Vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi là một vấn đề then chốt trong việc giúp các nhà quản trị đưa ra
Trang 1Trường đại học kinh tế quốc dân
hoàng khánh vân
NGHIấN CỨU PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG VIỆC ĐỊNH GIÁ
SẢN PHẨM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN
THỨC ĂN CHĂN NUễI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán, kiểm toán và phân tích
Trang 2Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày….tháng…năm 2017
Tác giả Luận án
Hoàng Khánh Vân
Trang 3Trong quá trình thực hiện luận án, NCS đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
từ gia đình, thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp
Lời cảm ơn đầu tiên, NCS xin trân trọng gửi tới gia đình và những người thân yêu đã luôn động viên, giúp đỡ và khuyến khích NCS hoàn thành luận án
Với tấm lòng biết ơn của mình, NCS xin trân trọng gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Minh Phương Sự hướng dẫn tận tình, tâm huyết và trách nhiệm
đã giúp NCS hoàn thành luận án này
NCS xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên, chia sẻ tài liệu, hỗ trợ tìm kiếm thông tin và tạo điều kiện cho NCS thực hiện nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận án
Hoàng Khánh Vân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ
PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG VIỆC ĐỊNH GIÁ SẢN PHẨM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 6
1.1 Tổng quan định giá sản phẩm được nghiên cứu dưới góc độ của các chuyên gia kinh tế 6
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài về việc vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá sản phẩm 11
1.2.1 Các công trình nghiên cứu vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá bán sản phẩm ra ngoài 11
1.2.2 Các công trình nghiên cứu vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá chuyển nhượng nội bộ 16
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí 18
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước về việc vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá sản phẩm 21
1.3.1 Các công trình nghiên cứu vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá bán sản phẩm ra ngoài 21
1.3.2 Các công trình nghiên cứu vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá chuyển nhượng nội bộ 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG ĐỊNH GIÁ SẢN PHẨM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 25
2.1 Bản chất kế toán quản trị chi phí và hệ thống phương pháp kế toán quản trị chi phí 25
2.1.1 Bản chất kế toán quản trị chi phí 25
2.1.2 Phân loại chi phí 28
2.1.3 Hệ thống phương pháp kế toán quản trị chi phí 31
Trang 52.2.2 Định giá theo quan điểm của marketing 38
2.2.3 Định giá theo quan điểm của kế toán 42
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí 43
2.4 Định giá sản phẩm trên cơ sở chi phí tại các doanh nghiệp sản xuất 48
2.4.1 Các phương pháp định giá sản phẩm trên cơ sở chi phí 48
2.4.2 Định giá sản phẩm bán ra bên ngoài trên cơ sở chi phí 53
2.4.3 Định giá sản phẩm chuyển nhượng nội bộ trên cơ sở chi phí 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 66
3.1 Nghiên cứu định tính 67
3.1.1 Mục đích nghiên cứu định tính 67
3.1.2 Mẫu khảo sát định tính 68
3.1.3 Phương pháp nghiên cứu định tính 68
3.2 Nghiên cứu định lượng 71
3.2.1 Mô hình nghiên cứu và Các giả thuyết nghiên cứu 71
3.2.2 Phương pháp chọn mẫu 73
3.2.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82
Chương 4: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG ĐỊNH GIÁ SẢN PHẨM TẠI CÁC DOANH NGHỆP CHẾ BIẾN THỨC ĂN CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM 83
4.1 Tổng quan về các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam 83
4.1.1 Khái quát thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi của các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam 83
4.1.2 Đặc điểm sản phẩm và quy trình sản xuất sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam 86
4.2 Đặc điểm tổ chức quản lý tại các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam 88
4.2.1 Mô hình tổ chức bộ phận đơn giản 88
4.2.2 Mô hình tổ chức bộ phận chức năng 89
4.2.3 Mô hình tổ chức bộ phận chiến lược 89
Trang 6Việt Nam 90
4.3.1 Thống kê mô tả mẫu khảo sát 90
4.3.2 Phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam 92
4.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí 103
4.4 Đánh giá thực trạng vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam 115
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 121
Chương 5: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG VIỆC ĐỊNH GIÁ SẢN PHẨM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Ở VIỆT NAM 122
5.1 Định hướng phát triển ngành thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam 122
5.2 Phương hướng hoàn thiện phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi Việt Nam 124
5.3 Hoàn thiện vận dụng phương pháp KTQTCP trong định giá sản phẩm tại các DN chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam 126
5.3.1 Hoàn thiện phương pháp KTQTCP phục vụ định giá tại các DN chế biến thức ăn chăn nuôi Việt Nam 127
5.3.2 Hoàn thiện vận dụng phương pháp KTQTCP trong định giá sản phẩm tại các DN chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam 138
5.4 Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp CBTACN ở Việt Nam 147
5.4.1 Về phía Nhà nước 147
5.4.2 Về phía Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam 148
5.4.3 Về phía Doanh nghiệp CBTACN Việt Nam 149
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 150
KẾT LUẬN 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
PHỤ LỤC 157
Trang 7Từ viết tăt Diễn giải
Activity Based Costing ABC
Chi phí Nguyên vật liệu trực tiếp CPNVLTT
Chi phí Nhân công trực tiếp CPNCTT
Chi phí Sản xuất chung CPSXC
Chi phí quản lý doanh nghiệp CPQLDN
Cost – Volumn - Profit CVP
Chế biến thức ăn chăn nuôi CBTACN
Trang 8Bảng 2.1: Bảng phân loại chi phí 28
Bảng 2.2: Các phương pháp kế toán quản trị chi phí 32
Bảng 2.3: Các phương pháp tiếp cận giá 39
Bảng 3.1: Thống kê thông tin phỏng vấn theo Bảng phỏng vấn sâu 71
Bảng 3.2: Mẫu khảo sát 75
Bảng 3.3: Bảng mã hóa thang đo 78
Bảng 4.1: Cronbach’s alpha của các biến nghiên cứu 104
Bảng 4.2: Sơ đồ hệ số tương quan 108
Bàng 5.1: Dự kiến chỉ tiêu kế hoạch chế biến thức ăn công nghiệp sử dụng chăn nuôi gia súc, gia cầm giai đoạn 2014-2020 123
Bảng 5.2: Dự kiến chỉ tiêu chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp sử dụng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản giai đoạn 2015-2020 124
Bảng 5.3: Dự kiến khối lượng nguyên liệu nhập khẩu cho thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản chế biến công nghiệp 124
Bảng 5.4: Bảng phân loại chi phí theo hình thái của chi phí 128
Bảng 5.5: Dùng phương pháp bình phương bé nhất trên Excel 130
Bảng 5.6: Nhóm chi phí và tiêu thức phân bổ tại Công ty Vimark 132
Bảng 5.7: Chi phí chung và số lượng tiêu thức T11/2015 của Vimark 133
Bảng 5.8: Phân bổ chi phí cho sản phẩm N85 công ty Vimark 133
Bảng 5.9: Chi phí nền của sản phẩm N85 công ty Vimark 134
Bảng 5.10: Xác định hoạt động và nhóm hoạt động 135
Bảng 5.11: Bảng phân bổ mức sử dụng nguồn lực vào nhóm hoạt động 136
Bảng 5.12 Tiêu thức đo lường cho nhóm hoạt động 137
Bảng 5.13: Xác định chi phí chung cho mẻ sản phẩm TA# 005GR 137
Bảng 5.14: Xác định chi phí chung đến kg sản phẩm TA# 005GR 137
Bảng 5.15: Chi phí nền của sản phẩm TA# 005GR 138
Bảng 5.16: Giá bán đơn vị sản phẩm N85 141
Bảng 5.17: Giá bán đơn vị sản phẩm TA# 005GR 144
Trang 10GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1 Lý do chọn đề tài
Thức ăn chăn nuôi là nhân tố mắt xích quan trọng để phát triển ngành chăn nuôi, vốn đang được coi là giải pháp đảm bảo an ninh lương thực trên toàn thế giới Sản xuất thức ăn chăn nuôi trên thế giới có nhiều biến động tuy nhiên vẫn giữ xu hướng tăng Tại Việt Nam nhu cầu thức ăn chăn nuôi luôn đạt mức tăng khoảng 10%/năm xấp xỉ 18-20 triệu tấn/năm Dự kiến đến năm 2020, quy mô có thể đạt 25-
26 triệu tấn/năm Tuy nhiên hoạt động sản xuất trong nước hiện nay gần như không đáp ứng được nhu cầu nội địa Điều đó thấy được thị trường thức ăn chăn nuôi của Việt Nam là một thị trường nhiều tiềm năng cho các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi
Xác định giá bán sản phẩm hợp lý nhằm mang lại hiệu quả cao cho hoạt động kinh doanh là một trong những vấn đề quan trọng của quản trị doanh nghiệp Khi đưa ra các quyết định về giá, các nhà quản trị dựa trên nhiều nguồn thông tin khác nhau với các chiến lược định giá khác nhau, tuy nhiên không thể phủ nhận vai trò của thông tin về chi phí Xét về hiệu quả kinh tế, giá bán sản phẩm phải bù đắp chi phí và tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp Thậm chí, đối với các doanh nghiệp phải chấp nhận ở mức giá bán niêm yết trên thị trường, thông tin chi phí vẫn là quan trọng đối với việc xác định mức giá bán thực tế (sau khi trừ các khoản chiết khấu hoa hồng cho các kênh phân phối trung gian) Chính vì vậy việc vận hành hệ thống
kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin chi phí để xác định giá bán sản phẩm cho các tình huống đa dạng trong hoạt động kinh doanh là vấn đề then chốt để duy trì và phát triển mỗi doanh nghiệp Tại các nước phát triển trên thế giới các doanh nghiệp
đã xây dựng và sử dụng hệ thống kế toán quản trị chi phí hiện đại, cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản trị trong việc định giá bán Tuy nhiên tại Việt Nam, các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi hiện nay mới chỉ tập trung vào kế toán tài chính để cung cấp thông tin chi phí, giá thành phục vụ cho việc định giá sản phẩm Hệ thống kế toán này không thể cung cấp các thông tin chi phí phù hợp, kịp thời và tin cậy cho việc ra các quyết định về giá sản phẩm của nhà quản trị Do đó các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi sẽ khó đứng vững trong môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại thế giới như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)
và Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
Trang 11Vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi là một vấn đề then chốt trong việc giúp các nhà quản trị đưa ra các quyết định đúng đắn để vừa có thể đưa các sản phẩm ra thị trường với giá bán hợp lý, vừa có nguồn ngân sách để đầu tư cho hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, lựa chọn các biện pháp marketing phù hợp, từ đó tạo ra nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp Nhận thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiêp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam bao gồm định giá sản phẩm bán ra thị trường bên ngoài và định giá sản phẩm chuyển nhượng nội bộ bên
trong doanh nghiệp do vậy tác giả lựa chọn đề tài: “ Nghiên cứu phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam” làm đề tài luận án của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài “Nghiên cứu phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam”, tác giả xác định mục tiêu nghiên cứu gồm:
(1) Nghiên cứu phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm trong các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam bao gồm định giá bán sản phẩm ra ngoài và định giá sản phẩm chuyển nhượng nội bộ
(2) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới phương pháp định giá sản phẩm trên cơ sở chi phí trong các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam (3) Khuyến nghị một số giải pháp hoàn thiện phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để có thể trả lời cho các mục tiêu nghiên cứu trên, nghiên cứu sinh đưa ra các câu hỏi nghiên cứu sau:
(1) Phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm gồm định giá bán ra thị trường và định giá chuyển nhượng nội bộ trong các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam là gì?
(2) Các nhân tố nào ảnh hưởng tới phương pháp định giá trên cơ sở chi phí trong các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Viêt Nam và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó tới phương pháp định giá trên cơ sở chi phí ?
Trang 12(3) Các giải pháp hoàn thiện phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam là gì?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Luận án tổng hợp, hệ thống hóa lý luận về phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm Bao gồm xác định giá bán sản phẩm ra thị trường bên ngoài, giá sản phẩm chuyển nhượng nội bộ và các nhân tố ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí
Giá chuyển nhượng quốc tế không được nghiên cứu trong đề tài này
Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam trên các nội dung cụ thể sau: (1) tổng hợp, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phương pháp
kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm; (2) đánh giá, luận giải các kết quả nghiên cứu trước đây và đánh giá thực trạng vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam; (3) đưa ra giả thuyết nghiên cứu và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu trên khung cảnh nghiên cứu là các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam Đồng thời đưa ra các khuyến nghị tới các chủ thể liên quan Sản phẩm thức ăn chăn nuôi trong nghiên cứu là thức ăn công nghiệp cho gia súc gia cầm
Về phạm vi không gian:
Nghiên cứu này lựa chọn các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trong các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi tác giả chỉ nghiên cứu về thức ăn chăn nuôi cho gia súc và gia cầm, thức ăn thủy sản không thuộc phạm vi nghiên cứu trong đề tài này
Về phạm vi thời gian: Nghiên cứu này sử dụng số liệu của các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam từ năm 2014 đến 2016
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp nghiên cứu định lượng để phục vụ cho quá trình nghiên cứu
Nghiên cứu định tính được thực hiện gồm quan sát thực địa, nghiên cứu trường hợp điển hình và phỏng vấn bán cấu trúc
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua phát phiếu khảo sát để thu thập dữ liệu gồm hai giai đoạn Giai đoạn một là nghiên cứu thử nghiệm và giai đoạn hai là nghiên cứu đại trà trên diện rộng
5 Đóng góp của luận án
Luận án đã trình bày khái quát tổng quan các công trình nghiên cứu về phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất dưới các góc độ kinh tế, góc độ kế toán trong cả hai trường hợp định giá sản phẩm bán ra thị trường ngoài và định giá sản phẩm chuyển nhượng nội bộ Từ đó đặt ra mục tiêu nghiên cứu đó là nghiên cứu hiện trạng của việc vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm và các nhân tố tác động đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí với việc nghiên cứu điển hình tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam
Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất Đồng thời luận án đã phản ánh và làm rõ thực trạng vận dung phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam Xác định được các nhân tố có ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí trong các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam đó là quy mô doanh nghiệp, thị phần, mức độ ảnh hưởng trong việc xác định giá bán và thông tin chi phí
Trên cơ sở định hướng phát triển ngành chế biến thức ăn chăn nuôi và phương hướng hoàn thiện phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, luận án đã đưa ra hai nhóm giải pháp cho hai nhóm doanh nghiệp là các doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ
6 Kết cấu của luận án
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu về phương pháp kế toán quản
Trang 14trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp
Chương 2: Cơ sở lý luận về phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Thực trạng vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam Chương 5: Phương phướng và giải pháp hoàn thiện phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG VIỆC
ĐỊNH GIÁ SẢN PHẨM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
Các kết quả của các nghiên cứu trước đây liên quan đến phương pháp kế toán quản trị chi phí và các quyết định về giá trên cơ sở chi phí được tác giả tổng hợp và phân tích Đầu tiên tác giả xem xét những nghiên cứu trước đã nghiên cứu về giá như mục tiêu định giá, chiến lược định giá sản phẩm trong các doanh nghiệp Sau
đó tác giả tiếp tục tóm tắt các công trình liên quan đến việc vận dụng phương pháp
kế toán quản trị chi phí trong định giá sản phẩm bao gồm định giá bán sản phẩm ra bên ngoài và định giá sản phẩm chuyển nhượng nội bộ trong các doanh nghiệp
1.1 Tổng quan định giá sản phẩm được nghiên cứu dưới góc độ của các chuyên gia kinh tế
Khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến định giá sản phẩm, các chuyên gia kinh tế có rất nhiều các quan điểm khác nhau Tác giả hệ thống lại các quan điểm đó dưới hai góc độ của các chuyên gia kinh tế nghiên cứu về định giá sản phẩm đó là: mục tiêu định giá và chiến lược định giá
Muc tiêu định giá
Nghiên cứu của Shipley (1981) nhằm tìm hiểu về mục tiêu định giá trong các doanh nghiệp sản xuất ở Anh Nghiên cứu đã gửi bảng hỏi đến các giám đốc bán hàng và tiếp thị của 728 doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các mục tiêu thay đổi theo quy mô và số lượng của đối thủ cạnh tranh Các công ty theo đuổi nhiều mục tiêu trong định giá sản phẩm của họ Một phần ba các công ty trong nghiên cứu không đưa ra các mục tiêu về lợi nhuận
Jobber và Hooley (1987) tìm hiểu các mục tiêu giá cả trong các công ty sản xuất và dịch vụ, sự khác nhau theo thị trường, quy mô doanh nghiệp, và các mối quan hệ giữa các mục tiêu và việc thực hiện các mục tiêu đó Nghiên cứu đã gửi phiếu khảo sát tới 1775 doanh nghiệp ở Anh, bảng hỏi được sử dung để phỏng vấn
150 giám đốc điều hành Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các mục tiêu về giá trong các công ty là thay đổi khác nhau theo từng thời kì và quy mô của doanh nghiệp Ví
dụ mục tiêu tối đa hóa doanh thu bán hàng được tìm thấy trên các thị trường mới so
Trang 16với các thị trường tăng trưởng Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa thường tối
đa hóa lợi nhuận và coi đó là mục tiêu trong định giá so với các doanh nghiệp lớn Một vài nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành về các mục tiêu định giá trong các ngành dịch vụ chỉ ra rằng mục tiêu định lượng có xu hướng được coi trọng hơn các mục tiêu định tính với sự tập trung chủ yếu vào các tính toán về lợi nhuận Nghiên cứu của Avlonitis và Indounas (2005) cũng tìm hiểu các mục tiêu về giá trong các tổ chức dịch vụ ở Hy Lạp Kết quả nghiên cứu cho thấy mục tiêu định giá quan trọng nhất là duy trì các khách hàng hiện tại, tiếp theo là việc thu hút khách hàng mới và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Một mục tiêu quan trọng khác mà nghiên cứu tìm ra là tạo ra một hình ảnh uy tín cho công ty, đảm bảo tồn tại lâu dài,
và dẫn đầu chất lượng dịch vụ Mục tiêu liên quan đến lợi nhuận, doanh thu và thị phần ít quan trọng hơn, có lẽ vì những khó khăn liên quan đến việc tối đa hóa lợi nhuận hoặc bán hàng trong thực tế
Nghiên cứu của Rao Vithala R và Benjamin Kartono (2009) được tiến hành thông qua cuộc khảo sát các công ty hoạt động tại Mỹ, Singapo, Ấn Độ trong thời gian khoảng 1 năm bắt đầu từ tháng 11/2003 Cuộc khảo sát xuyên quốc gia được thực hiện chủ yếu bằng thư và bảng câu hỏi khảo sát đã được gửi đến hơn 600 công
ty ở các nước trên một loạt các ngành công nghiệp Có tổng cộng 199 thư trả lời trong đó 73 thư từ các công ty đang hoạt động ở Mỹ, 54 thư trả lời từ Singapo và 72 thư trả lời từ Ấn Độ Mục tiêu của nghiên cứu này là kiểm tra việc áp dụng khung lý thuyết mà tác giả xây dựng trong việc mô tả mối quan hệ mục tiêu giá, chiến lược giá và các yếu tố ảnh hướng đến sự lựa chọn chiến lược giá, so sánh các quyết định
về giá của các công ty giữa các nước khác nhau Nghiên cứu này xây dựng một danh sách các mục tiêu giá cho các công ty dựa trên nghiên cứu của Diamantopoulos và Mathews (1994) Để hiểu rõ hơn về vai trò của các mục tiêu định giá trong sự lựa chọn của công ty trong chiến lược giá, những người trả lời được xem một danh sách gồm 17 mục tiêu về giá bán và yêu cầu đánh giá tầm quan trọng của việc đạt được từng mục tiêu liên quan đến chiến lược giá mà họ cho rằng
là quan trọng nhất thông qua thang đo 5 mức độ: từ không quan trọng đến cực kì quan trọng Các mục tiêu quan trọng nhất là gia tăng hoặc duy trì thị phần và tăng hoặc duy trì khối lượng bán hàng Tiếp sau đó là các mục tiêu tăng hoặc duy trì lợi nhuận và tăng hoặc duy trì doanh thu bán hàng
Trang 17Để có thể thực hiện được các mục tiêu định giá đã doanh nghiệp cần có những chiến lược định giá phù hợp với từng mục tiêu đó Do đó mục tiêu về giá chính là nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược định giá
Chiến lược định giá
Nghiên cứu của Noble, P.M và Gruca, T.S (1999) về chiến lược giá cả và các yếu tố của giá Nghiên cứu này được tiến hành thông qua một cuộc khảo sát với 270 nhà quản lý trong các hãng công nghiệp ở Mỹ Nghiên cứu kết luận rằng các chiến lược định giá sản phẩm mới như giá lướt sóng, giá thâm nhập, giá theo đường cong kinh nghiệm đã được sử dụng trên các thị trường mới Các chiến lược giá cả cạnh tranh như giá dẫn đầu, giá tương tự, giá thấp đã được sử dụng tại các thị trường sẵn
có Chiến lược định giá phân tầng, phân bậc đối với dòng sản phẩm như gói sản phẩm, sản phẩm bổ sung, và giá trị của khách hàng được sử dụng bởi các công ty mà bán những sản phẩm thay thế hoặc sản phẩm bổ sung Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng định giá trên cơ sở chi phí là chiến lược phổ biến nhất và được ưa thích hơn cả tại các thị trường nơi mà nhu cầu là rất khó ước tính Nghiên cứu kết luận rằng khi có ít hoặc không có thông tin về nhu cầu thì việc định giá trên cơ sở chi phí có ý nghĩa rất lớn Nghiên cứu của Rao Vithala R và Benjamin Kartono (2009) đi theo cách tiếp cận của Noble và Gruca (1999) và phát triển các mối quan hệ thống kê giữa việc lựa chọn chiến lược giá và các yếu tố khác có liên quan Tuy nhiên không giống như nghiên cứu của Noble và Gruca (1999), ngoài việc kiểm tra mối quan hệ giữa các yếu tố quyết định chiến lược giá và sự lựa chọn chiến lược, nghiên cứu này cũng xem xét ảnh hưởng của mục tiêu giá cũng như đặc điểm của doanh nghiệp như quy
mô doanh nghiệp tới chiến lược giá được thực hiện Nghiên cứu này xây dựng một danh sách các chiến lược giá dựa trên những gợi ý được đưa ra trong nghiên cứu của Noble và Gruca (1999) Cuối cùng, nghiên cứu đã phát triển danh sách 19 chiến lược giá tốt nhất mà công ty có thể áp dụng, những chiến lược này bao gồm định giá cạnh tranh, định giá dựa trên chi phí, định giá cho sản phẩm mới, định giá cho dòng sản phẩm, định giá theo địa lý và định giá dựa trên khách hàng Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, chiến lựơc giá thường xuyên được lựa chọn là định giá trên cơ sở chi phí cộng thêm chiếm 47,2%, tiếp theo đó là giá tín hiệu 37,7%, giá trị nhận thức 34,2% và giá cả tương đương 31,7% Các chiến lược định giá được sử dụng ít nhất là giá Internet 3% và giá hòa vốn 7,5% và giảm giá ở thị trường thứ 2 là 7,5% Trong một số trường hợp, tỷ lệ của chiến lược giá cả một số nước có sự khác biệt đáng kể
Trang 18Ví dụ, chỉ có 9,7% công ty ở Ấn Độ đã sử dụng định giá theo giá trị nhận thức, trong khi con số này là 52,1% ở Mỹ và 42,6% ở Singapore Tương tự như vậy, gần 42% các công ty ở Ấn Độ sử dụng đặt giá tương tự trong khi chỉ có khoảng 30% các công
ty Singapore và 23% công ty Mỹ đã sử dụng chiến lược giá này
Có khá nhiều bài nghiên cứu trên thế giới viết về các chiến lược định giá sản phẩm Theo nghiên cứu của Rao V.R và Benjamin Kartono (2009) ba chiến lược thường được vận dụng nhiều nhất trong các doanh nghiệp trên thế giới là định giá theo chi phí cộng thêm, định giá tín hiệu và định giá theo cảm nhận về giá trị Trong
đó định giá dựa vào chi phí là chiến lược định giá để bù đắp chi phí và đạt được tỷ
lệ số tiền tăng thêm tính trên khoản chi phí này với tỷ lệ vận dụng là 47,2% Định giá tín hiệu là chiến lược định giá nhằm đưa ra một tín hiệu cho thị trường về chất lượng sản phẩm với tỷ lệ vận dụng là 37,7% Định giá theo cảm nhận về giá trị là định giá dựa vào sự cảm nhận của khách hàng về giá trị sản phẩm dịch vụ chiếm 34,2% Theo nghiên cứu của Hinterhuber (2008) đã tổng hợp nghiên cứu trong giai đoạn 1983 - 2006 ở các thị trường Châu Âu, Châu Á và Mỹ để tìm hiểu về mức độ vận dụng các mô hình định giá ở các doanh nghiệp Nghiên cứu đã chỉ ra rằng định giá dựa trên cạnh tranh, định giá dựa vào chi phí và định giá dựa trên định hướng giá trị khách hàng là 3 chiến lược định giá được sử dụng nhiều nhất với tỷ lệ tương ứng là 44%, 37%, 17% ở các thị trường Nghiên cứu của Avlonitis và Indounas (2005) về các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ Hy Lạp chỉ ra rằng các chiến lược định giá được chia thành ba nhóm chính: (1) định giá dựa vào chi phí ( yếu tố bên trong doanh nghiệp), (2) định giá dựa trên sự cạnh tranh ( yếu tố bên ngoài doanh nghiệp), và (3) định giá dựa trên nhu cầu (bên ngoài doanh nghiệp)
Mối quan hệ giữa mục tiêu định giá với các chiến lược định giá
Avlonitis và Indounas (2005) kiểm tra các mục tiêu giá cùng với các chiến lược định giá được áp dụng ở 170 tổ chức dịch vụ đang hoạt động tại Hy Lạp Mẫu nghiên cứu bao gồm các ngân hàng, các công ty bảo hiểm, các công ty vận tải và vận chuyển, các hãng hàng không, các doanh nghiệp công nghệ thông tin và các dịch vụ y tế Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mục tiêu định giá cốt lõi đó là xác định nhu cầu của khách hàng và sự hài lòng trong tâm trí của khách hàng, nhưng các chiến lược giá được sử dụng đều lấy công ty làm trung tâm với chiến lược định giá dựa trên chi phí và định giá theo giá trung bình của thị trường là các chiến lược
Trang 19được nhiều doanh nghiệp sử dụng nhất tương ứng với tỷ lệ là 58,2% và 55,3% Điều này là do cả hai chiến lược này dễ dàng để thực hiện Chiến lược định giá dựa trên khách hàng rất ít được sử dụng và nó đối lập hẳn với khảo sát của họ khi cho rằng mục tiêu dựa trên khách hàng là phổ biến nhất trong số các công ty được khảo sát Một lý do được đưa ra đó là khó khăn trong việc xác định cầu và nhu cầu của khách hàng Và chiến lược định giá dựa trên chi phí cho phép các công ty bù đắp chi phí
và có thể cạnh tranh trên thị trường và do đó đáp ứng khách hàng hiện tại và thu hút những người mới Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các mục tiêu liên quan đến khách hàng cùng với mục tiêu liên quan đến cạnh tranh có liên quan tích cực với các chiến lược định giá theo giá trung bình của thị trường, trong khi các mục tiêu liên quan đến chất lượng dịch vụ và tối đa hóa lợi nhuận và mục tiêu doanh số đã được tìm thấy có liên quan tiêu cực với chiến lược này Các mục tiêu tài chính và mục tiêu doanh số có liên quan tích cực với các chiến lược định giá theo lợi nhuận mục tiêu, trong khi mục tiêu sự ổn định thị phần có liên quan tiêu cực với chiến lược này Mục tiêu liên quan đến cạnh tranh có liên quan tích cực với các chiến lược định giá theo giá chiếm ưu thế trên thị trường và định giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh, trong khi mục tiêu liên quan đến thị phần và công suất hoạt động cũng liên quan tích cực với các chiến lược định giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh
Các nghiên cứu trên đã đánh giá sự phù hợp của các chiến lược định giá sản phẩm trong các ngành công nghiệp và dịch vụ Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào việc các quyết định về giá được đưa ra có tập trung theo đúng các mục tiêu giá
đã được đặt ra hay không Các mục tiêu liên quan đến cạnh tranh chắc chắn sẽ có liên quan đến các chiến lược dựa trên cạnh tranh, trong khi các mục tiêu tài chính có
tác động tới các chiến lược dựa trên chi phí Các nghiên cứu trên đã cho thấy hầu
hết các doanh nghiệp sử dụng chiến lược định giá dựa trên chi phí, cụ thể là định giá theo chi phí cộng thêm, trong khi mức độ sử dụng các chiến lược định giá dựa trên cạnh tranh và dựa trên nhu cầu là ít sử dụng Lý do đưa ra là do các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc xác định nhu cầu của khách hàng và các doanh nghiệp này cũng tin tưởng rằng thực hiện chiến lược định giá dựa vào chi phí sẽ bù đắp chi phí
và đưa ra được mức giá có thể cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng hiện tại và thu hút khách hàng mới Do đó định giá dựa vào chi phí là chiến lược định giá
thông dụng đối với doanh nghiệp
Trang 201.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài về việc vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá sản phẩm
1.2.1 Các công trình nghiên cứu vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá bán sản phẩm ra ngoài
Phương pháp chi phí biến đổi và chi phí đầy đủ
Hall và Hitch (1939) là những người đầu tiên thực hiện nghiên cứu về các công ty ở Anh sử dụng chi phí như là cơ sở để ra quyết định về giá bán Nghiên cứu này chỉ ra rằng khoảng 80% doanh nghiệp trong cuộc khảo sát sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí, chỉ có một số ít các công ty định giá bán theo doanh thu cận biên và chi phí biên như mô hình tối đa hóa lợi nhuận trong kinh tế Các công ty trong mẫu khảo sát cho biết họ định giá bán dựa trên chi phí đầy đủ và cộng thêm một tỷ suất lợi nhuận mong muốn
Một nghiên cứu sau đó là nghiên cứu về giá bán của Skinner (1970) Nghiên cứu
này đã nhận được 179 phiếu trả lời từ các công ty tham gia khảo sát trong các ngành công nghiệp ở Anh Những hạn chế trong các nghiên cứu trước đó đã được khắc phục trong nghiên cứu này bằng cách khảo sát một số lượng lớn công ty trong các ngành công nghiệp Nghiên cứu này một lần nữa khẳng định sự chiếm ưu thế của phương pháp định giá trên cơ sở chi phí trong các doanh nghiệp với 70% số doanh nghiệp được hỏi khẳng định sử dụng phương pháp định giá này Tuy nhiên không giống như kết quả của các nghiên cứu trước đây, trong nghiên cứu này chỉ có 10% các doanh nghiệp sử dụng chi phí đầy đủ như là cơ sở cho việc thiết lập giá, phần lớn các doanh nghiệp còn lại sử dụng chi phí biến đổi là cơ sở trong giá cả của họ Những kết quả này có sự khác biệt với nghiên cứu của Hall và Hitch, tuy nhiên Skinner đã lưu ý rằng điều này có thể xảy ra do hạn chế trong cách diễn đạt của các câu hỏi trước đó hoặc có thể là do yếu tố đặc biệt của các doanh nghiệp ở vùng Merseyside, khu vực mà các cuộc khảo sát được thực hiện Kết quả nghiên cứu của Skinner (1970) cũng chỉ ra rằng phần lợi nhuận cộng thêm được các công ty xem xét lại hàng năm Có 75% doanh nghiệp bán sản phẩm được làm theo yêu cầu của khách hàng sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí cộng thêm so với 67% doanh nghiệp bán các sản phẩm tiêu chuẩn, sản xuất hàng loạt, những sản phẩm không có sự khác biệt nhiều sử dụng phương pháp này Skinner cho rằng thông tin chi phí là rất quan trọng trong giá cả ở các ngành công nghiệp Anh và định hướng thị trường có ảnh hưởng rất ít
Trang 21Govindarajan và Anthony (1983) đã khảo sát trên 500 công ty công nghiệp lấy từ Fortune 1000 để tìm hiểu các công ty sử dụng chi phí như thế nào trong việc định giá sản phẩm Trong số 505 phiếu trả lời có 83% công ty thường sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí đầy đủ và 17% công ty sử dụng phương pháp định giá trên
cơ sở chi phí biến đổi Govindarajan và Anthony giải thích cho phương pháp định giá trên cơ sở chi phí đầy đủ chiếm ưu thế hơn có thể là do mô hình tối đa hóa lợi nhuận không thể áp dụng trong hầu hết các trường hợp kinh doanh thực tế Bởi các nhà quản
lý thiếu thời gian, hạn chế về các nguồn lực, hoặc thông tin để ra quyết định theo cách này Thứ hai, họ lập luận rằng cách tiếp cận kinh tế đòi hỏi phải áp dụng quy luật cung cầu Các nhà quản lý thường có thể ước tính đường cung với độ chính xác cao, nhưng
họ gặp khó khăn trong việc ước tính đường cầu
Gotze (1985) kết luận rằng phương pháp định giá sản phẩm trên cơ sở chi phí
là khá phổ biến trong số các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là ở các thị trường ít cạnh tranh Mục tiêu nghiên cứu của ông là xem điều đó có đúng trong các công ty dịch vụ Một khảo sát được tiến hành trong các công ty giặt là khô ở Mỹ về việc ra quyết định về giá như thế nào, cho dù định giá dựa nhiều vào chi phí hoặc các điều kiện thị trường thì các yếu tố quan trọng trong việc thiết lập các chiến lược giá là gì Mẫu khảo sát bao gồm 450 công ty giặt khô có tỷ lệ trả lời là 23% Kết quả cuộc khảo sát chỉ ra rằng chỉ có 43% doanh nghiệp được khảo sát sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí, 39% doanh nghiệp sử dụng phương pháp định giá trên cơ
sở giá thị trường Các doanh nghiệp còn lại sử dụng hỗn hợp cả hai phương pháp định giá trên cơ sở chi phí kết hợp với giá thị trường Sự khác biệt giữa các công ty sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí và các công ty sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở giá thị trường không được Gotze giải thích như là do các công ty định giá trên cơ sở chi phí chỉ đơn giản có hệ thống kế toán phức tạp hơn
Bruegelmann và cộng sự (1985) kiểm tra các điều kiện áp dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí được sử dụng Mẫu nghiên cứu bao gồm mười một công
ty sản xuất Mỹ Những phát hiện của nghiên cứu chỉ ra rằng cả hai phương pháp định giá trên cơ sở chi phí đầy đủ và chi phí biến đổi đều được sử dụng tuy nhiên phương pháp định giá trên cơ sở chi phí biến đổi chiếm ưu thế hơn Tám trong số mười một công ty được khảo sát sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí biến đổi nhằm ứng phó với sự cạnh tranh trên thị trường Bốn công ty chỉ sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí biến đổi khi giới thiệu sản phẩm mới ra thị
Trang 22trường, hoặc khi gia nhập vào một thị trường mới với một dòng sản phẩm hiện có Năm công ty sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí biến đổi cho các đơn đặt hàng đặc biệt Ngoài ra, năm trong số các công ty được phỏng vấn sử dụng chi phí biến đổi làm cơ sở cho việc thiết lập giá dự thầu Tuy nhiên, nghiên cứu này bị
hạn chế do kích thước mẫu khảo sát nhỏ, không mang tính đại diện
Mills (1988) đã tiến hành cuộc khảo sát với 100 công ty sản xuất và 100 công ty dịch vụ từ 7500 công ty lớn nhất của Anh Mục tiêu của nghiên cứu này là để biết các quyết định về giá bán được đưa ra như thế nào trong các công ty sản xuất và dịch vụ của Anh, kế toán đã cung cấp thông tin chi phí gì cho nhà quản trị trong việc ra các quyết định về giá Nghiên cứu đã cho thấy có 71% công ty sản xuất và 68% công ty dịch vụ sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí Trong điều kiện hoạt động bình thường các công ty sản xuất và dịch vụ thường xuyên dựa vào chi phí đầy đủ để định giá Tuy nhiên khi liên quan đến các đơn hàng đặt biệt, các công ty này sử dụng chi phí biến đổi để định giá sản phẩm là chủ yếu Các ngành nghề được cho rằng không
có ảnh hưởng đáng kể đến việc áp dụng chi phí đầy đủ hoặc chi phí biến đổi trong việc định giá sản phẩm Nghiên cứu của Mills cũng chỉ ra rằng một trong các yếu tố khác đã được đưa vào để tính toán xác định giá bán đó là giá của đối thủ cạnh tranh Quyết định giá bán chủ yếu dựa trên những thông tin chi phí đầy đủ nhưng yếu tố thị trường cũng được xem xét để đưa vào tính toán Mills cho rằng đã có một xu hướng thay đổi trong phương pháp định giá trên cơ sở chi phí đó là có tham chiếu đến giá đối thủ cạnh tranh Điều đó cho thấy rằng các yếu tố thị trường và áp lực để cạnh tranh đã tăng tầm quan trọng trong các quyết định về định giá bán sản phẩm
Shim (1993) đã khảo sát 141 công ty trong các ngành công nghiệp ở Mỹ với tỷ
lệ trả lời là 23,5% Phần lớn số người được hỏi là các nhà quản lý hàng đầu bao gồm Chủ tích hội đồng quản trị, Phó Chủ tịch, Tổng giám đốc, hoặc Giám đốc tài chính Các câu trả lời cho thấy các công ty sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí là chủ yếu với 69,5% số người được hỏi sử dụng phương pháp định giá trên
cơ sở chi phí đầy đủ và 12% sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí biến đổi Có 18% công ty sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở giá thị trường hoặc giá đối thủ cạnh tranh Trong số các công ty sử dụng phương pháp định giá trên cơ
sở chi phí đầy đủ có 49% công ty định giá dựa vào chi phí sản xuất và 51% công ty định giá dựa vào tất cả các chi phí phát sinh trong giá vốn sản phẩm Nghiên cứu kết luận rằng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí đầy đủ là phương pháp chiếm
Trang 23ưu thế, đã được sử dụng đặc biệt là trong các ngành hóa chất và công nghiệp điện tử với tỷ lệ tương ứng là 80% và 72%
Một nghiên cứu của Drury và Tayles (2005) tại Anh cho thấy chỉ có 9% số người được hỏi trả lời "Không bao giờ" hoặc "Ít khi" sử dụng phương pháp chi phí đầy đủ Nghiên cứu của họ chỉ ra rằng 84% công ty ở Anh sử dụng chi phí đầy đủ theo quy định của kế toán tài chính ở Anh Nghiên cứu cũng kết luận rằng các công
ty thường xuyên sử dụng chi phí đầy đủ trong xác định giá bán sản phẩm nhiều hơn
là sử dụng chi phí biến đổi
Nghiên cứu của Huda Al-Hussari (2006) đã khảo sát 1000 doanh nghiệp được lựa chọn ngẫu nhiên từ dữ liệu của viện kế toán quản trị trong ngành chế biến thực phẩm và các ngành công nghiệp khác của Anh Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khi định giá dựa trên chi phí thì thông tin chi phí biến đổi được các nhà quản trị sử dụng nhiều hơn bởi vì sử dụng các thông tin chi phí đầy đủ có thể dẫn đến những sai lầm tốn kém Điều này giống với quan điểm của Shim và Sudit (1995) khi cho rằng có sự thay đổi trong các phương pháp định giá sản phẩm khi mà phương pháp định giá trên
cơ sở chi phí biến đổi và định giá trên cơ sở giá thị trường ngày càng được sử dụng nhiều hơn Vì vậy nghiên cứu của Huda đã cung cấp thông tin chuẩn đối sánh quan trọng cho các nhà quản lý về những loại thông tin chi phí mà công ty đang sử dụng trong các thiết lâp giá của họ Nghiên cứu này cũng cảnh báo các nhà quản lý sử dụng các phương pháp định giá trên cơ sở chi phí đầy đủ phục vụ cho việc thiết lâp giá các đơn hàng đặc biệt khi sử dụng hệ thống chi phí đơn giản Nghiên cứu chỉ ra rằng phương pháp chi phí đầy đủ không được sử dụng phổ biến như các nghiên cứu trước
đó đã đưa ra, chi phí biến đổi là phương pháp có thể được sử dụng rộng rãi
Kết quả nghiên cứu của Huda (2006) kết luận rằng phương pháp định giá sản phẩm trên cơ sở chi phí nên được tích hợp trong cách tiếp cận có định hướng thị trường nơi mà giá của đối thủ cạnh tranh cũng cần được xem xét Thực tế hiện nay phần lớn những người được hỏi coi giá của đối thủ cạnh tranh và hành vi của khách hàng cùng với thông tin chi phí là những vấn đề cốt lõi trong việc xác định giá bán Tuy nhiên, nghiên cứu cũng lưu ý rằng thông tin thị trường sẽ được chú ý nhiều hơn khi thiết lập giá bán hơn là thông tin chi phí, đặc biệt khi hệ thống chi phí đơn giản được sử dụng Trong môi trường cạnh tranh những người được hỏi cho biết rằng họ phải đối mặt với việc giá bị ảnh hưởng bởi các yếu tố của thị trường và xa rời định giá trên cơ sở chi phí đồng thời giá cũng được điều chỉnh từ quan điểm của khách hàng
Trang 24Nghiên cứu của Peter Lane và Chris Durden (2013) tìm hiểu về thông tin chi phí trong các quyết định về giá bán và phương pháp định giá trên cơ sở chi phí trong các tổ chức du lịch ở Anh Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các doanh nghiệp
du lịch coi thông tin chi phí và thông tin khách hàng là thông tin quan trọng nhất cho việc thiết lập giá, thông tin đối thủ cạnh tranh là tương đối ít quan trọng cho mục đích định giá Kết quả nghiên cứu cho thấy thông tin về chi phí được ưa thích hơn bởi các doanh nghiệp lớn và thông tin thị trường ưa thích hơn bởi các doanh nghiệp nhỏ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí đầy đủ xếp cao nhất với số điểm trung bình là 4,04 Phương pháp định giá trên cơ
sở chi phí biến đổi và phương pháp định giá trên cơ sở giá thị trường xếp hạng thứ hai vơi số điểm trung bình là 3,26 Các doanh nghiệp chủ yếu sử dụng chi phí đầy
đủ để định giá cho một sản phẩm hoặc dịch vụ mới Nghiên cứu kết luận rằng chi
phí vẫn là một yếu tố quan trọng để quyết định giá của các doanh nghiệp du lịch
Phương pháp chi phí theo hoạt động ( Activity- Based- Costing)
Trong nghiên cứu của Shim (1993), nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa các phương pháp định giá và việc thực hiện ABC trong các công ty sản xuất ở Mỹ Kết quả chỉ ra rằng có 78% công ty không có kế hoạch thực hiện hoặc không có ý định thực hiện ABC thường xuyên sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí đầy
đủ Có 32% công ty đã thực hiện hoặc có kế hoạch triển khai hệ thống ABC sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí biến đổi và 39% công ty sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở giá thị trường so với 22% công ty không có kế hoạch để thực hiện hệ thống ABC
Shim và Sudit (1995) đã so sánh kết quả nghiên cứu của Shim (1993) với khảo sát của Govindarajan và Anthony (1983) và sử dụng các kết quả này để đánh giá mối quan hệ giữa việc thực hiện ABC với phương pháp định giá trong các công ty sản xuất ở Mỹ Nghiên cứu kết luận rằng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí đầy đủ đòi hỏi phải phân bổ chi phí chung được sử dụng thường xuyên, do đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân bổ chi phí chung hợp lý Vì vậy, nghiên cứu khuyến khích sử dụng ABC vì phương pháp này đưa ra một kế hoạch phân bổ tốt hơn với việc phân tích các hoạt động Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phương pháp định giá trên
cơ sở chi phí đầy đủ tiếp tục là phương pháp định giá sản phẩm phổ biến nhất
Trang 25Định giá sản phẩm là một trong những nguyên nhân chính cho việc phân bổ chi phí chung và là một chức năng quan trọng của hệ thống kế toán chi phí Điều này được khẳng định bởi Innes và Mitchell (1995) Nghiên cứu của họ cho thấy rằng một trong những lý do chính cho viêc sử dụng thông tin ABC là phục vụ cho việc ra quyết định quản lý, đặc biệt đối với quyết định về giá bán Họ chỉ ra rằng nghiên cứu thực nghiệm về ABC tại Anh đã cho thấy rằng giá cả là một động lực quan trọng cho những người xem xét việc áp dụng ABC bởi vì tầm quan trọng của việc có thông tin chi phí đáng tin cậy cho mục đích này Khoảng hai phần ba số người dùng sử dụng hệ thống ABC trong quyết định giá cả và hơn 12% đã lập kế hoạch cho việc sử dụng ABC trong tương lai
Qua các phân tích trên, tác giả nhận thấy phần lớn các doanh nghiệp trên thế giới có xu hướng sử dụng các phương pháp định giá sản phẩm trên cơ sở chi phí đầy đủ Trong một môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh có sự thay đổi trong việc sử dụng thông tin chi phí để xác định giá bán sản phẩm từ định giá trên
cơ sở chi phí đầy đủ sang định giá trên cơ sở chi phí biến đổi hoặc theo giá thị trường Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí nên có tính đến tác động, ảnh hưởng của đối thủ cạnh tranh và nhu cầu của khách hàng trong việc xác định giá bán Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, phương pháp chi phí theo hoạt động đã và đang được áp dụng nhằm giải quyết những hạn chế trong các phương pháp chi phí truyền thống
1.2.2 Các công trình nghiên cứu vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá chuyển nhượng nội bộ
Các nhà kinh tế học và nghiên cứu kế toán đã có những đóng góp tiên phong
về giá chuyển nhượng nội bộ Hirshleifer (1956) là người đầu tiên đã công thức hóa
“vấn đề” giá chuyển nhượng trong kinh tế khi cho rằng giá thị trường là giá chuyển nhượng đúng chỉ khi hàng hóa chuyển giao được sản xuất trong thị trường có tính cạnh tranh hoàn hảo Nếu thị trường không có tính cạnh tranh hoàn hảo, hoặc nếu thị trường không tồn tại chuyển nhượng hàng hóa, thì giá chuyển nhượng “chuẩn”
có thể là chi phí biên, với những điều kiện đơn giản hóa nhất định
Giá chuyển nhượng trên cơ sở chi phí biến đổi và chi phí đầy đủ
Tang (1992) cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các phương pháp định giá chuyển nhượng được sử dụng bởi các công ty ở Mỹ Nghiên cứu báo cáo rằng trong
Trang 26các phương pháp chuyển giá được sử dụng bởi 143 công ty trả lời khảo sát trong tổng số 500 công ty được hỏi có 46,2% công ty xác định giá chuyển nhượng trên cơ
sở chi phí Trong số các công ty này có 7,7% công ty sử dụng chi phí sản xuất biến đổi, 53,8% công ty sử dụng chi phí sản xuất đầy đủ và 38,5% công ty sử dụng chi phí sản xuất đầy đủ cộng với phần lợi nhuận cộng thêm
Vaysman Igor (1996) nghiên cứu về các phương pháp của giá chuyển nhượng nội bộ trong các công ty ở Anh Nghiên cứu đi vào phân tích hai phương pháp định giá chuyển nhượng phổ biến đó là giá chuyển nhượng quản lý và giá chuyển nhượng đàm phán Nghiên cứu kết luận rằng khi mức lợi nhuận tối ưu được tính toán, phương pháp định giá chuyển nhượng trên cơ sở chi phí sẽ được phát triển Giá chuyển nhượng được tính toán dựa trên các báo cáo chi phí của bộ phận sản xuất Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khi thiết lập một giả định cho rằng các nhà quản lý bộ phận không thể chia sẻ các thông tin về bộ phận của mình cho các nhà quản lý cấp cao biết vì sự phức tạp của môi trường bộ phận cấp dưới Trong tình huống này, một hệ thống quản lý lương thưởng sử dụng phương pháp định giá chuyển nhượng trên cơ sở chi phí cho phép các công ty đạt được lợi nhuận dự kiến cao hơn nếu tất cả các quyết định được đưa ra bởi nhà quản lý cấp cao
Nick W McGaughey (1997) đã nghiên cứu về phương pháp định giá chuyển nhượng trong hai ngành công nghiệp được lựa chọn là điện tử và hóa chất trong các công ty ở Mỹ có hoạt động trong nước và ngoài nước Mỹ Nghiên cứu này đã chỉ ra các nghiên cứu trước đây vẫn còn thiếu sót do chưa có sự tham gia của các công ty nhỏ và thiếu tính so sánh giữa các ngành công nghiệp Nghiên cứu này đã đi sâu vào việc khắc phục các thiếu sót đó Các phương pháp định giá chuyển nhượng được phân loại vào hai nhóm có định hướng, được đặt tên là phương pháp định hướng chi phí và phương pháp không có định hướng của chi phí Nhóm không có định hướng chi phí bao gồm giá chuyển nhượng trên cơ sở giá thị trường và các phương pháp định giá chủ yếu không dựa vào các số liệu chi phí về sản phẩm và dịch vụ chuyển nhượng Phiếu trả lời thu được từ 133 công ty hóa chất và 74 công ty điện
tử Phương pháp giá chuyển nhượng phổ biến nhất được sử dụng trong các công ty hóa chất là giá thị trường và phương pháp định giá trên cơ sở chi phí Phương pháp định giá chuyển nhượng được sử dụng nhiều nhất trong các công ty điện tử là giá thị trường, giá thị trường trừ chi phí bán hàng và giá trên cơ sở chi phí sản xuất đầy
đủ Có 56% công ty hóa chất sử dụng phương pháp định hướng chi phí, trong khi có khoảng 46% công ty điện tử sử dụng phương pháp này
Trang 27Theo Weber và Schaefer (2008), việc áp dụng chi phí biến đổi tạo cơ sở ra quyết định thực chất đối với bên mua, tuy nhiên điều này lại gây tổn thất cho bên bán tương đương với khoản chi phí cố định Bên mua tiếp nhận một khoản lợi nhuận mà không phải hoàn toàn do năng lực sản xuất tự có mang lại Trong trường hợp năng lực cung cấp sản phẩm nội bộ bị hạn chế, các chủ thể có thể vận dụng nhiều cách tính khác nhau Mức giá khan hiếm được dùng làm giá chuyển giao nội
bộ Giá khan hiếm của một sản phẩm hàng hóa bằng tổng của chi phí biến đổi và chi phí cơ hội Ý tưởng lấy định giá chuyển nhượng trên cơ sở chi phí đầy đủ xuất phát
từ lợi ích của bên bán và trên nguyên tắc chung là giá chuyển nhượng nội bộ tối thiểu phải bù đắp được chi phí sản xuất
Coenenberg và các cộng sự (2007) phân tích ưu điểm chính của phương pháp định giá chuyển nhượng trên cơ sỏ chi phí đầy đủ thông qua giả định trường hợp mà bên mua phải bỏ ra chi phí để tự sản xuất mặt hàng đó Bên bán sẽ không phải chịu
lỗ như trong cách tính theo chi phí biến đổi Coenenberg và các cộng sự (2007) chỉ
ra rằng, chi phí biến đổi được áp dụng để tính giá chuyển nhượng nội bộ nếu các điều kiện sau đây được thỏa mãn: (i) Sản phẩm không tiêu thụ được hoặc chỉ tiêu thụ được một số lượng nhỏ ở thị trường bên ngoài (thường gặp đối với các chi tiết, hoặc bán sản phẩm đặc thù của tập đoàn); (ii) Đơn vị bộ phận không gặp khó khăn trong việc cung cấp và phân phối
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí
Nghiên cứu của Gordon và cộng sự (1981) về 44 công ty sản xuất trong đó có
22 công ty từ Canada, 22 công ty từ Hoa Kỳ và thực hiện các cuộc phỏng vấn cá nhân với lãnh đạo chủ chốt chịu trách nhiệm về quyết định giá trong các công ty Cuộc phỏng vấn được xây dựng xung quanh một bảng câu hỏi chi tiết liên quan đến
cả những câu hỏi mở và câu hỏi đóng Bốn ngành công nghiệp được lựa chọn cho nghiên cứu là chế biến thực phẩm, hóa chất, thiết bị vận tải, thiết bị nặng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí thường xuyên được
sử dụng với phần cộng thêm là một tỷ lệ phần trăm dựa trên chi phí Ngay cả trong những doanh nghiệp mà giá đối thủ cạnh tranh là quan trọng hàng đầu, thông tin chi phí cũng rất quan trọng trong việc đánh giá liệu các công ty có thể bán các dòng sản phẩm theo giá thị trường được hay không Gordon và cộng sự (1981) chỉ ra rằng các công ty lớn trong nghiên cứu này có sự ưa thích mạnh hơn so với các đối thủ nhỏ về
Trang 28việc sử dụng các điều kiện cạnh tranh hoặc thị trường trong viêc thiết lập giá Ngược lại, giá dựa trên chi phí đã chi phối nhiều hơn cho các sản phẩm làm theo yêu cầu của khách hàng, trái ngược với các sản phẩm được sản xuất hàng loạt Ngoài ra, công ty mạnh cạnh tranh trên cơ sở chất lượng sản phẩm có xu hướng dựa nhiều hơn vào chi phí Như vậy theo kết quả nghiên cứu của Gordon và cộng sự (1981) có ba nhân tố ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí đó là: thông tin chi phí, đặc điểm loại sản phẩm (sản phẩm sản xuất hàng loạt hay sản phẩm sản xuất theo yêu cầu) và quy mô doanh nghiệp
Guilding và cộng sự (2005) thu thập dữ liệu từ một cuộc khảo sát 280 công ty
ở Anh và Úc để điều tra về phương pháp định giá trên cơ sở chi phí và tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí Nghiên cứu đã chỉ ra ba nhân tố có ảnh hưởng đó là quy mô doanh nghiệp, mức độ cạnh tranh và ngành nghề kinh doanh Nghiên cứu kết luận rằng mức độ cạnh tranh và ngành nghề kinh doanh có ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí Quy mô doanh nghiệp không có ảnh hưởng đến phương pháp định giá này
Nghiên cứu của Huda Al-Hussari (2006) khảo sát 1000 doanh nghiệp trong ngành chế biến thực phẩm và các ngành công nghiệp khác ở Anh Nghiên cứu đã chỉ
ra bẩy nhân tố có ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí đó là: chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, thị phần của doanh nghiệp, mức độ cạnh tranh, mức độ sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng, mức độ ảnh hưởng trong việc xác định giá bán và tầm quan trọng của thông tin chi phí Nghiên cứu sử dụng mô hình SEM để phân tích và kết luận rằng: Các công ty có thị phần thấp hơn chú trọng nhiều hơn đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí Những công ty có thị phần thấp hơn thường hoạt động tại thị trường nhỏ hơn nơi mà sản phẩm có thể có xu hướng sản xuất theo yêu cầu và không được thiết lập giá Do đó họ có thể chú trọng nhiều hơn đến giá theo chi phí Nghiên cứu chỉ ra phương pháp định giá trên cơ sở chi phí quan trọng hơn với các sản phẩm sản xuất theo yêu cầu và không quan trọng đối với các sản phẩm tiêu chuẩn Mức độ ảnh hưởng trong việc xác định giá bán có ảnh hưởng tích cực đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí Nghiên cứu không tìm thấy có sự ảnh hưởng nào của quy mô doanh nghiệp đến phương pháp định giá trên cơ
sở chi phí này Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thông tin chi phí và chiến lược khác biệt có ảnh hưởng tích cực đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí, nhân tố cường độ cạnh tranh có ảnh hưởng tiêu cực đến phương pháp này
Trang 29Nghiên cứu của Peter Lane và Chris Durden (2013) tìm hiểu về các nhân tố
ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí trong các tổ chức du lịch ở Anh Các kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô của một doanh nghiệp có ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí Quy mô của doanh nghiệp được tìm thấy có một mối tương quan dương với mức độ sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí đầy đủ (p = 0,01, α = 0,05), đồng thời chỉ ra rằng trong doanh nghiệp lớn định giá dựa trên chi phí đầy đủ có tầm quan trọng hơn so với các doanh nghiệp nhỏ Các phương pháp định giá khác không tìm thấy có một mối quan hệ đáng kể với quy mô doanh nghiệp
Qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí, tác giả xác định được có các nhân tố sau: đặc điểm phẩm (sản phẩm sản xuất theo yêu cầu hay sản phẩm sản xuất hàng loạt), ngành công nghiệp, quy mô doanh nghiệp, thông tin chi phí, thông tin khách hàng, thông tin đối thủ cạnh tranh, mức độ cạnh tranh, mức độ ảnh hưởng trong việc xác định giá bán, chiến lược kinh doanh, thị phần Tuy nhiên kết quả của các nghiên cứu này có khác nhau Ví dụ nghiên cứu của Skinner (1970) cho rằng đặc điểm sản phẩm không có ảnh hưởng đến phương pháp định giá theo chi phí khi kết quả khảo sát của Skinner chỉ ra rằng số lượng công ty sản xuất sản phẩm hàng loạt và số lượng công ty sản xuất sản phẩm theo yêu cầu khách hàng sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí là gần tương đương nhau, với tỷ lệ tương ứng là 67% và 75% Trong khi đó nghiên cứu của Gordon và cộng sự (1981) và nghiên cứu của Huda (2006) đều chỉ ra rằng nhân tố đặc điểm loại sản phẩm có ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí Còn đối với nhân tố quy mô, các nghiên cứu của Guilding và cộng sự (2005), Huda (2006) kết luận rằng nhân tố quy mô doanh nghiệp không có ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí Còn trong nghiên cứu của Gordon và cộng sự (1981) và nghiên cứu của Peter Lane, Chris Durden (2013) lại cho rằng quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng tới phương pháp định giá trên cơ sở chi phí Tuy nhiên Guilding và Huda thực hiện nghiên cứu của mình là trong các doanh nghiệp sản xuất Còn Peter Lane và cộng sự thực hiện nghiên cứu của mình trong các doanh nghiệp dịch vụ Đặc điểm ngành nghề kinh doanh cũng là một nhân tố nhiều kết luận khác nhau Trong khi nghiên cứu của Mill (1988) cho rằng không có sự khác biệt về loại hình ngành nghề kinh doanh đối với phương pháp định giá trên cơ sở chi phí với 71% công ty sản xuất và gần 70% công
Trang 30ty du lịch đều sử dụng phương pháp định giá này Thì theo nghiên cứu của Guilding
và cộng sự (2005) kết luận rằng ngành nghề kinh doanh là một nhân tố tác động đến phương pháp định giá theo chi phí và được chia thành ba nhóm là các doanh nghiệp sản xuất, các doanh nghiệp dịch vụ và các doanh nghiệp bán lẻ
Từ tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới về việc vận dụng phương pháp kế toán quản trị trong việc định giá sản phẩm bao gồm giá bán sản phẩm ra thị trường bên ngoài và giá chuyển nhượng nội bộ bên trong doanh nghiệp Tác giả thấy rằng hầu hết các nghiên cứu đánh giá để xác định mức độ sử dụng thông tin chi phí trong định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp Các nghiên cứu trước chỉ tiếp cận ở mức
độ sử dụng phương pháp định giá trên cơ sở chi phí và xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí mà chưa đo lường ảnh hưởng các nhân tố
đó tới phương pháp định giá trên cơ sở chi phí Mặc dù đã có nghiên cứu của Huda (2006) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến phương pháp định giá dựa trên chi phí và đo lường các nhân tố này nhưng nghiên cứu này điều tra trong nhiều ngành công nghiệp mà không tập trung điều tra trong một ngành công nghiệp cụ thể nhằm kiểm tra các giả thuyết mối quan hệ giữa các nhân tố ngẫu nhiên với phương pháp định giá trên
cơ sở chi phí trong một ngành công nghiệp cụ thể Một số nghiên cứu trên với tỷ lệ trả lời thấp, bối cảnh nghiên cứu hẹp, mẫu khảo sát bé, không mang tính đại diện Từ đó tác giả tìm thấy khoảng trống nghiên cứu cho luận án Đó là nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí trong một ngành sản xuất và tập trung và một số sản phẩm chính của doanh nghiệp
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước về việc vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá sản phẩm
1.3.1 Các công trình nghiên cứu vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá bán sản phẩm ra ngoài
Nguyễn Thị Mai Anh (2014) điều tra về các công ty nhựa được niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam đã chỉ ra rằng thông tin chi phí cung cấp cho nhu cầu ra quyết định của công ty với quyết định quan trọng nhất là để xác định giá bán sản phẩm (100%), tiếp theo là chấp nhận hay từ chối một đơn hàng (66,7%) Chi phí sản xuất chung được phân bổ theo chi phí nguyên vật liệu chính là 57,14%
và theo chi phí nhân công trực tiếp là 42,86%
Hồ Mỹ Hạnh (2013) gửi phiếu khảo sát tới 20 doanh nghiệp may trong cả nước với số phiếu trả lời là 20 phiếu chiếm 100% Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng
Trang 31trong các các doanh nghiệp may ở Việt Nam thông tin kế toán chi phí đóng vai trò quyết định đến việc xác định giá bán ở cả 20 công ty chiếm 100%, sử dụng để nhận đơn đặt hàng là 15 công ty chiếm 75% Các công ty may chủ yếu là hạch toán chi phí theo đơn hàng 15 công ty chiếm 75%, hạch toán theo quá trình sản xuất là 5 công ty chiếm 25% Các công ty may phân bổ chi phí sản xuất chung chủ yếu theo chi phí nhân công trực tiếp 11 công ty chiếm 55%, phân bổ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 6 công ty chiếm 30%
Trần Thị Dự (2013) gửi phiếu khảo sát tới 52 doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tất cả các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi được khảo sát đều định giá phí sản phẩm sản xuất theo phương pháp chi phí đầy đủ Số lượng các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi áp dụng phương pháp chi phí thông thường và chi phí biến đổi còn thấp và chưa có doanh nghiệp nào áp dụng phương pháp ABC Phần lớn các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi lựa chọn tiêu thức sản lượng sản xuất và chi phí nguyên vật liệu trực tiếp làm tiêu thức phân bổ chi phí chung Tác giả Trần Thị Dự đã đề xuất áp dụng phương pháp ABC để tính giá phí của từng mẻ sản phẩm trên cơ sở phân chia toàn bộ hoạt động phát sinh chi phí trong phạm vi phân xưởng sản xuất (trừ hoạt động phát sinh chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (CPNVLTT), chi phí nhân công trực tiếp (CPNCTT)) thành các nhóm chi phí hoạt động: hoạt động kiểm nghiệm sản phẩm, hoạt động chạy máy, hoạt động vận chuyển sản phẩm, hoạt động duy trì chung tại phân xưởng Xác định giá phí cho từng loại sản phẩm, từng khách hàng và từng chi nhánh
Đào Thúy Hà (2015) trong nghiên cứu của mình về các doanh nghiệp sản xuất thép ở Việt Nam chỉ ra rằng phương pháp chi phí đầy đủ thực tế vẫn đang được áp dụng phổ biến hơn phương pháp chi phí thông thường và chi phí tiêu chuẩn Khi tính giá thành sản phẩm các doanh nghiệp sản xuất thép đều phân bổ chi phí chung theo các phương pháp phân bổ truyền thống như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, sản lượng… Nghiên cứu cũng đề xuất các doanh nghiệp thép sẽ áp dụng thí điểm ABC tại giai đoạn luyện thép với mục đích là cung cấp thông tin chi phí về các hoạt động nhằm loại bỏ những hoạt động gây lãng phí, cải tiến quy trình, đánh giá kết quả hoạt động và trách nhiệm nhà quản lý Trong nghiên cứu này cũng đã trình bày
về việc sử dụng thông tin chi phí trong việc định giá sản phẩm bán ra bên ngoài Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ đề cập đến vấn đề này một cách khái quát, không đi sâu vào việc phân tích phương pháp định giá trên cơ sở chi phí
Trang 321.3.2 Các công trình nghiên cứu vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá chuyển nhượng nội bộ
Các nghiên cứu liên quan đến giá chuyển nhượng nội bộ cũng được tìm thấy trong hai công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2013) và Đào Thúy Hà (2015) Tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2013) có đề cập đến định giá sản phẩm và giá chuyển nhượng nội bộ trong phần nghiên cứu về trung tâm lợi nhuận Cụ thể trong phần cơ sở lý luận tác giả đã trình bày về ba phương pháp xác định giá chuyển nhượng nội bộ bao gồm phương pháp định giá chuyển nhượng trên
cơ sở chi phí, phương pháp định giá chuyển nhượng trên cơ sở giá thị trường và phương pháp định giá chuyển nhượng trên cơ sở giá đàm phán Phương pháp định giá chuyển nhượng nội bộ cũng được đề cập trong luận án của tác giả Đào Thúy Hà (2015) Nghiên cứu chỉ ra rằng hiện nay các doanh nghiệp thép ở Việt Nam đang sử dụng phương pháp định giá chuyển nhượng nội bộ trên cơ sở chi phí Với phương pháp định giá chuyển nhượng này sẽ đẩy mọi bất lợi về công đoạn cuốn (cán thép) Những yếu kém trong quản trị chi phí và lãng phí ở công đoạn trước sẽ bị đẩy sang công đoạn sản xuất sau Do đó định giá chuyển nhượng trên cơ sở chi phí không đánh giá đúng kết quả hoạt động tại các bộ phận, không thúc đẩy các bộ phận cải tiến quy trình, cắt giảm chi phí và thụ động trong kinh doanh Để khắc phục hạn chế trên nghiên cứu đề xuất các doanh nghiệp sản xuất thép ở Việt Nam nên chuyển nhượng theo phương pháp thị trường có điều chỉnh
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu có liên quan tại Việt Nam tác giả nhận thấy hầu hết các nghiên cứu mới chỉ đi sâu nghiên cứu nôi dung kế toán quản trị chi phí như đối tượng tập hợp và phân bổ chi phí, đối tượng và phương pháp tính giá thành, xây dựng định mức, lập dự toán… Những nghiên cứu trên đã tiếp cận, đề cập đến việc vận dụng kế toán quản trị chi phí trong việc định giá Tuy nhiên các nghiên cứu mới chỉ ở mức độ khảo sát, khái quát, chưa đi sâu vào việc phân tích đánh giá về việc vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá sản phẩm Các nghiên cứu trên chưa tìm hiểu về mục tiêu, chiến lược thiết lập giá bán tại doanh nghiệp Sử dụng thông tin chi phí trong kế toán quản trị để phục vụ cho định giá sản phẩm không được đề cập đến trong các nghiên cứu này Các nghiên cứu về giá chuyển nhượng nội bộ mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu, phát hiện vấn đề mà chưa đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá, nghiên cứu về hoạt động chuyển nhượng nội bộ
Trang 33Từ tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam tác giả tìm thấy khoảng trống cho nghiên cứu của mình đó là tìm hiểu phương pháp định giá sản phẩm trên cơ sở chi phí trong các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam bao gồm phương pháp định giá sản phẩm bán ra ngoài và phương pháp định giá sản phẩm chuyển nhượng nội bộ Tác giả tập trung nghiên cứu phương pháp định giá trên cơ sở chi phí của một số sản phẩm đặc thù trong các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam Đồng thời tác giả tìm hiểu các nhân
tố ảnh hướng tới phương pháp định giá trên cơ sở chi phí trong các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam và đo lường các nhân tố này Chính vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài luận án của mình là:
“ Nghiên cứu phương pháp kế toán quản trị chi phí trong việc định giá
sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam”
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã trình bày tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan đến việc vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam về các vấn đề như mục tiêu và chiến lược định giá sản phẩm, các phương pháp định giá sản phẩm, mức độ sử dụng thông tin chi phí trong định giá sản phẩm, các nhân tố ảnh hưởng đến phương pháp định giá trên cơ sở chi phí Tác giả không chỉ tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến định giá bán sản phẩm ra bên ngoài mà tác giả còn tổng quan những công trình nghiên cứu về giá chuyển nhượng nội bộ bên trong doanh nghiệp Từ đó tìm ra được khoảng trống trong nghiên cứu của mình đó là nghiên cứu về phương pháp kế toán quản trị chi phí trong định giá sản phẩm tại các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam
Trang 34đó các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế có thể thành công hoặc thất bại Một trong những nhân tố quan trọng dẫn đến sự thành công hay thất bại của các doanh nghiệp
là thông tin về kế toán quản trị chi phí Chính tầm quan trọng của thông tin chi phí đối với hoạt động quản trị đã đặt ra yêu cầu xây dựng một phương pháp có khả năng cung cấp thông tin chi phí phù hợp, kịp thời, tin cậy phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và sử dụng nguồn lực, đánh giá hiệu quả hoạt động và ra quyết định kinh doanh Định giá sản phẩm là một trong những quyết định quan trọng và phức tạp một doanh nghiệp phải thực hiện Quyết định về giá không chỉ là một quyết định trong quá trình tiếp thị hay một quyết định có tính chất tài chính, mà là quyết định ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động trong doanh nghiệp Để thực hiện tốt quyết định giá, nhà quản trị phải được cung cấp đầy đủ thông tin, đặc biệt là những thông tin chi phí Chi phí là điểm khởi đầu của giá, và chi phí là mức thấp nhất mà giá không thể giảm đến trong dài hạn Phần này tác giả đề cập đến bản chất kế toán quản trị chi phí và phương pháp kế toán quản trị chi phí vận dụng trong việc định giá sản phẩm của doanh nghiệp
2.1 Bản chất kế toán quản trị chi phí và hệ thống phương pháp kế toán quản trị chi phí
2.1.1 Bản chất kế toán quản trị chi phí
Theo Phạm Thị Thủy (2007) kế toán quản trị chi phí (KTQTCP) là bộ phận của kế toán quản trị (KTQT) nhằm cung cấp thông tin chi phí để hỗ trợ tổ chức thực hiện chức năng quản trị các yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra quyết định phù hợp Đồng quan điểm trên, Nguyễn Thị Mai Anh (2014) nhận định, kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của KTQT xử lý và cung cấp thông tin chi phí cho nhà quản trị thực hiện chức năng của mình Hồ Mỹ Hạnh (2013) cho rằng kế toán quản trị chi phí là việc thu thập các dữ liệu về chi phí và xử lý các dữ liệu này theo một trình tự để có thể cung cấp thông tin chi phí nhằm xây dựng kế hoạch chi phí, kiểm soát chi phí từ
Trang 35đó đánh giá các hoạt động và ra quyết định quản lý Theo Đào Thúy Hà (2015) thông tin kế toán quản trị chi phí là công cụ phục vụ lập kế hoạch và các dữ liệu chi phí là cơ sở cho việc ra quyết định chiến lược, những quyết định này bao gồm các chính sách giá bán, cơ cấu sản phẩm, mua sắm máy móc thiết bị, loại bỏ các hoạt động không tạo ra giá trị tăng thêm
Trong phạm vi đề tài này, tác giả sử dụng thuật ngữ kế toán quản trị chi phí để phân biệt bộ phận kế toán chi phí thuộc KTQT với bộ phận kế toán chi phí thuộc kế toán tài chính (KTTC) Kế toán quản trị chi phí chính là một bộ phận của KTQT hay là phần giao giữa KTQT và kế toán chi phí Kế toán quản trị chi phí cung cấp các thông tin chi phí nhằm mục đích phục vụ quản trị doanh nghiệp Vì vậy kế toán quản trị chi phí sử dụng các phương pháp kỹ thuật nghiệp vụ của kế toán chi phí kết hợp các kỹ thuật quản trị để đảm bảo cung cấp thông tin chi phí thỏa mãn nhu cầu của nhà quản trị mà không quan tâm tới việc tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán chung (GAAP) Các giao dịch được phản ánh trong kế toán quản trị chi phí không chỉ là các giao dịch được đo lường bằng tiền mà cả các giao dịch phi tiền tệ, không chỉ phản ánh trên khía cạnh số lượng mà còn phản ánh trên khía cạnh chất lượng, thời gian, sự hài lòng Việc sử dụng nhiều thước đo để đo lường chi phí làm cho thông tin chi phí được phản ánh toàn diện, đa chiều phù hợp với nhu cầu thông tin đa dạng của nhà quản trị
Với những phân tích trên tác giả cho rằng: Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin chi phí phục vụ nhu cầu quản trị doanh nghiệp
Vai trò của kế toán quản trị chi phí
Theo Drury (2004), kế toán chi phí tạo ra thông tin để đáp ứng các yêu cầu sau: Thứ nhất là phân bổ chi phí giữa giá vốn hàng bán và hàng tồn kho cho nội
bộ và báo cáo lợi nhuận bên ngoài, thứ hai là cung cấp thông tin liên quan giúp các nhà quản trị đưa ra quyết định tốt hơn và thứ ba là cung cấp các thông tin có liên quan lập kế hoạch, kiểm soát và đo lường hiệu quả hoạt động Do đó theo quan điểm của Drury thì yêu cầu thứ hai và yêu cầu thứ ba chính là cung cấp thông tin chi phí phục vụ cho nhu cầu quản trị doanh nghiệp Theo Garrison và cộng sự (2010) vai trò của kế toán quản trị là hỗ trợ quá trình ra quyết định, lập
kế hoạch và kiểm soát trong tổ chức
Trang 36Từ các quan điểm trên, theo tác giả, vai trò của kế toán quản trị chi phí gồm: cung cấp thông tin chi phí giúp nhà quản trị đưa ra quyết định kinh doanh và cung cấp thông tin chi phí liên quan đến lập lập kế hoạch, kiểm soát và đo lường hiệu quả kinh doanh
Vai trò "Cung cấp thông tin chi phí giúp các nhà quản trị đưa ra quyết định kinh doanh” liên quan đến việc ra quyết định Thông tin chi phí chính xác là cần thiết cho việc ra quyết định vì chi phí không chính xác có thể dẫn đến quyết định sai lầm như việc tiếp tục sản xuất sản phẩm không có lợi nhuận Thông tin thiếu chính xác
có thể đủ để đo lường lợi nhuận cho một doanh nghiệp vì chi phí được phân bổ giữa hàng tồn kho và giá vốn hàng bán với mức tổng hợp thay vì sản phẩm cụ thể Nhưng thông tin này không đủ cơ sở để đưa ra những quyết định về sản phẩm đơn lẻ Định giá bán sản phẩm là quyết định thường xuyên của nhà quản trị Để định giá sản phẩm mang lại hiệu quả cao, thì thông tin chi phí được cung cấp phải hữu ích Thông tin chi phí phải chính xác, kịp thời, được phân loại, sử dụng một cách phù hợp
Vai trò thứ hai của kế toán quản trị chi phí là cung cấp thông tin chi phí liên quan đến lập kế hoạch, kiểm soát và đo lường hiệu suất Theo Hồ Mỹ Hạnh (2013)
kế toán quản trị chi phí là việc thu thập các dữ liệu về chi phí và xử lý các dữ liệu này theo một trình tự để có thể cung cấp thông tin chi phí nhằm xây dựng kế hoạch chi phí, kiểm soát chi phí từ đó đánh giá các hoạt động và ra quyết định quản lý Thông tin kế toán quản trị chi phí là công cụ phục vụ lập kế hoạch và các dữ liệu chi phí là cơ sở cho việc ra quyết định chiến lược, những quyết định này bao gồm các chính sách giá bán, cơ cấu sản phẩm, mua sắm máy móc thiết bị, loại bỏ các hoạt động không tạo ra giá trị tăng thêm Tùy theo mục đích sử dụng thông tin mà
kế toán quản trị chi phí sẽ thiết kế, cung cấp thông tin khác nhau Với quyết định liên quan đến định giá bán, chi phí sẽ được nghiên cứu theo chi phí biến đổi, chi phí
cố định và các phương pháp xác định chi phí tương ứng
Kế toán quản trị chi phí là nguồn chủ yếu cung cấp thông tin chi phí nhằm giúp nhà quản trị thực hiện toàn diện các chức năng quản trị Thông tin được cung cấp bởi kế toán quản trị chi phí là thông tin cho các quyết định, trong đó có quyết định về giá thông qua phương pháp định giá trên cơ sở chi phí Một biên độ được tính toán không chỉ bao gồm các chi phí của sản phẩm, mà còn cung cấp một mức lợi nhuận Việc xem xét các tài liệu về phương pháp chi phí và kế toán quản trị chi phí nhằm mục đích hệ thống toàn bộ kiến thức liên quan đến định giá trên cơ sở chi
Trang 37phí và đánh giá các phương pháp tiếp cận của các nhà nghiên cứu trước đó
Với phân tích trên, tác giả cho rằng kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin chi phí phục vụ quản trị doanh nghiệp và kế toán quản trị chi phí đóng một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát chi phí và đo lường hiệu suất Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin thích hợp cho nhà quản trị trong các quyết định ngắn hạn, dài hạn và có ảnh hưởng đến chiến lược hoạt động của tổ chức Các quyết định quản trị rất đa dạng được đưa ra ở các thời điểm khác nhau, trong đó có quyết định quan trọng là quyết định về giá bán sản phẩm
2.1.2 Phân loại chi phí
Đối với nhà quản lý, chi phí là mối quan tâm hàng đầu vì chi phí ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận Do đó vấn đề đặt ra là làm thế nào kiểm soát được chi phí Việc nhận diện và phân loại chi phí là điều quan trọng cốt lõi để có thể quản lý chi phí từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn trong quá trình tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh của nhà quản trị Có nhiều cách phân loại chi phí trong doanh nghiệp Với mỗi cách phân loại sẽ cung cấp thông tin chi phí ở các góc độ khác nhau cho nhà quản lý
Bảng 2.1 Bảng phân loại chi phí Mục đích Cơ sở phân loại Loại chi phí
Tính giá thành, lập báo cáo
tài chính Theo chức năng hoạt động Chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất Tính giá thành, lập dự toán Theo nội dung kinh tế Chi phí nguyên vật liệu, chi phí
nhân công, chi phí công cụ dụng
cụ, chi phí khấu hao TSCĐ…
Dự toán chi phí, kiểm soát
chi phí
Lập kế hoạch, đánh giá và
ra quyết định
Theo phạm vi quan hệ với mức độ hoạt động Chi phí biến đổi, chi phí cố định, chi phí hỗn hợp
Định giá hàng tồn kho và
lập báo cáo tài chính
Theo mối quan hệ với kết quả kinh doanh
Chi phí sản phẩm và chi phí thời
kỳ
Ra quyết định kinh doanh Theo mục đích kiểm
soát và ra quyết định Chi phí kiểm soát được, chi phí không kiểm soát được, chi phí
chìm, chi phí cơ hội và chi phí chênh lệch
Xác định giá thành
Ra quyết định kinh doanh
Theo nguồn chi phí Chi phí thực tế và chi phí định
mức Xác định giá thành, phân
tích lợi nhuận và kiểm soát
chi phí
Theo khả năng quy nạp chi phí vào đối tượng chịu chi phí
Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
(Nguồn: tác giả tổng hợp)
Trang 38Thông tin chi phí khác nhau và mức độ chính xác khác nhau phụ thuộc vào mục đích sử dụng thông tin chi phí Ví dụ, báo cáo tài chính bên ngoài đòi hỏi chi phí sản xuất được xác định cho các sản phẩm Do đó, đối với mục đích định giá hàng tồn kho, chi phí này phải được xác định cho các sản phẩm thông qua phương pháp phân bổ, ngay cả khi cơ sở phân bổ không có mối quan hệ nhân quả với chi phí Hơn nữa, đối với các mục đích định giá hàng tồn kho, Kaplan & Atkinson (1998) cho rằng có thể không cần thiết đo lường chi phí sản phẩm chính xác vì chúng được yêu cầu để đo lường giá vốn hàng bán và xác định giá trị hàng tồn kho
ở mức độ tổng hợp Mặt khác, đối với các mục đích ra quyết định, chi phí ngoài sản xuất có thể là cần thiết để xác định cho sản phẩm Với mục đích ra quyết định, các phương pháp xác định chi phí cần xác định chính xác việc tiêu thụ nguồn lực của sản phẩm để tránh tính toán giá thành sản phẩm bị bóp méo Thông tin chi tiết và chính xác hơn về chi phí sản phẩm tạo điều kiện cho việc lập kế hoạch quản lý, kiểm soát, việc ra quyết định hiệu quả Như vậy, mục đích thông tin chi phí sản phẩm được sử dụng có thể ảnh hưởng tới cách thức xử lý thông tin chi phí khác nhau, theo yêu cầu và mức độ chính xác của thông tin chi phí sản phẩm
Với mục đích định giá sản phẩm, tác giả xem xét nghiên cứu phân loại chi phí theo mối quan hệ chi phí với mức độ hoạt động
Chi phí biến đổi
Phân loại chi phí theo mức độ hoạt động nghĩa là các chi phí này tăng giảm như thế nào khi mức độ hoạt động thay đổi Các hoạt động có thể là đơn vị sản phẩm được sản xuất, sản phẩm tiêu thụ, giờ máy… Đối với mục tiêu lập kế hoạch, người quản lý phải có khả năng thấy trước điều gì sẽ xẩy ra và nếu chi phí có sự thay đổi thì người quản lý phải xác định được chúng sẽ thay đổi bao nhiêu
Chi phí biến đổi là loại chi phí mà khi mức độ hoạt động thay đổi thì tổng chi phí thay đổi, nhưng chi phí đơn vị không thay đổi Với mục đích lập kế hoạch, ra quyết định thì chi phí biến đổi được phân loại thành: chi phí biến đổi tỷ lệ (chi phí thay đổi ngay khi mức độ hoạt động thay đổi), và chi phí biến đổi bậc thang (chi phí chỉ thay đổi theo mô hình bậc thang)
Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí biến đổi thường là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, và các chi phí sản xuất chung biến đổi… Cần lưu ý về chi phí nhân công trực tiếp, nếu trả lương theo sản phẩm thì đây
là chi phí biến đổi, nếu trả lương theo thời gian thì đây là chi phí cố định
Trang 39Theo tác giả, chi phí biến đổi là những chi phí thay đổi khi mức độ hoạt động
thay đổi Thông thường sẽ xác định chi phí thay đổi theo lượng sản phẩm sản xuất ra
Theo Garrison và cộng sự (2010), trong các ngành công nghiệp, chi phí cố định có xu hướng tăng so với chi phí biến đổi Bởi trong môi trường cạnh tranh các công ty có xu hướng tự động hóa sản xuất Nhân viên yêu cầu cao hơn, được đào tạo và khó thay thế, chi phí cho các nhân viên cũng gần như cố định
Theo Hansen và Mowen (2006) xác định chi phí là biến đổi hay cố định phụ thuộc vào khung thời gian xem xét Ngắn hạn là thời kỳ mà người ra quyết định không thể điều chỉnh năng lực Mức độ của các nguồn lực là cố định nên chi phí của các nguồn lực này là chi phí cố định Chỉ có những chi phí biến đổi trong ngắn hạn mới biến đổi theo tỷ lệ sản xuất hay các hoạt động liên quan đến sản xuất Giá bán của sản phẩm chỉ cần bù đắp được chi phí biến đổi khi xét trong ngắn hạn Dài hạn
là thời kỳ mà năng lực có thể được điều chỉnh Khi đó, có thể coi tất cả chi phí là biến đổi Chúng quan trọng cho mục đích lập kế hoạch sản phẩm vì chúng là sự ước lượng chi phí của tất cả các nguồn lực dùng để tạo ra sản phẩm Giá bán sản phẩm phải trang trải được chi phí dài hạn để thay thế nguồn lực được dùng tạo ra sản phẩm khi nguồn lực này hao mòn
Từ các phân tích trên, quan điểm của tác giả là khung thời gian xem xét rất quan trọng trong phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động, bởi chi phí có thể thay đổi từ cố định thành biến đổi, tùy thuộc vào quyết định được thực hiện trong ngắn hạn hay dài hạn Thông thường, chi phí biến đổi là những chi phí có tổng thay đổi theo mức độ hoạt động Còn chi phí cố định là chi phí không thay đổi
Trang 40khi mức độ hoạt động thay đổi Phân loại chi phí thành chi phí biến đổi, chi phí cố định là tiền đề quan trọng để nhà quản trị xác định mức giá bán sản phẩm phải bù đắp được những chi phí nào, phần tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp là bao nhiêu
Các phương pháp tách chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp bao gồm cả chi phí biến đổi và chi phí cố định Theo Garrison
và cộng sự (2010), thành phần chi phí cố định của chi phí hỗn hợp thể hiện các dịch
vụ sẵn có của công ty, phần chi phí biến đổi thể hiện chi phí phát sinh, do đó nó thay đổi theo đầu ra thực tế Để kiểm soát chi phí, nhà quản trị cần xác định thành phần chi phí biến đổi và chi phí cố định trong chi phí hỗn hợp
• Phương pháp phân tích chi phí bằng đồ thị phân tán
Theo Garrison và cộng sự (2010), phương pháp đồ thị phân tán ít được sử dụng trong thực tế khi mà các quyết định tài chính phụ thuộc chủ yếu vào số liệu
• Phương pháp cực đại - cực tiểu
Phương pháp cực đại – cực tiểu dựa vào tính toán độ dốc của đường thẳng biểu diễn chi phí – đây chính là chi phí biến đổi đơn vị
Theo Garrison và cộng sự (2010), phương pháp cực đại cực tiểu rất dễ tính toán, nhưng lại chỉ sử dụng hai điểm hoạt động Hơn nữa, giai đoạn ứng với quy mô hoạt động lớn nhất và nhỏ nhất ít khi xẩy ra Một công thức chi phí được xác định dựa trên các giai đoạn bất thường khó có thể phản ánh chi phí bình quân thực sự ở giai đoạn khác
• Phương pháp bình phương bé nhất
Phương pháp bình phương bé nhất là phương pháp sử dụng tất cả các điểm dữ liệu hoạt động Đây là phương pháp tìm ra đường hồi qui (đường chi phí) có tổng bình phương sai số hồi quy (khoảng cách từ các điểm hoạt động tới đường hồi quy) nhỏ nhất
Phương pháp bình phương bé nhất có mức độ tính toán phức tạp hơn nhưng mức độ chính xác hơn Đây là phương pháp thường được sử dụng trong thực tế
2.1.3 Hệ thống phương pháp kế toán quản trị chi phí
Những phương pháp kế toán quản trị chi phí thường được sử dụng hiện nay: phương pháp chi phí thực tế, phương pháp chi phí thông thường, phương pháp chi phí tiêu chuẩn, phương pháp chi phí trực tiếp, phương pháp chi phí toàn bộ, phương