháp luật đáp ứng được đời sống đa dạng, không ngừng hoàn thiện, đảm bảo giải thích, hướng dẫn luật kịp thời, tránh việc áp dụng luật một cách mâu thuẫn và giải thích tuỳ tiện

1.2.3.2 Các bước định tội danh trong trường hợp đồng phạm

Theo các nhà nghiên cứu thành hoạt động định tội danh có thể được thực hiện theo những bước khác nhau nhưng tựu chung, chủ yếu là theo các bước sau:

+ Bước 1: Nghiên cứu hồ sơ vụ án, tóm tắt, xem xét, đánh giá, phân tích hành

vi của người thực hành, xác định chính xác các tình tiết thực tế của vụ án trong sự phù hợp với thực tế khách quan Như trên đã phân tích, trong vụ án có đồng phạm thì người thực hành đóng một vai trò rất quan trọng, hành vi phạm tội của người thực hành là căn cứ để định tội

Hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức của những đồng phạm khác có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình thực hiện tội phạm Trong vụ án đồng phạm vấn đề

Trang 33

đặt ra là, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội chỉ đặt ra trong trường hợp hành vi phạm tội của người thực hành trực tiếp gây ra hậu quả và hậu quả đó là kết quả tất yếu của hành vi phạm tội mà người thực hành đã thực hiện Đối với người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức bằng hành vi của mình tham gia vào việc thực hiện tội phạm thông qua hành vi phạm tội của người thực hành

Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ án, người có trách nhiệm định tội danh cần tóm tắt, phân tích hành vi của người thực hành trong vụ án Trong một vụ án thường có nhiều tình tiết khác nhau, tuy nhiên không phải tình tiết nào cũng có giá trị chứng minh tội phạm, thậm chí có những tình tiết buộc tội và những tình tiết gỡ tội cùng đan xen với nhau, thậm chí có cả những chứng cứ giả tạo, đánh lạc hướng người định tội nên việc xem xét, kiểm tra đánh giá các tình tiết, chứng cứ phải hết sức thận trọng, phải lắng nghe, phải tỷ mỹ chắc lọc, khách quan, toàn diện, có như vậy mới

có thể phát hiện ra những điểm mấu chốt (điểm quyết định, có tính chất bản lề) của

vụ án, đồng thời công việc này đòi hỏi người định tội phải bản lĩnh, có tính độc lập, không chủ quan, một chiều, phiến diện, dễ giải tán đồng với quan điểm của người khác

Yêu cầu đặt ra là: Nghiên cứu kỹ, đọc nhiều lần hồ sơ vụ án để tóm tắt đúng, chính xác, không bỏ xót tình tiết nào; Phải tóm lược được những hành vi, tình tiết, chứng cứ có ý nghĩa cho việc định tội; Không được bổ sung hoặc thay đổi các tình tiết, hay suy đoán các tình tiết theo chủ quan của người định tội

Cơ sở pháp lý để xác định hành vi của một người có dấu hiệu tội phạm hay không phải căn cứ vào Điều 8 BLHS

Hậu quả pháp lý của giai đoạn này về mặt tố tụng thường xảy ra ba khả năng:

Khả năng 1: không được khởi tố vụ án khi có một trong bảy căn cứ được quy

định trong Điều 157 BLTTHS năm 2015

Các căn cứ đó là: không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; hết thời hiệu

Trang 34

chịu trách nhiệm hình sự; người phạm tội được đại xá; người phạm tội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm với người khác

Khả năng 2: Nếu là hành vi vi phạm pháp luật khác thì tùy theo từng giai

đoạn tố tụng hình sự mà các cơ quan tiến hành tố tụng báo cho cơ quan hữu quan có thẩm quyền giải quyết

Khả năng 3: Nếu có dấu hiệu tội phạm, thì có nghĩa là đã phát sinh quan hệ

pháp luật hình sự Tức là, cơ quan có thẩm quyền tiến hành khởi tố vụ án hình sự Quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp này là kết quả của việc định tội danh, làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm với các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền Vì vậy, ở bước này, người định tội danh sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ án cần phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, ghi nhận các tình tiết quan trọng có ý nghĩa định tội danh và quyết định hình phạt của

vụ án Đồng thời phải tóm lược được các đặc trưng điển hình của hành vi đã được thực hiện, không bổ sung hay thay đổi các tình tiết có trong vụ án Có như vậy, việc kiểm tra, đánh giá về mặt pháp lý hình sự đối với hành vi được thực hiện ở các bước tiếp theo mới đúng đắn, nhanh chóng và chính xác

Có dấu hiệu tội phạm tức là có một trong năm căn cứ được quy định tại Điều

143 BLTTHS năm 2015 Cụ thể: Tố giác của công dân, tin báo của cơ quan Nhà nước hay tổ chức xã hội; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, đơn vị Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm trực tiếp phát hiện tội phạm; người phạm tội tự thú

+ Bước 2: Xác định khách thể loại của hành vi xâm hại (xác định loại quan

hệ xã hội bị xâm hại) và các quy phạm pháp luật hình sự cần tìm ra hay còn gọi là: tìm ra tội danh và điều luật tương ứng với hành vi đã thực hiện trong thực tế

Trên cơ sở tóm tắt, phân tích hành vi của người bị cáo buộc, người định tội danh phải xác định có quan hệ pháp luật hình sự phát sinh không (có tội phạm xảy

ra không) Nếu có thì phải xác định khách thể tội của tội phạm, nghĩa là xác định quan hệ xã hội nào được pháp luật hình sự bảo vệ đã bị hành vi đó của người bị cáo buộc xâm hại Cơ sở để xác định loại là các chương của các phần các loại tội phạm

Trang 35

của Bộ luật Hình sự Những loại tội phạm xếp cùng một chương đều có cùng khách thể loại Sau khi xác định được khách thể loại bị xâm hại thì công việc tiếp theo là lựa chọn các quy phạm pháp luật hình sự cần kiểm tra Quy phạm pháp luật cần kiểm tra là những quy định nằm ở phần các tội phạm Bộ luật Hình sự (thuộc chương đã được xác định sau khi đã xác định được khách thể loại)

Đây thực chất là quá trình đối chiếu các tình tiết của các hành vi đã thực hiện trong thực tế với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của một tội phạm cụ thể quy định trong BLHS để tìm ra một tội danh tương ứng với hành vi phạm tội đã thực hiện Để quá trình này được thực hiện một cách chính xác đòi hỏi người định tội phải có sự hiểu biết và nhận thức đúng đắn, sâu sắc về các quy định của BLHS bao gồm các quy định Phần chung, Phần các loại tội phạm của BLHS cũng như các văn bản dưới luật có liên quan Thậm chí, nhiều trường hợp còn đòi hỏi người định tội phải am hiểu cả những quy định thuộc lĩnh vực chuyên biệt, ví dụ: am hiểu về lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng; về an toàn lao động; về sức khỏe tâm thần,…v.v

+ Bước 3: Kiểm tra quy phạm pháp luật hình sự (CTTP cụ thể) trong mối liên

hệ với từng hành vi của người bị cáo buộc trong vụ án

Việc định tội thể hiện trên cơ sở thông qua việc kiểm tra, đối chiếu, so sánh các dấu hiệu của tội phạm và chỉ rõ CTTP cụ thể trong từng hành vi phạm tội đã được thực hiện nhằm xác định chính xác tội phạm đã được thực hiện trên thực tế thuộc loại cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng hay cấu thành giảm nhẹ trong giới hạn của một điều luật nào đó đã được lựa chọn Đây là bước quan trọng nhất trong quá trình định tội

Để thực hiện tốt bước này, người định tội phải đối chiếu các tình tiết của vụ

án (đã được xác định ở bước 1) với các dấu hiệu của một tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS Nếu các tình tiết của hành vi đã được thực hiện hoàn toàn phù hợp với các dấu hiệu của một tội phạm cụ thể thì phải kết luận hành vi đã thực hiện phạm tội đó chứ không phải phạm tội khác Nếu các tình tiết của hành vi không phù hợp với các dấu hiệu của tội phạm cụ thể (đã dự trù xác định) thì phải tìm xem hành

vi này có thỏa mãn tội khác không ? hay hành vi đó không có tội Đây là bước

Trang 36

không chỉ quan trọng đối với việc định tội danh mà còn đối với cả hoạt động quyết định hình phạt tương ứng đối với người phạm tội Nó được tiến hành lần lược theo trình tự kiểm tra từng dấu hiệu thuộc các yếu tố cấu thành của tội phạm

Kết luận chương 1

1 Chương một của luận văn trình bày khái niệm đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện tội phạm Hay nói cách khác, khi một tội phạm được thực hiện bởi ít nhất là hai chủ thể và hai chủ thể đó thoả mãn dấu hiệu

“cùng cố ý” thì trường hợp đó tội phạm được coi là đồng phạm Để hiểu rõ hơn bản chất của vấn đề đồng phạm chúng ta tiếp tục nghiên cứu mặt chủ quan và mặt khách quan thuộc dấu hiệu pháp lý cơ bản của đồng phạm

2 Định tội danh là một quá trình năng động và phức tạp, được tiến hành qua tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự Ở mỗi giai đoạn quá trình định tội danh mang tính chất và những đặc điểm khác nhau Định tội danh như đã trình bày trong

chương 1 đã đi đến kết luận về định tội danh trong các trường hợp đồng phạm là

việc xác định sự phù hợp, chính xác hành vi phạm tội của những người đồng phạm

đã thực hiện với các quy định trong quy phạm pháp luật hình sự

3 Định tội danh trong trường hợp đồng phạm là một trường hợp cụ thể của hoạt động định tội danh nói chung Do vậy, ngoài những đặc điểm chung về định tội danh, còn có những đặc điểm riêng

Trang 37

Chương 2 THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG

PHẠM TẠI HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE

Định tội danh là hoạt động thực tiễn quan trọng của các cơ quan tiến hành tố tụng và một số cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật Do vậy, yếu tố con người giữ vai trò quan trọng trong quá trình định tội danh Để định tội danh đúng, công bằng cần phải có những Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán có văn hóa, có trình độ ý thức pháp luật cao và hiểu biết một cách đúng đắn, sâu sắc các quy định của pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, lợi ích của Nhân dân Ngoài ra cũng cần phải có những điều kiện chính trị - xã hội cần thiết nhất định bảo đảm tính độc lập của Tòa án, của các cơ quan điều tra và truy tố khỏi những tác động, ảnh hưởng từ bên ngoài, bảo đảm việc định tội danh chỉ tuân theo pháp luật

Số lượng và chất lượng Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử nói chung và định tội danh nói riêng Tổng số lượng Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán hiện nay tại huyện Thạnh Phú là 19, trong đó Điều tra viên 06, Kiểm sát viên 06, Thẩm phán

07 Nhìn chung, về trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh cải cách tư và mở rộng hội nhập quốc tế Công tác giáo dục tư tưởng chính trị được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, gắn với việc

“Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm”

Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động tố tụng hiện nay, bên cạnh những ưu điểm thì còn có một số hạn chế nhất định như:

Hiện nay, trong số 06 Kiểm sát viên thì chỉ có 02 kiểm sát viên chuyên về vụ

án hình sự dẫn đến tình trạng quá tải công việc nên Kiểm sát viên chưa thường xuyên bám sát hoạt động điều tra để chủ động đề ra yêu cầu điều tra nhằm đẩy nhanh tiến độ giải quyết án; chưa phát hiện sớm được những sai sót trong tố tụng

Trang 38

điều tra và tố tụng xét xử; luận tội và đối đáp trong tranh luận chưa chặt chẽ và còn lúng túng trước các tình huống phát sinh tại phiên tòa; đề xuất mức án chưa sát với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm

Hội thẩm nhân dân hiện nay được tuyển chọn từ số cán, bộ công chức từng làm trong các lĩnh vực như: Giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, tài chính… của cấp huyện cho nên, hoạt động của Hội thẩm nhân dân còn mang tính chất kiêm nhiệm, rất ít Hội thẩm nhân dân nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi đưa vụ án ra xét xử Hội thẩm nhân dân mặc dù có trình độ chuyên môn riêng nhưng còn hạn chế rất nhiều

về trình độ pháp lý dẫn đến trách nhiệm của Thẩm phán càng nặng nề Ngoài ra, một số thẩm phán còn hạn chế về năng lực, chất lượng xét xử chưa cao

2.1 Thực tiễn định tội danh trong trường hợp đồng phạm theo cấu thành tội phạm cơ bản

Định tội danh đúng trong trường hợp đồng phạm là tiền đề, là cơ sở cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách chính xác, công minh và có căn cứ pháp luật Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của định tội danh trong trường hợp đồng phạm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong

05 năm qua kể từ năm 2012 đến 2016, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng của huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre đã tiến hành điều tra, truy tố và xét

xử tổng cộng 229 vụ án hình sự với 371 bị cáo; trong đó có 65 vụ án có đồng phạm với 209 bị cáo bị chiếm 28% số vụ và 56% số cáo Số liệu cụ thể như sau [36, 37,

Trang 39

Năm 2016 Tòa án xét xử 44 vụ/64 bị cáo, trường hợp đồng phạm có 13 vụ/37 bị cáo

Trong tổng số 229 vụ án/371 bị cáo có đồng phạm, trong 5 năm qua có 46 vụ/149 bị cáo bị truy tố và xét xử theo cấu thành cơ bản chiếm 70% số vụ có đồng phạm và 71% số bị cáo phạm tội đồng phạm Trong quá trình định tội danh trong trường hợp đồng phạm theo cấu thành cơ bản, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng ở huyện Thạnh Phú đã vận dụng quy định pháp luật về định tội danh, các giai đoạn của quá trình định tội danh, cơ sở của việc định tội danh trong trường hợp đồng phạm, vấn đề cá thể hóa trách nhiệm hình sự của từng người đồng phạm Do đó, trong 5 năm qua nhìn chung các cơ quan tiến hành tố tụng hình

sự của huyện Thạnh Phú đã khởi tố, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử 46 vụ/149 bị cáo phạm tội có đồng phạm theo cấu thành cơ bản đều định tội danh đúng người đúng tội

Sở dĩ đạt được kết quả đó trước hết là từ giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án, CQĐT và VKSND đã tập trung phát hiện, thu thập đầy đủ các tài liệu chứng cứ để làm căn cứ cho việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can trên cơ sở đó xác định “Dấu hiệu

về lượng và dấu hiệu về chất” Dấu hiệu về lượng trong tội phạm đồng phạm là phải

có hai người trở lên (những người tham gia đều phải có năng lực trách nhiệm hình sự) cùng tham gia thực hiện một tội phạm với lỗi cố ý, đồng thời trên cơ sở tài liệu chứng cứ, các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và những người tiến hành tố tụng phân tích, cân nhắc tính chất mức độ tham gia phạm tội của từng đồng phạm để xác định và làm rõ vị trí, vai trò của từng người như: Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức Trong giai đoạn truy tố và xét xử các vụ án có đồng phạm, VKSND và TAND huyện Thạnh Phú căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và kết quả thẩm tra, xác minh tại phiên tòa, từ đó VKSND giữ quyền công tố đề nghị mức hình phạt tương xứng với tính chất nguy hiểm cho

xã hội của hành vi phạm tội, vị trí, vai trò của từng bị báo để Hội đồng xét xử nghiên cứu, xem xét quyết định hình phạt cho từng bị cáo Có thể đưa ra một số vụ

Trang 40

án điển hình có nhiều đối tượng tham gia thực hiện nhưng ngay từ khi khởi tố vụ

án, khởi tố bị can, truy tố, xét xử đã bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật:

Vào chiều ngày 08/05/2014, Trần Văn Đoạn đến nhà của Nguyễn Văn Phỏn (ấp An Ngãi A, xã An Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre) để uống rượu cùng với Nguyễn Minh Nhựt và Nguyễn Văn Phỏn Trong lúc uống rượu thì Đoạn nói: Không có tiền chắc kiếm kèo gì làm để kiếm tiền Nghe vậy Nhựt liền nói: Mấy ngày trước tao nghe thằng Phon nói hằng ngày Nguyễn Hùng Tấn là chủ đại lý vé

số kiến thiết (ngụ ở xã Bình Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre) gởi xe tại nhà ông Hà Văn Thành (ngụ ấp An Ngãi A, xã An Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre) để đi giao vé số kiến thiết cho những người bán vé số ở cùng ấp và đi về lúc ban đêm và Nhựt nói tiếp: Không biết nó có tiền nhiều hay không, làm được thì làm Khi nghe Nhựt nói thì Đoạn và Phỏn thống nhất chặn đường giật túi sách của Tấn để lấy tiền chia nhau tiêu xài Lúc này Nguyễn Văn Phon (là anh của Nguyễn Văn Phỏn) về đến nên Nhựt và Đoạn kêu Phon đi đến nhà ông Thành xem Nguyễn Hùng Tấn đến gởi xe nhà ông Thành khi nào và khi nào Tấn về để thông báo lại cho Nhựt, Đoạn và Phỏn cùng nhau chặn đường giật túi sách của Tấn nhưng Phon không đồng ý thì Nhựt nói với Phon: Mày chỉ có trách nhiệm theo dõi để tụi tao làm (tức là chặn đường giật túi sách), mầy không có liên quan gì đâu Nghe vậy thì Phon đồng ý

Đến tối ngày 09/5/2014, Đoạn đến nhà của Nguyễn Văn Phỏn để uống rượu cùng Nguyễn Minh Nhựt, Nguyễn Văn Phon, Nguyễn Văn Phỏn Trong lúc uống rượu thì Nhựt tiếp tục kêu Phon đến nhà ông Thành để theo dõi anh Nguyễn Hùng Tấn như đã thống nhất ngày 08/5/2014 Lúc này, Phon cũng không đồng ý thì Nhựt lại nói: Mầy chỉ theo dõi để tụi tao giật túi sách, không liên quan gì đến mầy và Phon đồng ý Tất cả cùng uống rượu được một lúc thì Nhựt lên giường của Phỏn để ngủ, Đoạn ra về, Phon thì đến nhà ông Thành để uống rượu và theo dõi Tấn như đã hứa với Nhựt

Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn Phỏn nhớ đến việc thống nhất giật túi sách của Tấn nên điều khiển xe đến nhà Đoạn và chở Đoạn đến nhà

Ngày đăng: 17/11/2017, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w