1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)

84 349 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 868,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI PHƯƠNG NAM

QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI

LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO PHÁP LUẬT

TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI PHƯƠNG NAM

QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI

LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO PHÁP LUẬT

TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 6

1.1 Khái niệm về quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên 6

1.2 Đặc điểm và nội dung quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên 12

1.3 Các bảo đảm thực hiện quyền bào chữa người bị buộc tội là người chưa thành niên 18

Chương 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 29

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên 29

2.2 Thực tiễn thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên tại Quận Bình Tân 41

Chương 3 GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 62

3.1 Yêu cầu đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp và Hiến pháp năm 2013 62

3.2 Các giải pháp cụ thể 67

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLHS : Bộ luật hình sự

CCTP : Cải cách tư pháp

CQĐT : Cơ quan điều tra

CƯQT : Công ước quốc tế

HTND : Hội thẩm nhân dân

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Quyền bào chữa là một trong những quyền cơ bản của công dân, là quyền hiến định được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp của nước Việt Nam Hiến pháp năm 2013 của nước ta đã kế thừa các bản Hiến pháp trước đó đã quy định một cách cụ thể, rõ ràng hơn về quyền bào chữa của công dân Khoản 4 Điều 31 Hiến

pháp năm 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy

tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” Như vậy

có thể thấy, Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng phạm vi các đối tượng được đảm bảo quyền bào chữa, không chỉ bị can, bị cáo mới có quyền bào chữa như các bản Hiến pháp trước đây, mà ngay từ khi một người bị bắt, đã phát sinh quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa đối với họ và được đảm bảo bởi đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp

Người chưa thành niên phạm tội là một chủ thể đặc biệt của Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự, việc xử lý, áp dụng các thủ tục tố tụng với người chưa thành niên phạm tội đòi hỏi phải có những quy định riêng biệt

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, đã dành hẳn một chương riêng (Chương XXXII) quy định về thủ tục đối với người chưa thành niên Đó là những quy định thủ tục đặc biệt về việc bắt, tạm giữ, tạm giam; về thủ tục điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; về việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường, của người bào chữa đối với những vụ án có người chưa thành niên phạm tội Ghi nhận các quyền cũng như đảm bảo quyền tố tụng của bị can, bị cáo là người chưa thành niên Đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của họ, mà một trong những quyền đó là quyền bào chữa

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được Quốc hội khóa XIII nước ta thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 27/11/2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, có nhiều quy định được điều chỉnh, sửa đổi đã đảm bảo hơn

Trang 6

đó là quyền bào chữa

Vì vậy, người viết chọn đề tài “Quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quyền bào chữa

và bảo đảm quyền bào chữa của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự đã được công bố như:

- Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, của TS.Đỗ Thị Phượng, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2007

- Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam, của TS.Lại Văn Trình, Đại học Luật TP.HCM năm 2011

- Quyền có người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Hoa Kỳ, của TS Lương Thị Mỹ Quỳnh, NXB Chính trị Quốc gia năm 2013

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật

tố tụng hình sự Việt Nam, của TS.Trần Hưng Bình, Học Viện Khoa học xã hội, năm

Trang 7

3

chưa thành niên; đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên v.v… Tuy nhiên, vấn đề bảo đảm quyền bào chữa cho đối tượng là bị can, bị cáo là người chưa thành niên bị bắt, bị tạm giữ, bị tạm giam - đối tượng được hưởng quyền bào chữa mới được quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ Luật

Tố tụng hình sự 2015 cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

Để đạt được mục đích trên, đề tài đặt ra và giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về bảo đảm quyền bào chữa nói chung, của người bị buộc tội là người chưa thành niên nói riêng;

- Phân tích thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền bào chữa ở Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là kể từ khi Nhà nước ta ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003;

- Làm rõ khái niệm chủ thể: người bị buộc tội là người chưa thành niên trong

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Làm rõ phạm vi và mối liên hệ giữa người dưới 18 tuổi và người chưa thành niên theo quy định của pháp luật;

Trang 8

4

- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quyền bào chữa đối với người bị buộc tội là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên từ thực tiễn Quận Bình Tân, Tp.Hồ Chí Minh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên Nghiên cứu thực tiễn quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên trên địa bàn Quận Bình Tân, Tp.Hồ Chí Minh thông qua các số liệu, các báo cáo công tác của VKSND, TAND Quận Bình Tân, Tp.Hồ Chí Minh và các bản

án trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp, về quyền con người, quyền công dân

Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu phương pháp phân tích, thống kê so sánh đã được sử dụng khi phân tích những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, kết quả nghiên cứu so sánh còn chỉ ra được những ưu điểm và hạn chế, bất cập của chúng và so sánh với yêu cầu của cải cách tư pháp để xác định những định hướng hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Phương pháp tổng họp được sử dụng khi đưa ra những đánh giá về thực trạng của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 liên quan đến quyền bào chữa của người chưa thành niên phạm tội khi tham gia hoạt động tố tụng hình sự

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trang 9

tố tụng hình sự Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đánh giá đúng thực trạng áp dụng pháp luật về đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự; qua đó khắc phục được những thiếu sót, bất cập trong hoạt động này Các đề xuất, kiến nghị trong đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu, hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền bào chữa cũng như xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền bào chữa của người bị buộc tội

là người chưa thành niên

- Chương 2: Quy định pháp luật về quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên và thực tiễn áp dụng tại Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

- Chương 3: Giải pháp đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên

Trang 10

6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ

BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 1.1 Khái niệm về quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên

1.1.1 Khái niệm về quyền bào chữa trong tố tụng hình sự

Quyền con người luôn là vấn đề được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm Để đảm bảo QCN trong xã hội nói chung, các bản Hiến pháp của nước ta đều

đã ghi nhận và có nhiều điều khoản nhấn mạnh quyền công dân trong đó không thể không kể đến QBC và những đảm bảo cần thiết để quyền đó được thực hiện Việc Hiến pháp ghi nhận QBC càng thấy rõ hơn tầm quan trọng của chế định này Điều

34 Bộ luật TTHS năm 2003 cũng quy định và ghi nhận QBC của bị can, bị cáo nhằm không để bất kì người nào có thể bị hạn chế hay tước quyền cơ bản mà pháp luật đã dành cho họ

Quyền bào chữa là một trong những chế định pháp lý quan trọng và phức tạp, vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn cao Từ trước đến nay, QBC đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu song xung quanh khái niệm, nội dung, bản chất chủ thể của quyền này còn nhiều ý kiến khác nhau Do vậy, xác định khái niệm QBC trên cơ sở lí luận và thực tiễn phù hợp với quy định của pháp luật là cần thiết nhằm không ngừng phát huy dân chủ, củng cố cơ sở pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Trong pháp luật vẫn chưa có định nghĩa chính thức nào về QBC Quyền bào chữa là một chế định quan trọng trong luật TTHS và cho đến nay nó vẫn cần được làm sáng tỏ từ góc độ lý luận để làm tiền đề cho việc thực hiện nguyên tắc đảm bảo QBC cho người bị buộc tội

Hiện nay xung quanh khái niệm về QBC có nhiều quan điểm khác nhau:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền bào chữa là tổng hoà các hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc nhằm

làm giảm trách nhiệm của bị can [38, tr.33]

Trang 11

7

- Quan điểm thứ hai cho rằng, QBC được hiểu rộng hơn, nó không chỉ dừng lại ở việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hay làm giảm trách nhiệm của bị can mà nó còn được thể hiện trong cả việc đảm bảo các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của bị can kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan tới việc làm giảm trách nhiệm của bị can trong vụ án [25, tr.89]

- Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền bào chữa không chỉ thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội, người bị kết án, người bào chữa,

bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ [25, tr.89]

- Quan điểm thứ tư cho rằng, quyền bào chữa trong hộ luật tố tụng hình sự là tổng hoà các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ; bị can, bị cảo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phủ hợp với quy định của pháp ỉuậi nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng, làm gỉảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự [9, tr29]

- Quan điểm thứ 5, là quan điểm trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003: quyền bào chữa thuộc về người bị tam giữ, bị can, bị cáo

Như vậy, có thể thấy rằng khái niệm về QBC trong TTHS đã được hiểu rất khác nhau Dù sao, ta cũng thấy rằng, nhu cầu bào chữa có thể xuất hiện, tồn tại ở tất cả các giai đoạn TTHS, kể cả giai đoạn tiền khởi tố và giai đoạn thi hành án

Các luật gia Việt Nam và thế giới đều khẳng định, việc buộc tội và truy cứu TNHS đối với một người phải do cơ quan THTT thực hiện theo những thủ tục luật định và phải dựa trên những chứng cứ đúng đắn, hợp pháp và có căn cứ, nhằm mục đích không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Việc buộc tội đối với một người tất yếu dẫn đến sự hạn chế đối với một số quyền tự do về thân thể, đi lại

và các quyền cơ bản khác của người đó Vì vậy, nếu buộc tội đối với người mà thực

tế là người đó vô tội thì cũng có nghĩa là cơ quan THTT đã vi phạm QCN Tuy nhiên, dù cơ quan THTT buộc tội một người nào đó dựa trên các chứng cứ hợp pháp thì vẫn phải có nghĩa vụ đảm bảo các quyền mà pháp luật quy định cho họ (ví dụ: cho người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị can được bày tỏ thái độ của mình đối với lời buộc tội, được chứng minh là mình vô tội, đưa ra những căn cứ để minh oan

Trang 12

đã và đang bị áp dụng biện pháp cưỡng chế TTHS Nói cách khác, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam là chủ thể bị buộc tội Đối với bị can, bị cáo thì sự buộc tội đối với họ đã được khẳng định bằng quyết định khởi tố và bản cáo trạng nên đương nhiên pháp luật phải quy định cho họ QBC Như vậy QBC thông thường xuất hiện khi một người bị cơ quan THTT ra quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp có người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam thì QBC xuất hiện sớm hơn khi họ bị cơ quan THTT ra quyết định tạm giữ, tạm giam và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa

1.1.2 Khái niệm người chưa thành niên và người bị buộc tội là người chưa thành niên

Điều 1 phần 1 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em có hiệu lực từ ngày

02/9/1990 quy định “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó quy định độ tuổi thành niên sớm hơn” Theo Công ước, trẻ em bao gồm tất cả những ai chưa phải là

người lớn, nghĩa là những ai dưới 18 tuổi thì được hưởng mọi quyền lợi được ghi

Trang 13

Do đó, có thể thấy rằng, khi đưa ra khái niệm về trẻ em hay người CTN trong pháp luật quốc tế không dựa vào các đặc điểm tâm - sinh lý hay sự phát triển thể chất, tinh thần mà trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xác định độ tuổi Kể cả khái niệm trẻ em và khái niệm người CTN đều giới hạn là dưới 18 tuổi, đồng thời đưa ra khả năng mở cho các quốc gia tùy điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, truyền thống của mình có thể quy định độ tuổi sớm hơn Nội dung các quy tắc trên có tính đến sự đa dạng và cơ cấu pháp luật của các quốc gia, phản ánh mục đích và tinh thần tư pháp người CTN, đề ra những nguyên tắc mong muốn và thông lệ đối với việc quản lý những người CTN vi phạm pháp luật

Người CTN trong pháp luật Việt Nam được xác định tương đối thống nhất trong các đạo luật: Hiến pháp năm 2013, BLHS năm 1999, Bộ luật TTHS năm

2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Luật xử lý vi phạm Hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác Các văn bản pháp luật này đều quy định độ tuổi của người CTN là người dưới 18 tuổi và trong từng lĩnh vực cụ thể đều có những chế định pháp luật hoặc các quy định riêng cho người CTN

Chúng ta cũng cần chú ý phân biệt khái niệm người CTN khác với khái niệm

trẻ em theo Luật trẻ em năm 2016: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”

Như vậy, về độ tuổi thì người CTN là người chưa đủ 18 tuổi Ở độ tuổi này, những đặc điểm về tâm sinh lý của người CTN có những biểu hiện khá phức tạp và mang những đặc trưng riêng tùy theo giai đoạn phát triển

Trang 14

10

Cho dù còn có những cách đặt vấn đề khác nhau, song nhìn chung quan niệm

về người CTN được hiểu là: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất, tinh thần, tâm lý và nhân cách, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên” [30, tr38]

Người bị buộc tội là khái niệm mới của luật TTHS Việt Nam, nhiều văn bản pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới đã quy định đối tượng này là chủ thể của TTHS Công ước Châu Âu về QCN cũng đã đề cập đến đối tượng này

Để làm rõ khái niệm người bị buộc tội thì phải xuất phát từ khái niệm “Sự buộc tội” theo đó sự buộc tội chỉ xuất hiện khi một người bị cáo buộc là đã thực

hiện một hành vi mà BLHS coi là tội phạm Sự buộc tội được coi là hình thành từ thời điểm một người được thông báo chính thức bởi cơ quan có thẩm quyền về những chứng cứ rõ ràng cho rằng người đó đã thực hiện hành vi phạm tội, và kể từ thời điểm đó một người bị coi là người bị buộc tội trong VAHS Sự buộc tội sẽ tồn tại và kéo dài trong suốt quá trình tố tụng chứng minh hành vi của người bị cáo buộc có tội hay không có tội và kết thúc bằng một quyết định hoặc bản án có hiệu

lực pháp luật của cơ quan THTT Như vậy: Người bị buộc tội là người bị cơ quan

có thẩm quyền cáo buộc đã thực hiện một hành vi tội phạm bằng thông báo chính thức

Với quan điểm, buộc tội và bào chữa song song tồn tại, ở đâu có buộc tội, thì

ở đó có bào chữa mới thể hiện tính dân chủ, đảm bảo QCN trong TTHS Với quá trình xây dựng, sửa đổi Bộ luật TTHS, để nhằm đảm bảo quyền cho những đối tượng này, chủ thể bị buộc tội ngày càng mở rộng, mặc đù trong các Bộ luật TTHS năm 1988 và Bộ luật TTHS năm 2003 chưa ghi nhận cụ thể đối tượng người bị buộc tội, nhưng đã quy định bị can, bị cáo có quyền bào chữa Bộ luật TTHS năm

2003, ngoài bị can, bị cáo còn quy định thêm đối tượng là người bị tạm giữ có QBC hoặc nhờ người khác bào chữa Hay nói một cách gián tiếp đã xem người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người bị buộc tội

Để thống nhất trong hoạt động tố tụng cũng như phù hợp với các quy định của CƯQT, luật pháp của các nước tiên tiến trên thế giới, Bộ luật TTHS năm 2015

Trang 15

là người CTN khi thực hiện một hành vi phạm tội đều bị buộc tội hay phải chịu

trách nhiệm hình sự Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: “1 Người từ đủ

16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; 2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”

Do đó, có thể đưa ra khái niệm người bị buộc tội là người CTN chính xác như sau: Người bị buộc tội là người CTN là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi

1.1.3 Khái niệm quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên

Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là tổng hợp các quyền năng tố tụng

hình sự của người bị buộc tội có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội đối với họ của các cơ quan tiến hành tố tụng, hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của họ trong vụ án hình sự

Như vậy, quyền bào chữa của người bị buộc tội là người CTN từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi - là tổng hợp các quyền năng tố tụng hình sự của họ có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội đối với họ của các cơ quan tiến hành tố tụng, hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của họ trong vụ án hình sự

Có thể thấy quyền bào chữa của người bị buộc tội là người CTN cũng giống như quyền bào chữa của người đã thành niên Nhưng đặc biệt hơn, ngoài các quyền bào chữa như người đã thành niên, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 Bộ luật TTHS năm 2003, khi người bị buộc tội là người CTN hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời NBC thì các cơ quan THTT có nghĩa vụ yêu cầu Đoàn luật

sư hoặc đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc cử NBC cho họ Điều này thể hiện tính nhân văn trong chính sách hình sự và mang ý nghĩa chính trị sâu sắc: quyền công

Trang 16

12

dân được tôn trọng và bảo đảm, hay nói một cách khác quyền dân chủ của công dân

và cơ chế tự do dân chủ ở nước ta ngày càng phát triền và mở rộng trong thời kỳ mở cửa và hội nhập quốc tế

1.2 Đặc điểm và nội dung quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên

1.2.1 Đặc điểm quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên

Qua xem xét lịch sử của TTHS thế giới trước đây, hầu như không có sự phân biệt đáng kể của nhà nước và xã hội đối với người bị buộc tội là người thành niên

và người bị buộc tội là người CTN trong các VAHS Người ta chỉ quan niệm đơn giải rằng người bị buộc tội là người chưa thành niên chỉ là người bị buộc tuổi còn nhỏ Đến cuối thế kỷ 19, mới hình thành thái độ của nhà nước về người bị buộc tội

là người CTN trong VAHS Thay đổi cách nhìn đối với họ và xem họ là đối tượng cần bảo vệ đặc biệt và hình thành nên tư tưởng lập pháp về TTHS đối với người bị buộc tội là người CTN Tư tưởng này trở thành xu hướng chung ngày càng mang tính nhân văn, hình thành những chuẩn mực chung về thái độ của nhà nước đối với người bị buộc tội là người CTN cho đến nay

Bộ luật TTHS năm 2003 đã bắt kịp xu hướng chung này của TTHS thế giới khi nhìn nhận thủ tục TTHS đối với người CTN là một trong những thủ tục tố tụng đặc biệt quy định tại Chương XXXII (Chương XXVIII thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, Bộ luật TTHS năm 2015) Tính chất đặc biệt của thủ tục này thể hiện

ở chỗ chúng được áp dụng đối với người CTN đồng thời đối với những quy định khác của Bộ luật TTHS nếu các quy định này không trái với những quy định đặc thù BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về chính sách hình sự đối với người CTN phạm tội tại Điều 69 chủ yếu liên quan đến năng lực chịu TNHS, mục đích áp dụng TNHS nặng về giáo dục, giúp họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh để họ trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội chứ không nặng về trừng phạt Còn chính sách hình sự trong TTHS đối với người bị buộc tội là người CTN có những quy định nhằm bảo đảm một cách tốt nhất QBC cho đối tượng này,

Trang 17

13

hạn chế một cách tối đa việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế, hạn chế một cách thấp nhất những tác động không thể ừánh khỏi về tâm lý đối với người bị buộc tội là người CTN do hoạt động TTHS gây ra, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc làm rõ những nguyên nhân, điều kiện phạm tội của họ để Tòa án có thể xét xử

và tuyên bản án có tác động tích cực nhất đến tâm lý của đối tượng này Để thống nhất với tư tưởng chủ đạo trong CƯQT về quyền trẻ em đã nêu ở trên, về lý thuyết chính sách hình sự trong lĩnh vực TTHS đối với người bị buộc tội là người CTN cần bao gồm hai nội dung sau đây:

Mở rộng QCN tức là quyền tố tụng của người CTN so với người thành niên Người bị buộc tội là người CTN có đầy đủ các quyền tố tụng như người bị buộc tội

là người thành niên Bên cạnh đó, họ còn được thừa nhận những quyền tố tụng đặc thù để có thể bảo vệ một cách tốt nhất, thuận lợi nhất quyền và lợi ích chính đáng của mình

Mở rộng những bảo đảm QCN của người bị buộc tội là người CTN trong hoạt động TTHS Một trong những bảo đảm quan trọng QCN của đối tượng này là những quy định, trình tự, điều kiện riêng hoặc có tính chất bổ sung khi thực hiện những hành vi tố tụng đối với họ

Trong hoạt động TTHS, QBC là quyền quan trọng nhất của người vi phạm pháp luật hình sự Đây là tổng hợp các hành vi tố tụng do người bị buộc tội thực hiện nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan THTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ TNHS của mình trong VAHS Thông thường sự tham gia của NBC phụ thuộc vào ý chí của người bị buộc tội Họ có thể trực tiếp mời hoặc

ủy quyền cho người thân của mình mời NBC Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt luật quy định sự tham gia của NBC vào trong vụ án không phụ thuộc vào ý chí của người bị buộc tội Đó là các trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều

57 Bộ luật TTHS năm 2003 khi những chủ thể này hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời NBC thì các cơ quan THTT có nghĩa vụ yêu cầu Đoàn luật sư hoặc đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc cử NBC cho họ Đó là những trường hợp liên

Trang 18

cơ quan THTT Sự đối trọng, phản biện của hoạt động bào chữa đối với hoạt động của các cơ quan thực hiện chức năng buộc tội CQĐT, VKS chính là yếu tố hạn chế sai lầm, hạn chế làm oan người vô tội trong hoạt động của những cơ quan này đồng thời buộc những cơ quan này phải không ngừng hoàn thiện năng lực chuyên môn nghiệp vụ của mình nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội trong đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ QCN trong TTHS

1.2.2 Nội dung quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên

Trong lịch sử pháp luật TTHS trước đây, địa vị pháp lý của người bị buộc tội chưa được xác định rõ ràng nên họ thường bị coi là có tội và một khi đã bị coi là có tội, mặc nhiên số phận của họ là số phận của kẻ bị tước phần lớn các quyền công dân Hiện nay, với nguyên tắc coi người bị buộc tội là những người chưa có tội nên pháp luật TTHS đã đành cho họ nhiều quyền trong suốt các giai đoạn tố tụng

Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không

có tội cho đến khi được chứng mình theo trình tự luật định và cỏ bản án kết tội của Tòa án đã cỏ hiệu lực pháp luật” Mục đích của những quy định chủ yếu là đặt ra

những yêu cầu đối với các cơ quan và những người THTT phải có sự thận trọng, vô

tư và đề cao tinh thần trách nhiệm làm rố các chứng cứ buộc tội cũng như gỡ tội, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, tránh làm oan người vô tội và bỏ lọt người phạm tội Việc nâng cao hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật không thể thiếu sự củng cố và tăng cường nguyên tắc bảo đảm QBC của người bị buộc tội Nếu như QBC là khả năng sử dụng những quyền tố tụng để bảo vệ những quyền và

Trang 19

15

lợi ích hợp pháp thì biện pháp bào chữa là các hành động cụ thể để thực hiện quyền

ấy như làm đơn khiếu nại, kháng cáo.v.v Nói cách khác, đảm bảo QBC chính là cơ chế thực hiện QBC ghi nhận trách nhiệm của cơ quan, người THTT, các tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước khác phải tạo điều kiện giúp người bị buộc tội thực hiện QBC Tại điểm d khoản 3 Điều 14 của CƯQT về các quyền chính trị, dân sự quy

định khi bị khởi tố về hình sự, bất cứ ai (bao gồm cả trẻ em) cũng có quyền: “Tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý của người khác theo sự lựa chọn của mình; được thông tin về quyền trên nếu họ không có người bào chữa; và trong trường hợp cần thiết được cử người bào chữa mà không phải trả tiền nếu họ không

có đủ tiền để trả”

Theo quy định tại Điều 11 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định về việc bảo

đảm QBC của người bị buộc tội, trong đó nêu rõ: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này” Tại Điều này tuy không

quy định rõ quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chửa của người CTN nhưng với quy định chung về quyền này của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì đương nhiên người CTN trong trường hợp là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng

sẽ có đầy đủ quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Còn các cơ quan THTT có trách nhiệm bảo đảm để cho người bị buộc tội là người CTN thực hiện QBC của mình

1.2.2.1 Về quyền tự bào chữa

Tự bào chữa là quyền năng tố tụng đặc thù được pháp luật ghi nhận và bảo đảm cho phép người bị buộc tội tự thực hiện các hành vi tố tụng và quyền tố tụng nhằm minh oan, bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ TNHS của mình Tự bào chữa là một trong những hình thức thực hiện QBC của người bị buộc tội và là nội dung quan trọng của QBC trong TTHS Pháp luật cho phép họ được tự mình thực hiện các hành vi tố tụng, như đùng lý lẽ đưa ra chứng cứ và những yêu cầu có lợi cho mình khi tham gia tố tụng mà không nhất thiết phải có sự tham gia của NBC

Trang 20

16

Đối với bị can, bị cáo là người CTN, người bị nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc bị truy tố về một tội mà khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại BLHS mà bị can, bị cáo hoặc người đại diện họp pháp của họ không mời NBC thì CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử NBC cho họ hoặc đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử NBC cho thành viên của tổ chức mình

Từ những phân tích trên đây, chúng tôi có thể đưa ra khái niệm tự bào chữa

cho người bị buộc tội là người CTN như sau: “Tự bào chữa là quyền năng tố tụng đặc thù được pháp luật ghi nhận và bảo đảm cho phép người bị buộc tội là người CTN tự mình có thể thực hiện các hành vi tố tụng và quyền tố tụng nhằm bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình ” [30, tr51]

Để thực hiện quyền tự bảo vệ mình trước sự buộc tội của các cơ quan THTT,

Bộ luật TTHS quy định cho người bị buộc tội được biết mình bị khởi tố về tội gì; được nhận quyết định khởi tố, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chĩ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố; các quyết định

tố tụng khác theo quy định của pháp luật TTHS; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu

Tuy được pháp luật quy định cho các quyền nêu trên nhưng trong thực tế vì trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế, sự hạn chế về mặt nhận thức hay vì những

lý đo khác nhau mà người bị buộc tội là người CTN thường không thể vận dụng có hiệu quả quyền tự bào chữa Do đó, để bảo đảm quyền tự bào chữa của người bị buộc tội là người CTN đòi hỏi CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án phải có trách nhiệm giải thích cho họ biết những biện pháp do luật định và tạo mọi điều kiện để họ có thể vận dụng các quyền nêu trên Nếu các cơ quan THTT không đảm bảo cho người

bị buộc tội là người CTN thực hiện QBC có nghĩa là vi phạm quy định của pháp luật TTHS

1.2.2.2 Về quyền nhờ người khác bào chữa

Quyền nhờ người khác bào chữa là hình thức giúp đỡ pháp lý của luật sư hay những người khác theo quy định của pháp luật nhằm hỗ trợ cho người bị buộc tội

Trang 21

17

thực hiện QBC của mình khi họ không đủ khả năng tự mình thực hiện hoặc trong những trường hợp pháp luật quy định bắt buộc phải có NBC nhằm bảo đảm tính khách quan và tính hợp pháp của các hoạt động TTHS

Quyền nhờ người khác bào chữa là một phần của QBC và là một đảm bảo quan trọng để người bị buộc tội thực hiện các quyền tố tụng khác mà pháp luật quy định để bào chữa trước sự buộc tội của cơ quan THTT

Quy tắc 15.1 của Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về tư pháp người CTN (Quy tắc Bắc Kinh) quy định: “Trong suốt quả trình tố tụng, người chưa thành niên có quyền được nhờ cố vấn pháp lý đại diện cho mình hoặc yêu cầu sự giúp đỡ pháp lý miễn phí như điều khoản quy định sự giúp đỡ như thể ở quốc gia đổ

Và tại Quy tắc 18 (a) của Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người CTN bị tưởc quyền tự do quy định: "Người chưa thành niên cần phải có quyền có luật sư bào chữa và có quyền yêu cầu sự giúp đỡ pháp ỉỷ khống phải trả tiền, nếu sự giúp đỡ đó

có sẵn, và có quyền thường xuyên tiếp xúc với luật sư của mình Các bí mật và sự riêng tư trao đổi đó phải được đảm bảo

Thực tiễn cho thấy, không phải người bị buộc tội nào cũng có khả năng thực hiện quyền tự bào chữa một cách có hiệu quả, bên cạnh đó, xuất phát từ tâm sinh lý của người CTN, là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện, tinh thần, nhận thức pháp luật hạn chế, nên người CTN không thể tự mình bào chữa mà họ phải cần có

sụ hỗ trợ và đối xử đặc biệt ngay cả trong trường hợp họ vi phạm pháp luật Chính

vì sự phát triển chưa đầy đủ đó có thể cản trở, gây khó khăn, hạn chế họ thực hiện QBC của mình Vì vậy, để đảm bảo hơn cho QBC của người người bị buộc tội CTN, đồng thời để giúp đỡ họ về mặt pháp lý, nhà làm luật đã quy định rằng cơ quan THTT có trách nhiệm mời NBC cho các chủ thể này khi họ hoặc đại diện hợp pháp của họ không mời được NBC mà muốn có NBC

Sự tham gia tố tụng của NBC là rất cần thiết, bằng kinh nghiệm nghề nghiệp

và sự hiểu biết của mình, NBC tham gia vào quá trình giải quyết vụ án để có thể giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người CTN Đồng thời, sự tham gia của

Trang 22

bổ sung ý kiến bào chữa

1.2.2.3 Về quyền được bào chữa chỉ định

Người bị buộc tội là người CTN với đặc điểm lứa tuổi là những người chưa phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, tâm sinh lý chưa ổn định, với nhiều suy nghĩ và hành động còn mang tính bột phát, cảm tính, chưa có đầy đủ năn lực dể kiểm soát hành vi của mình Chính vì vậy ngoài các quyền lợi giống như người thành niên phạm tội pháp luật TTHS còn có những quy định dành riêng cho người

bị buộc tội là người CTN Về quyền bào chữa cũng vậy, người bị buộc tội là người CTN do chưa phát triển đầy đủ, chưa có kinh nghiệm sống, chưa có kiến thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế Cho nên họ không thề thực hiện quyền tự bào chữa của mình một cách tốt nhất, vì vậy pháp luật TTHS quy định ngoài quyền tự bào chữa, nếu họ hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người khác bào chữa thì sẽ được các cơ quan THTT chỉ định bào chữa

1.3 Các bảo đảm thực hiện quyền bào chữa người bị buộc tội là người chưa thành niên

1.3.1 Bảo đảm về mặt pháp lý

Quyền bào chữa là một trong những chế định quan trọng của luật TTHS Trong thực tế, khi nói đến bào chữa, người ta thường cho ràng đó là chức năng đối lập với chức năng buộc tội Nếu hiểu như vậy là hoàn toàn sai lầm, bởi lẽ, khi Viện kiểm sát đã truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì việc bào chữa không làm cho bị cáo trở thành vô tội, mà chỉ có thể đưa ra những tình tiết giảm nhẹ

Trang 23

19

TNHS cho bị can, bị cáo Buộc tội và bào chữa luôn song song tồn tại QBC, đó là một trong những quyền cơ bản của công dân khi tham gia tố tụng với tư cách là người bị buộc tội Bảo đảm QBC của người bị buộc tội nói chung xuất phát tò yêu cầu bảo vệ QCN và bảo đảm nguyên tác xác định sự thật của vụ án trong TTHS Cơ

sở pháp lý của việc bảo đảm QBC của người bị buộc tội được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp từ năm 1945 đến nay

Quyền bào chữa của người bị buộc tội được ghi nhận trong các văn bản pháp luật hiện hành một cách đầy đủ nhất Điều 11 Bộ luật TTHS năm 2003 đã quy định việc bảo đảm và cơ quan có trách nhiệm trong việc bảo đảm thực hiện QBC của người bị buộc tội Ngoài ra Bộ luật TTHS năm 2003 còn có nhiều quy định liên quan đến việc thực hiện và tạo điều kiện cho việc thực hiện QBC của người bị buộc tội ở các điều khác nhau như các điều 56, 57, 58, 190, 217 Trong đó quy định về quyền của người bị buộc tội khi tham gia tố tụng; về nghĩa vụ của NBC, những trường hợp cơ quan THTT phải đảm bảo có sự tham gia của NBC; trường hợp bào chữa chỉ định mà NBC vắng mặt tại phiên tòa thì HĐXX phải hoãn phiên tòa; NBC được trình bày lời bào chữa sau khi kiểm sát viên trĩnh bày lời luận tội Những trường hợp vi phạm các quy định trên đều ảnh hưởng tới QBC của người bị buộc tội nói chung và bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Tùy theo giai đoạn tố tụng mà có các chế tài tố tụng khác nhau như trả hò sơ để điều tra bổ sung hay hủy

án để điều tra lại hoặc xét xử lại Luật Tổ chức TAND năm 2014 cũng quy định cụ

thể: “Tòa án có trách nhiệm bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo

vệ lợi ích hợp pháp của đương sự” Văn bản pháp lý góp phần quan trọng trong

việc bảo đảm thực hiện QBC của người bị buộc tội, đó là Luật luật sư năm 2006 Đây là một trong những bước tiến mới trong quá trình hoàn thiện chế định luật sư nói chung và QBC của người bị buộc tội nói riêng Luật Luật sư năm 2006 thể hiện

sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động bổ trợ tư pháp nói chung và QBC của người bị buộc tội nói riêng

Các quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục TTHS đối với người CTN mặc dù chưa được đầy đủ nhưng cũng đã thể hiện rõ chính sách hình sự của Nhà

Trang 24

những sửa đổi bổ sung lớn nhằm đảm bảo và hoàn thiện quyền con người, quyền công dân trong đó có quyền bào chữa Điều 16 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội và cơ quan, người có thẩm quyền THTT có trách nhiệm trong việc bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện đầy đủ QBC của họ Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa

1.3.2 Bảo đảm về mặt tổ chức

Bộ luật TTHS năm 2003 đã dành toàn bộ Chương XXXII - Phần thứ bảy để quy định về thủ tục tố tụng đối với người CTN Thủ tục tố tụng đối với người bị buộc tội là người CTN được áp dụng theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật TTHS không trái với những quy định của Chương này Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến việc bảo vệ quyền trẻ em và có những

nỗ lực rất lớn trong lĩnh vực này QCN nói chung và quyền trẻ em nói riêng được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau, rất đa dạng Chính vì vậy mà việc bảo vệ các quyền đó cũng rất đa dạng, bằng những phương thức, phương tiện và biện pháp khác nhau cả về mặt tồ chức, quản lý, hành chính, kinh tế lẫn các biện pháp pháp lý, đặc biệt là lĩnh vực TTHS Luật TTHS bảo vệ các quyền của trẻ em theo cách riêng của mình “Đó là trao cho các em những quyền tố tụng để họ tự bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời quy định những điều khoản nhằm bảo đảm cho việc điều tra, truy

tố, xét xử VAHS được khách quan, toàn diện và đúng pháp luật, tránh làm oan người vô tội”

Như chúng ta đều biết, khi nói đến TTHS là nói đến trình tự, thủ tục điều tra, truy tố, xét xử một VAHS cũng như quyền và nghĩa vụ của những người tham gia

Trang 25

21

tố tụng Người CTN tham gia TTHS với nhiều tư cách rất khác nhau, do đó địa vị pháp lý của họ trong TTHS cũng rất khác nhau Từ đó, các quy định của pháp luật TTHS để bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người CTN cũng có những nét riêng Trước hết, người CTN tham gia TTHS với tư cách là người bị buộc tội Chúng ta đều biết rằng trong TTHS người bị buộc tội là nhân vật trung tâm, mọi hoạt động TTHS đều xoay quanh việc tìm kiếm các chứng cứ để kết tội hoặc gỡ tội cho người bị buộc tội Có thể nói rằng không có người bị buộc tội thì không có VAHS Chính vì người bị buộc tội có một vị trí trung tâm, một địa vị pháp

lý đặc biệt để tự bảo vệ mình và nếu người bị buộc tội lại là người CTN thì cần có những cơ chế hữu hiệu hơn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các em, bởi lẽ họ là những người còn non nớt, chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về trí tuệ và thể chất, họ đang ở trong thời kỳ hình thành nhân cách, nhận thức và hiểu biết xã hội còn hạn chế Xuất phát từ nhận thức này mà Bộ luật TTHS nãm 2003 đã đành một chương riêng quy định về thủ tục TTHS đối với những vụ án mà người bị buộc tội là người CTN Những điều khoản của Chương XXXII là những quy định đặc biệt áp dụng cho bị can, bị cáo là người CTN Bên cạnh đó, ngoài những quy định này ra thì những quy định chung khác của Bộ luật TTHS cũng được áp dụng Để cơ quan THTT thực hiện tốt nhiệm vụ trên theo quy định của pháp luật, nhà nước đã thành lập một số cơ quan, tổ chức như các đoàn luật sư, văn phòng luật sư, các tổ chức TGPL, các cơ quan bổ trợ tư pháp các cơ quan, tổ chức này đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ có hiệu quả quyền, lợi ích hợp pháp của công dân cũng như QBC của người bị buộc tội nói chung Kế thừa, phát triển quy định trên của bộ luật TTHS năm 2003, Bộ luật TTHS năm 2015 quy định về thủ tục tố tụng đối với người CTN ở Chương XXVIII thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, đã có những quy định cụ thể, chặt chẽ hơn để đảm bảo QBC của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi

Cơ quan THTT là những cơ quan được Bộ luật TTHS quy định có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện QBC của họ như đã khẳng định ở trên, phải được tổ chức một cách hợp lý nhằm tăng cường tốt hơn nữa mối quan hệ giữa

Trang 26

22

CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án trong quá trình tiến hành giải quyết VAHS, đảm bảo đúng thời hạn theo quy định của pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Việc đảm bảo QBC của người CTN tiếp tục được khẳng định và đảm bảo trong Bộ luật TTHS năm 2015, ngoài việc tiếp tục khẳng định lại những quy định trên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung một số quyền mới đã giúp cho người bị buộc tội có chỗ đứng công bằng trong quá trình tranh tụng, trong quá trình chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình Những quyền mới đó là: Trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá (Điều 58, 59,

60 và 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) Đối với bị can, bị cáo, một số quyền mới khác cũng được quy định bổ sung góp phần tạo điều kiện cho người bị buộc tội thực hiện việc gỡ tội cho mình Đối với bị can, được bổ sung thêm quyền đề nghị giám định, định giá tài sản; quyền được đọc, ghi chép bản sao hoặc tài liệu đã được

số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu Đối với bị cáo, được bổ sung thêm quyền đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị triệu tập người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người giám định, người định giá tài sản, điều tra viên tham gia phiên tòa; đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi những người tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa; Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến của người bào chữa, người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận

Vì vậy, khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, cơ quan THTT phải chú trọng thực hiện hai nhiệm vụ: bảo vệ sự thật, bảo vệ pháp luật; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội là người CTN Chính các biện pháp bảo đảm QBC của người bị buộc tội là người CTN sẽ tạo điều kiện cho cơ quan THTT,

Trang 27

23

người THTT, người tham gia tố tụng phát huy được năng lực trí tuệ của mình, làm cho hoạt động tố tụng thực sự khách quan, công bằng trên cơ sở tôn trọng các quyền

cơ bản của người CTN

Bên cạnh những bảo đảm nêu trên, pháp luật còn quy định: điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán phải là những người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo đục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người CTN (khoản 1 Điều 302 Bộ luật TTHS năm 2003) Để khắc phục những cách hiểu chung chung và những hạn chế của người THTT đối với người bị buộc tội là

NCT trong thời gian qua, Bộ luật TTHS năm 2015 đã cụ thể: “Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán tiến hành tố tụng đối với vụ án có người chưa thành niên phải

là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan người chưa thành niên, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người chưa thành niên, ”

Xuất phát từ những đặc điểm tâm sinh lý của người CTN, nếu đội ngũ những người THTT là những người có kiến thức chuyên môn về tâm sinh lý lứa tuổi thì sẽ

dễ dàng trong việc nắm bắt tâm tư, tĩnh cảm của người CTN, qua đó giúp người CTN phạm tội nhận thức được lỗi lầm, tự giác sửa chữa lỗi làm để trở lại thành công dân tốt Đây cũng là những tiêu chí, điều kiện cần thiết để những người THTT

có thể hiểu và có những phương pháp phù hợp khi tiến hành hoạt động điều tra, truy

tố, đảm bảo nguyên tắc “Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân

có ích cho xã hội”

Như vậy, để bảo đảm thực hiện QBC của người bị buộc tội là người CTN trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, các cơ quan THTT, các cơ quan bổ trợ tư pháp như đoàn luật sư, các tổ chức TGPL phải luôn được hoàn thiện về mặt tổ chức cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn đề ra Sự hoàn thiện về tổ chức của các cơ quan nói trên cùng với việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm của những người tiến hành và tham gia tố tụng thì

Trang 28

Cơ quan và người THTT là những chủ thể trực tiếp tiến hành các hoạt động

tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ làm sáng tỏ các yếu tố của đối tượng chứng minh và tiến hành giải quyết vụ án trọng phạm vi quyền hạn của mình Trước hết họ phải nhận thức được việc bảo đảm thực hiện QBC của người bị buộc tội là người CTN chính là giúp họ giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Đây cũng là nhiệm vụ mà nhà nước giao cho họ thực hiện Nhiều điều tra viên chưa nhận thức đúng vai trò của NBC trong TTHS Đối với kiểm sát viên, thẩm phán cũng không ít người có nhận thức tương

tự Họ cho rằng, tội phạm đã rõ ràng thì luật sư không thể bào chữa cho kẻ phạm tội Thậm chí một số thẩm phán cho rằng luật sư chỉ gây khó khăn cho công tác xét

xử, vì thế mà có thái độ không đúng đối với luật sư

Trong khoa học TTHS và thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn xuất hiện tư tưởng hạ thấp vai trò của NBC Điều này rất nguy hiểm vì cho rằng NBC gây khó khăn cho việc điều tra tội phạm, làm yếu đi hiệu quả của cuộc đấu tranh chống tội phạm, giúp cho kẻ phạm tội trốn tránh TNHS Quan niệm như vậy đối với NBC là trái với quy định của pháp luật và chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta Việc bào chữa kiên định, dũng cảm trong TTHS chẳng những không cản trở mà còn thúc đẩy cuộc đấu tranh chống tội phạm, khắc phục những sai lầm trong việc xử lý án, xét xử không có căn cứ người vô tội

Với nhiệm vụ xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đây đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhỉệm của người bị buộc tội là người CTN, bảo

Trang 29

25

vệ kỷ cương pháp luật song song với việc phát huy tính dân chủ, thì trách nhiệm của

cơ quan THTT một mặt phải nghiêm chỉnh tuân thủ, tránh tình trạng vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, một mặt phải bảo đảm đúng pháp luật, tránh mọi sai lầm có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp người bị buộc tội là người CTN Do vậy, việc góp phần cùng cơ quan THTT xác định sự thật khách quan trong vụ án của NBC là cần thiết Đó không phải là gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử như một số ngườỉ THTT thường nghĩ Khi giải quyết VAHS, cơ quan THTT phải nhận thức rằng:

Là người trực tiếp giải quyết VAHS, hơn ai hết người THTT phải am hiểu thấu đáo những quy định của pháp luật về QBC của người bị buộc tội là người CTN Họ có nghĩa vụ phải giải thích cho người bị buộc tội là người CTN hiểu rõ QBC, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để những chủ thể này và NBC thực hiện QBC Muốn vậy, ngoài việc nâng cao năng lực chuyên môn những người THTT phải có ý thức tuân thủ và nhận thức một cách nghiêm túc và đúng đắn về vấn đề này

Sự tham gia của NBC là yếu tố khách quan để vụ án giải quyết được đúng đắn NBC có vai trò quan trọng trong việc đưa ra những chứng cứ và đánh giá chúng giúp cơ quan THTT tránh được thiếu sót đáng tiếc có thể xảy ra khi giải quyết vụ án

Về phía NBC, họ là những người am hiểu pháp luật cùng với việc tham gia

tố tụng để bảo vệ người bị buộc tội là người CTN họ còn có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật vì thế, hơn ai hết, NBC nhận thức rất đầy đủ về vấn đề này Bảo vệ người bị buộc tội là người CTN không có nghĩa là giúp họ lẩn tránh hoặc thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật đối với hành vi phạm tội mà họ đã gây ra, mà phải trên cơ sở của pháp luật bảo đảm nguyên tắc không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Việc tham gia tố tụng của NBC không chỉ bảo vệ người bị buộc tội mà còn là một hình thức giám sát việc thực thi pháp luật của cơ quan THTT Sự có mặt của NBC trong một số trường hơp góp phần vào việc phòng chống các hiện tượng bức cung, nhục hình đối với người bị buộc tội Khi tham gia tố tụng, người bị buộc tội

Trang 30

26

thường cho rằng đối với điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán thì họ chỉ là người phạm tội do vậy, cho dù họ có thanh minh hay giải thích gì thì cũng chỉ là vô ích mà thôi Do đó khi NBC tham gia giúp người bị buộc tội nhận thức đúng đắn hơn nữa QBC của mình

Trang 31

27

Kết luận chương 1

Các quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục TTHS đối với người CTN mặc dù chưa được đầy đủ nhưng cũng đã thể hiện rất rõ chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam đối với người CTN Có thể nói, toàn bộ hệ thống các nguyên tắc TTHS, cũng như trình tự, thủ tục tố tụng là những bảo đảm buộc cơ quan THTT, người THTT phải thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng Biểu hiện rõ nét nhất của các quyền năng tố tụng của những người tham gia tố tụng là nguyên tắc bảo đảm QBC - một quyền Hiến định,

và nhất là đối với các chủ thể là người CTN Vì vậy, các giai đoạn TTHS được quy định trong luật là bảo đảm để cơ quan THTT, người THTT phải thực hiện những nghĩa vụ trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia

tố tụng, nhất là bị can, bị cáo là người CTN

Việc ghi nhận và thực hiện bảo đảm QBC của người bị buộc tội là người CTN thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm thực hiện có hiệu quả các QCN trong lĩnh vực tư pháp một lĩnh vực nhạy cảm được toàn xã hội quan tâm, Nhà nước ban hành pháp luật TTHS là việc thể chế hỏa đường lối, chính sách của Đảng về TTHS, bảo đảm mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; là tạo cơ sở vững chắc cho mọi người tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành và thực hiện các giá trị xã hội được thừa nhận, bảo vệ, mà nổi bật trong các giá trị đó là QCN, quyền của người bị buộc tội

Pháp luật TTHS là công cụ sắc bén, hữu hiệu của Nhà nước để bảo đảm thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội Với những đặc điểm riêng của mình, những quy định của pháp luật về bảo đảm QBC của người bị buộc tội là người CTN có tính bắt buộc bằng cách xác lập những điều cấm mà bất cứ ai, kể cả người THTT cũng không được vi phạm, đồng thời, pháp luật được bảo đảm thi hành bằng bộ máy nhà nước cùng với sức manh xã hội Vì vậy, các quy định của pháp luật về quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội là người CTN được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của Nhà nước, chống mọi hành vi xâm hại Như vậy, pháp

Trang 32

và cá nhân ừong việc bảo đảm quyền và lợi ích hơp pháp của người bị buộc tội là người CTN trong TTHS

Đối với các cơ quan THTT, bảo đảm QBC của người bị buộc tội là người CTN có ý nghĩa định hướng và chỉ đạo trong lĩnh vực TTHS hết sức khó khăn và nhạy cảm Đây là lĩnh vực mà QCN nói chung và quyền trẻ em nói riêng dễ bị xâm hại từ phía các cơ quan THTT, người THTT Vì vậy, việc nắm vững bản chất, ý nghĩa bảo đảm QBC của người bị buộc tội là người CTN sẽ giúp cho những người thực thi pháp luật tránh được những sai sót, vi phạm QCN, vi phạm quyền trẻ em Việc bảo đảm QBC của người bị buộc tội là người CTN còn cung cấp cơ sở pháp lý cho việc nhận thức đúng đắn địa vị pháp lý của người bị buộc tội là người CTN trong TTHS để cơ quan THTT có thái độ khách quan, thận trọng trong việc nhận thức VAHS một cách khoa học, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm

Trang 33

29

Chương 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI

QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên

2.1.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm

1988

Ngày 28/6/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật TTHS đầu tiên của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989 Đây là một bước tiến lớn trong lịch sử lập pháp TTHS nói chung và chế định bào chữa nói riêng ở nước ta, nó đánh dấu sự thay đổi về chất của nguyên tắc bảo đảm QBC Lần đầu tiên trong lịch sử TTHS Việt Nam có một bộ luật hoàn chỉnh quy định về trình tự, thủ tục khởi tố điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng nhiệm vụ quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan THTT; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân, nhằm phát hiện nhanh chóng, kịp thời mọi hành vi phạm tội

Cũng trong Bộ luật TTHS này, lần đầu tiên đã có một chương riêng “Thủ tục đặc biệt”, quy định thủ tục về những vụ án mà người bị buộc tội là người CTN

- Chương XXXI Chính từ việc quy định thành một chương riêng như vậy nên các thủ tục tố tụng đối với người bị buộc tội là người CTN cũng trở nên chặt chẽ hơn khi chưa có Bộ luật TTHS Với mười điều luật (từ Điều 271 đến Điều 280), Bộ luật TTHS năm 1988 đã quy định về các vấn đề như phạm vi áp dụng, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và giám sát đối với người CTN, việc điều tra, truy tố, xét xử

và thi hành án hình sự, việc tham gia của đại diện gia đình, tổ chức xã hội và NBC trong những vụ án mà người bị buộc tội là người CTN về phạm vi áp dụng được

quy định cụ thể tại Điều 271 như sau: “Thủ tục tố tụng đối với những vụ án mà bị

Trang 34

30

can, bị cáo là người chưa thành niên được áp dụng theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ Luật này không trái với những quy định của Chương này” Điểm nổi bật nhất trong Chương XXXI là quyền và lợi ích

hợp pháp của người CTN được thể hiện rõ nét tại Điều 273 quy định về việc bắt,

tạm giữ, tạm giam: “ có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 62, 63, 64, 68 và 71 Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng” Như

vậy, nếu bị can, bị cáo là người CTN phạm tội ít nghiêm trọng sẽ không bị áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam có thể gây ra cho các em những ảnh hưởng rất

lớn về mặt tâm lý

Bộ luật TTHS năm 1988 đã quy định một cách rõ ràng và chặt chẽ hơn về quyền bào chữa Đó là, CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư cử NBC cho bị can, bị cáo, nếu bị can, bị cáo không tự lựa chọn được

Đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo có thể lựa chọn NBC hoặc tự mình bào chữa cho bị can, bị cáo Đồng thời bị can, bị cáo là người CTN và người đại diện hợp pháp của họ cũng có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối NBC (Điều 37) đối với NBC do cơ quan THTT yêu cầu Đoàn luật sư cử Đại diện gia đình cũng phải

có mặt khi CQĐT hỏi cung bị can và phải có mặt tại phiên tòa xét xử (Điều 276)

Hiến pháp 1992 ra đời, Điều 132 tiếp tục khẳng định “Quyền bào chữa của

bị cáo được bảo đảm Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Tổ chức luật sư được thành lập để giúp đỡ bị cáo ” và việc ra đời của

BLHS sửa đổi, bổ sung năm 1989, các nhà làm luật đã nhận thấy sự cần thiết phải

có một Bộ luật TTHS hoàn chỉnh hơn Để kịp thời giải quyết những khó khăn tạm thời, Bộ luật TTHS đã tạm thời sửa đổi, bổ sung một số điều sao cho phù hợp với các đòi hỏi nêu trên Chính vì vậy, Bộ luật TTHS năm 1988 đã qua ba lần sửa đổi,

bổ sung vào các năm 1989, 1992 và năm 2000 Các lần sửa đổi, bổ sung này nhằm làm cho Bộ luật TTHS phù hợp hơn với Hiến pháp năm 1992 và tiến trình phát triển của xã hội, tuy nhiên nội dung nguyên tắc bảo đảm QBC tại Điều 12 Bộ luật vẫn không thay đổi

Trang 35

được quy định tại Điều 11 với tên gọi: “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” Bộ luật TTHS năm 2003 một lần nữa khẳng định việc bảo đảm

QBC là một nguyên tắc cơ bản trong TTHS, đồng thời mở rộng đối tượng được hưởng QBC cả đối với người bị tạm giữ mà không chỉ đối với bị can, bị cáo như các quy định trước đó Việc bổ sung quyền này đối với người bị tạm giữ xuất phát

từ quan điểm cho rằng người bị tạm giữ được xác định là người bị tình nghi thực hiện tội phạm đối với VAHS, do vậy họ có quyền được bào chữa

Bộ luật TTHS năm 2003 đã có những quy định cụ thể và mở rộng hơn quyền hạn của NBC so với những quy định cũ, cụ thể là: thừa nhận người bị tạm giữ có quyền có NBC và thừa nhận sự tham gia của NBC từ khi một người có quyết định tạm giữ; mở rộng phạm vi những người có thể trở thành BCVND tham gia vào TTHS với vai trò là NBC (khoản 2 Điều 57 Bộ luật TTHS năm 2003); mở rộng quyền tố tụng của NBC đề nghị CQĐT báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa Những quy định cụ thể này đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho cả NBC và người THTT khi thực hiện nghĩa vụ của mình Sự có mặt của NBC thường xuyên hơn trong các buổi hỏi cung bị can sẽ khắc phục hiện tượng bức cung, ép cung từ phía điều tra viên, đồng thời cũng tránh được tình trạng khi ra tòa, bị cáo phản cung và đổ lỗi cho điều tra viên là đã bức cung, ép cung bị cáo trong giai đoạn điều tra

Trang 36

32

Ngoài việc mở rộng QBC cho người bị tạm giữ thì Bộ luật TTHS năm 2003 còn có nhiều quy định thể hiện sự tiến bộ và phát triển của nguyên tắc bảo đảm QBC như: NBC được tham gia tố tụng sớm hơn so với quy định của Bộ luật TTHS năm 1988; quy định cụ thể thủ tục chỉ định NBC trong những trường hợp phải chỉ định NBC cho bị can, bị cáo ( khoản 2 Điều 57) Đối với những vụ án mà người bị buộc tội là người CTN cũng được tiến hành theo thủ tục chung mà Bộ luật TTHS

đã quy định, nhưng cũng có những điểm quy định riêng nhằm bảo đảm cho quyền, lợi ích hợp pháp của người CTN được thực hiện theo quy định của pháp luật

Nếu như trước đây, theo quy định của Bộ luật TTHS năm 1988 thì người phạm tội nói chung trong đó có người CTN, chỉ có thể thực hiện QBC của mình

kể từ khi có quyết định khởi tố bị can (khoản 1 Điều 36), Bộ luật TTHS năm 2003 cũng ghi nhận NBC có quyền tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can đồng thời bổ

sung thêm quy định “Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ”

Về quyền tự bào chữa

Bộ luật TTHS năm 2003, cũng không quy định rõ về quyền tự bào chữa

của người bị buộc tội là người CTN Nhưng theo quy định tại Điều 11 thì “người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa” Do đó có thể hiểu, mặc dù Bộ

luật TTHS 2003 không quy định cụ thể nhưng người bị buộc tội là người CTN cũng có quyền tự bào chữa cho mình và thực hiện các quyền khác như người bị buộc tội là người thành niên nói chung để tự bào chữa cho mình

Về quyền nhờ người khác bào chữa

Quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội là người CTN phụ thuộc rất lớn vào vai trò của NBC trong trường hợp họ thực hiện QBC của mình thông qua NBC Chính vì vậy, việc đảm bảo quyền nhờ người khác NBC của người bị buộc tội là người CTN chính là việc xem xét các quyền của NBC được pháp luật bảo đảm như thế nào Bộ luật TTHS năm 2003 đã kế thừa và đã có những bổ sung mới, trong đó có những quy định tiến bộ hơn, mở rộng hơn về quyền của

Trang 37

33

NBC Theo đó, Bộ luật TTHS năm 2003 quy định, trước Tòa án, NBC được bình đẳng với các cơ quan THTT trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và tranh luận dân chủ tại phiên tòa Các cơ quan THTT có trách nhiệm tạo điều kiện cho

họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án (Điều 19 Bộ luật TTHS năm 2003) Quy định này được xem là nguyên tắc tố tụng cơ bản về vai trò của NBC trong VAHS

Bộ luật TTHS năm 2003 quy định NBC là người tham gia tố tụng để giúp đỡ người bị buộc tội về mặt pháp lý, làm sáng tỏ những tình tiết xác định sự vô tội, những tình tiết giảm nhẹ TNHS cho người bị buộc tội, đồng thời góp phần bảo vệ pháp luật (khoản 3 Điều 58 Bộ luật TTHS năm 2003) Cơ sở pháp lý cho sự hiện diện của NBC trong TTHS chính là ý chí của người bị buộc tội và trong một số trường hợp, sự tham gia của NBC là bắt buộc là trên cơ sở quy định của luật (các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật TTHS năm 2003)

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật TTHS năm 2003, NBC có thể là luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đối tượng tham gia bào chữa cho người bị buộc tội phổ biến trong VAHS chủ yếu vẫn là đội ngũ luật sư Hiện nay, do trình độ và ý thức pháp luật của nhân dân ta còn hạn chế nên khi nói đến NBC người ta chỉ nghĩ đến luật sư còn những người khác không phải là luật sư thì không phải là NBC Tuy nhiên, luật sư là khái niệm nghề nghiệp còn NBC là một khái niệm tố tụng

Theo Điều 2 Luật luật sư được sửa đổi, bổ sung số 20/2012/QH13 ngày 20

tháng 11 năm 2012 của Quốc Hội, quy định: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức” Khoản 1 Điều 22 Luật Luật sư năm 2012 quy định: “Luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự”

Khi tham gia TTHS, bằng những hiểu biết pháp luật và kỹ năng nghề nghiệp của mình, NBC giúp cho người bị buộc tội là người CTN thực hiện tốt

Trang 38

34

hơn QBC của họ theo quy định của pháp luật đồng thời giúp cho cơ quan THTT giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, tránh thiên về buộc tội và xem xét một chiều Có thể nói, đặc trưng cơ bản trong vai trò của NBC khi tham gia tố tụng bào chữa cho bị can, bị cáo là người CTN là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể này với việc bảo vệ chân lý và tôn trọng pháp luật, pháp chế

Trong TTHS quyền được nhờ người khác bào chữa đóng vai trò cực kỳ quan trọng vì nó không những giúp cho việc giải quyết vụ án được khách quan, nhanh chóng mà còn bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội là người CTN cũng như công bằng xã hội

Ngoài việc nhờ luật sư là NBC cho mình, bị can, bị cáo còn có thể thông qua người đại diện hợp pháp của mình mà thực hiện QBC Đối với người CTN, ngoài quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật TTHS năm 2003 thì tại khoản 3 Điều 303, Điều 305 Bộ luật TTHS năm 2003 cũng quy định người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền bào chữa cho họ Ngoài người đại diện hợp pháp, bị cáo là người CTN còn có đại diện của gia đình; thầy giáo, cô giáo, đại diện của nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tổ chức khác Bộ luật TTHS hiện hành không có quy định cụ thể ai là người được xem là người đại diện hợp pháp của bị cáo nên trong quá trình vận dụng pháp luật, các cơ quan, người THTT vẫn viện dẫn bằng những quy định tương thích giữa pháp luật TTHS với Bộ luật Dân sự, theo

đó, người đại diện hợp pháp của người bị buộc tội bao gồm: cha, mẹ, người giám

hộ (đối với con CTN) Đối với người bị buộc tội là người đã thành niên, người đại diện hợp pháp của họ là những người được cơ quan THTT cho phép tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật

Về quyền được bào chữa chỉ định

Về cơ bản người bị buộc tội là người CTN cũng có các quyền và nghĩa vụ như đối với người bị buộc tội thành niên được quy định tại Điều 49 và Điều 50 Bộ luật TTHS năm 2003 Tuy nhiên, do những hạn chế về tâm sinh lý mà người bị buộc tội là người CTN không tự mình thực hiện được một số các quyền và nghĩa vụ

Trang 39

sư cử NBC cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận cử NBC cho thành viên tổ chức mình

Xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm QBC của bị can, bị cáo được ghi nhận tại Điều 11 Bộ luật TTHS năm 2003, đồng thời theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật TTHS năm 2003, cơ quan THTT có nghĩa vụ phải bảo đảm có NBC tham gia tố

tụng: “Trong trường hợp nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc

đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:

…b) Bị can bị cáo là người chưa thành niên…”

Đây được coi là trường hợp bào chữa chỉ định hay bào chữa bắt buộc Như vậy, với quy định này trong Bộ luật TTHS thì không những pháp luật đã chính thức thừa nhận QBC của người bị buộc tội là người CTN mà còn đưa ra cơ chế nhằm bảo đảm cho người CTN thực hiện được QBC trên thực tế Đây chính là một quy định tiến bộ của pháp luật TTHS và cũng chính là một quy định rất tiến bộ về quyền trẻ em, điều này một lần nữa khẳng định thái độ nhất quán của Nhà nước Việt Nam

là tôn trọng và bảo vệ QCN, trong đó có quyền trẻ em Việc cơ quan THTT không thực hiện nghĩa vụ mời NBC trong trường hợp trên bị coi là hành vi vi phạm thủ tục

tố tụng nghiêm trọng

Trang 40

36

Tóm lại, quyền mời NBC tham gia tố tụng trước hết là phải do người CTN hoặc người đại diện hợp pháp của họ thực hiện Chỉ khi nào họ không thực hiện quyền đó thì cơ quan THTT mới yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật

sư cử NBC cho họ hoặc đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử NBC cho thành viên của tổ chức mình Theo quy định tại khoản 2, Điều 57 Bộ luật TTHS 2003, sau khi Đoàn luật sư đã cử NBC thì bị can,

bị cáo là người CTN hoặc người đại diện họp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối NBC Với yêu cầu thay đổi NBC của bị can, bị cáo là người

CTN và người đại diện họp pháp của họ, thì "Tòa án căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 56 Bộ luật Tố tụng hình sự để chấp nhận hoặc không chấp nhận Trong trường hợp Tỏa án không chấp nhận yêu cầu thay đổi người bào chữa thì tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung” Trong trường hợp chấp nhận yêu cầu thay đổi

NBC của bị can, bị cáo là người CTN và người đại diện hợp pháp, cơ quan THTT phải có trách nhiệm yêu cầu Đoàn luật sư cử NBC khác cho họ Đề cập tới quyền từ chối luật sư của người bị buộc tội là người CTN, Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02 tháng 10 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi

hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chưng'’ của Bộ luật

TTHS năm 2003 đã có những hướng dẫn cụ thể về quy định này

Đối với đối tượng phạm tội là người CTN, do những hạn chế nhất định về sự phát triển thể chất cũng như tinh thần, cho nên có thể họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, quyền lợi hợp pháp của họ có thể bị xâm hại nếu không có NBC trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử Chính vì vậy cho nên pháp luật quy định thủ tục bắt buộc phải có sự tham gia của NBC trong những vụ án này Đây là điểm khác biệt giữa việc bào chữa trong những vụ án do người CTN thực hiện so với vụ án do người đã thành niên thực hiện Việc bảo đảm QBC được thực hiện suốt quá trình tố tụng từ khi người CTN bị tạm giữ, bị khởi tố, cho đến khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử và tuyên bản án tại phiên tòa Bộ luật TTHS năm 2003 quy định thời điểm NBC có thể tham gia tố tụng sớm hơn, ngay từ khi có quyết định tạm giữ Quy định này nhằm

Ngày đăng: 17/11/2017, 14:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Hưng Bình (2014), Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học, Học viện Khoa học và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Hưng Bình
Năm: 2014
2. Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Lê Văn Cảm, Vũ Công Giao, Lê Khánh Tùng (2011), Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Lê Văn Cảm, Vũ Công Giao, Lê Khánh Tùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
4. Đại hội đồng Liên hợp quốc, Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989 5. Đại hội đồng Liên hợp quốc, Quy tắc tối thiểu phổ biến về áp dụng pháp luậtđối với người chưa thành niên năm 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989" 5. Đại hội đồng Liên hợp quốc, "Quy tắc tối thiểu phổ biến về áp dụng pháp luật
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Ban chấp hành trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Ban chấp hành trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Chỉ thị số 48/CT-TW ngày 22/10/2010 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 48/CT-TW ngày 22/10/2010 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2010
10. Phạm Hồng Hải (1999), Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
11. Nguyễn Ngọc Hoà (2008), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, , Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoà
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2008
12. Nguyễn Ngọc Hoà (2008), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, , Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoà
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2008
13. Hoàng Thế Liên (chủ biên) (1996), Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thế Liên (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1996
14. Lê Thị Hồng Minh (2003), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thành lập cơ quan xét xử người chưa thành niên pham tội, Luận án tiến sỹ Luật học, Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thành lập cơ quan xét xử người chưa thành niên pham tội
Tác giả: Lê Thị Hồng Minh
Năm: 2003
15. Võ Thị Kim Oanh (chủ biên) (2010), Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh, Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam
Tác giả: Võ Thị Kim Oanh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh
Năm: 2010
16. Đỗ Thị Phượng (2007), Những vấn đề lý luận và thực tiễn vể thủ tụng tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo Bộ luật Tố tụng hình sự, Luận án tiến sỹ luật học, Khoa luật - Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn vể thủ tụng tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo Bộ luật Tố tụng hình sự
Tác giả: Đỗ Thị Phượng
Năm: 2007
17. Lương Thị Mỹ Quỳnh (2013), Quyền có người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Hoa Kỳ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền có người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Hoa Kỳ
Tác giả: Lương Thị Mỹ Quỳnh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
25. Nguyễn Thị Thanh (2008), Bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh
Năm: 2008
29. Nguyễn Hữu Thế Trạch (2014), Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ Luật học, Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Thế Trạch
Năm: 2014
30. Lại Văn Trình (2011), Bảo đảm quyền con người của người bị tam giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ Luật học, Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người của người bị tam giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Lại Văn Trình
Năm: 2011
34. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (1999), Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam
Tác giả: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1999
35. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2000), Tăng cường năng lực hệ thống tư pháp người chưa thành niên tại Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực hệ thống tư pháp người chưa thành niên tại Việt Nam
Tác giả: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2000
36. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa - Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách Khoa - Nxb Tư pháp
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w