Pháp điển hóa – Nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam (LA tiến sĩ) Pháp điển hóa – Nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam (LA tiến sĩ) Pháp điển hóa – Nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam (LA tiến sĩ) Pháp điển hóa – Nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam (LA tiến sĩ) Pháp điển hóa – Nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam (LA tiến sĩ) Pháp điển hóa – Nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam (LA tiến sĩ) Pháp điển hóa – Nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam (LA tiến sĩ) Pháp điển hóa – Nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam (LA tiến sĩ) Pháp điển hóa – Nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam (LA tiến sĩ)
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân là một chủ trương lớn đã được ghi nhận trong các nghị quyết của Đảng và được Nhà nước thể chế hóa trong các quy định của Hiến pháp năm 2013
Để xây dựng nhà nước pháp quyền thì cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện Chính vì vậy, ngày 24/5/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, trong đó đề ra mục tiêu:
“Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng
và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.” [33]
Cùng với việc đề ra mục tiêu, Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị
“về chiến lược cải cách tư pháp từ nay đến năm 2020” đã đặt ra: Phải tích cực đẩy
mạnh hơn nữa công tác hệ thống hóa pháp luật mà vấn đề then chốt là chuyển trọng tâm sang hoạt động pháp điển hóa nhằm tạo ra nhiều bộ luật, đạo luật đảm bảo vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước
Thực tế cho thấy, công tác hệ thống hóa pháp luật đặc biệt là pháp điển hóa pháp luật đã bước đầu phát triển, có một số văn bản quy phạm pháp luật được thống kê và lên danh mục, một số văn bản quy phạm pháp luật khác được pháp điển hóa Bên cạnh đó các văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung và được Quốc hội thông qua ngày càng nhiều Theo thống kê của Cơ sở dữ liệu của Văn phòng Quốc hội, trong khoảng thời gian từ tháng 9/1945 cho đến đầu tháng 02/2009, tổng số văn bản quy phạm pháp luật được ban hành còn hiệu lực thi hành
Trang 22
là 19.095 văn bản Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh
tế trung ương, hệ thống pháp luật Việt Nam đang rơi vào tình trạng “không đầy đủ, không rõ ràng, không cụ thể, không tương thích, không minh bạch, không tiên liệu trước, không hợp lý, không hiệu quả và không hiệu lực” [31] Hiện nay, số lượng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành rất lớn; nhiều chủ thể ban hành, nhiều hình thức văn bản quy phạm pháp luật trong khi chưa có cơ sở dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật nào tập hợp được đầy đủ, bảo đảm chính xác và độ tin cậy cao; các văn bản chưa được rà soát, phân loại, sắp xếp một cách hệ thống… Thậm chí, trong một số lĩnh vực pháp luật, số lượng văn bản được ban hành được đánh giá ở mức độ
“lạm phát”, vượt quá nhu cầu điều chỉnh và áp dụng pháp luật đã làm cho hệ thống văn bản trở nên cồng kềnh Chính những tồn tại trên đã ảnh hưởng nhất định đến công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam Từ những thực trạng nêu trên, Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã xác định các tiêu chí cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam là đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa
Để khắc phục thực trạng trên đồng thời cũng nhằm thực hiện các nội dung
mà Nghị quyết số 48 đặt ra, ngày 16/4/2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (Pháp lệnh Pháp điển) Pháp lệnh Pháp điển được ban hành và chính thức có hiệu lực từ 01/7/2013 với những quy định khái quát về khái niệm, thẩm quyền, nội dung, hình thức, trình tự và thủ tục tiến hành pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay Kế tiếp đó, ngày 27/6/2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Pháp điển và đến ngày 29/4/2014 Bộ Tư pháp tiếp tục ban hành Thông tư số 13/2014/TT-BTP hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh Pháp điển Như vậy, việc ban hành Pháp lệnh Pháp điển cùng các văn bản hướng dẫn thực hiện có ý nghĩa quan trọng, bước đầu tạo lập cơ sở pháp lý, tạo tiền đề cho việc tiến hành pháp điển hóa
ở nước ta hiện nay Xuất phát từ thực tế đó càng khẳng định nhu cầu thực sự cần thiết và cấp bách của việc nghiên cứu pháp điển ở Việt Nam hiện nay
Trang 33
Như vậy, hệ thống hóa, pháp điển hóa pháp luật ở Việt Nam hiện nay là một nhiệm vụ trọng tâm, việc tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động pháp điển hoá ở Việt Nam là hết sức cần thiết Từ thực tế
này khẳng định, việc lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Pháp điển hóa - nghiên cứu
lý luận, phân tích, so sánh các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam” sẽ có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
và giải pháp hoàn thiện mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nêu trên, Luận án cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là: Kế thừa các vấn đề lý luận về pháp điển hóa mà các công trình của
các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và các học giả đã giải quyết (như vấn đề khái niệm, đặc điểm, kết quả của pháp điển hóa)
Hai là: Trên cơ sở kế thừa một số nội dung đã được giải quyết, luận án sẽ
tiếp tục làm sâu sắc thêm các vấn đề lý luận về pháp điển hóa như về nguyên tắc, điều kiện – tiền đề, các yếu tố ảnh hưởng của pháp điển hóa
Ba là: Luận án sẽ bổ sung thêm những vấn đề lý luận khác liên quan đến
pháp điển hóa như lý thuyết mô hình pháp điển hóa, phác họa cấu trúc cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc thiết lập mô hình pháp điển hóa của một quốc gia
Bốn là: Luận án tập trung sâu vào việc nghiên cứu mô hình pháp điển của
một số quốc gia điển hình trên thế giới Đó là những nước tiêu biểu cho các hệ thống pháp luật lớn trên thế giới như Pháp, Đức, Hoa kỳ, Canada, Trung Quốc và Singapore Trên cơ sở nghiên cứu về mô hình cụ thể của các nước kể trên, tác giả
sẽ có sự đối chiếu, so sánh để tìm ra tính ưu việt trong mỗi mô hình cụ thể, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm vận dụng vào Việt Nam
Trang 44
Năm là: Trên cơ sở phân tích, so sánh mô hình pháp điển điển hình trên thế
giới, tác giả sẽ đi tìm hiểu, phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay; đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về pháp điển hóa của một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam dưới góc độ pháp điển hóa đối với văn bản quy phạm pháp luật, không nghiên cứu pháp điển hóa đối với các loại nguồn của pháp luật khác như tập quán pháp, tiền lệ pháp hay án lệ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: Luận án tập trung nghiên cứu về các mô hình pháp điển
hóa của một số nước điển hình trên thế giới và Việt Nam Khái niệm “điển hình” luận án khai thác kết hợp dưới hai góc độ vừa là các quốc gia tiêu biểu của nhóm
hệ thống pháp luật chính trên thế giới vừa là sự điển hình về phương thức pháp điển hóa cơ bản Đó là Pháp, Đức - đại điện cho nhóm nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (Civil Law); Hoa kỳ, Canada - đại điện cho nhóm nước thuộc
hệ thống pháp luật Anh – Mỹ (Common Law); Trung Quốc - đại diện cho nhóm nước thuộc hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa; Singapore - đại diện cho nhóm nước thuộc các hệ thống pháp luật khác và Việt Nam
Về mặt thời gian: Luận án nghiên cứu về hoạt động pháp điển hóa của các
quốc gia trong đời sống pháp lý thực tế hiện nay Tại Việt Nam, luận án tập trung nghiên cứu chủ yếu từ năm 1992 đến năm 2017; đặc biệt phân tích sâu sắc, chi tiết hơn giai đoạn từ khi Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật được ban hành cho đến hiện nay
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng những phương pháp chính như: phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh để lý giải những vấn đề lý luận
Trang 5và mục đích quản lý nhà nước
Phương pháp phân tích được sử dụng để xem xét, đánh giá cụ thể, sâu sắc các vấn đề lý luận về pháp điển hóa với các khía cạnh khác nhau Bên cạnh đó, phương pháp này còn được sử dụng để so sánh các mô hình pháp điển hóa trên thế giới; đánh giá thực trạng pháp điển hóa ở Việt Nam và đưa ra những định hướng, giải pháp để nâng cao chất lượng của hoạt động này
Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóa, rút ra những nhận xét, kết luận về từng nội dung của luận án Xem xét về vấn đề pháp điển hóa trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật được nhìn nhận không xuất phát từ biểu hiện đơn lẻ mà mang tính phổ biến, điển hình Đồng thời, khi nghiên cứu về hoạt động pháp điển hóa những nhận định rút ra luôn được đặt trong tổng thể với các hoạt động hoàn thiện pháp luật khác như rà soát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, theo dõi thi hành văn bản quy phạm pháp luật
Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp mô tả trong một vài trường hợp
để làm rõ về hiện trạng mô hình pháp điển hóa của một số quốc gia trên thế giới từ
đó có những đánh giá, phân tích một cách thỏa đáng
Các phương pháp nghiên cứu trên đây luôn được sử dụng kết hợp với nhau nhằm mục đích bảo đảm cho nội dung nghiên cứu của luận án vừa có tính khái quát vừa có tính cụ thể cần thiết để xem xét, đánh giá một cách toàn diện về pháp điển hóa, đưa ra các giải pháp phù hợp với Việt Nam hiện nay
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp luật về pháp điển hóa để khai thác các mô hình tổ chức, thực hiện pháp điển hóa điển hình ở các quốc gia thuộc những hệ thống pháp luật lớn trên thế giới
Trang 66
Kết quả nghiên cứu về mặt lí luận và thực tiễn mô hình tổ chức, thực hiện pháp điển hóa của các quốc gia và Việt Nam góp phần nhận diện, đánh giá tổng quan, hiểu sâu sắc hơn về vai trò, giá trị của pháp điển hóa
Luận án đưa ra một số định hướng, giải pháp và kiến nghị góp phần tổ chức, thực hiện hoạt động pháp điển hệ thống qui phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, bảo đảm sự hoàn thiện, hài hòa pháp luật phục vụ công cuộc đổi mới đất nước
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ bổ sung, hoàn thiện và làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về pháp điển hóa Đồng thời, góp phần tiếp tục phát triển, hoàn thiện những tri thức lý luận về pháp điển hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay
Luận án cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo có giá trị trong hoạt động nghiên cứu và giảng dạy đối với chuyên ngành Lý luận chung về nhà nước và pháp luật cũng như các nhà hoạt động thực tiễn
Các giải pháp mà luận án đưa ra cũng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hoàn thiện chính sách, pháp luật về pháp điển hóa Đồng thời, nó cũng có giá trị tham khảo đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc xây dựng, tổ chức và thực hiện pháp luật
7 Kết cấu của luận án
Cơ cấu của luận án bao gồm: danh mục từ viết tắt, mục lục, lời nói đầu, nội dung luận án, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, danh mục các công trình khoa học đã công bố Nội dung cơ bản của luận án gồm có bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận về pháp điển hóa và mô hình pháp điển hóa
Chương 3: Mô hình pháp điển hóa của một số nước và kinh nghiệm đối với Việt Nam hiện nay
Chương 4: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay
Trang 71.1 Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu lí luận về pháp điển hóa
Trong cuốn “The science of law and law making being an introduction to
law, a general view of its forms and substance, and a discussion of the question of codification” by R.FLOYD CLARKE, A.B,.LL.B of the new york bar, LONDON: MARMILIAN &CO., LTD, 1898 (tạm dịch là “Các khoa học về pháp luật và xây dựng pháp luật là một giới thiệu về pháp luật, một cái nhìn chung về hình thức và nội dung của nó, và thảo luận về các vấn đề pháp điển hóa”) Cuốn sách này không trực tiếp nghiên cứu vào các nội dung cơ bản của pháp điển hóa như khái niệm, nguyên tắc, quy trình, thủ tục, … mà đi sâu tìm hiểu vào khoa học pháp lý về luật
và vấn đề xây dựng luật Tuy nhiên, chính từ việc tìm hiểu về khoa học pháp lý và việc xây dựng luật mà tác giả cuốn sách nhận thức được hoạt động pháp điển hóa
có ý nghĩa quan trong trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật quốc gia nói riêng và trong ngành khoa học pháp lý về luật nói chung Như vậy, dù chỉ nghiên cứu về pháp điển hóa dưới góc độ các câu hỏi thảo luận đặt ra nhưng ít nhiều cuốn sách đã nhìn nhận được vị trí và vai trò quan trọng của hoạt động pháp điển hóa
Đặc biệt, cuốn sách có kết lại bằng một câu “codification, presupposing infinite knowledge, is a dream”, thể hiện giấc mơ của tác giả mong muốn đạt được mục
đích cao cả của pháp điển hóa để đem lại thành công cho việc xây dựng pháp luật cũng như khoa học pháp lý về pháp luật
Tiếp cận dưới góc độ khái quát các vấn đề lý luận về pháp điển hóa, cuốn
sách “Codification in International Perspective” – Pháp điển hóa trong nhận thức
quốc tế của tác giả Wang, Wen-Yeu (Editors), bản quyền năm 2014 Cuốn sách
Trang 88
nghiên cứu những nội dung khái quát về pháp điển hóa và gắn pháp điển hóa vào các lĩnh vực pháp lý khác nhau Tác giả kết cấu thành 19 chapters (19 chương) bắt đầu từ việc nghiên cứu những vấn đề lý thuyết và lịch sử chung của pháp điển hóa (Chapter 1: Codification, decodification anh recodification: history, politics and procedure – tìm hiểu về lịch sử, chính trị và thủ tục của pháp điển hóa) Tuy nhiên,
vì giới hạn trong một chương của cuốn sách nên sự tiếp cận và nghiên cứu các vấn
đề lý luận chung của pháp điển hóa còn sơ sài, khái quát Các nội dung kế tiếp của cuốn sách gắn việc nghiên cứu pháp điển hóa với những lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn như “pháp điển hóa của pháp luật tư nhân trong thời hậu Xô Viết”, “pháp điển hóa luật hình sự vượt ra ngoài nhà nước quốc gia” và “pháp điển hóa mềm của pháp luật tư nhân”… Như vậy, nhìn một cách tổng thể, những nội dung nghiên cứu về lý thuyết và lịch sử pháp điển hóa còn ít và sơ sài, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và luận giải sâu sắc hơn ở các công trình kế tiếp
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu thực tiễn về pháp điển hóa
Cuốn sách “Codification in East Asia” – Pháp điển hóa ở Đông Á (bao gồm
các tài liệu được lựa chọn từ Hội nghị chuyên đề IACL 2) của tác giả Wang, Yeu (Editors), bản quyền năm 2014 Cuốn sách này nghiên cứu về pháp điển hóa ở khu vực Đông Á Về tổng thể, cuốn sách bao gồm 19 chương, mỗi chương có đi sâu nghiên cứu vào hoạt động pháp điển hóa của từng quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đồng thời cũng rút ra bài học so sánh từ hoạt động pháp điển hóa ở Nhật Bản, Ấn Độ và Indonexia Tuy nhiên, việc nghiên cứu về pháp điển hóa chủ yếu bị giới hạn trong một số lĩnh vực nhất định như luật thương mại, luật hành chính, luật dân sự và tư pháp quốc tế ở Đông Á nên những giá trị
Wen-mà nó đem lại không nhiều Mặc dù vậy, cuốn sách cũng được coi là tài liệu tham khảo quan trọng đối với tác giả luận án, cung cấp cho tác giả một vài kinh nghiệm
về pháp điển hóa ở các nước Đông Á, từ đó có những kiến nghị phù hợp với Việt Nam hiện nay
Tiếp theo, cuốn “Codification in the united states: An address delivered before the graduating classes at the sixtieth anniversary Yale law school” (Pháp
điển hóa ở Hoa kỳ: Một địa chỉ cung cấp trước khi các lớp tốt nghiệp tại lễ kỷ niệm
Trang 9cụ thể của các bang và sản phẩm tương ứng Như vậy, có thể thấy cuốn sách là tài liệu tham khảo quan trọng về các nội dung của hoạt động pháp điển của Hoa kỳ, đặc biệt là về quy trình pháp điển tại quốc gia này Mặc dù, các vấn đề lý luận chung về pháp điển hóa như khái niệm, đặc điểm, các nguyên tắc, vai trò … chưa được khai thác và việc so sánh về hoạt động này giữa Hoa kỳ với các nước khác cũng chưa được cuốn sách nêu ra nhưng nội dung của cuốn sách thực sự có giá trị đối với tác giả luận án
Một công trình nghiên cứu về pháp điển hóa được thưc hiện tại Pháp, cuốn
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Vũ với tiêu đề “La codification francaise comme reference pour le legislateur vietnamien – Tài liệu tham khảo pháp điển hóa ở Pháp cho cơ quan xây dựng pháp luật ở Việt Nam” Luận án này được thực
hiện và bảo vệ thành công ở Pháp vào năm 2013 Luận án được kết cấu thành ba phần chính ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính tập trung giải quyết các vấn đề về chính sách hay định hướng cho việc tiến hành pháp điển hóa ở Pháp; tìm hiểu về lịch sử, điều kiện, thuận lợi và khó khăn đối với việc tiến hành pháp điển hóa ở Pháp; vấn đề quy trình, thủ tục và kết quả của hoạt động này ở Pháp Phần kết của luận án người nghiên cứu cũng đã đưa ra một vài kiến nghị cho việc tiến hành hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam Có thể thấy, đây là một công trình nghiên cứu khá toàn diện vấn đề pháp điển hóa ở Pháp Công trình này có nhiều giá trị bổ ích đối với tác giả luận án đặc biệt là trong việc giải quyết một phần nội dung chương 3 nghiên cứu so sánh pháp điển của các nước trên thế giới (bao gồm nghiên cứu cả về hoạt động pháp điển hóa của nước Pháp)
Báo cáo về “Kinh nghiệm so sánh về pháp điển hóa ở Cộng hòa Pháp và một số nước Châu Âu” của Bà Elisabeth Catta - Chuyên gia Cộng hòa Pháp (Các
nguồn dẫn chiếu được sử dụng để soạn thảo Báo cáo này xuất phát từ một nghiên
Trang 1010
cứu được thực hiện vào tháng 8 năm 2007 bởi Tổng vụ pháp luật của liên minh châu âu, và một số được tìm từ trang web của các nước thành viên liên minh - Bản dịch của Nguyễn Hữu Huyên, Chuyên viên Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Tư pháp) Tại báo cáo, bà Elisabeth Catta cũng đã có sự phân tích chi tiết về hệ thống pháp luật của một số nước châu Âu nói chung và Cộng hòa Pháp nói riêng; bà cũng đưa ra một cách tiếp cận về pháp điển hóa, đó là một thủ tục theo đó các văn bản cần được pháp điển hoá sẽ bị bãi bỏ, sau đó được thay thế bằng một văn bản duy nhất nhưng không làm thay đổi các văn bản gốc Tuy nhiên, theo bà để tiến hành pháp điển hóa được như nội dung nêu trên thì đòi hỏi trước tiên phải có sự cập nhật các văn bản khác nhau bằng cách đưa vào các sửa đổi, bổ sung, sau đó làm việc lại trên một văn bản duy nhất nhằm đạt được một văn bản cuối cùng đảm bảo tính liên kết
và dễ hiểu Như vậy, có thể thấy báo cáo của bà Elisabeth đã có phần nào tiếp cận, diễn giải khá chi tiết về cách thức, thủ tục tiến hành pháp điển hóa của Cộng hòa Pháp và của Liên minh Châu Âu Tuy nhiên, cách tiếp cận đó mới chỉ giúp chúng
ta hiểu về cách thức pháp điển hóa của một châu lục và rõ ràng sự điển hình cũng chưa bao trùm phạm vi thế giới cũng như kinh nghiệm cho Việt Nam thì báo cáo của bà chưa đề cập tới
Nghiên cứu về pháp điển hóa ở Trung Quốc, Tiến sĩ Kong Qingjiang – Giáo
sư Luật, Khoa Luật, Đại Học Zhejiang Gongshang, Trung Quốc với báo cáo “Mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật và việc xử lý chúng ở Trung Quốc”
(báo cáo tại Hội thảo rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật tổ chức năm 2006, 2007 tại Nhà pháp luật Việt – Pháp, Đại học Luật Hà Nội) Tại báo cáo, ông đã phân tích một cách sâu sắc về thực trạng của hệ thống pháp luật của Trung Quốc, thẳng thắn nêu ra những mâu thuẫn, nguyên nhân và cách giải quyết các mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật của Trung Quốc Có thể thấy, hầu như trong báo cáo không có bất kì cụm từ nào đề cập tới cái gọi là “pháp điển hóa” nhưng nếu nghiên cứu kĩ thì thấy biện pháp tốt nhất để giải quyết mâu thuẫn chính là pháp điển hóa Bài viết thực sự là tài liệu có giá trị tham khảo sử dụng trong Luận án đặc biệt trong chương so sánh các mô hình pháp điển hóa trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 1111
Cùng cách tiếp cận về pháp điển hóa của một quốc gia, báo cáo của Giáo sư
danh dự Đại học Luật Victoria Bill Neison với tiêu đề “Quan niệm của Canada về pháp điểm hóa – kinh nghiệm và kỹ thuật” (được sự tài trợ của Dự án LERAP, cấu
trúc luật so sánh, hoạt động 3222) tháng 1 năm 2006 (báo cáo được trình bài tại
Tòa đàm “Pháp điển hóa trong pháp luật Việt Nam” do Bộ tư pháp tổ chức vào
năm 2006) Tại báo cáo, giáo sư Bill Neison đã phân tích hoạt động pháp điển hóa
ở Canada và cụ thể là tại bang Bristish Columbia – một bang dẫn đầu của Canada trong việc rà soát, hệ thống hóa và pháp điển hóa Tác giả bài viết cho rằng pháp điển hóa theo nghĩa rộng nhất, chỉ dẫn tới những quy trình, thủ tục, quy tắc và thực tiễn chi phối việc xây dựng, soạn thảo, hợp nhất và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong một lĩnh vực điều chỉnh nhất định Trên cơ sở đó, tác giả đi sâu tìm hiểu về kỹ thuật cũng như sản phẩm, kinh nghiệm pháp điển hóa tại bang Bristish Columbia Như vậy, mặc dù chỉ tập trung phân tích hoạt động pháp điển hóa tại một bang của Canada, nhưng bài viết đã cung cấp cho chúng ta những thông tin bổ ích về kinh nghiệm pháp điển hóa tại Canada để ít nhiều có thể áp dụng vào hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay
Tóm lại: Có khá nhiều công trình nghiên cứu ngoài nước về các vấn đề liên
quan đến hoạt động pháp điển hóa Ở một mức độ nhất định, những công trình nêu trên đã giải quyết được một số nội dung như vai trò, ý nghĩa, thực tiễn pháp điển hóa tại một số khu vực, quốc gia đơn lẻ Tuy nhiên, còn khá nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện lý thuyết về pháp điển hóa cũng như mô hình pháp điển hóa như khái niệm về pháp điển hóa, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này; khái niệm mô hình pháp điển hóa, xây dựng các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới … cần được giải quyết trong cuốn Luận án này
1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước
1.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu lí luận về pháp điển hóa
Nghiên cứu về vấn đề pháp điển hóa, tác giả đã có dịp tiếp xúc với một số công trình nghiên cứu quan trọng, có giá trị cao trong khoa học pháp lý Với tính chất khá gần với hoạt động xây dựng pháp luật, hơn nữa với mục tiêu của hoạt động pháp điển hóa là hướng tới hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong quá trình
Trang 1212
triển khai đề tài, khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học về hệ thống pháp luật,
về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã được các tác giả tiếp cận với nhiều khía cạnh khác nhau:
Cuốn sách của GS.TS Lê Minh Tâm Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, năm 2003 đã gợi mở khá nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến nội dung của luận án Cuốn sách được tác giả phân tích sâu sắc về bản chất, giá trị và hình thức của pháp luật làm tiền đề để luận giải những vấn đề cơ bản của xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Theo tác giả, pháp luật là sự biểu hiện của văn minh và văn hóa; là cơ sở để đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm, bảo vệ quyền, tự do dân chủ, lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, bảo đảm công bằng, bình đẳng trong xã hội, là nhân tố quan trọng bảo đảm phát triển bền vững của xã hội Đặc biệt, cuốn sách đã tiếp cận quan niệm về pháp luật theo nghĩa rộng, theo đó pháp luật không chỉ bao gồm những quy tắc xử sự chung (pháp luật thực định) mà còn bao hàm cả mục đích, tư tưởng và nguyên tắc của pháp luật
Bên cạnh đó, cuốn sách Xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay do PGS.TS Nguyễn Văn Động chủ biên
cũng đã luận giải sâu sắc và biện chứng giữa sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật với mục tiêu đảm bảo phát triển bền vững Các tác giả đã nghiên cứu thông qua việc tiếp cận vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay
để phân tích cơ sở lý luận về xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo đảm phát triển bền vững, đánh giá thực trạng pháp luật và công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật
ở nước ta, nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới và đề xuất giải pháp cho Việt Nam trong thời gian tới Tuy cuốn sách không đề cập trực tiếp
về pháp điển hóa nhưng nội dung của cuốn sách đã đem lại nhiều giá trị bổ ích để luận giải có tính hệ thống về vấn đề pháp điển hóa đặc biệt là ở Việt Nam hiện nay
Tiếp đó, cuốn sách Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của PGS.TS
Nguyễn Minh Đoan đã phân tích rất nhiều vấn đề từ khái quát đến cụ thể về hệ thống pháp luật cũng như đặt việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong bối cảnh của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Từ việc lý giải những đặc
Trang 1313
điểm cũng như tiêu chí để xác định chất lượng của hệ thống pháp luật cho đến các khái niệm về văn bản qui phạm pháp luật, đánh giá tác động của văn bản qui phạm pháp luật và trách nhiệm của người xây dựng pháp luật Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến trách nhiệm pháp lý của chủ thể ban hành cũng như tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật Đây là một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng văn bản qui phạm pháp luật từ đó gia tăng đáng kể hiệu quả của hoạt động pháp điển hóa
Ngoài ra, cuốn sách Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam do PGS.TS Phan Trung Lý chủ biên năm 2011, cũng đã tiếp cận và lý giải các
vấn đề liên quan đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Tác giả đã tiếp cận về tính thống nhất cũng như các điều kiện để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam từ yêu cầu và thực trạng bảo đảm tính thống nhất; các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và so sánh với việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật một số nước Có thể nói, những giải pháp được nhóm tác giả nghiên cứu về bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật sẽ giúp ích khá nhiều cho luận án trong việc đề xuất các giải pháp và xây dựng mô hình pháp điển hóa phù hợp với Việt Nam
Nghiên cứu một cách cụ thể về pháp điển hóa từ những góc độ lý luận chung cho đến các nội dung cụ thể về đặc điểm, cấp độ, nguyên tắc, truyền thống, GS.TS
Lê Minh Tâm với bài viết Mấy vấn đề lý luận về pháp điển hóa trên Tạp chí Luật
học, số 7/2006 Với bài viết này, GS đã giải quyết một số vấn đề lý luận cơ bản như khái niệm - thuật ngữ pháp điển, pháp điển hóa; nội dung các cấp độ của pháp điển; hình thức pháp điển hóa; một số điều kiện và tiền đề tiến hành pháp điển hóa Đặc biệt, trong bài viết tác giả khẳng định để tiến hành pháp điển hóa thành công cần chuẩn bị tốt các tiền đề, điều kiện cần thiết về chính sách pháp luật, triết lý pháp luật, các nguồn luật, các phương pháp, kinh nghiệm và kĩ thuật pháp lý Mặt khác, tác giả cũng nhấn mạnh sự cần thiết của các điều kiện về tổ chức, về cơ sở pháp lý, về tài chính, về nhân lực … để bảo đảm cho việc tiến hành pháp điển hóa thuận lợi và đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của một bài tạp chí, tác giả chưa có điều kiện để triển khai vấn đề và phân tích nội dung một cách
cụ thể, sâu sắc về pháp điển hóa Mặc dù vậy, nó được coi là một tài liệu tham
Trang 1414
khảo giá trị đối với tác giả luận án trong việc nghiên cứu các nội dung có tính lý luận về pháp điển hóa
Dưới góc độ truyền thống, coi pháp điển hóa là một hình thức của hệ thống
hóa pháp luật, tác giả TS Nguyễn Thị Hồi với bài viết Một cách tiếp cận về hệ thống hóa pháp luật trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 9/2008 Theo đó, tác
giả đã đưa người đọc đến với một cách tiếp cận mới về các hình thức của hệ thống hóa pháp luật Nếu như quan điểm truyền thống thường tiếp cận dưới góc
độ hệ thống hóa bao gồm tập hợp hóa và pháp điển hóa, thì trong bài viết tác giả đưa ra cách tiếp cận theo đó hệ thống hóa bao gồm có tập hợp hóa và quy điển hóa, trong quy điển hóa sẽ có pháp điển hóa Có thể thấy, cách tiếp cận của tác giả bài viết khá mới lạ và cần được tiếp tục nghiên cứu
Đi sâu hơn vào các nội dung về khái niệm, đặc điểm của pháp điển hóa, tác
giả Hoàng Văn Ánh với tiêu đề Một số vấn đề cơ bản xung quanh khái niệm, đặc điểm và các cấp độ pháp điển hóa, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 2/2008 Bằng
sự nghiên cứu của mình, tác giả bài viết cho rằng pháp điển hóa là việc đưa toàn bộ pháp luật vào hệ thống, tức là hoạt động nhằm trật tự hóa pháp luật Bài viết nêu ra hai cấp độ của pháp điển hóa trong đó cấp độ thấp tức là hệ thống hóa, pháp điển hóa là việc sưu tầm, tập hợp, phân loại, sắp xếp các văn bản pháp luật theo một trật
tự nhất định phục vụ công tác nghiên cứu, tuyên truyền, phổ biến pháp luật Còn pháp điển hóa ở mức độ cao là việc tổng hợp toàn bộ các quy định của pháp luật trong một lĩnh vực nhất định; tổ chức việc đánh giá hiệu quả pháp luật của các quy phạm pháp luật, đưa ra những bổ sung, sửa đổi cần thiết và các quy định mới trong một văn bản pháp luật mới là Bộ luật nhằm điều chỉnh một cách toàn diện những quan hệ xã hội của lĩnh vực đó Quan điểm về cấp độ pháp điển hóa được tác giả thể hiện trong bài viết cũng là quan điểm mà hầu hết các nhà khoa học nghiên cứu
về pháp điển hóa đều đồng tình ủng hộ Chính bởi vậy, bài viết rất có giá trị tham khảo đối với tác giả luận án đặc biệt trong chương giải quyết các vấn đề lý luận về pháp điển
Tiếp tục nghiên cứu lý luận về pháp điển, đặc biệt đi sâu vào các nguyên tắc,
tác giả PGS.TS Lưu Kiếm Thanh và ThS Tống Duy Tình có bài viết Những nguyên tắc pháp điển hóa cơ sở quan trọng để hoàn thiện hệ thống pháp luật, Tạp
Trang 15Năm 2010, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường thuộc Trường Đại học
Luật Hà Nội, Kiểm tra, rà soát, xử lý, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật
với mã số LH-09-08/ĐHL-HN do TS Bùi Thị Đào làm chủ nhiệm Đề tài được nhóm tác giả nghiên cứu công phu với cách tiếp truyền thống về pháp điển hóa với
tư cách là một hình thức của hoạt động hệ thống hóa Với cách tiếp cận đó, nhóm tác giả đã luận giải một vài nội dung của pháp điển hóa từ khái niệm, đặc điểm cho đến đánh giá sơ lược thực trạng pháp điển hóa ở Việt Nam và đề xuất giải pháp, trong đó tác giả nhấn mạnh việc phải coi trọng hơn nữa hoạt động pháp điển hóa Tuy nhiên, với sự giới hạn của một công trình khoa học cấp cơ sở, hơn nữa lại nghiên cứu về nhiều nội dung mà pháp điển hóa chỉ là một nội dung nghiên cứu trong phần về hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật nên về cơ bản công trình chưa đi sâu giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp điển hóa
Bên cạnh đó, cuốn sách Pháp điển hóa – những vấn đề lý luận và thực tiễn
do tác giả Đặng Văn Chiến chủ biên năm 2015 Nội dung cuốn sách nghiên cứu một số vấn đề lý luận về pháp điển hóa, hoạt động pháp điển hóa của một số quốc gia trên thế giới bằng các phương thức khác nhau, có thể bằng cách xây dựng bộ luật mới, hoặc có khi là xây dựng bộ pháp điển theo chủ đề …Tuy nhiên, chính việc nhóm tác giả của cuốn sách chưa đưa đến cho người đọc một khái niệm về
Trang 16Có thể thấy, nghiên cứu cơ sở lý luận của pháp điển hóa đã có các công trình khoa học nghiên cứu ở những khía cạnh, mức độ, phạm vi khác nhau nhưng nhìn chung chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện cơ sở lý luận của pháp điển hóa, đặc biệt là vấn đề cơ sở lý luận của mô hình pháp điển hóa Các vấn
đề nêu trên cần được tiếp tục nghiên cứu và giải quyết trong Luận án này
1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu thực tiễn về pháp điển hóa
Dưới góc độ thực tiễn, một số nhà khoa học đã nghiên cứu về hoạt động pháp điển hóa từ kinh nghiệm của nước ngoài và đưa ra kiến nghị đối với Việt
Nam Tác giả TS Nguyễn Am Hiểu với bài viết Kinh nghiệm pháp điển hóa và vấn đề của Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6/2006 Bài viết đã luận
giải khái quát về hoạt động pháp điển hóa của một số nước như Pháp, Đức, Hoa
kỳ, Lào, Campuchia và Hàn Quốc Bằng sự nghiên cứu một cách khái quát đó, tác giả bài viết đã đưa ra một vài kết luận về các hình thức pháp điển hóa, đặc biệt với kết luận thứ ba trong bài viết, ông cho rằng hệ thống hóa là một hình thức của pháp điển hóa Trên cơ sở tìm hiểu về hoạt động pháp điển hóa của một số nước, tác giả khẳng định việc nghiên cứu pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay là thật sự cần thiết nhưng rất tiếc trong bài viết của mình ông lại không đưa ra bất kì kinh nghiệm nào
để tiến hành pháp điển hóa ở nước ta Tuy nhiên, cũng cần có sự đồng cảm với tác giả
vì sự giới hạn của một bài tạp chí không cho phép tác giả có thể triển khai mọi vấn đề
về pháp điển hóa trong bài viết của mình Cũng tiếp mạch nghiên cứu về kinh nghiệm
nước ngoài, Th.s Cao Xuân Phong có bài viết Pháp điển hóa kinh nghiệm nước ngoài
và thực tiễn Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 6/2006
Trang 1717
Khác với các tác giả nêu trên nghiên cứu hoạt động pháp điển hóa của rất
nhiều quốc gia thì đến tác giả Nguyễn Phước Thọ với bài viết Một số kinh nghiệm pháp điển hóa, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10/2011 Tác giả đã tập trung nghiên cứu
về hoạt động pháp điển hóa của nước Đức, trong đó chủ yếu khai thác về quy trình tiến hành pháp điển hóa của nhà nước này, qua đó rút ra một số kinh nghiệm đối với Việt Nam Kinh nghiệm lớn nhất từ việc nghiên cứu về hoạt động pháp điển hóa tại Đức mà tác giả bài viết nêu ra là cần phải coi pháp điển hóa là một nội dung quan trọng của cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoạt động này phải được làm một cách thường xuyên, liên tục Hơn nữa, mục tiêu, yêu cầu và các phương thức tiến hành pháp điển hóa cần được thể chế hóa bằng các quy định của pháp
luật Tác giả bài viết nhận định “đây là bài học quan trọng nhất rút ra từ kinh nghiệm pháp điển hóa của Cộng hòa liên bang Đức, mà cốt lõi là không ngồi chờ đến khi hệ thống pháp luật trở nên quá cồng kềnh, phức tạp, quá sức chịu đựng của xã hội mới tiến hành pháp điển hóa, mới thay đổi quan niệm, cách tiếp cận trong thực hiện pháp điển hóa” [102, tr.29]
Tiếp mạch nghiên cứu đó, GS.TS Phan Trung Lý và Lê Thanh Hoàn với bài
viết Quy trình lập pháp và pháp điển hóa ở Canada, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
số 11/2010 Có thể thấy, bài viết là sự nghiên cứu khá chi tiết các vấn đề thuộc về
kỹ thuật, quy trình lập pháp và pháp điển hóa ở Canada Nghiên cứu về hoạt động pháp điển hóa tại Canada, các tác giả thấy về cơ bản việc pháp điển hóa cũng tiến hành tương tự như Hoa kì, tuy nhiên ở Canada, họ thực tế hơn bởi họ không cố gắng xây dựng các bộ luật hoành tráng như Hoa Kì Thậm chí, việc pháp điển hóa
ở một số bang của Canada như bang British Columbia, pháp điển hóa được thực hiện dưới ba hình thức là xây dựng bộ luật, ban hành đạo luật sửa nhiều luật (omnibus law) và thực hiện rà soát, hệ thống hóa Trong phạm vi nghiên cứu của một bài tạp chí mới chỉ dừng ở việc gợi mở các vấn đề nhưng thực sự có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng pháp điển hóa ở nước ta hiện nay
Thêm vào đó, nghiên cứu về pháp điển hóa án lệ của một số quốc gia trên thế
giới để đưa ra một số gợi mở cho Việt Nam có bài viết Tiếp thu kinh nghiệm từ
Trang 1818
Pháp và Thụy Sỹ trong pháp điển hóa vấn đề án lệ của tác giả PGS.TS Đỗ Văn Đại,
Tạp chí nghiên cứu Lập pháp số 20 (276) kỳ 2 tháng 10/2014 Trong bài viết, tác giả
có lập luận về lịch sử và bài học rút ra từ việc pháp điển hóa án lệ của hai quốc gia
có hệ thống pháp luật khá gần với Việt Nam là Pháp và Thụy Sỹ, từ đó đặt ra vấn đề cho nước ta Nghị quyết số 48 của Bộ Chính trị đã có chủ trương về việc nghiên cứu,
áp dụng án lệ, đặc biệt từ tháng 6/2014 khi mà sáu bản án lệ đầu tiên được công bố
và đưa vào sử dụng tại Việt Nam Điều này đặt ra vấn đề có pháp điển hóa án lệ hay không và quan trọng là pháp điển hóa án lệ ra sao cho hiệu quả thì rất cần sự tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia đi trước đặc biệt là Pháp và Thụy Sỹ Có thể thấy, bài viết đem lại giá trị tham khảo quan trọng đối với tác giả luận án trong việc tiếp tục nghiên cứu về pháp điển hóa, đó không chỉ là pháp điển hóa văn bản qui phạm pháp luật mà có thể sẽ cả pháp điển hóa án lệ ở nước ta hiện nay
Dưới góc độ truyền thống, pháp điển hóa với tư cách là một hình thức của hệ
thống hóa pháp luật, PGS.TS Nguyễn Văn Động có bài viết Một số ý kiến về nâng cao chất lượng và hiệu quả hệ thống hóa pháp luật ở nước ta hiện nay trên Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật, số 5/2005 Bài viết tập trung nghiên cứu các nội dung về
hệ thống hóa pháp luật ở Việt Nam hiện nay và từ đó đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong đó ít nhiều có liên quan đến hoạt động pháp điển hóa
Tiếp cận dưới góc độ lịch sử, truyền thống pháp điển của Việt Nam, tác giả
Nguyễn Đình Lộc có bài viết Truyền thống pháp điển hóa qua các triều đại phong kiến Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14/2008 Tác giả bài viết cho
rằng, hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam đã được tiến hành từ khá lâu – ngay từ các triều đại phong kiến và sản phẩm chính là sự ra đời của các Bộ luật thời phong kiến như Bộ Hình thư triều Trần, Bộ Quốc triều hình luật triều Lê ….Từ thực tế lịch sử đó, tác giả khẳng định Việt Nam đã có một truyền thống pháp điển hóa bắt nguồn từ các triều đại phong kiến cho đến hiện nay, đó chính là sự tiếp nối truyền thống của cha ông qua các triều đại, thế hệ Như vậy, bài viết đã cung cấp một cái nhìn lịch sử về hoạt động này ở Việt Nam để từ đó đúc rút những kinh nghiệm cho việc triển khai hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay
Trang 1919
Gắn việc nghiên cứu pháp điển hóa với các quy định pháp luật hiện hành, tác
giả PGS.TS Nguyễn Thị Thu Vân với bài viết Quan điểm tiếp cận về pháp điển trong pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, Tạp chí Quản lý nhà
nước số 224 tháng 9/2014 Bài viết bàn về các quy định trong Pháp lệnh Pháp điển
hệ thống quy phạm pháp luật năm 2012 và có gợi mở một số vấn đề thực tiễn đặt
ra cho hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam như vấn đề về kỹ thuật, hình thức, nội dung pháp điển hóa
Dưới góc độ một hoạt động mang tính kỹ thuật, tác giả Mai Văn Minh có bài
viết “Pháp điển hóa Pháp lệnh Tổ chức Viện kiểm sát quân sự vào Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân” trên Tạp chí Kiểm sát, số 9/2013 Bài viết chủ yếu nghiên
cứu pháp điển hóa với tính cách như hoạt động mang tính kỹ thuật và mục đích chủ yếu là làm cho các quy định pháp luật trong lĩnh vực tổ chức Viện kiểm sát được tinh gọn, hiệu quả cao hơn bằng việc tạo ra một văn bản duy nhất Như vậy, bài viết mặc dù không có giá trị nhiều trong việc tìm hiểu về pháp điển hóa nói chung
từ lý luận đến thực tiễn, nhưng ít nhiều xét trong một lĩnh vực cụ thể thì cũng đem lại những giá trị nhất định
Tiếp cận pháp điển hóa dưới góc độ kỹ thuật, thực tiễn và gắn với các quy định của Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật năm 2012 ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã giành một số chuyên đề tháng 11/2015 với các bài
viết của nhiều tác giả nghiên cứu về pháp điển hóa Chẳng hạn như Công tác xây dựng bộ pháp điển ở Việt Nam của TS Đồng Ngọc Ba và Hoàng Linh Cầm; Vai trò của công tác pháp điển trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật của tác giả Mạc Thị Hoa và Trần Thanh Loan; bài viết Quy trình thực hiện pháp điển đối với đề mục của tác giả Nguyễn Duy Thắng và Phùng Thị Hương; bài Kỹ Thuật thực hiện pháp điển đối với đề mục của Nguyễn Duy Thắng và Hà Minh Hảo … Các bài viết
này đều chủ yếu đi vào những vấn đề thực tiễn mang tính kĩ thuật của pháp điển hóa ở nước ta hiện nay mà gần như thiếu vắng sự lập luận và giải thích về các vấn
đề lý luận chung của pháp điển Tuy nhiên, thông qua các bài viết trong số chuyên
đề của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã cung cấp cho tác giả luận án bức tranh khái quát về hoạt động pháp điển hóa ở nước ta hiện nay, từ đó có những nghiên cứu và đề xuất hợp lý để nâng cao hiệu quả pháp điển hóa ở Việt Nam
Trang 2020
Cũng trong năm 2010, một đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của Viện
Nghiên cứu khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp Mô hình bộ pháp điển các lĩnh vực pháp luật Việt Nam Đề tài được thực hiện bởi các nhà khoa học, các chuyên gia đầu
ngành khoa học pháp lý nghiên cứu các nội dung để xây dựng mô hình bộ pháp điển cho các lĩnh vực pháp luật ở Việt Nam chẳng hạn như lĩnh vực dân sự, hình sự … Tuy nhiên, các nội dung trong đề tài chủ yếu khai thác và nghiên cứu dưới góc độ cụ thể của từng lĩnh vực nên các vấn đề mang tính lý luận về pháp điển, về mô hình pháp điển của các nước khác trên thế giới ít được chú trọng Mặc dù vậy, công trình nghiên cứu này vẫn đem lại những giá trị tham khảo đối với tác giả luận án
Thêm vào đó, Tòa đàm khoa học với chủ đề “Pháp điển hóa trong pháp luật Việt Nam” được tổ chức hồi tháng 5/2006 với nhiều tham luận của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về pháp điển hóa Chẳng hạn: bài viết “Pháp điển hóa một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn” của TS Lê Hồng Sơn – Cục trưởng Cục kiểm
tra văn bản, Bộ Tư pháp, trình bày vắn tắt các quan điểm về pháp điển hóa của các nước thuộc hệ thống pháp luật khác nhau và đưa ra quan điểm của tác giả về hoạt
động pháp điển hóa tại Việt Nam; Hoặc bài “Một số suy nghĩ bước đầu về pháp điển hóa – từ góc nhìn lý luận và thực tiễn lịch sử” của TS Nguyễn Đình Lộc - Ủy ban
pháp luật của Quốc hội, nghiên cứu về pháp điển hóa ở Việt Nam qua các giai đoạn
lịch sử khác nhau; Hoặc bài “Pháp điển hóa – thực chất, nội dung những giới hạn và điểm dừng cần thiết” của GS.TS Lê Minh Tâm – Hiệu trưởng trường Đại học Luật
HN …Tuy nhiên, cơ bản các bài viết tham gia Tọa đàm khoa học mới dừng lại ở việc gợi mở các vấn đề về lý luận và thực tiễn về pháp điển hóa tại Việt Nam để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu và làm sâu sắc thêm
Tiếp đến, cuốn Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Minh Hà với nhan đề
“Pháp điển hóa pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay” thực hiện tại Viện khoa học xã hội Việt Nam năm 2008 Luận án đã giải
quyết một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp điển hóa như khái niệm, quy trình … đặc biệt luận án cũng có sự phân biệt khá sâu sắc sự khác nhau giữa pháp điển hóa với tập hợp hóa, với xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay Ngoài ra, luận án cũng ít nhiều đánh giá thực trạng và đề xuất các phương hướng, giải pháp về pháp điển hóa gắn với pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam
Trang 2121
hiện nay Tuy nhiên, vì phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào Việt Nam và trong một lĩnh vực là pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho nên những nhận định mà tác giả đưa ra chưa có tính bao quát mà luôn gắn với lĩnh vực pháp luật về ban hành văn bản qui phạm pháp luật cho nên các vấn đề như nguyên tắc, tiền đề, điều kiện … của pháp điển hóa thì không được nghiên cứu trong luận
án Mặc dù vậy, ở một góc độ nào đó công trình vẫn đem lại những giá trị tham khảo nhất định đối với tác giả luận án, cung cấp một bức tranh về pháp điển hóa pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật những năm 2008 ở Việt Nam,
từ đó tác giả sẽ có cách nhìn nhận và đánh giá hợp lý về hoạt động pháp điển hóa ở nước ta hiện nay
Ngoài ra, các luận văn thạc sĩ của Đào Trọng Giáp về Công tác hệ thống hóa pháp luật của các cấp chính quyền ở Gia Lai – Thực trạng và giải pháp năm 2009; hoặc như luận văn tiêu đề Lý luận và thực tiễn về rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Đình Thơ bảo vệ năm 2013
đều ít nhiều khai thác một khía cạnh rất nhỏ nội dung về pháp điển hóa với tư cách
là một hình thức của hệ thống hóa pháp luật Bản thân tác giả luận án này cũng đã
có dịp nghiên cứu về pháp điển hóa ở Việt Nam với đề tài luận văn thạc sĩ, Pháp điển hóa - những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay Luận văn đã
được bảo vệ tháng 3/2010 tại Trường đại học Luật Hà Nội Tuy nhiên, ở góc độ của một luận văn thạc sĩ tác giả mới chỉ dừng lại ở việc khai thác, nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam là chủ yếu Mặc dù, khi luận giải về khái niệm pháp điển hóa tác giả cũng có cách tiếp cận về quan niệm pháp điển hóa của các nước trên thế thới nhưng với giới hạn ở đề tài luận văn thạc sĩ, công trình chưa có điều kiện phân tích một cách sâu sắc, có hệ thống về các điều kiện ảnh hưởng cũng như việc nghiên cứu so sánh mô hình pháp điển hóa của các nước trên thế giới Phần trình bày về thực trạng pháp điển hóa ở Việt Nam còn nhiều hạn chế Chính bởi vậy, tác giả luận án cũng rất say mê và mong muốn những nội dung còn bỏ ngỏ trong luận văn thạc sĩ năm 2010 sẽ được giải quyết một cách tối đa trong luận án này
Cuốn Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật
do Bộ Tư pháp biên soạn năm 2014, tái bản năm 2017 Nội dung cuốn sách nghiên
Trang 2222
cứu pháp điển hóa dưới góc độ thực tế, nghiệp vụ ở nước ta hiện nay Bởi vậy, ngoài việc giải thích về khái niệm pháp điển quy phạm pháp luật, các nội dung khác của pháp điển hóa như nguyên tắc, các yếu tố ảnh hưởng, thực trạng, giải pháp … còn chưa được nêu ở trong cuốn sách Tuy nhiên, cuốn sách cũng được coi
là tài liệu tham khảo quan trọng trong việc tác giả đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượng pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay Nhìn chung có khá nhiều công trình nghiên cứu về phương hướng, giải pháp cho hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, về cơ bản sự đóng góp cũng như ý nghĩa mà chúng mang lại chưa cao Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu để tìm ra những phương hướng, giải pháp để thiết lập mô hình pháp điển hóa phù hợp với Việt Nam là điều thực sự cần thiết
Tóm lại: Nghiên cứu ở phạm vi trong nước, cũng có khá nhiều công trình
nghiên cứu về pháp điển hóa, tuy nhiên, chưa có công trình nào tiếp cận pháp điển hóa dưới góc độ so sánh các mô hình pháp điển điển hình và đề xuất kiến nghị cho Việt Nam Mỗi công trình nghiên cứu nêu trên về cơ bản chỉ dừng lại ở việc tiếp cận từng góc độ đơn lẻ, hoặc là về nguyên tắc, hoặc là đưa ra khái niệm nhưng còn khá nguyên sơ chưa toát lên bản chất của pháp điển hóa… Thiết nghĩ, vì giới hạn ở những cấp độ khác nhau, phạm vi tiếp cận khác nhau nên nhìn chung các công trình trên vẫn còn những hạn chế nhất định Liên quan đến pháp điển hóa còn rất nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ Chẳng hạn, các yếu tố ảnh hưởng tới việc xây dựng mô hình pháp điển hóa, so sánh một vài mô hình pháp điển tiêu biểu trên thế giới … Đặc biệt, việc nghiên cứu, so sánh các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới và đề xuất kiến nghị đối với Việt Nam là việc làm quan trọng, đem lại ý nghĩa lớn đối với quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn từ năm 2010 - 2020
1.3 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Từ thực tế các công trình nghiên cứu về pháp điển hóa nêu trên, với đề tài
luận án “Pháp điển hóa - nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh các mô hình
pháp điển hóa điển hình trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam”, cần phải
tiếp tục một số công việc sau:
Trang 23Với quan điểm tiếp nhận có chọn lọc và so sánh, luận án sẽ tiếp tục kiến giải những khía cạnh về phương diện lí luận, pháp lí và thực tiễn để nhận thức thấu đáo hơn về các mô hình pháp điển hóa Đó là các vấn đề về khái niệm mô hình pháp điển hóa; chủ thể và quy trình pháp điển hóa; các yếu tố ảnh hưởng và những điều kiện bảo đảm của pháp điển hóa
Bên cạnh các vấn đề lí luận, luận án tập trung nghiên cứu mô hình pháp điển hóa của một số nước như Hoa Kì, Pháp, Đức, Canada, Trung Quốc, Singapore Từ việc phân tích mô hình của một số nước nêu trên, luận án rút ra những điểm tương đồng, khác biệt giữa các mô hình và đưa ra một số kinh nghiệm thực tiễn về pháp điển hóa áp dụng ở Việt Nam hiện nay
Thêm vào đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu về thực trạng hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay cũng là một công việc quan trọng của luận án Chính tính đặc thù của Việt Nam sẽ đặt ra những vấn đề cần phải giải quyết trong việc tiếp nhận, hình thành mô hình pháp điển hóa một cách thích ứng và hiệu quả
Trên cơ sở phân tích, so sánh mô hình pháp điển hóa của một số nước trên thế giới, nghiên cứu vào hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay, luận án sẽ đưa ra một số quan điểm, giải pháp, kiến nghị hoàn thiện mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay
1.4 Các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
1.4.1 Các câu hỏi nghiên cứu
Từ những phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả xác định có bốn câu hỏi nghiên cứu chính cần giải đáp, tương ứng với bốn chương của luận án:
Câu hỏi nghiên cứu 1: Những lý thuyết, quan điểm khoa học nào là nền tảng
cho việc nghiên cứu pháp điển hóa và mô hình pháp điển hóa?
Trang 2424
Câu hỏi nghiên cứu 2: Bản chất và những nội dung cơ bản của pháp điển
hóa và mô hình pháp điển hóa Dựa vào đâu để xác định các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới?
Câu hỏi nghiên cứu 3: Thực tiễn mô hình pháp điển hóa của một số nước
(điển hình) trên thế giới như thế nào và đem lại những kinh nghiệm gì đối với thực tiễn pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay?
Câu hỏi nghiên cứu 4: Thực trạng mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam hiện
nay ra sao và cần thực hiện các giải pháp cơ bản nào để hoàn thiện mô hình pháp điển hóa ở nước ta hiện nay?
1.4.2 Giả thuyết khoa học
Từ những phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những câu hỏi nghiên cứu, tác giả đã xác định giả thuyết khoa học của luận án là: Trong những năm qua, hoạt động pháp điển hóa của Việt Nam còn chưa được quan tâm đúng mức Công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền và hoàn thiện hệ thống pháp luật đòi hỏi cần thiết phải có sự nghiên cứu đúng đắn về pháp điển hóa, xây dựng và hoàn thiện mô hình pháp điển hóa ở nước ta hiện nay Cho đến nay, nhiều vấn đề lý luận về pháp điển hóa và mô hình pháp điển hóa chưa được làm rõ nên còn nhiều cách nhận thức, tiếp cận khác nhau Do vậy, vần đề đầu tiên và cấp bách
là cần có một công trình nghiên cứu toàn diện, tổng thể về vấn đề này
Bên cạnh đó, vấn đề mô hình pháp điển hóa và việc hoàn thiện mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay còn nhiều lúng túng; các qui định của pháp luật về vấn đề này đã có nhưng còn nhiều bất cập, lỗ hổng pháp lý và chưa mang tính dự báo Việc xây dựng và thực hiện các yếu tố của mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam còn nhiều vướng mắc, hiệu quả chưa cao Thực tế Việt Nam hiện nay, cần có những quan điểm và phương hướng phù hợp để xây dựng, hoàn thiện mô hình pháp điển hóa
Trang 2525
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài “Pháp điển hóa - nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam” có thể thấy, pháp điển hóa là vấn đề
không hoàn toàn mới vì vậy có một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn đã được các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà khoa học giải quyết như:
- Vấn đề lý luận về khái niệm, vai trò, phương thức pháp điển hóa;
- Vấn đề thực hiện pháp điển hóa của một số nước và Việt Nam
Tuy nhiên, nhìn chung các công trình nghiên cứu về pháp điển hóa nêu trên còn rời rạc và sơ sài (chủ yếu dưới dạng các bài viết Tạp chí, bài tham luận hội thảo) Việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp điển hóa
là thực sự cần thiết Do vậy, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu các vấn đề sau:
- Về mặt lý luận: kế thừa và phát triển những nội dung mà các nhà khoa học trước đã tìm hiểu về pháp điển hóa Bên cạnh đó, nghiên cứu thêm các nội dung lý luận về qui trình, nội dung của pháp điển hóa; lý thuyết
về mô hình pháp điển hóa (bao gồm khái niệm, cấu trúc và các loại mô hình pháp điển hóa điển hình); các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến pháp điển hóa và mô hình pháp điển hóa;
- Về mặt thực tiễn: Luận án nghiên cứu pháp điển hóa tại các quốc gia trên thế giới nhưng tập trung vào một số quốc gia điển hình như Pháp, Đức, Hoa Kì, Canada, Trung Quốc, Singapore trong mối tương quan so sánh
từ đó đưa ra những kinh nghiệm đối với Việt Nam; nghiên cứu thực trạng pháp điển hóa tại Việt Nam để đưa ra quan điểm, giải pháp hoàn thiện
mô hình pháp điển hóa ở nước ta hiện nay
Trang 2626
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP ĐIỂN HÓA VÀ
MÔ HÌNH PHÁP ĐIỂN HÓA
2.1 Cơ sở lý luận về pháp điển hóa
2.1.1 Khái niệm pháp điển hóa
Thuật ngữ pháp điển hoá đã được sử dụng khá phổ biến trong khoa học lý luận và thực tiễn pháp lý quốc tế Ở nước ta, pháp điển là một từ Việt cũ, một danh
từ dùng để chỉ một bộ luật [129, tr.741], tương tự như chữ “Code” trong tiếng Anh
Bộ luật khác với các văn bản pháp luật khác về quy mô, tính toàn diện, tính hệ thống, tính ổn định và giá trị pháp lý cao của nó Vì vậy, việc có được những bộ luật lớn, hoàn chỉnh để có thể sử dụng lâu dài, ổn định là mong muốn của nhiều người, nhiều quốc gia Thực tế lịch sử đã cho thấy, ngay từ thời cổ đại một số quốc gia trên thế giới đã xây dựng thành công những bộ luật lớn mà cho đến ngày nay vẫn được coi là di sản của văn hoá pháp lý thế giới Ví dụ như: Bộ luật Hamurabi được xây dựng từ thế kỉ 18 trước công nguyên - cách đây gần 4000 năm là một minh chứng điển hình Xu hướng xây dựng các Bộ luật tổng hợp tiếp tục phát triển khá mạnh mẽ trong những giai đoạn tiếp theo và cho đến nay nhiều nước vẫn tiếp tục quá trình đó, Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Như vậy, “pháp điển” cần được hiểu là bộ luật, hàm chứa trong đó hệ thống các quy phạm pháp luật do các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ cụ thể Từ cách hiểu về “pháp điển”, thuật ngữ “pháp điển hoá” trong tiếng Việt [129, tr.431],
“Codification” trong tiếng Anh dùng để thể hiện một khái niệm về một loại hình hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật có những đặc thù riêng về phương pháp, nguyên tắc, trình tự, thủ tục và kỹ thuật pháp lý
Pháp điển hóa là một hoạt động lớn và phức tạp Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều cách hiểu và tiếp cận khác nhau về vấn đề này Có thể, khái lược qua một số quan điểm phổ biến sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng:
“Pháp điển hóa là bước tiếp theo của hệ thống hóa pháp luật và bản chất của nó là chuyển hóa các đạo luật và văn bản quy phạm pháp luật (theo từng lĩnh vực lớn) vào những cuốn tuyển tập lớn gọi là Bộ pháp điển Công việc pháp điển
Trang 2727
hóa có quy mô và tầm mức cao hơn hệ thống hóa nhưng không phải nhằm mục đích thông qua những văn bản mới Pháp điển hóa nhằm tập hợp những văn bản hiện hành nhưng nói đúng hơn là hợp nhất những quy định pháp luật.” [96]
Quan điểm trên tồn tại chủ yếu ở các nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (hệ thống pháp luật Continental hay còn gọi là hệ thống luật Roma – Giecmanh), nơi mà ý tưởng pháp điển hóa có từ rất lâu đời Tuy nhiên, quan điểm trên cơ bản cũng chỉ mang tính chất tương đối bởi nghiên cứu vào quá trình pháp điển hóa của từng quốc gia trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa thực chất không hoàn toàn giống nhau Về đại thể, các luật gia châu Âu lục địa coi pháp điển hóa có bản chất là hợp nhất những quy định pháp luật Bởi theo quan điểm trên, một trong những nguyên tắc cơ bản trong công tác pháp điển hóa là không làm thay đổi nội dung của văn bản Có lẽ, quan niệm như vậy chưa thực sự đi tới cái đích cuối cùng của pháp điển hóa là nhằm giúp người dân có thể hiểu biết pháp luật một cách đầy đủ nhất
Như vậy, theo quan điểm trên thì pháp điển hóa có quy mô và tầm mức cao hơn hệ thống hóa pháp luật và là sự hợp nhất các quy định của pháp luật (của từng lĩnh vực) Tuy nhiên, quan điểm này vẫn còn một số hạn chế, vì thông thường cơ quan pháp điển hóa phải đứng trước một khối lượng lớn các văn bản cần pháp điển, trong khi những văn bản này không đồng nhất về khái niệm, thời gian ban hành, chủ thể ban hành, đối tượng điều chỉnh Do vậy, nếu tuân theo nguyên tắc không thay đổi nội dung của văn bản thì mục đích của công tác pháp điển hóa là tạo ra những điều kiện tốt nhất cho người sử dụng không đạt được
Hơn nữa, bản chất của pháp điển hóa và hợp nhất văn bản pháp luật là không hoàn toàn giống nhau Cụ thể:
“Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật hoàn toàn là một thao tác kỹ thuật nhằm xử lý hình thức chứ không phải nội dung của văn bản, vì thế, khi tiến hành hợp nhất, yếu tố kĩ thuật luôn được ưu tiên hơn so với việc phân tích về mặt pháp lý Người phụ trách hợp nhất không có nghĩa vụ giải thích văn bản pháp luật mà chỉ cập nhật vào văn bản gốc những nội dung đã được sửa đổi theo quy định của pháp luật, không xử lý toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật mà chỉ xử lý văn bản được sửa đổi.” [87, tr.4]
Trang 2828
Vì vậy, công tác hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật diễn ra gần như lập tức, ngay sau khi văn bản sửa đổi, bổ sung được thông qua, được công bố và có hiệu lực thi hành Đây là công việc được tiến hành thường xuyên với phương châm tiết kiệm thời gian và làm gọn nhẹ văn bản để người đọc có trong tay một văn bản quy phạm pháp luật rõ ràng mà không phải tham chiếu đến một văn bản khác Còn
pháp điển hóa được xem là bước cao hơn của hợp nhất “Khác với hợp nhất, pháp điển hóa là thao tác làm thay đổi nội dung pháp lý của văn bản” [87, tr.4] Ngoài
ra, hoạt động pháp điển hóa chỉ được tiến hành khi có nhu cầu pháp điển chứ không thường xuyên như hoạt động hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật Như vậy, quan niệm thứ nhất về pháp điển hóa còn nhiều điểm chưa phù hợp
Quan điểm thứ hai cho rằng:
“Pháp điển hóa là việc tập hợp các quy định pháp luật hiện hành theo những tiêu chí cụ thể để tạo ra các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị ứng dụng cao Thực chất của công việc pháp điển hóa là cho ra đời, bổ sung, cập nhật thường xuyên các tập án lệ, những tình huống, vụ việc pháp lý cụ thể đã có tiền lệ theo từng lĩnh vực của đời sống.” [96]
Có thể thấy, quan điểm thứ hai tồn tại khá phổ biến ở các nước thuộc hệ thống luật Anglo Sắc xông, hệ thống thông luật – common law, nơi mà ý nghĩa quan trọng hàng đầu thuộc về tố tụng chứ không phải là pháp luật vật chất Việc xây dựng hệ thống pháp luật theo tinh thần và tư tưởng pháp điển hóa kiểu châu Âu lục địa không được đặt ra (mối liên hệ giữa luật vật chất và luật tố tụng ở đây được diễn tả cô đọng trong câu ngạn ngữ của người Anh “Các hình thức tố tụng đi trước pháp luật”) Như vậy, có thể thấy việc tiến hành pháp điển hóa sẽ phụ thuộc khá lớn vào nguồn luật của mỗi quốc gia Theo đó, những nước thuộc hệ thống Common Law, với việc chủ yếu sử dụng nguồn luật án lệ (case law) nên có sự khác biệt nhất định với các nước thuộc hệ thống Civil Law Với quan điểm này, thực chất của pháp điển hóa là hoạt động tập hợp hóa các quy định pháp luật Tuy nhiên, quan điểm trên chưa thực sự hợp lí Bởi:
“Tập hợp hóa là hình thức thu thập và sắp xếp các quy định của pháp luật hoặc các nguồn luật theo những trật tự nhất định như theo chuyên đề, theo ngành quản lý, theo cơ quan ban hành, tên gọi, thời gian ban hành văn bản …
Trang 29Có thể thấy, tập hợp hóa và pháp điển hóa là hai khái niệm không đồng nhất với nhau hoàn toàn, nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau nhằm đạt được mục đích to lớn là hoàn thiện hệ thống pháp luật Tập hợp hóa
là khâu chuẩn bị cơ sở cần thiết để tiến hành pháp điển hóa và pháp điển hóa cũng chỉ tiến hành thành công khi hoạt động tập hợp hóa được thực hiện đúng đắn Điều này đòi hỏi các quốc gia khi tiến hành pháp điển hóa cần có sự kết hợp chặt chẽ để
có thể phát huy tối đa hiệu quả của hệ thống hóa pháp luật
Do vậy, quan điểm về pháp điển hóa nêu trên có chăng chỉ hợp lý với nguồn pháp luật của hệ thống Common Law – chủ yếu sử dụng case law Trên thực tế, khó
có thể phù hợp với các nước thuộc hệ thống Civil Law khi mà nguồn pháp luật thành văn (VBQPPL) được coi trọng Vì vậy, việc nghiên cứu về pháp điển hóa cần phải được thực hiện trên một bình diện đa chiều
Quan điểm thứ ba cho rằng:
“Pháp điển hóa là quá trình làm cho các văn bản quy phạm pháp luật thống nhất với nhau bằng cách chỉnh lý lại nội dung của chúng Pháp điển hóa luôn mang tính chất hình thức Trong quá trình pháp điển hóa những phần quy phạm pháp luật lạc hậu sẽ bị hủy bỏ, các phần của văn bản quy phạm pháp luật được liên kết và sắp xếp theo đầu mục, hình thành nên kết cấu của văn bản đã được pháp điển hóa với nội dung đặc thù của nó.” [2]
Có thể thấy, quan điểm về pháp điển hóa nêu trên tồn tại khá phổ biến ở một
số nước như Nga, Trung Quốc, …Theo đó, bản chất của pháp điển hóa chính là
Trang 30Như vậy, quan điểm nêu trên về pháp điển hóa chưa mang tính toàn diện, chỉ bảo đảm tính chất kĩ thuật, bởi hoạt động chỉnh lý văn bản không phải là một đảm bảo để đưa ra kết quả là một văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh toàn diện quan hệ xã hội cần pháp điển Do vậy, không nên đồng nhất pháp điển hóa với chỉnh lý văn bản pháp luật
Quan điểm thứ tư cho rằng:
“Pháp điển là quá trình làm thành một pháp điển (Bộ luật) tức là tập hợp,
hệ thống hóa các văn bản pháp luật hiện hành, xem xét nội dung, loại bỏ các điều không còn phù hợp, mâu thuẫn, chồng chéo, bổ sung những điều còn thiếu, những điều cần dự liệu đáp ứng yêu cầu phát triển của các quan hệ xã hội để ban hành thành một Bộ luật Nhà nước pháp điển hóa luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật dân sự, luật lao động và ban hành các Bộ luật hữu quan Pháp điển hóa là hoạt động lập pháp khác với hệ thống hóa pháp luật (hệ thống hóa pháp luật là hoạt động có tính chất chuyên môn hành chính).” [117, tr.364]
Nhìn chung, bản chất pháp điển hóa được phân tích trong quan điểm nêu trên chính là xây dựng pháp luật Đây là quan điểm khá phổ biến trong giới học giả, nhà nghiên cứu ở Việt Nam từ trước đến nay Tuy nhiên, thiết nghĩ ở một góc
độ nào đó nên có sự tách biệt giữa pháp điển hóa và xây dựng pháp luật để tìm hiểu đúng bản chất của hai khái niệm này Mặc dù mục đích cuối cùng mà pháp điển hóa hướng tới suy cho cùng là để xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện, nhưng không có nghĩa là đồng nhất pháp điển hóa với xây dựng pháp luật
Nghiên cứu lý luận về hai thuật ngữ này, có thể thấy:
Trang 3131
“Xây dựng pháp luật là quá trình hoạt động vô cùng quan trọng, phức hợp bao gồm nhiều các hoạt động kế tiếp nhau, liên hệ chặt chẽ với nhau, do nhiều tổ chức và các cá nhân có vị trí, vai trò, chức năng, quyền hạn khác nhau cùng tiến hành, nhằm chuyển hóa ý chí nhà nước thành những quy định pháp luật dựa trên những nguyên tắc nhất định và được thể hiện dưới những hình thức pháp lý nhất định mà chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật Hoạt động xây dựng pháp luật theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm hoạt động ban hành pháp luật của các cơ quan, nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền, còn theo nghĩa rộng bao gồm tất cả những hoạt động (của cả nhà nước và xã hội) có liên quan đến việc ban hành pháp luật.” [119, tr.483-484]
Xây dựng pháp luật được diễn ra theo một quá trình nhất định Nội dung của hoạt động này thể hiện ở quy trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm việc tìm hiểu nhu cầu điều chỉnh pháp luật từ các quan hệ xã hội, việc soạn thảo dự thảo, thảo luận dự thảo, thông qua, công bố, vấn đề hiệu lực và đưa các văn bản đó vào đời sống Như vậy, về cơ bản khái niệm xây dựng pháp luật rộng hơn khái niệm pháp điển hóa
Pháp điển hóa theo cách hiểu nêu trên thì giai đoạn sau được tiến hành bằng phương pháp xây dựng pháp luật, nhưng phải dựa trên nền tảng những văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội cần pháp điển, có nghĩa là quan hệ xã hội đó đã được điều chỉnh bằng pháp luật nhưng chưa đầy đủ hoặc chưa được hệ thống Pháp điển hóa là quá trình hoàn thiện ở mức độ cao về pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội đó Còn xây dựng pháp luật có thể hiểu là hoạt động ban hành pháp luật để điều chỉnh những quan hệ xã hội nói chung, quan hệ xã hội này có thể đã được điều chỉnh hoặc chưa được điều chỉnh Đây là điểm khác nhau rất cơ bản của khái niệm pháp điển hóa và khái niệm xây dựng pháp luật Do vậy, không thể sử dụng thuật ngữ pháp điển hóa để áp dụng cho hoạt động ban hành văn bản QPPL nói chung khi mà quan hệ xã hội đó chưa được điều chỉnh tương đối cơ bản trong các văn bản QPPL đã ban hành trước đó Vì vậy không nên đồng nhất hai khái niệm này với nhau
Trang 3232
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng mặc dù hai khái niệm xây dựng pháp luật và pháp điển hóa không đồng nhất với nhau nhưng chúng cũng không tách biệt nhau hoàn toàn Theo quan niệm thông thường, ở một số nước và Việt Nam thì pháp điển hóa luôn gắn với quy trình lập pháp, do kết quả sau cùng của công tác pháp điển hóa chính là việc ban hành một văn bản mới có thể với tên gọi là bộ luật
Bên cạnh đó ở Việt Nam thuật ngữ pháp điển hóa cũng được giải thích một cách khái quát và được trình bày trong Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của một số trường đại học thể hiện như sau:
“Pháp điển hóa là hình thức các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành rà soát, tập hợp và sắp xếp các quy định pháp luật đang có hiệu lực (trừ Hiến pháp) thành một chỉnh thể thống nhất, khoa học để tạo thành một văn bản quy phạm pháp luật mới hoặc bộ pháp điển.” [119, tr.488]
Như vậy, pháp điển hóa gắn liền với tập hợp hóa và trên cơ sở tập hợp hóa Không thể pháp điển hóa văn bản quy phạm pháp luật nếu không xuất phát điểm từ công tác tập hợp hóa văn bản quy phạm pháp luật Việc pháp điển hóa nhằm mục đích ban hành văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính chặt chẽ, thống nhất để điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội rộng lớn Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở quan điểm về pháp điển hóa như trong Giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội thì vẫn chưa làm nổi bật được tính đặc thù, sự khác biệt giữa pháp điển hóa với tập hợp hóa Do vậy, trên tinh thần kế thừa những điểm hợp lý của quan điểm về pháp điển hóa nêu trên cần có sự phát triển thuật ngữ để đạt được mục đích cuối cùng của pháp điển hóa là xây dựng hệ thống pháp luật toàn diện, trật tự sâu sắc
Tóm lại, pháp điển hóa là một hình thức của hệ thống hóa pháp luật, có mối quan hệ chặt chẽ với tập hợp hóa, hợp nhất văn bản pháp luật, chỉnh lý văn bản pháp luật và xây dựng pháp luật Theo đó:
Pháp điển hóa là hoạt động cấu trúc, trật tự hóa về nội dung, hình thức đối với hệ thống pháp luật thực định được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục, hình thức luật định Theo đó, nội dung của hoạt động này là phát hiện, loại bỏ các quy định không còn phù hợp; đồng thời thay thế,
bổ sung, cập nhật, sắp xếp các quy định pháp luật mới để tạo ra Bộ luật hoặc Bộ
Trang 33- Pháp điển hóa là hoạt động do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện
Điều này nhằm bảo đảm tính chất chuyên môn hóa của hoạt động pháp điển hóa, góp phần nâng cao chất lượng tiến hành công tác này Đây cũng là đặc điểm quan trọng giúp chúng ta nhận diện được hoạt động pháp điển hóa với các hoạt động khác như hợp nhất các văn bản quy phạm pháp luật hoặc tập hợp hóa pháp luật Nếu như hợp nhất các văn bản quy phạm pháp luật hoặc tập hợp hóa pháp luật
có thể do bất kì chủ thể nào tiến hành tùy theo nhu cầu, mục đích của họ thì pháp điển hóa là hoạt động đặc biệt bởi chỉ có chủ thể có thẩm quyền hoặc được nhà nước ủy quyền mới có thể tiến hành hoạt động này Bên cạnh đó, còn có sự tham gia của các loại chủ thể khác trong quá trình thực hiện pháp điển hóa nhưng vai trò chi phối và quyết định cơ bản thuộc về chủ thể có thẩm quyền tiến hành pháp điển hóa Thực tế tại các quốc gia khác nhau với những đặc thù về kinh tế - xã hội, truyền thống pháp luật, hệ thống pháp luật thực định … mà việc quy định thẩm quyền thực hiện pháp điển hóa sẽ không hoàn toàn giống nhau
Chẳng hạn: tại Pháp, cơ bản từ năm 1989 cho đến hiện nay, chủ thể có thẩm quyền tiến hành pháp điển hóa là Chính Phủ, Nghị Viện và Ủy ban tối cao pháp điển hóa Hoặc ở Việt Nam, theo qui định của Pháp lệnh pháp điển hệ thống qui phạm pháp luật năm 2012 thì có tới 4 nhóm chủ thể có thẩm quyền tiến hành pháp điển hóa, cụ thể đó là các bộ, cơ quan ngang bộ; Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước; Văn phòng Quốc hội; Văn phòng Chủ tịch nước thực hiện pháp điển đối với các quy phạm pháp luật theo thẩm quyền pháp luật quy định
Như vậy, nhìn chung ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, chủ thể thực hiện pháp điển hóa phải là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Đối tượng của pháp điển hoá phải là các văn bản quy phạm pháp luật, quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực pháp lý
Trang 3434
Đây là một đặc trưng quan trọng của pháp điển hóa Việc ghi nhận như trên
có ý nghĩa lớn, bởi chỉ có những quy phạm pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực pháp lý mới tham gia vào điều chỉnh các mối quan hệ trong
xã hội Mục đích của hoạt động pháp điển hoá chính là giúp cho pháp luật mang lại hiệu quả cao trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Chính xuất phát từ mục đích của việc pháp điển hoá mà văn bản quy phạm pháp luật và quy phạm pháp luật được pháp điển hoá phải đang còn hiệu lực pháp lý
Về nguyên tắc, mọi quy phạm pháp luật còn hiệu lực trong các văn bản khi được phân chia theo chủ đề, đề mục pháp điển thì phải tập hợp để thực hiện pháp điển hóa Nết bỏ sót văn bản quy phạm pháp luật nào đó có nghĩa là chưa làm đúng quy định và quy trình pháp điển hóa Thông qua việc tập hợp đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật là đối tượng pháp điển hóa thì mới có thể loại bỏ được các quy phạm pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp, bổ sung các quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật mới khi cần
- Pháp điển hóa phải được tiến hành theo quy trình, thủ tục, hình thức do pháp luật quy định chặt chẽ
Về cơ bản, pháp điển hóa là một hoạt động được tiến hành trên phạm vi tương đối rộng lớn và thường diễn ra trong thời gian dài Do vậy, để bảo đảm hiệu quả thì pháp điển hóa cần phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục, hình thức chặt chẽ
mà pháp luật các nhà nước quy định Trình tự, thủ tục đó thường bao gồm nhiều giai đoạn mà trong đó việc tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật thuộc các nguồn luật khác nhau sẽ không thể thiếu Ngoài ra, sẽ còn các giai đoạn khác tùy theo tính đặc thù về truyền thống pháp luật và điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Hình thức pháp điển hóa cũng cần phải được quy định cụ thể, chặt chẽ dựa trên đặc trưng của các quốc gia, đó có thể là pháp điển hóa hình thức hoặc pháp điển hóa nội dung hoặc là sự kết hợp của cả hai hình thức nêu trên Thậm chí,
có thể là pháp điển hóa chính thức hoặc pháp điển hóa không chính thức; pháp điển hóa hoặc tái pháp điển hóa …
- Kết quả của pháp điển hóa là việc tạo ra các văn bản pháp điển, có tên gọi là
Bộ luật hoặc Bộ pháp điển
Trang 3535
Tùy thuộc quốc gia khác nhau, kết quả của pháp điển hóa có thể vừa tạo ra
Bộ luật vừa tạo ra Bộ pháp điển, hoặc chỉ tạo ra một sản phẩm là Bộ luật hoặc Bộ pháp điển Giá trị ứng dụng của Bộ luật hoặc Bộ pháp điển trên thực tế có sự khác nhau ở các nước trên thế giới Cụ thể:
Đối với Bộ luật: thông thường đó là kết quả của việc pháp điển hóa đối với các lĩnh vực pháp luật tương đối ổn định Bộ luật là văn bản vừa có giá trị pháp lý, viện dẫn trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội vừa có giá trị tra cứu, thực tiễn lớn
Đối với Bộ pháp điển: thông thường đó là kết quả pháp điển hóa đối với những lĩnh vực pháp luật khi mà tính chất các quan hệ xã hội còn nhiều thay đổi Tại các nước khác nhau, giá trị của Bộ pháp điển cũng khác nhau Chẳng hạn, đối với nước Hoa Kì, Bộ pháp điển có giá trị pháp lý giống như Bộ luật (vừa viện dẫn vừa tra cứu) Còn với Việt Nam hiện nay thì Bộ pháp điển chỉ có giá trị tra cứu để
sử dụng trong quá trình áp dụng và thực hiện pháp luật
- Pháp điển hóa là hoạt động mang tính khách quan, đáp ứng nhu cầu tất yếu của đời sống pháp lý, xã hội Giá trị thực tế mà nó đem lại là bảo đảm việc tổ chức, thực hiện pháp luật được thuận lợi và đạt hiệu quả cao
Trên thực tế, các văn bản quy phạm pháp luật trong một Nhà nước được ban hành bởi những cơ quan khác nhau, trong những thời điểm khác nhau, như vậy sẽ chứa đựng khả năng là các văn bản và những nội dung cụ thể của chúng sẽ có những mâu thuẫn, chồng chéo Pháp điển hóa là hoạt động mà một trong những mục đích quan trọng của nó nhằm giúp cho việc phát hiện và loại bỏ những mâu thuẫn, chồng chéo đó
Bên cạnh đó, xét từ góc độ xã hội và công dân, việc tiếp cận một hệ thống pháp luật bao gồm nhiều văn bản được ban hành trong các thời điểm khác nhau, xác định cho được những văn bản và quy định đang còn hoặc hết hiệu lực, định hướng hành vi khi tham gia các quan hệ xã hội cho phù hợp với pháp luật là một khó khăn không nhỏ Thực tiễn đặt ra yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải công khai, minh bạch hệ thống pháp luật nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, công dân được tiếp cận một cách thuận lợi, chính xác các quy định
Trang 3636
của pháp luật Pháp điển hóa là hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch hệ thống pháp luật phục vụ nhu cầu của xã hội được tiếp cận một cách thuận lợi hệ thống pháp luật hiện hành của Nhà nước
Như vậy, việc nghiên cứu về khái niệm pháp điển hóa cũng như tìm ra các đặc điểm của hoạt động này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nhận diện pháp điển hóa Trên thực tế, cần có sự phân biệt giữa pháp điển hóa với các hoạt động khác như hợp nhất pháp luật, tập hợp hóa pháp luật, xây dựng pháp luật, chỉnh lý pháp luật (đã có sự phân biệt trong nội dung phân tích ở phần trên)
2.1.2 Vai trò của pháp điển hóa
2.1.2.1 Pháp điển hoá góp phần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của
hệ thống pháp luật
Pháp điển hóa là hoạt động có vai trò lớn trong điều kiện thường xuyên có
sự sửa đổi và hệ thống hóa các luật, văn bản quy phạm pháp luật Thông qua đó, các văn bản quy phạm pháp luật được sắp xếp theo một trật tự bằng cách trình bày theo những lĩnh vực liên quan vào một văn bản duy nhất đó có thể là bộ pháp điển hoặc bộ luật, thay vì để các quy định nằm rải rác trong nhiều văn bản QPPL đơn lẻ Việc đưa các quy định và chủ đề pháp lý liên quan vào trong cùng một chương hoặc phần của một bộ pháp điển sẽ tăng tính thống nhất của văn bản Mọi điểm mâu thuẫn, chồng chéo và kẽ hở của pháp luật sẽ sớm được xác định, giảm bớt và loại bỏ một cách liên tục Ngoài ra, bằng cách duy trì việc cập nhật bộ pháp điển thường xuyên sẽ góp phần làm cho hệ thống pháp luật trở nên đầy đủ, đồng bộ, thống nhất hơn Nhờ vậy, công tác xây dựng pháp luật trở nên dễ dàng hơn, vì không còn cần phải sửa đổi hay ban hành toàn bộ luật cùng lúc, mà chỉ cần bổ sung, bãi bỏ hoặc sửa đổi các điều khoản riêng biệt của một bộ pháp điển khi có đề xuất xây dựng luật Vì vậy quá trình pháp điển hoá có thể đưa ra các chỉnh sửa, đề xuất để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật
Tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật là điều kiện cần thiết bảo đảm cho tính thống nhất về mục đích của pháp luật và sự triệt để trong việc thực hiện pháp luật Điều này phải được thể hiện trong cả hệ thống pháp luật cũng như trong từng bộ phận hợp thành của nó ở tất cả các cấp độ khác nhau, nghĩa là giữa
Trang 3737
các ngành luật trong hệ thống pháp luật, giữa các chế định trong ngành luật, giữa các quy phạm pháp luật trong chế định pháp luật Không còn hiện tượng trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau của các quy phạm pháp luật trong mỗi bộ phận và trong các bộ phận khác nhau của hệ thống pháp luật Như vây, thông qua hoạt động pháp điển hoá, những quy phạm pháp luật lỗi thời, lạc hậu, mâu thuẫn, chồng chéo
sẽ bị loại bỏ và thay vào đó là những quy định mới Kết quả cuối cùng là một văn bản QPPL mới ra đời không chỉ bảo đảm sự thống nhất, hài hòa về nội dung mà còn phải bảo đảm tính thứ bậc của các văn bản được pháp điển
Về góc độ thẩm quyền, tính thứ bậc của các văn bản trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia cũng có tác động lớn tới việc pháp điển hóa Để phát huy các giá trị to lớn của hoạt động này, vấn đề đặt ra là phải xử lý những xung đột về thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật để cho hệ thống pháp luật có tính thứ bậc theo một chỉnh thể thống nhất dựa trên quy định của Hiến pháp Đây chính là cái đích của pháp điển hoá Pháp điển hoá chính là hoạt động bảo đảm trật tự của hệ thống pháp luật, giúp cho hệ thống pháp luật được thống nhất và đồng bộ
Tiếp đến, thông qua việc giao trách nhiệm rà soát và hệ thống hoá cho một
số cơ quan chuyên môn đảm nhận – với đội ngũ gồm những người sửa đổi và pháp điển hoá chuyên nghiệp, được đào tạo chuyên môn, có nhiệm vụ liên tục sửa đổi và
hệ thống hoá pháp luật thông qua việc pháp điển hoá, tính nhất quán, chất lượng và hiệu quả của văn bản ban hành sẽ cao hơn nhiều Cũng thông qua quá trình tiến hành hoạt động pháp điển hóa mà các chủ thể có thẩm quyền biết được những lĩnh vực nào trên thực tế cần sự điều chỉnh của pháp luật nhưng lại chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh Qua đó cần phải kịp thời bổ sung các quy phạm pháp luật mới nhằm kịp thời điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh trong đời sống Do đó, hoạt động pháp điển hóa có vai trò lớn góp phần kiện toàn hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia
Như vậy, dù với ý nghĩa là một phương pháp kiện toàn hệ thống pháp luật hay với ý nghĩa là phương pháp sáng tạo pháp luật thì pháp điển hoá bao giờ cũng
là một hoạt động quan trọng của Nhà nước Pháp điển hoá có vai trò lớn đối với công tác xây dựng pháp luật, tạo ra một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ
Trang 3838
2.1.2.2 Pháp điển hoá góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực và giá trị
điều chỉnh của pháp luật, bảo đảm tính phù hợp và khả thi của
hệ thống pháp luật
Có thể khẳng định mỗi quốc gia có cách hiểu và tiến hành pháp điển hoá theo hình thức riêng phù hợp với đặc điểm của mình Mặc dù xuất phát điểm hay cách thức tiến hành có khác nhau nhưng cũng đều đi đến mục tiêu cuối cùng là giúp cho việc tìm kiếm, tra cứu và áp dụng pháp luật được dễ dàng, hay nói cách khác, chính
là nhằm hoàn thiện và nâng cao giá trị điều chỉnh của pháp luật trên thực tế
Điều chỉnh pháp luật là một dạng điều chỉnh xã hội có tổ chức và có mục đích Các quan hệ xã hội rất đa dạng và phong phú nên cần rất nhiều những công cụ điều chỉnh khác nhau, trong đó có pháp luật Điều chỉnh pháp luật là nhà nước dùng pháp luật, thông qua pháp luật, bằng pháp luật để tổ chức đời sống xã hội, bảo đảm cho chúng vận động, phát triển phù hợp với ý chí của nhà nước mang lại lợi ích cho nhà nước, cho xã hội và nhân dân Điều chỉnh pháp luật theo nghĩa rộng bao hàm tất
cả các khâu, các quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống (đồng nghĩa với sự tác động của thượng tầng kiến trúc pháp lí tới hạ tầng cơ sở); điều chỉnh pháp luật theo nghĩa hẹp là quá trình tác động của quy phạm pháp luật lên quan hệ xã hội theo định hướng nhất định (chỉ bắt đầu từ khi đưa QPPL vào cuộc sống, nghĩa là khi quy phạm pháp luật đã có hiệu lực, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lí của các chủ thể và việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lí đó) [120, tr.469-470] Như vậy, dù có hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp thì điều chỉnh pháp luật đều nhằm nhấn mạnh quá trình tác động của pháp luật lên các quan hệ xã hội Để điều chỉnh pháp luật đạt được giá trị cao, đòi hỏi pháp luật phải phù hợp với các quan hệ xã hội Muốn vậy, cần đẩy mạnh hơn nữa hoạt động pháp điển hóa nhằm bảo đảm các quy phạm pháp luật lạc hậu, mâu thuẫn, trùng lặp sẽ bị loại bỏ thay vào đó là các quy phạm pháp luật phù hợp với sự phát triển của các quan hệ xã hội
Bên cạnh đó, mục đích của pháp điển hoá pháp luật, nếu nhìn nhận từ lợi ích của cơ quan nhà nước thì việc hiểu biết và tiếp cận với văn bản quy phạm pháp luật sau khi được pháp điển hoá là rất quan trọng, vì các cơ quan nhà nước phải biết một cách hệ thống những văn bản nào cần áp dụng trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Nếu nhìn nhận từ phía công dân thì công tác pháp điển hoá
Trang 3939
cũng rất cần thiết, vì nó giúp công dân biết được văn bản cần áp dụng trong những tình huống cụ thể mà họ gặp trong đời sống Điều đó giúp công dân tự bảo vệ mình tốt hơn nếu không hài lòng với cách xử lý của cơ quan quản lý nhà nước Như vậy, pháp điển hoá có vai trò quan trọng trong quá trình đưa pháp luật đi vào đời sống
xã hội, cũng có nghĩa là làm tăng giá trị của pháp luật trong đời sống hay đảm bảo tính khả thi của pháp luật
2.1.2.3 Pháp điển hoá hỗ trợ việc nhận thức, tiếp cận nghiên cứu và
tìm hiểu các quy định của pháp luật được thuận lợi
Tiếp cận pháp luật là một vấn đề quan trọng mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều quan tâm và có thể coi đó là “quyền” của công dân, các nhà nước và đặc biệt là những nhà nước hiện đại đều phải có nghĩa vụ để đảm bảo cho “quyền tiếp cận pháp luật” của người dân trở thành hiện thực “Tiếp cận” một từ Việt gốc Hán được hiểu
là kề bên nhau [1, tr.582], hoặc theo một cách lý giải khác là tiến đến gần, đến sát lại
[92, tr.925], tiếp cận pháp luật được hiểu là tiến đến gần pháp luật hay chính là đưa pháp luật đến gần với người dân, gần đến mức là sát lại, kề bên nhau Tuy nhiên, thực tế mỗi quốc gia trong quá trình tồn tại và phát triển của mình đều đã ban hành
ra một số lượng rất lớn các văn bản quy phạm pháp luật và thậm chí một số văn bản còn gặp phải những vấn đề về nội dung, nên làm cho người dân khó có thể tiếp cận với pháp luật Thực tế trên có thể thấy trong rất nhiều quốc gia hiện đại ngày nay Như vậy, để giúp người dân có thể tiếp cận pháp luật cũng như phát huy các giá trị của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội thì cần phải đơn giản hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Muốn làm được điều đó, chính bằng cách tiến hành pháp điển hóa pháp luật Thông qua hoạt động pháp điển hóa, rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật được tập hợp, sắp xếp theo những lĩnh vực, chủ
đề, thời gian nhất định trong một văn bản duy nhất; các văn bản quy phạm pháp luật đó không còn sự trùng lặp, mâu thuẫn, chồng chéo … Những lợi ích mà hoạt động pháp điển hóa mang lại sẽ làm cho người dân sát lại gần với pháp luật hơn Hay nói cách khác, hoạt động pháp điển hóa có vai trò to lớn trong việc tiếp cận pháp luật của người dân ở mỗi quốc gia trên thế giới
Trang 4040
Hơn nữa, từ việc người dân dễ dàng và thuận tiện tiếp cận với pháp luật, họ sẽ
có điều kiện để nghiên cứu và tìm hiểu kĩ lưỡng về các quy định của pháp luật Thực tế, trong nhiều trường hợp người dân không biết, không quan tâm và không hiểu về các quy định của pháp luật là do sự rườm rà của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật Do vậy, từ kết quả của hoạt động pháp điển hóa, góp phần đưa người dân tới gần các quy định của pháp luật hơn Việc họ nghiên cứu, tìm hiểu để
có những kiến thức cần thiết về pháp luật được thuận lợi hơn, qua đó áp dụng các quy định của pháp luật chính xác
2.1.3 Các tiền đề và những điều kiện đảm bảo đối với pháp điển hóa
2.1.3.1 Tiền đề cơ bản của pháp điển hóa
Một là: Chính sách pháp luật Đó là những quan điểm, đường lối, chủ
trương, chính sách, định hướng xây dựng và phát triển pháp luật (gọi chung là chính sách pháp luật) Đây là tiền đề quan trọng để bảo đảm cho quá trình pháp điển hoá được tiến hành thuận lợi, tiết kiệm và hiệu quả Thiếu những chính sách pháp luật rõ ràng và đúng đắn, thì pháp điển hoá sẽ gặp khó khăn, vướng mắc, quá trình pháp điển hoá sẽ kéo dài, chậm chạp, chất lượng và giá trị của các bộ luật được làm ra có thể sẽ thấp và không đáp ứng nhu cầu đặt ra Thực tiễn xây dựng pháp luật ở nước ta đã cho thấy, có những dự án văn bản quy phạm pháp luật được soạn thảo đi, soạn thảo lại nhiều lần rồi cuối cùng lại phải bàn về những vấn đề có tính quan điểm, chính sách mới giải quyết được Tuỳ thuộc vào loại hình pháp điển hoá và các mục tiêu, nhiệm vụ pháp điển hoá được đặt ra, hệ thống chính sách pháp luật có những yêu cầu khác nhau Nhưng đối với pháp điển hoá tổng thể, phương án tối ưu là phải có chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật thể hiện một cách toàn diện, sâu sắc, đầy đủ, đồng bộ và ổn định các chính sách pháp luật cho một thời gian tương đối dài
Tuy nhiên, để pháp điển hóa đạt hiệu quả thì cần phải có chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật một cách toàn diện, sâu sắc, đầy đủ, đồng bộ và ổn định các chính sách pháp luật chung, bao quát cho một thời gian tương đối dài, đồng thời cũng phải kịp thời có những chính sách pháp luật cụ thể và linh hoạt, kịp thời định hướng và làm nền tảng cho pháp điển hóa [99, tr.52]