Một số nghiên cứu trước đây chủ yếu chỉ tập trung đề cập đến kinh tế hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông, lâm và ngư nghiệp nằm trong Chương trình hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN NGỌC SƠN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUY NHƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng - Năm 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN NGỌC SƠN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUY NHƠN
Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Đào Hữu Hòa
Đà Nẵng - Năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan trên đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Sơn
Trang 4MỤC LỤC
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ 7 1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ HỘ
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG
1.3.1 Chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của
1.3.2 Tiềm năng, lợi thế của địa phương 37 1.3.3 Năng lực, khát vọng vươn lên làm giàu của người dân 39
Trang 51.3.4 Quy mô và tính chất của thị trường 40
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH
2.1.4 Một số thuận lợi, khó khăn đối với phát triển kinh tế hộ trên địa
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ CỦA THÀNH PHỐ
2.2.1 Thực trạng phát triển về số lượng 55 2.2.2 Thực trạng phát triển về chất lượng 56
2.2.5 Phân tích ảnh hưởng tác động của các chính sách khuyến khích phát triển Kinh tế hộ trên địa bàn thành phố Quy Nhơn thời gian
Trang 6CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN ĐẾN NĂM 2015 VÀ
3.1 CƠ SỞ TIỀN ĐỀ CHO VIỆC ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 77 3.1.1 Dự báo biến động môi trường phát triển kinh tế hộ trên địa bàn
3.1.2 Đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của
3.1.3 Quan điểm, phương hướng và mục tiêu phát triển Kinh tế hộ
3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN ĐẾN NĂM 2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM
3.2.1 Giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển về số lượng 87 3.2.2 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phát triển 89 3.2.3 Giải pháp tăng cường phát triển quy mô 90
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CÁC CẤP CÓ THẨM QUYỀN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ ĐẾN NĂM 2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020 99 3.3.1 Kiến nghị đối với chính quyền tỉnh Bình Định 99 3.3.2 Kiến nghị đối với các cơ quan, tổ chức có liên quan 100
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GDP Tổng sản phẩm quốc nội HKD Hộ kinh doanh
HĐND Hội đồng nhân dân NSNN Ngân sách nhà nước
THPT Trung học phổ thông THCS Trung học cơ sở UBND Ủy ban nhân dân XDCB Xây dựng cơ bản
Trang 8kỹ thuật, thành thị/nông thôn theo tổng điều tra dân số và
TP Quy Nhơn phân theo ngành kinh tế giai đoạn
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn hai thập kỷ tiến hành công cuộc đổi mới cùng với sự chuyển biến to lớn của nền kinh tế, kinh tế hộ gia đình (kinh tế hộ) đã từng bước phát triển và ngày càng khẳng định vai trò, vị trí của mình trong nền kinh tế nhiều thành phần dưới sự quản lý của Nhà nước Theo số liệu của Tổng cục Thống
kê tính đến cuối năm 2011 cả nước có 4.236.352 hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp; giải quyết cho 8.071.686 lao động Vai trò của kinh tế hộ không những giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tăng nguồn thu cho ngân sách mà còn là mạng lưới rộng lớn nhất, phát triển về tận những vùng xa, vùng khó khăn mà các lĩnh vực kinh doanh khác không đáp ứng được Nhờ đó, kinh tế
hộ là kênh quan trọng phân phối và lưu thông hàng hóa tới vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn, giúp cân đối thương mại và phát triển kinh tế địa phương [20,
tr 298-302]
Mặc dù vậy, trong nhiều năm qua khu vực kinh tế hộ vẫn là khu vực có quy mô kinh doanh nhỏ lẻ, công nghệ thiếu hiện đại, chất lượng sản phẩm chưa có sức cạnh tranh cao nhưng lại đối mặt trước nhiều thách thức khó khăn
về vốn, lao động, mặt bằng… đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế thế giới, khu vực và trong nước có nhiều biến động bất thường, lạm phát trong nước đang ở mức cao, sức mua giảm làm cho một số hộ kinh doanh có nguy cơ phá sản Nhà nước cũng mới chỉ có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa mà chưa có chính sách để hỗ trợ phát triển riêng cho kinh tế hộ Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là cần nghiên cứu một cách hệ thống để có cách nhìn bao quát về thực trạng kinh tế hộ cá thể từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển đối với thành phần kinh tế này trong thời gian đến
Trang 11Tại Quy Nhơn thành phần kinh tế hộ có từ rất lâu, tính đến cuối năm
2011 Quy Nhơn có 17.813 hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp, giải quyết việc làm cho 27.249 lao động, đóng góp GDP khoảng 954.124 nghìn đồng và đóng góp vào số thu ngân sách nhà nước khoảng 36 tỷ đồng Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, thành phần kinh tế hộ gia đình trên địa bàn Quy Nhơn cũng đang gặp không ít những khó khăn, hạn chế cần được tháo gỡ [5]
Với mong muốn góp phần đưa ra các giải pháp để phát triển thành
phần kinh tế hộ gia đình được tốt hơn em xin chọn nghiên cứu đề tài “Giải
pháp phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn Quy Nhơn” Đề tài tập
trung phân tích thực trạng quản lý lĩnh vực kinh tế hộ gia đình trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế hộ được tốt hơn trong thời gian đến
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến đặc điểm, vai trò, vị trí
và các công cụ chính sách sử dụng trong việc hỗ trợ và kiểm soát quá trình phát triển kinh tế hộ trong điều kiện công nghiệp hóa đất nước
- Làm rõ thực trạng, chỉ ra những thành công, hạn chế và các nguyên nhân dẫn đến hạn chế của kinh tế hộ trên địa bàn Quy Nhơn thời gian qua
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển và tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế hộ của thành phố Quy Nhơn đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Do lĩnh vực kinh tế hộ là tương đối rộng nên đề tài này tác giả chỉ tập trung đi nghiên cứu những vấn đề liên quan đến kinh tế
hộ (hộ kinh doanh cá thể) không bao gồm các hộ trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp Đề tài cũng đi nghiên cứu các hộ kinh doanh có đăng ký kinh
Trang 12doanh và chưa đăng ký kinh doanh
- Phạm vi nghiên cứu:
* Không gian nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu các hộ kinh doanh phi nông nghiệp có trụ sở đặt tại thành phố Quy Nhơn và không phân biệt có hộ khẩu thường trú hay không có hộ khẩu thường trú
* Thời gian để nghiên cứu: Số liệu thu thập sử dụng để nghiên cứu chủ yếu trong vòng 5 năm gần nhất (từ 2007-2011) và dự kiến sẽ áp dụng đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Làm rõ thực trạng phát triển kinh tế hộ trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, nhằm tìm ra những giải pháp tiếp tục phát triển kinh tế hộ cho phù hợp với điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa và phát triển kinh tế thị trường
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ trên địa bàn thành phố Quy Nhơn được tốt hơn trong thời gian đến
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế hộ
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế hộ trên địa bàn thành phố Quy
Nhơn
Chương 3: Giải pháp phát triển kinh tế hộ trên địa bàn thành phố Quy
Nhơn đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
6 Tổng quan tài liệu
Chủ đề về lĩnh vực kinh tế hộ đã được nhiều tác giả đề cập từ khá lâu, tuy nhiên tên cụ thể đề tài “Giải pháp phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn Quy Nhơn” thì từ trước đến nay chưa có tác giả nào đề cập nghiên cứu và đưa ra giải pháp thực hiện Đối tượng nghiên cứu của đề tài này tác giả chỉ
Trang 13giới hạn trong phạm vi các hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp mang tính kinh tế hơn là tính xã hội
Một số nghiên cứu trước đây chủ yếu chỉ tập trung đề cập đến kinh tế hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông, lâm và ngư nghiệp nằm trong Chương trình
hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn, hỗ trợ phát triển vùng sâu, vùng xa
và vùng có kinh tế đặc biệt khó khăn như Chương trình 135, xây dựng nông thôn mới… Những nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào Chiến lược quốc gia
về xóa đói giảm nghèo mang tính xã hội là chính, không mang tính kinh tế, không đặc nặng những đóng góp của thành phần kinh tế hộ gia đình cho việc phát triển kinh tế địa phương, đóng góp GDP, đóng góp ngân sách nhà nước, việc làm và thu nhập cho người lao động
Qua tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu, về chủ đề này cũng có một số bài viết có đề cập đến như bài Phát triển kinh tế hộ gia đình trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay của Thạc sỹ Đinh Văn Quảng - Phó Vụ trưởng Vụ Gia đình, Uỷ ban Dân số, gia đình và trẻ em; Bài Vai trò và vị trí của kinh tế hộ gia đình trong phát triển kinh tế và giải quyết việc làm - Bài đăng trên trang thông tin của Bộ Lao động Thương binh và xã hội; Bài Hộ kinh doanh cá thể
là gì ? của Tiến sĩ Ngô Huy Cương - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội… Nhìn chung các bài viết trên có đưa ra một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế hộ, có đề cập một số vai trò, trị trí và tầm quan trọng cũng như một số khó khăn nhất định của kinh tế hộ hiện nay Tuy nhiên, những quan điểm nhận định đưa ra còn phiến diện thiếu tính bao quát và còn mang tính chung chung, đặc biệt là do chưa đưa ra kết quả điều tra khảo sát thực tế về kinh tế
hộ nên cách nhìn nhận, đánh giá chưa được cụ thể sát đáng, do kết quả nghiên cứu còn thiếu tính thực tiễn nên các bài viết này cũng chỉ dừng lại ở góc độ bàn luận chứ chưa thể đưa ra các giải pháp thực hiện cụ thể
Nghiên cứu rút kinh nghiệm từ các bài viết về lĩnh vực kinh tế hộ trước
Trang 14đây và xuất phát từ quan điểm, đường lối và chủ trương đổi mới của Đảng về thành phần kinh tế Hộ gia đình thể hiện rõ tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tại Hà Nội từ ngày 15 đến 18/12/1986 và được quy định
tại Điều 16 Hiến pháp 1992 "giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi
tiềm năng của các thành phần kinh tế" Nhà nước thừa nhận sự tồn tại lâu dài
của kinh tế cá thể trong nền kinh tế quốc dân Điều 21 Hiến pháp 1992 cũng
quy định "kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức
sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp, không bị hạn chế và quy
mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi ích cho quốc kế dân sinh"
Quan điểm đó đã được Đảng Cộng sản Việt Nam duy trì, phát huy cho phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của Việt Nam theo từng giai đọan Mới đây tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 12/01/2011 đến ngày 19/01/2011 tại Hà Nội Đảng ta tiếp tục
đề cập và xem Kinh tế tư nhân (trong đó có kinh tế hộ gia đình )là một trong
những động lực phát triển của nền kinh tế…“Hoàn thiện cơ chế, chính sách
để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật ” Và Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng định hướng: “Hỗ trợ các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, các trang trại, hộ sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong nông nghiệp và khu vực nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế.”
Xuất phát từ chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và qua nghiên cứu thực tiễn những đóng góp của thành phần kinh tế
hộ gia đình trong những năm qua, cũng như qua tham khảo một số bài viết liên quan đến chủ đề Kinh tế hộ gia đình, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Giải pháp phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn Quy Nhơn” để làm đề tài
Trang 15nghiên cứu cho Luận văn Thạc sĩ của mình
Mặc dù với các phương pháp nghiên cứu cũ như phương pháp phân tích thống kê, phương pháp phân tích khám phá, phương pháp dự đoán, phương pháp hồi quy, phương pháp so sánh, phương pháp điều tra thực chứng, phương pháp điều tra xã hội học… , tuy nhiên lĩnh vực nghiên cứu của
đề tài rộng, nguồn tài liệu có liên quan để tham khảo rất hạn chế chủ yếu bám sát chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thực tiến công tác quản lý
hộ kinh doanh Ngoài ra, tác giả cũng sẽ tiến hành chọn mẫu khảo sát thực tế khoảng 100 cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố Quy Nhơn để qua đó có một bức tranh hiện thực về phát triển hộ kinh doanh, nắm được những phản ánh về cơ chế chính sách, thái độ phục vụ của các cơ quan liên quan trong qiá trình quản lý và những nguyện vọng, những đề xuất của họ trong thời gian đến để từ đó tác giả đưa ra lập luận, đưa ra những nhóm giải pháp từ phía các cơ quan Nhà nước cũng như những nhóm giải pháp từ chính các hộ kinh doanh cần nên thực hiện để phát triển kinh tế hộ gia đình giai đọan đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
Do kiến thức còn hạn chế, nội dung tài liệu liên quan để tham khảo cũng không nhiều nên đề tài cũng không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Với quyết tâm cao của chính bản thân tác giả, sự tận tình hướng dẫn của Tiến
sĩ Đào Hữu Hòa - Phó Hiệu trưởng Trưởng Đại học Kinh tế Đà Nẵng và những góp ý xây dựng của Hội đồng khoa học về bảo vệ luận văn tác giả xin hứa sẽ tiếp thu và hoàn thiện đề tài trong thời gian sớm nhất
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ HỘ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA
1.1.1 Khái niệm kinh tế hộ
Trong lịch sử kinh tế của Việt Nam, có rất nhiều khái niệm nói về kinh
tế hộ Tuy nhiên, nhìn chung các khái niệm đều xem “hộ” là một cơ sở kinh tế
có các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ hoàn hảo không cao
Về mặt pháp lý, kinh tế hộ được thể hiện dưới hình thức hộ cá thể (hay
hộ kinh doanh cá thể)
Cơ sở pháp lý của loại hình hộ cá thể được thiết lập chính thức ở Nghị định 27-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 09/3/1998, theo Nghị định này thì Nhà nước công nhận sự tồn tại và các tác dụng tích cực lâu dài của thành phần kinh tế cá thể trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân của nước ta Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho thành phần kinh tế cá thể hoạt động, phát triển trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, dịch vụ, xây dựng, vận tải với quy
mô ngành nghề thích hợp Mọi công dân Việt Nam có vốn, có tư liệu sản xuất, có kỹ thuật chuyên môn, có sức lao động đều có quyền kinh doanh theo hình thức này trừ cán bộ, viên chức Nhà nước tại chức Các đơn vị kinh tế cá thể thời kỳ này là những đơn vị kinh tế tự quản, có tư liệu sản xuất và vốn khác thuộc sở hữu người chủ đứng tên đăng ký kinh doanh, cá thể kinh doanh trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, chủ hộ kinh doanh có quyền xin nghĩ, sát nhập thành các đơn vị kinh tế tập thể, công ty hợp doanh, có quyền xin gia
Trang 17nhập các tổ chức liên kết liên doanh với các đơn vị kinh tế quốc doanh, các đơn vị kinh tế tập thể theo hình thức thích hợp
Các đơn vị kinh tế này được tổ chức theo những hình thức:
(1) Hộ cá thể
(2) Hộ tiểu công nghiệp
(3) Xí nghiệp tư doanh
Hộ cá thể, theo Nghị định có các điều kiện sau: tư liệu sản xuất và các vốn khác thuộc quyền sở hữu của người đứng tên đăng ký kinh doanh, chủ đăng ký kinh doanh phải là người lao động trực tiếp; những người lao động khác phải là bố mẹ, vợ chồng, con hoặc những người thân khác có tên trong sổ
Sau này Chính phủ ban hành một số Nghị định làm rõ hơn tính pháp lý đăng ký hộ khẩu của người đứng tên đăng ký kinh doanh; thu nhập sau khi đóng thuế thuộc quyền sở hữu của chủ hộ.của hộ cá thể Tên gọi “ Hộ kinh doanh cá thể” được ghi nhận tại hai Nghị định của Chính phủ về đăng ký kinh doanh là Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/12/2000 và Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004
Nghị định số 109/2004/NĐ-CP định nghĩa: Hộ kinh doanh cá thể do một
cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh dianh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh (Điều 24, khoản 1) Hiện nay, khái niệm hộ kinh doanh cá thể được chính thức đổi tên thành
hộ kinh doanh Và tại Điều 36 Nghị định số 36/2006/NĐ-CP ngày 29/08/2006
và Điều 49 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 của Chính phủ về
đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh được định nghĩa như sau: Hộ kinh
doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một
hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng
Trang 18không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh
Định nghĩa trên về “hộ kinh doanh” cho thấy hộ kinh doanh được chia thành ba loại căn cứ vào chủ tạo lập ra nó:
(1) Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ;
(2) Hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ;
(3) Hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ
Như vậy, căn cứ vào chủ thể tạo lập ra nó, hộ kinh doanh có thể được hình thành theo ba cách khác nhau: Do một cá nhân đăng ký thành lập, do hộ gia đình hoặc do một nhóm người làm chủ Trong trường hợp cá nhân muốn thành lập hộ kinh doanh ngoài việc phải thực hiện các thủ tục theo quy định còn phải đáp ứng đủ điều kiện về độ tuổi là từ 18 tuổi trở lên
1.1.2 Đặc điểm của kinh tế hộ
- Kinh tế hộ không có tư cách pháp nhân
Theo quy định tại Điều 84 Bộ luật dân sự nước Việt Nam năm 2005, một tổ chức được công nhận là pháp nhân phải đáp ứng đủ 04 điều kiện sau đây:
Trang 19có các phòng ban chặt chẽ Về tài sản của kinh tế hộ với tài sản của cá nhân chủ kinh tế hộ (của một nhóm người hoặc của hộ gia đình) là không thể phân biệt được, tài sản của kinh tế hộ cũng chính là tài sản của chủ kinh tế hộ (của một nhóm người hoặc của hộ gia đình) và ngược lại
- Kinh tế hộ là hình thức kinh doanh có quy mô nhỏ
Theo quy định tại Điều 49 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, kinh tế hộ chỉ được sử dụng thường xuyên không được vượt quá 10 lao động và chỉ được kinh doanh tại một địa điểm Điều này ràng buộc nếu quy mô kinh doanh vượt quá 10 lao động hoặc muốn mở rộng kinh doanh cùng lúc nhiều địa điểm bắt buộc các kinh tế hộ phải chuyển lên công ty, doanh nghiệp Việc quy định như vậy mặc
dù còn chưa được phù hợp đối với một số kinh tế hộ ngành nghề, lĩnh vực mang tính đặc thù như ăn uống, giải khát cần rất nhiều lao động cùng lúc, tuy nhiên có ý nghĩa định hướng khuyến khích các kinh tế hộ có quy mô tương đối lớn nên phát triển thành các loại hình doanh nghiệp, đây được xem là môi trường kinh doanh mang tính năng động hơn, tính cạnh tranh, liên doanh liên kết tốt hơn và dĩ nhiên sẽ phù hợp với thông lệ quốc tế hơn
Trên thực tế, hầu như các kinh tế hộ đều có quy mô nhỏ lẻ thậm chí cũng có những kinh tế hộ rất nhỏ với một người đứng ra thành lập và tự kinh doanh không thuê mướn lao động như một tiệm cắt tóc, tiệm may, tiệm photo, bán tạp hóa nhưng yếu tố nhỏ lẻ về quy mô kinh doanh này không bắt nguồn từ quy định của pháp luật mà do thiếu vốn kinh doanh, thiếu mặt bằng dẫn đến quy mô kinh doanh nhỏ lẻ, phân tán
- Chủ hộ chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ
Trong kinh tế hộ tài sản chung của hộ và tài sản riêng của chủ hộ không
là không phân biệt được nên lợi nhuận làm ra của hộ kinh doanh cũng chính
là lợi nhuận của chủ hộ Do đó, chủ hộ phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với
Trang 20các khoản nợ của hộ, có nghĩa là chủ hộ phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình kể cả tài sản không đưa vào kinh doanh
- Tính bền vững của kinh tế hộ không cao
Kinh tế hộ thường do thiếu vốn, không ổn định về mặt bằng, chủ yếu tận dụng mặt bằng, nguyên liệu hoặc lợi thế sẳn có để sản xuất kinh doanh Vì vậy khi môi trường kinh doanh có sự thay đổi cơ hội kinh doanh không còn được thuận lợi thì kinh tế hộ dễ bị phá vỡ Chẳng hạn, các kinh tế hộ bán đồ lưu niệm xung quanh các điểm du lịch nhưng khi khách du lịch đến tham quan ít, ế ẩm dễ dẫn đến chấm dứt hoạt động; hoạt động cho thuê nhà trọ sinh viên, cơm cho sinh viên nhưng khi sinh viên nghỉ hè thì các hộ này chấm dứt hoặc tạm ngừng ngay hoạt động…
Tính không ổn định của kinh tế hộ còn thể hiện sự không ổn định ngành nghề kinh doanh, việc thay đổi ngành nghề kinh doanh được cho là bình thường của chủ hộ, với quan niệm “kinh doanh ngành nghề này không được thì kinh doanh ngành nghề khác” Với số vốn kinh doanh bỏ ra nhỏ, lao động không nhiều, không có máy móc thiết bị… nên việc chuyển đổi ngành nghề kinh doanh tương đối dễ dàng, linh động phù hợp với từng thời điểm, tùy thuộc vào nhu cầu của khách hàng “cần gì bán đó” miễn sao có lời là được mà không quan tâm đến tính lâu dài, vấn đề thương hiệu… như các công ty, doanh nghiệp Một tiệm bán phở hôm trước nhưng cũng có thể chuyển sang bán cơm ngày hôm sau hoặc có thể tháng sau kinh doanh nhà trọ…
Tính không bền vững của Kinh tế hộ xét theo khía cạnh tích cực là ưu điểm để loại hình này tồn tại và phát triển, luôn thích ứng với mọi tình huống của thị trường, các sản phẩm dịch vụ cung ứng mang tính thực tế thiết yếu thường gần gũi với người dân như nhu cầu ăn uống, dịch vụ đi lại, dịch vụ dạy học, tạp vụ, giữ xe, trông coi trẻ đây là ưu điểm mà cũng là đặc trưng chỉ có kinh kế hộ gia đình mới có được, các loại hình doanh nghiệp khác
Trang 21không thể có được, chính vì vậy mà khi nền kinh tế khủng hoảng, một số thị trường không tiêu thụ hoặc tiêu thụ chậm thì hàng loạt các công ty, doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực đó rơi vào trạng thái khó khăn thậm chí phải chọn giải thể hoặc tuyên bố phá sản, một số ít chuyển đổi sang kinh doanh ngành nghề, lĩnh vực khác nhưng việc chuyển đổi này không phải một sớm một chiều vì phải giải quyết những máy móc thiết bị đã mua sắm trước đây, công nhân đã đào tạo nay phải đào tạo lại, thị trường hoàn toàn mới rất tốn kém chi phí, khó khăn chồng chất khó khăn
Tuy nhiên, tính không ổn định của Kinh tế hộ bộc lộ nhiều hạn chế như rủi ro rất cao không ai đảm bảo thực hiện, nhà nước hoặc địa phương chỉ có thể hỗ trợ trong việc tạo ra môi trường pháp lý cho các kinh tế hộ phát huy lợi thế kinh doanh đặc thù của địa phương hoặc làng nghề truyền thống như làng nón, nem chả, nước mắm, du lịch, rượu, chứ không thể chạy theo việc chuyển đổi ngành nghề của kinh tế hộ được Ngoài ra, tính không bền vững của Kinh tế hộ còn bộ lộ hạn chế trong việc tạo liên doanh liên kết theo từng ngành hàng, sản phẩm cung ứng không ổn định về số lượng, chất lượng sản phẩm không cao dễ mất thị trường đó là chưa nói đến thương hiệu và khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại đối với thị trường trong khu vực
tế hộ cũng vừa là người trực tiếp bưng bê, ghi chép, thậm chí là nhân viên
Trang 22giao hàng Trong khi đó, các loại hình công ty, doanh nghiệp lại khác hoàn toàn, chủ doanh nghiệp chỉ nắm vai trò quản lý điều hành mang tính chất vĩ
mô, lao động trực tiếp mới là người làm ra sản phẩm, dịch vụ
Do không phân biệt được lao động của chủ hộ và lao động làm thuê trong kinh tế hộ nên lợi nhuận mang lại từ hoạt động sản xuất kinh doanh không tính toán được mà chủ hộ chỉ ước lượng Một số trường hợp mặc dù kinh tế hộ thấy có lãi nhưng thực chất đó chính là tiền công của chủ hộ, nếu tính trừ mức tiền công đó thậm chí hòa vốn hoặc bị lỗ, như vậy trong trường hợp này thực chất thay vì đi làm thuê cho người khác thì chủ kinh tế hộ chọn
giải pháp làm thuê cho chính mình “lấy công làm lời”
1.1.3 Vai trò của kinh tế hộ
Việt Nam là nước đang phát triển với hơn 70% dân số sống ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, mức thu nhập thấp, lao động nhàn rỗi
và nhiều lại đang trong qua trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì phát huy tiềm lực của kinh tế hộ là rất cần thiết Theo số liệu Tổng cục Thống kê, tính đến cuối năm 2011 Việt Nam có khoảng 4.236.352 hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp góp phần giải quyết việc làm cho 8.071.686 người Chỉ tính riêng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực
tế tính đến cuối năm 2011 đã là 1.005 nghìn tỷ đồng, chiếm 50,2 % cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế cả nước Ngoài ra, hàng năm lĩnh vực kinh tế hộ còn đóng góp hàng trăm ngàn
tỷ đồng, góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế của địa phương… [20, tr.298-302]
Thông qua khâu mua bán lẻ, thành phần kinh tế hộ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm, kích thích thị trường chung phát triển Kinh tế hộ còn là nền tảng, cơ sở ban đầu để hình thành phát triển lên công ty, doanh nghiệp
Trang 23- Đóng góp GDP cho kinh tế của địa phương
Kinh tế hộ gia đình đã có những đóng góp nhất định vào tổng sản phẩm (GDP) cho kinh tế của thành phố nói riêng và cả nước nói chung Tỷ lệ đóng góp bình quân giai đoạn 2007-2011 ở mức trung bình là 6,7%, trong đó năm
2007 là 5,7%, năm 2008 là 6,2%, năm 2009 là 6,8%, năm 2010 là 7,3% Chỉ tính riêng năm 2011 tỷ lệ phần trăm GDP khu vực kinh tế hộ đóng góp chiếm 7,7% với tổng số sản phẩm được tạo ra, tương ứng với số tiền là 335.986 triệu
đồng (theo giá so sánh 1994) Tốc độ đóng góp GDP hàng năm là không đều bình quân giai đoạn 2007-2011 là 20,3% Các giai đoạn 2007-2008, giai đoạn
2009-2010 GDP tăng nhưng các giai đoạn 2007-2008, giai đoạn 2010-2011 lại giảm Qua số liệu trên cho thấy từ năm 2007-2011 số lượng hộ kinh doanh liên tục tăng về mặt lượng nhưng tỷ lệ đóng góp GDP của khu vực này là
TP Quy Nhơn
Tốc độ tăng GDP của HKD hàng năm (%)
Trang 24Nếu so sánh tổng giá trị sản xuất (GDP) theo giá thực tế năm 2011 khu vực kinh tế hộ đã đóng góp 954.124 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng trưởng là 14,8% Trong đó, ngành công nghiệp đóng góp tới 49% tương ứng với số tiền là 462.750 triệu đồng, khu vực dịch vụ cũng đóng góp tỷ lệ cao bằng 46,5% tương ứng với 443.668 triệu đồng
Bảng 1.2 Đóng góp GDP theo giá thực tế và phân theo ngành kinh tế
Chia ra Năm
Nguồn: Chi cục Thống kê TP Quy Nhơn
Nhìn chung tốc độ tăng trưởng còn chậm và có xu hướng dịch chuyển dần từ ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản sang các ngành nghề công nghiệp-
xây dựng và dịch vụ [4, tr.15-16]
- Đóng góp vào tổng số thu ngân sách nhà nước địa phương
Ngoài vai trò chính đóng góp vào việc tăng trưởng của nền kinh tế và giải quyết việc làm cho người lao động, kinh tế hộ gia đình còn đóng góp một phần về số thu ngân sách nhà nước hàng năm cho địa phương Theo số
Trang 25liệu thống kê từ Chi cục Thuế thành phố Quy Nhơn năm 2011 tổng số thu từ kinh tế hộ của thành phố là 36 tỷ đồng/tổng số thu của thành phố là 584 tỷ đồng, tăng gấp đôi số thu năm 2007 là 18 tỷ đồng, số thu bình quân giai đoạn 2007-2011 là 27,2 tỷ đồng Các sắc thuế thu từ kinh tế hộ thường bao gồm các loại sau:
(1) Thuế Môn bài
(2) Thuế Giá trị gia tăng
(3) Thuế Thu nhập cá nhân
(4) Thuế Tiêu thụ đặc biệt
Bảng 1.3 Đóng góp số thu NSNN giai đoạn 2007-2011
Trong đó
Năm
Tổng thu NSNN TP Quy Nhơn
(tỷ đồng)
Thu NSNN từ HKD
(tỷ đồng)
% số thu HKD
so với tổng thu của Quy Nhơn
Tốc độ tăng hàng năm của số thu
Nguồn: Chi cục Thuế TP Quy Nhơn
Mặc dù số thu NSNN từ lĩnh vực kinh tế hộ gia đình của thành phố là không nhiều, tổng số thu tiền thuế năm 2011 khoảng 36 tỷ đồng chiếm 6,2%
số thu của toàn Chi cục thuế thành phố Quy Nhơn nhưng số thuế thu được tăng hàng năm cũng phản ảnh một phần về tình hình phát triển kinh tế hộ của thành phố Kinh tế hộ có phát triển mới góp phần vào việc tăng thu ngân sách
và ngược lại Do đó, tốc độ phát triển của hộ kinh doanh thường tỷ lệ thuận
Trang 26với mức độ đóng góp về NSNN của kinh tế hộ và ngược lại
Những năm gần đây hoạt động sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ đã gặp nhiều khó khăn về thị trường bán ra (sức mua giảm) do bị ảnh hưởng bởi tình hình suy thoái kinh tế trong và ngoài nước, tuy nhiên do lĩnh vực kinh tế
hộ là lĩnh vực kinh tế tương đối nhỏ nên tác động của suy thoái kinh tế là có nhưng không ảnh hưởng nghiêm trọng như các khu vực kinh tế có kế hoạch khác như khu vực kinh tế từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp vừa và nhỏ Vì vậy, nếu nhìn từ góc độ tổng thể thì kinh tế hộ vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng mặc dù tăng trưởng chậm hơn những năm trước Tổng sản phẩm sản xuất (GDP) và đóng góp số thu NSNN liên tục tăng trong các năm qua
(Xem hình 1.1)
0 100
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Số thu TP Quy Nhơn (Tỷ đồng) Số thu hộ kinh doanh (Tỷ đồng)
Hình 1.1 Tình hình số thu NSNN giai đoạn 2007-2011
Nguồn: Chi cục Thuế TP Quy Nhơn
- Kích thích, thúc đẩy thị trường phát triển
Trong nền kinh tế thị trường hàng hóa luôn luôn được trao đổi và thông thương, kinh tế hộ được xem là một khâu, mà mắc xích quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm đầu vào và cũng vừa phân phối các sản phẩm đầu ra
Trang 27cho các doanh nghiệp
+ Đối với thị trường đầu vào: Các hộ kinh doanh tham gia thị trường đầu vào của các doanh nghiệp thông qua việc cung ứng các nguyên vật liệu do
tự khai thác, chế biến hoặc kinh doanh mua bán các nguyên liệu từ người nông sản xuất trực tiếp với các doanh nghiệp khi có nhu cầu các sản nguyên liệu này như các sản phẩm liên quan đến các mặt hàng nông, lâm và thủy sản Các doanh nghiệp thường có nhu cầu mua nguyên liệu đầu vào từ người nông dân nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thu mua theo giá tốt và lựa chọn những nguyên liệu đạt theo tiêu chuẩn mà mình cần mua, nhất là số lượng thu mua có thể rãi rác khắp nơi Trong trường hợp này hộ kinh doanh
do trụ sở đặt trực tiếp gần nơi sản xuất nguyên liệu do đó việc tổ chức thu mua để bán lại hoặc cũng có thể thông qua sơ chế, phân loại, tái chế trước khi bán cho các doanh nghiệp
+ Đối với thị trường bán ra: Thị trường hàng hóa từ khâu sản xuất, nhập khẩu đến tay người tiêu dùng thường thông qua nhiều công đoạn mới đến tay người tiêu dùng Với đặc thù là thành phần kinh tế nhỏ, kinh tế hộ là mắc xích, là khâu trung gian quan trọng trong việc phân phối hàng hóa đến trực tiếp với những người tiêu dùng Vì vậy, vai trò của kinh tế hộ là không thể thiếu được trong việc giúp cho người tiêu dùng có cơ hội tiếp xúc được với hàng hóa đặc biệt là những mặc hàng thiết yếu hàng ngày và đối với những vùng xa, vùng sâu, miền biên giới, hải đảo…
Trong giai đoạn hiện nay khi mà nhiều siêu thị ồ ạt ra đời tại các thành phố lớn, mặt khác thu nhập của người tiêu dùng cũng từng bước được cải thiện dẫn đến thói việc mua sắm hàng hóa tại các cửa hàng cửa hiệu và tại các chợ cũng bị ảnh hưởng giảm đáng kể Mặc dù vậy nhưng nhiều người tiêu dùng vẫn còn thói quen mua sắm, ăn uống ở các cửa hàng cửa hiệu, vỉa hè và xem đó là nét văn hóa đặc trưng không thể nào thiếu được từ xưa đến nay
Trang 28Mặt khác, thực tế cho thấy không phải bất kỳ người tiêu dùng nào cũng có cơ hội để tiếp cận các dịch vụ của hệ thống siêu thị bán lẻ Đối với khu vực nông thôn vai trò của kinh tế hộ được thể hiện rõ nét hơn trong việc đưa hàng hóa, dịch vụ đến với người dân Vì hàng hóa sản xuất hoặc nhập khẩu muốn đến được tay người tiêu dùng phải trãi qua nhiều khâu trong đó kinh tế hộ là khâu thương mại trung gian quan trọng góp phần đưa hàng hóa, dịch vụ đến gần với người tiêu dùng nhất
Tóm lại, việc phát triển sôi động khu vực kinh tế hộ góp phần quan
trọng trong việc thúc đẩy thị trường hàng hóa, dịch vụ của cả nước phát triển
- Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động
Một trong những vai trò rất quan trọng của lĩnh vực kinh tế hộ gia đình
là giải quyết công ăn việc làm ngày càng nhiều cho người lao động Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2011 cả nước đã có 8.701.686 người đang làm việc trong lĩnh vực kinh tế hộ gia đình, tăng 8% so với năm 2010, bằng 44% so với năm 2005 Trong đó, năm 2011 khu vực miền Trung có 1.615.431 lao động và khu vực Tây Nguyên có 301.769 lao động hiện đang làm việc trong lĩnh vực kinh tế hộ
Tại tỉnh Bình Định, tính đến cuối năm 2011 có 144.793 lao động làm việc trong lĩnh vực kinh tế hộ, đứng thứ ba tính cả khu vực miền Trung (sau Thanh Hóa và Nghệ An) và cao nhất so với các tỉnh thuộc khu vực Nam miền Trung từ Quảng Nam đến Bình Thuận và cao hơn cả các tỉnh Tây Nguyên [20, tr 301-302]
Năm 2005 tại Bình Định chỉ có 101.237 lao động làm việc trong khu vực kinh tế hộ, từ năm 2006 đến năm 2011 số lao động ngày càng tăng, cụ thể năm 2008 có 123.308 lao động, năm 2009 có 129.954 lao động, năm 2010 có 137.825 lao động và năm 2011 đã có 144.793 lao động đang làm việc lĩnh vực kinh tế hộ gia đình
Trang 29Bảng 1.4 Lao động trong lĩnh vực kinh tế hộ năm 2011
Tỉnh/TP Năm 2005 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Cả nước 5.583.617 6.699.595 7.065.451 7.435.629 8.071.686
Miền Trung 1.113.481 1.377.227 1.479.806 1.519.102 1.615.431
Thanh Hóa 215.483 239.774 295.263 268.982 268.178 Nghệ An 136.363 179.510 191.587 207.981 260.777
Hà Tĩnh 65.621 76.136 83.128 95.225 103.322 Quảng Bình 66.616 76.795 81.085 86.473 91.125 Quảng Trị 36.026 42.972 45.329 47.751 50.063 Thừa T-Huế 71.650 86.885 84.439 91.814 87.040
Đà Nẵng 55.812 77.835 78.511 86.042 93.578 Quảng Nam 67.368 86.250 89.078 95.190 98.060 Quảng Ngãi 79.575 93.099 94.099 100.060 102.134 Bình Định 101.237 123.308 129.954 137.825 144.793 Phú Yên 50.267 62.785 72.938 67.810 72.428 Khánh Hòa 68.897 96.057 94.887 96.453 99.359 Ninh Thuận 40.944 50.739 55.155 54.556 57.909 Bình Thuận 57.622 85.082 84.353 82.940 86.665
Tây Nguyên 185.744 247.775 270.098 297.783 301.769
Kom Tum 17.025 20.677 22.565 38.578 29.926 Gia Lai 41.974 46.075 51.484 57.411 59.204 Đắc Lắc 54.974 81.537 91.543 90.486 94.673 Đắc Nông 12.498 21.619 23.101 23.723 25.772 Lâm Đồng 59.273 77.867 81.405 87.585 92.194
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trang 30Trong giai đoạn nền kinh tế gặp nhiều khó khăn như hiện nay, việc làm
ở các khu công nghiệp, khu chế xuất ở các công ty, tổng công ty khu vực chính thức đang có chiều hướng giảm sút thì khu vực phi chính thức này là
“cái phao”, “cái van” giúp tạo thêm việc làm cho khu vực chính thức
Với ưu điểm cần ít vốn, không cần kỹ thuật, tay nghề cao, linh hoạt chuyển đổi, khu vực kinh tế phi kết cấu là nơi dễ tạo việc làm, đặc biệt cho lao động phổ thông, không kén việc, mà chỉ cần chăm chỉ, chịu khó là dễ kiếm được việc làm Người ta vẫn nói “Lấy ngắn nuôi dài”, “năng nhặt chặt bị”, … Người lao động nào đang mất việc nếu chịu khó cố gắng tạo ra cho mình một việc làm từ khu vực kinh tế phi kết cấu này hẵn một điều không phải là quá khó
Dù là thế nào đi chăng nữa “phồng lên” hay “xẹp xuống” đi chăng nữa thành phần kinh tế này cũng không thể thiếu được và nó tự sản sinh, tồn tại và chấm dứt theo một quy luật khách quan ở tất cả các nước [2]
- Nâng cao thu nhập cho người lao động
Lĩnh vực kinh tế hộ gia đình đã góp phần nâng cao thu nhập, giúp cải thiện cuộc sống của người dân
Hiện nay cả nước có khoảng 8.071.686 lao động làm việc trong lĩnh vực kinh tế hộ gia đình phi nông nghiệp không chỉ tạo việc làm, thu nhập, xóa đói giảm nghèo cải thiện cuộc sống cho những người có thu nhập thấp ở cả khu vực thành thị và nông thôn; giải quyết tình trạng lao động nông nhàn, và thực hiện chính sách “ly nông bất ly hương” của Đảng và Nhà nước [22, tr.300] Nhờ có những hộ kinh doanh cá thể này nên những người ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa mới có điều kiện tiếp cận với các hàng hóa, dịch vụ sớm hơn, nhanh hơn và chắc chắn với giá rẻ hơn Thêm vào đó, khu vực này còn là nơi tiếp nhận những người lao động không đủ trình độ, tiêu chuẩn làm việc trong khu vực doanh nghiệp, khu vực hành chính sự nghiệp
Trang 31Với mong muốn tăng thu nhập bằng cách tận dụng những lợi thế kinh doanh của mình có được, kinh tế hộ đã giúp cho thu nhập của các hộ gia đình tăng lên đáng kể Với quan điểm và kinh nghiệm từ ông cha ta để lại “phi thương bất phú”, có kinh doanh mới có cơ hội làm giàu Tính chất làm giàu ở đây là tự tay mình làm cho chính mình mà không đi làm thuê cho người khác Đối với những người thất nghiệp, không có thu nhập thì việc thành lập
hộ kinh doanh giúp cho họ vừa giải quyết việc làm, vừa có thu nhập để nuôi sống gia đình cải thiện cuộc sống vốn đang khó khăn hiện tại Những người
đã có thu nhập chính từ nơi khác như lao động đã có việc làm ổn định từ công ty, doanh nghiệp hoặc cán bộ, công chức, viên chức nhà nước đã nghỉ hưu … thì việc mở tiệm kinh doanh vừa là niềm vui và cũng là góp phần để nâng cao thu nhập thêm ngoài số tiền lương hoặc tiền lương hưu Nhưng có những chủ kinh tế hộ xác định ngay từ đầu là coi kinh tế hộ là môi trường thử nghiệm, là cơ sở tiền đề cần phải trải qua trước khi trở thành doanh nghiệp, công ty Những đối tượng này thường rất biết chắt chiu từng quan hệ khách hàng, biết ý thức giữ gìn và phát huy thương hiệu kinh doanh, công tác điều hành kinh doanh cũng chuyên nghiệp hơn và dĩ nhiên mục đích kinh doanh vẫn mong muốn để kiếm lời, nhưng mục đích chính không dừng lại ở
đó mà hướng đến mở rộng quy mô kinh doanh, mở rộng thị trường bởi kinh
tế hộ chẳng qua chỉ là môi trường thử nghiệm, tạo cơ sở tiền đề chuyển thành công ty, doanh nghiệp
Một số trường hợp chủ kinh tế hộ vừa đồng thời là chủ công ty, doanh nghiệp giống như mô hình công ty mẹ-công ty con Việc thành lập và hoạt động song song như vậy nhằm giúp cho công ty chủ động được nguồn hàng đầu vào đảm bảo không bị động về hóa đơn đầu vào theo quy định phải có và ngược lại kinh tế hộ cũng là kênh phân phối các sản phẩm đầu ra cho các công ty thay vì thành lập các chi nhánh, văn phòng đại diện
Trang 32- Cơ sở, tiền đề phát triển thành công ty, doanh nghiệp
Vai trò của kinh tế hộ còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra tiền
đề, cơ sở ban đầu để phát triển thành công ty, doanh nghiệp Thực tế cho thấy nhiều công ty, doanh nghiệp đi lên từ cơ sở kinh doanh Việc phát triển các hình thức doanh nghiệp đi từ cơ sở kinh doanh đánh dấu một quy luật khách quan đó là sự ra đời-tồn tại và phát triển của kinh tế hộ Sự phát triển của kinh
tế hộ không có nghĩa là phải tồn tại mãi mãi, khi cơ sở kinh doanh phát triển đến một mức độ nào đó muốn đầu tư mở rộng quy mô, mở rộng thị trường tất yếu phải chuyển thành công ty, doanh nghiệp Điều này chúng ta thường thấy nhất ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
1.1.4 Khái niệm phát triển kinh tế hộ
Phát triển kinh tế hộ là sự tăng trưởng cả về mặt lượng lẫn mặt chất của các hộ kinh doanh
Về mặt lượng, phát triển kinh tế hộ được thực hiện thông qua sự gia tăng số lượng hộ kinh doanh; gia tăng quy mô của hộ kinh doanh bằng việc gia tăng các yếu tố nguồn lực như lao động, vốn, kỹ thuật công nghệ…; từ đó làm gia tăng kết quả đầu ra như gia tăng sản lượng hàng hóa, gia tăng giá trị sản xuất, mở rộng thị trường,…
Về mặt chất, phát triển kinh tế hộ được thể hiện ở sự gia tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của bản thân các hộ kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ; gia tăng tích lũy cho hộ kinh doanh; gia tăng sự đóng góp cho
xã hội của các hộ kinh doanh như đóng góp vào GDP, thúc đẩy sự phát triển của hộ kinh doanh, đóng góp cho ngân sách nhà nước, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân,
Quá trình phát triển kinh tế hộ trãi qua 3 giai đoạn: Giai ra đời (giai đoạn thành lập), giai đoạn phát triển và giai đoạn chấm dứt hoạt động
Quá trình hình thành kinh tế hộ hiện nay rất đa dạng và tương đối phức
Trang 33tạp, Nhà nước chỉ tập trung quản lý các kinh tế hộ những ngành nghề có điều kiện như thuốc tây, xăng dầu, photo, in ấn,… Còn các hộ kinh doanh một số ngành nghề không nằm trong danh mục điều kiện thì hầu như buông lỏng Đặc biệt là các hộ gia đình ra kinh doanh nhưng chưa đăng ký giấy phép hoặc những trường hợp không phải đăng ký giấy phép Đây cũng là một trở ngại lớn trong việc quản lý kinh tế hộ hiện nay
Phát triển của kinh tế hộ theo nghĩa rộng là quá trình phát triển cả về mặt số lượng, về mặt chất lượng, về mặt quy mô và kể về mặt kết cấu Do đặc thù của kinh tế hộ được xem là bước đệm, là giai đoạn tiền đề, là khởi sự để phát triển lên công ty, doanh nghiệp nên khi kinh tế hộ phát triển đến một mức nào đó sẽ chuyển sang thành lập công ty, doanh nghiệp Đây được xem
là nét đặc trưng cơ bản của phát triển kinh tế hộ Kinh tế hộ mất đi trong trường hợp này mang tính quy luật tất yếu, tính tích cực chứ không mang tính tiêu cực vì khi kinh tế hộ chấm dứt chuyển sang hoạt động dưới dạng các loại hình doanh nghiệp ở mức cao hơn, tiếp tục kế thừa có hiệu quả kinh tế hộ trước đó
1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
1.2.1 Phát triển về mặt số lượng
Phát triển số lượng hộ kinh doanh là sự gia tăng về số lượng các hộ
kinh doanh Số lượng các hộ kinh doanh gia tăng hàng năm chứng tỏ hộ kinh doanh ngày càng phát triển Chẳng hạn, năm 2008 cả nước có 3.868.740 hộ kinh doanh, năm 2009 có 3.986.071 hộ, năm 2010 có 4.124.980 hộ và đến năm 2011 đã tăng lên 4.236.352 hộ kinh doanh, đó được xem là sự phát triển
về mặt số lượng hộ kinh doanh [22]
Cách thức phát triển số lượng kinh tế hộ là các phương thức tác động giúp kinh tế hộ phát triển nhanh về mặt số lượng hộ hơn trước Để đẩy mạnh phát triển số lượng kinh tế hộ có thể sử dụng các phương thức tác động như sau:
Trang 34* Chính quyền địa phương cần có những chính sách để kích thích, thúc đẩy ngày càng nhiều các hộ gia đình sản xuất mang tính chất tự cấp, tự túc sang hộ gia đình có kinh doanh hoặc các hộ gia đình sản xuất vừa phục vụ cho gia đình vừa kinh doanh chuyển sang sản xuất sản phẩm chuyên phục vụ kinh doanh, làm sao cho ngày càng nhiều người kinh doanh hơn
Tuy nhiên, việc thúc đẩy các hộ gia đình tự cấp, tự túc hoặc hộ gia đình
có kinh doanh nhưng sản phẩm làm ra chủ yếu là cho nhu cầu tiêu dùng nội
bộ gia đình phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ năng lực kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh do đó cần quan tâm để có chính sách hợp lý, có như vậy mới kích thích phát triển được số lượng kinh tế hộ ngày một nhiều hơn
* Có chính sách thúc đẩy và khuyến khích những đơn vị kinh tế tập thể, kinh tế tập trung đang kinh doanh kém hiệu quả nên chuyển sang kinh tế
hộ cá thể: Trước đây ở nước ta có thời kỳ Nhà nước rất coi trọng kinh tế tập thể, xem nhẹ kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể hầu như chiếm đại đa số Sau công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có cách nhìn nhận khác hơn, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển, trong đó kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế mở cửa theo hướng đa dạng hóa và đa phương hóa, quy luật cung - cầu tự điều chỉnh theo
cơ chế thị trường có sự định hướng của Nhà nước thì kinh tế tư nhân (trong
đó có kinh tế hộ) đóng vai trò quan trọng, kinh tế tập thể do ít tính năng động nên giảm dần
Việc tận dụng những đơn vị kinh tế tập thể hiện đang làm ăn thua lỗ hoặc kém hiệu quả sang kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh sẽ tận dụng được những kinh nghiệm, nguồn vốn, tài sản, lao động có tay nghề và đặc biệt
là thị trường đã có sẵn để phát triển cho kinh tế hộ và xem đây là một lợi thế
mà đối với các hộ kinh doanh mới thành lập không thể có được
* Phát triển số lượng kinh tế hộ còn có thể do thúc đẩy các công ty,
Trang 35doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả sang lĩnh vực kinh tế hộ Tuy nhiên, hướng này là không tốt, đi ngược lại quy luật phát triển chung của kinh tế hộ
và doanh nghiệp nhưng trên thực tế tình trạng này vẫn diễn ra khá phổ biến đặc biệt trong đoạn khó khăn như hiện nay Trong tình hình nền kinh tế có nhiều biến động, nhiều công ty, doanh nghiệp không còn “trụ” được phải tuyên bố giải thể, phá sản thì kinh tế hộ được xem là giải pháp an toàn để cứu cánh cho kinh tế của họ Xét theo khía cạnh này dù muốn hay không muốn thì kinh tế hộ vẫn là sự lựa chọn cuối cùng không còn phương án nào tối ưu hơn
Do đó, phát triển kinh tế hộ theo hướng này mặc dù không tốt nhưng chúng ta cũng cần quan tâm để có chính sách phát triển chung cho phù hợp
1.2.2 Phát triển về mặt chất lượng
Phát triển kinh tế hộ về mặt chất lượng là việc gia tăng chất lượng hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của lĩnh vực kinh tế hộ theo một số tiêu chí đánh giá nhất định nào đó
Nếu như phát triển kinh tế hộ về mặt chất lượng mang tính chất định lượng thì phát triển kinh tế hộ về mặt chất lượng lại mang tính định tính Đặc điểm này giống với phát triển kinh tế hộ theo qui mô, phát triển theo cơ cấu
mà chúng ta sẽ phân tích nghiên cứu ở phần sau Khác với phát triển về mặt
số lượng thể hiện ở chỗ nó không làm gia tăng số lượng hộ kinh doanh mà nó làm thay đổi về mặt “chất” nội hàm bên trong của kinh tế hộ
Phát triển về mặt chất lượng hộ kinh doanh thường thấy ở chỗ:
(1) trình độ quản lý của chủ hộ kinh doanh được chuyên nghiệp hơn, (2) trình độ công nghệ của hộ kinh doanh ngày một cải thiện hơn,
(3) tỷ lệ tài sản/lao động được nâng lên,
(4) chất lượng sản phẩm từ đơn giản nâng lên ở mức độ tinh xảo hơn…
Để nâng cao phát triển về mặt chất lượng hộ kinh doanh cần thiết phải thực hiện một số cách thức như:
Trang 36* Tăng cường công tác đào tạo nhằm nâng cao trình độ quản lý của các
hộ kinh doanh và xem đây là nhiệm vụ hàng đầu trong các nội dung phát triển chất lượng hộ kinh doanh
* Tăng cường hỗ trợ khả năng tiếp cận và sử dụng có hiệu quả về ứng dụng công nghệ, máy móc thiết bị vào hoạt động sản xuất kinh doanh
* Từng bước tăng cường quy mô về vốn, tài sản ngày càng nhiều trong hoạt động kinh tế hộ
* Thường xuyên rèn luyện để nâng cao tay nghề đảm bảo sản phẩm làm
ra ngày một đẹp hơn, tinh xảo hơn và dĩ nhiên giá thành phải thấp hơn
Để khắc phục những hạn chế trên, từng bước nâng cao chất lượng hiệu quả trong kinh doanh cần có sự nỗ lực từ hai bên đó là Nhà nước và cả kinh tế
hộ Về phía Nhà nước cần có những chính sách, những giải pháp mang tính định hướng chung như thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng các kỹ năng kinh doanh, kỹ năng lãnh đạo quản lý điều hành, kỹ năng khai thác ứng dụng công nghệ thông tin điện tử… Quy hoạch các làng nghề truyền thống, có chính sách hỗ trợ về vốn, hỗ trợ thông tin thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu…
Về phần kinh tế hộ phải có ý chí vươn lên làm giàu, phải có tinh thần học hỏi để nâng cao trình độ quản lý, tận dụng tốt cơ hội thị trường theo từng thời điểm
* Tăng cường liên kết giữa kinh tế hộ với kinh tế hộ, giữa kinh tế hộ với các doanh nghiệp: Liên kết để tạo ra sức mạnh trong hoạt động kinh doanh nói chung là điều lâu nay nhiều nhà đầu tư đã và đang làm, nhưng đối với lĩnh vực kinh tế hộ hoạt động này rất yếu, có nơi thậm chí không có liên kết “mạnh ai nấy làm” Theo tôi, đẩy mạnh hoạt động liên kết trong lĩnh vực
hộ kinh doanh là điều vô cùng cần thiết và cũng là vấn đề cấp bách, bởi quy
mô kinh tế hộ thường quá nhỏ lẻ không đủ sức cạnh tranh với các công ty,
Trang 37doanh nghiệp trên thị trường, vì vậy các kinh tế hộ cần liên kết để tạo uy tín, tạo thế cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường
Hoạt động liên kết có thể thực hiện qua 02 nhóm đối tượng đó là giữa kinh tế hộ với kinh tế hộ và giữa kinh tế hộ với các doanh nghiệp, trong đó hoạt động liên kết giữa các kinh tế hộ được xem là quan trọng hơn vì chỉ thông qua hoạt động liên kết mới có thể tạo ra tiếng nói chung, qua đó cùng nắm bắt giá cả thị trường tiêu thụ tránh tình trạng bán phá giá, liên kết để cùng mua vật tư sản phẩm đầu vào được lợi về giá, liên kết để kiến nghị đề xuất đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết một số chính sách chung cho kinh tế hộ… Còn hoạt động liên kết giữa kinh tế hộ với các doanh nghiệp thể hiện ở việc phân công thực hiện các đơn hàng một cách hợp lý với mục đích đôi bên cùng có lợi Chẳng hạn, để thực hiện một đơn hàng các doanh nghiệp phối hợp với các kinh tế hộ giao lại một số phần việc phù hợp với khả năng của kinh tế hộ, về phần doanh nghiệp chỉ chú tâm thực hiện một số công việc mang tính quy mô lớn hơn
1.2.3 Phát triển về mặt quy mô
- Khái niệm về mở rộng quy mô kinh doanh:
Mở rộng quy mô hộ kinh doanh là quá trình tăng năng lực sản xuất kinh doanh của từng hộ kinh doanh, là tiêu chí phản ánh tổng hợp sự kết hợp một
cách có hiệu quả các yếu tố nguồn lực
Mở rộng quy mô hộ kinh doanh được thực hiện bằng cách gia tăng các các nguồn lực của từng hộ kinh doanh Các nguồn lực theo nghĩa rộng, gồm các yếu tố về tổ chức, kỹ thuật, nhân sự, cơ sở vật chất và về tài chính hộ kinh doanh
Các nguồn lực có thể chia thành hai loại: nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình
* Phát triển các nguồn lực hữu hình:
Trang 38+ Nguồn lực lao động: nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn của chủ hộ kinh doanh và khả năng, trình độ tay nghề của người lao động, xây dựng các thói quen làm việc hữu hiệu của người lao động cho hoạt động kinh doanh
+ Nguồn lực về tài chính: nâng cao khả năng huy động vốn và khả năng tự tài trợ của hộ kinh doanh Khả năng huy động vốn và khả năng tự tài trợ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh
+ Các điều kiện vật chất: nâng cao khả năng tiếp cận nguồn nguyên vật liệu và phân phối hợp lý các máy móc, mặt bằng sản xuất kinh doanh
+ Nâng cao trình độ công nghệ, trang thiết bị máy móc; nâng cao năng lực sử dụng công nghệ thông tin và dịch vụ hỗ trợ công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh
Sự phát triển của khoa học và công nghệ và đặt biệt là công nghệ thông tin đã mở ra khả năng rộng lớn cho sự phát triển của các hộ kinh doanh Một mặt nó tạo điều kiện và khả năng cho các hộ kinh doanh có thể trang bị kỹ thuật hiện đại hơn, năng động hơn, linh hoat hơn trong công việc lựa chọn đưa vào ứng dụng và khai thác công nghệ mới
Quy mô nhỏ nhưng khả năng sản xuất kinh doanh cao hơn, nhanh hơn,
rẻ hơn nhờ công nghệ mới ứng dụng Mặt khác, nó còn đào tạo khả năng liên kết chặt chẽ với nhau hơn, đặc biệt là khả năng nắm bắt thông tin và khả năng điều hành từ xa của hộ kinh doanh Sự phát triển công nghệ thông tin đã ảnh hưởng lớn đến xu thế phát triển của các hộ kinh doanh, đến sự thay đổi về tổ chức sản xuất và phương pháp điều hành kể cả các loại hình doanh nghiệp
Trình độ và khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại của các hộ kinh doanh ở nước ta có nhiều hạn chế là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của chúng Khó khăn về vốn nên
Trang 39chậm đổi mới công nghệ trong các hộ kinh doanh và do chưa quan tâm đúng mức tới phát triển công nghệ, thiếu thông tin về công nghệ, trình độ tiếp nhận, khai thác công nghệ mới của đội ngũ lao động còn hạn chế
* Phát triển nguồn lực vô hình:
+ Xây dựng, phát triển thương hiệu, uy tín của hộ kinh doanh với khách hàng và các nhà cung cấp
+ Phát triển văn hóa của hộ kinh doanh: năng lực cạnh tranh của
hộ kinh doanh có thể được nâng cao một cách nhanh chóng nếu tạo được môi trường văn hóa tích cực, lành mạnh, dân chủ để phát huy được năng lực của đội ngũ lao động trong hộ kinh doanh Văn hóa của hộ kinh doanh luôn gắn liền với thương hiệu và danh tiếng của hộ kinh doanh đó
- Phương thức phát triển theo quy mô: Khi nói đến tăng quy mô
kinh doanh có nghĩa là tăng số lượng sản phẩm bán ra do kinh tế hộ tập trung thực hiện một số phương thức nhất định như tăng cường tích lũy tập trung vốn, tăng cường khả năng tổ chức quản lý điều hành, tăng cường thời giờ làm việc bằng cách tuyển dụng thêm người làm hoặc tổ chức làm ca, tăng cường
mở rộng mặt bằng kinh doanh
* Tăng cường tích lũy tập trung về vốn: Muốn tăng qui mô kinh doanh của kinh tế hộ hiện nay thì nguồn vốn kinh doanh có vai trò quyết định Hầu hết các kinh tế hộ chủ yếu sử dụng nguồn vốn tự có ít ỏi của mình, khả năng vay mượn rất thấp, khó tiếp cận nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng do tính đặc thù của kinh tế hộ sổ sách, tài sản không rõ ràng Do đó, để kinh tế hộ phát triển tăng về qui mô, Nhà nước cũng cần có những chính sách phù hợp trong đó vốn là quan trọng nhất
* Tăng cường khả năng tổ chức quản lý điều hành: Hiện nay khả năng quản lý điều hành kinh doanh của Chủ hộ kinh doanh còn rất yếu, đại đa số xuất phát từ những người dân lao động phổ thông, rất ít chủ kinh tế hộ xuất
Trang 40thân là những nhà trí thức do đó khả năng quản lý, khả năng hoạch định các chiến lược kinh doanh cũng như nhạy bén với thị trường kinh doanh bên ngoài còn rất hạn chế Tuy nhiên, họ lại rất có kinh nghiệm thậm chí có tay nghề rất cao đối một số ngành nghề mang tính chất truyền thống…Vì vậy tăng cường công tác quản lý điều hành ngoài việc trẻ hóa đối tượng là chủ kinh tế hộ còn tăng cường hỗ trợ thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng về công tác quản lý, điều hành… nhằm giúp cho chủ kinh tế hộ định hướng công tác quản lý của mình thực hiện có hiệu quả hơn
* Tăng cường thời giờ làm việc bằng cách tuyển dụng thêm người làm hoặc tổ chức làm ca: Để tăng qui mô kinh doanh, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm bán ra một trong những phương thức đơn giản nhất là thêm lao động hoặc tăng cường tổ chức làm ca 3 Tuy nhiên, do Luật qui định trong một kinh
tế hộ không được vượt quá 10 lao động nên khi tăng vượt quá 10 lao động bắt buộc phải chuyển sang loại hình kinh doanh khác đó là công ty hay doanh nghiệp Xét về mặt quy luật chung đây là xu hướng tích cực, nhưng lại bị kiềm chế phát triển khi chủ kinh tế hộ đó chưa sẵn sàng lên doanh nghiệp
* Tăng cường việc mở rộng mặt bằng kinh doanh: Mở rộng mặt bằng kinh doanh cũng là một phương thức nhằm giúp cho kinh tế hộ phát triển về qui mô Tuy nhiên, pháp luật kinh tế hộ chỉ cho phép kinh doanh một địa điểm nên một hộ kinh doanh không thể mở rộng ra thành nhiều địa điểm kinh doanh như công ty, doanh nghiệp được mà chỉ có thể tận dụng mở rộng thêm mặt bằng vốn có để khai thác triệt để tiềm năng, lợi thế của mặt bằng
1.2.4 Phát triển về mặt cơ cấu
- Khái niệm về cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất Cơ cấu kinh tế thể hiện ở hai khía cạnh là chất lượng và số lượng, là sự phân chia về