DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BCTC Báo cáo tài chính CPNVL Chi phí nguyên vật liệu CPNC Chi phí nhân công CPSXC Chi phí sản xuất chung CCDC Công cụ dụng cụ CPQLDN Chi phí quản lí doanh nghiệ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả
Lê Thoại Vi
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 4
6 Tổng quan tài liệu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT……….8
1.1 KHÁI NIỆM VÀ MỤC TIÊU ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN 8
1.1.1 Khái niệm lợi nhuận 8
1.1.2 Nguyên tắc đo lường và ghi nhận doanh thu, chi phí để xác định lợi nhuận 9
1.2 ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 12
1.2.1 Đo lường và ghi nhận doanh thu 12
1.2.2 Đo lường chi phí 15
1.3 VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN 17
1.4 NHẬN DIỆN KHẢ NĂNG ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……… 24
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA ĐẬU NÀNH VINASOY QUẢNG NGÃI………… 25
2.1 ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA ĐẬU NÀNH VINASOY QUẢNG NGÃI……… 25
2.1.1 Giới thiệu về công ty 25
2.1.2 Đặc điểm sản xuất, kinh doanh 25
Trang 32.1.3 Đặc điểm tổ chức quản lý của Công ty 30
2.1.4 Đặc điểm tổ chức kế toán của Công ty 34 2.2 THỰC TRẠNG ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA ĐẬU NÀNH VINASOY QUẢNG NGÃI 35
2.2.1 Các chính sách kế toán được vận dụng tại Công ty 35
2.2.2 Đo lường và ghi nhận doanh thu, thu nhập 38
2.2.3 Đo lường chi phí 43
2.2.4 Xác định lợi nhuận tại Công ty CP Sữa đậu nành VinaSoy Quảng Ngãi 55
2.2.5 Nhận diện khả năng điều chỉnh lợi nhuận của Công ty CP Sữa đậu nành VinaSoy Quảng Ngãi 56
2.3 ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP VỀ CÔNG TÁC ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA ĐẬU NÀNH VINAOSOY QUẢNG NGÃI 59
2.3.1 Vận dụng các chính sách kế toán, ước tính kế toán trong đo lường lợi nhuận 59
2.3.2 Đo lường doanh thu 60
2.3.3 Đo lường chi phí 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2……… 63
CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA ĐẬU NÀNH VINASOY QUẢNG NGÃI………64
3.1 HOÀN THIỆN CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN ĐƯỢC ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY 64
3.1.1 Căn cứ để hoàn thiện chính sách kế toán 64
3.1.2 Hoàn thiện các chính sách kế toán tại Công ty 65
3.2 HOÀN THIỆN ĐO LƯỜNG DOANH THU 65
3.3 HOÀN THIỆN ĐO LƯỜNG CHI PHÍ 66
Trang 43.3.1 Xác định các khoản chi phí phù hợp với doanh thu 66
3.3.2 Ghi nhận các chi phí theo nguyên tắc thận trọng 69
3.3.3 Tập hợp các chi phí sau khi xác định lại theo nguyên tắc phù hợp và thận trọng 72
3.3.4 Xác định lại giá trị dở dang cuối kỳ 74
3.3.5 Xác định lại giá thành sản phẩm 75
3.3.6 Xác định lại giá vốn hàng bán 76
3.3.7 Xác định lại kết quả hoạt động kinh doanh 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC Báo cáo tài chính
CPNVL Chi phí nguyên vật liệu
CPNC Chi phí nhân công
CPSXC Chi phí sản xuất chung
CCDC Công cụ dụng cụ
CPQLDN Chi phí quản lí doanh nghiệp
CPBH Chi phí bán hàng
HĐKD Hoạt động kinh doanh
HĐSXKD Hoạt động sản xuất kinh doanh
KQKD Kết quả kinh doanh
LNST Lợi nhuận sau thuế
NHTM Ngân hàng thương mại
PXK Phiếu xuất kho
TSCĐ Tài sản cố định
SPHT Sản phẩm hoàn thành
SPDD Sản phẩm doanh thuở dang
SXKD Sản xuất kinh doanh
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.2 Bảng tổng hợp doanh thu bán hàng trực tiếp 39 2.3 Bảng tổng hợp doanh thu bán hàng đại lý 40 2.4 Bảng tổng hợp doanh thu hoạt động tài chính 41 2.5 Bảng tổng hợp doanh thu và thu nhập khác 42 2.6 Bảng tổng hợp chi phí phát sinh trong kỳ 45 2.7 Bảng tính giá thành tháng 12 năm 2012 47
2.9 Bảng tổng hợp chi phí bán hàng 49 2.10 Bảng tổng hợp chi phí quản lý doanh nghiệp 50 2.11 Bảng tổng hợp chi phí đi vay 52 2.12 Bảng tổng hợp chi phí tài chính 53
2.14 Bảng tổng hợp chi phí thời kỳ 55 2.15 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2012 55 2.16 Bảng phân tích khả năng điều chỉnh lợi nhuận 58 3.1 Phân bổ chi phí sửa chữa lớn 67 3.2 Bảng phân bổ chi phí nhân viên QLPX 68 3.3 Bảng tổng hợp số lượng hàng bán ra và tiêu thụ 68 3.4 Bảng tổng hợp lập dự phòng nợ phải thu khó đòi 70 3.5 Bảng xác định chi phí lãi vay được vốn hóa 72 3.6 Bảng tổng hợp chi phí thay đổi 72 3.7 Bảng xác định lại giá trị sản phẩm dở dang 74 3.8 Bảng tính giá thành sản phẩm 75 3.9 Bảng xác định lại giá vốn hàng bán 76 3.10 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2012 76
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ qui trình sản xuất 27 Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản 30 Hình 2.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán 34
Trang 8DANH MỤC CÔNG THỨC
2.2 Biến kế toán dồn tích không điều chỉnh 57
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới diễn ra ngày càng phổ biến và mạnh mẽ Để khẳng định được vị thế, vai trò của mình trên thị trường cũng như đẩy mạnh quá trình hội nhập và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải tìm cho mình những chiến lược kinh doanh phù hợp và hiệu quả Hệ thống thông tin kế toán tài chính trong các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nhà quản lý trong doanh nghiệp đưa ra được các chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp mình Việc tổ chức thực hiện hệ thống thông tin kế toán khoa học, hợp
lý sẽ góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời cũng quyết định đến sự thành công hay thất bại của các doanh nghiệp
Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp có thể xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng trước hết phải nhìn vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Để xác định và đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thì các bộ phận cấu thành nên nó phải được hạch toán một cách cụ thể và chính xác Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí Do đó, doanh thu và chi phí là hai nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc đo lường lợi nhuận Để đo lường lợi nhuận hợp lý, phản ánh lợi nhuận kinh tế thì cần phải ghi nhận và đo lường doanh thu, chi phí một cách hợp lý, tuân thủ nguyên tắc kế toán có liên quan
Đo lường doanh thu và chi phí tại Công ty chưa tuân thủ đầy đủ qui định của chuẩn mực, chế độ kế toán Chẳng hạn, có trích trước nhưng chưa tiến hành phân bổ chi phí sửa chữa TSCĐ, chưa lập dự phòng nợ phải thu khó đòi Một số nội dung chi phí được xác định chưa phù hợp với doanh thu, chưa phản ánh đầy đủ và hợp lý các chi phí cho từng đối tượng tập hợp chi
Trang 102phí Cụ thể, lương nhân viên quản lý phân xưởng không được ghi nhận là chi phí sản xuất chung mà ghi nhận vào chỉ tiêu chi phí quản lí doanh nghiệp nhằm xác định kết quả kinh doanh trên báo cáo kết quả kinh doanh, từ đó làm sai lệch giá thành và giá vốn hàng bán; chi phí lãi vay phát sinh khi vay tiền
để tài sản cố định … chưa được vốn hóa Một số tồn tại như vậy làm cho lợi nhuận được xác định trong một kỳ không phản ánh hợp lý lợi nhuận kinh tế
mà Công ty tạo ra Xuất phát từ thực tế này, việc nghiên cứu đề tài “Đo lường lợi nhuận tại Công ty cổ phần Sữa đậu nành Vinasoy Quảng Ngãi” thật sự
có ý nghĩa, giúp cho việc đo lường lợi nhuận hợp lý, đảm bảo trong việc cung cấp thông tin trung thực cho các đối tượng có liên quan
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài nhằm 2 mục tiêu chính sau:
- Nhận diện những bất cập về đo lường lợi nhuận tại công ty;
- Hoàn thiện nội dung, phượng pháp đo lường lợi nhuận kế toán tại Công
ty dựa vào các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ kế toán có liên quan
Để đạt được các mục tiêu này, luận văn cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây
- Thực trạng đo lường lợi nhuận kế toán tại Công ty cổ phần Sữa đậu nành VinaSoy Quảng Ngãi?
- Những giải pháp cần hoàn thiện đo lường lợi nhuận tại Công ty cổ phần Sữa đậu nành VinaSoy Quảng Ngãi?
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đo lường
lợi nhuận kế toán trong doanh nghiệp Cụ thể là đo lường doanh thu, đo lường chi phí nhằm xác định lợi nhuận tuân theo các nguyên tắc kế toán, chế độ, chuẩn mực kế toán có liên quqna
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu đo lường lợi nhuận kế toán
Trang 113tại Công ty cổ phần Sữa đậu nành VinaSoy Quảng Ngãi Nguồn dữ liệu và thông tin sử dụng trong luận văn được thu thập trực tiếp từ Công ty Số liệu minh họa là số liệu năm 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp mô tả, giải thích và suy luận logic để nghiên cứu đo lường lợi nhuận kế toán của doanh nghiệp
Phương pháp mô tả được vận dụng nhằm tìm hiểu thực tế việc đo lường doanh thu, chi phí, xác định lợi nhuận ở Công ty để từ đó trình bày lại những vấn đề cơ bản về đo lường lợi nhuận kế toán
Phương pháp giải thích được vận dụng để giải thích các công việc quan sát được như: đo lường lợi nhuận, mối liên hệ giữa doanh thu và chi phí với lợi nhuận, dựa vào các chuẩn mực và chế độ kế toán có liên quan Qua đó đánh giá những ưu điểm, bất cập về đo lường lợi nhuận kế toán ở Công ty Phương pháp suy luận logic được vận dụng để suy luận các vấn đề liên quan đến đo lường doanh thu, chi phí từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện việc đo lường lợi nhuận kế toán tại Công ty
Thông tin, số liệu thu thập từ quan sát và tìm hiểu thực tế tại các bộ phận tham gia trực tiếp, gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty
Dữ liệu (số liệu kế toán về doanh thu, giá vốn, chi phí) được thu thập trực tiếp
từ bộ phận kế toán của công ty thông qua các nhân viên kế toán phụ trách
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cho Công ty hoàn thiện quy trình, nguyên tắc đo lường doanh thu và chi phí để xác định lợi nhuận ở Công ty phù hợp với các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành Từ đó, cung cấp thông tin hữu ích, đáng tin cậy về lợi nhuận của hoạt động SXKD cho những đối tượng quan tâm Kết quả nghiên cứu này cũng có thể nhân rộng để áp dụng cho các doanh nghiệp khác hoạt động trong cùng lĩnh vực
Trang 126 Tổng quan tài liệu
Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu tạo ra trong kỳ và chi phí phải bỏ ra để tạo nên doanh thu đó Do vây, việc đo lường lợi nhuận cũng chính là đi đo lường doanh thu và chi phí Việc nghiên cứu về ghi nhận doanh thu, chi phívà đo lường lợi nhuận tại các doanh nghiệp được nhiều tác giả quan tâm Đối với vấn đề này, không chỉ luận văn mà còn nhiều tạp chí kế toán cũng đã đề cập đến
Trong lĩnh vực xây dựng, tác giả Tống Thị Hoa (2011) đã thực hiện đề
tài về “Vận dụng nguyên tắc phù hợp trong doanh nghiệp xây lắp tại công ty
cổ phần máy & thiết bị phụ tùng (Seatech)” [11] Tác giả đã nêu lên được nguyên tắc ghi nhận chi phí phù hợp với doanh thu theo quy định của chuẩn mực kế toán và việc vận dụng nguyên tắc phù hợp trong lĩnh vực xây lắp Mặc dù không đề cập nhiều đến việc xác định giá vốn, nhưng tác giả cũng đã đưa ra được các ý kiến hoàn thiện việc ghi nhận doanh thu như: định kỳ xác đinh doanh thu chi tiết cho từng công trình, tăng cường công tác nghiệm thu
và xác định giá trị dở dang cuối kỳ Tuy nhiên, trong luận văn này chi phí quản lý doanh nghiệp tác giả đã phân bổ cho các đối tượng tập hợp chi phí theo tổng chi phí phát sinh trong kỳ, khi đó, trong giá trị dở dang cuối kỳ có
Trang 135bao gồm cả chi phí quản lý doanh nghiệp, điều này đã vi phạm nguyên tắc thận trọng, đối với chi phí quản lý doanh nghiệp phải được ghi nhận là chi phí sản xuất trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ
Trong lĩnh vực xây dựng, tác giả Nguyễn Thị Phi Yến (2013) đã thực
hiện đề tài “Đo lường lợi nhuận tại Công ty Cổ Phần An Tâm” [12] Tác giả đã
tổng quát được các cơ sở lý luận về nguyên tắc đo lường doanh thu, chi phí và thực trạng việc vận dụng các nguyên tắc này để đo lường lợi nhuận kế toán Công ty Cổ phần An Tâm Qua đó, đánh giá được công tác đo lường lợi nhuận có tuân theo các nguyên tắc đó không Từ đó, đưa ra các phương pháp nhằm hoàn thiện công tác đo lường lợi nhuận Tuy nhiên, tác giả chỉ dựa trên
có nguyên tắc kế tóan để xác định là lợi nhuận có được đo lường hợp lý hay không chứ chưa đi sâu vào việc vận dụng các nguyên tắc kế toán này để thực hiện các hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp
Trong lĩnh vực sản xuất, thương mại, tác giả Nguyễn Thanh Tùng (2009)
đã thực hiện đề tài về “Hoàn thiện tổ chức kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại công ty thương mại Nam Việt” [9]
Tác giả đã trình
bày khá đầy đủ các cơ sở lý luận trong việc xác định doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, trong phần thực trạng tại công ty, tác giả chỉ mới dừng lại ở việc cách xác định các khoản mục doanh thu – chi phí – lợi nhuận như thế nào, chưa làm rõ được là việc xác định và ghi nhận các khoản mục như thế có đúng hay không, có tuân theo các chuẩn mực đã quy định hay chưa
Nghiên cứu của hai tác giả TS Lê Văn Liên và ThS Nguyễn Thị Hồng
(2008) về “Vận dụng nguyên tắc thực hiện trong việc ghi nhận doanh thu trong kế toán” [14] Bài viết đã đề cập tới vấn đề ghi nhận doanh thu bán hàng
qua đại lý, từ đó giúp doanh nghiệp thương mại xác định đúng thời điểm ghi
nhận doanh thu: “Bên gửi hàng đại lý có thể ghi nhận doanh thu vào một
Trang 14kế toán số 75/2008 Qua quá trình nghiên cứu thực tế ghi nhận doanh thu tại
công ty Điện lực Việt Nam, tác giả đưa ra những chú ý và đặc trưng trong việc ghi nhận doanh thu đối với mặt hàng này, điều này không tìm thấy trong chuẩn mực
Trên các diễn đàn kế toán có nhiều trao đổi về vấn đề về ghi nhận doanh thu và chi phí như: thời điểm ghi nhận doanh thu, cách xác định doanh thu, hoạch toán doanh thu như thế nào, khi nào thi xuất hóa đơn, khi nào thì ghi nhận chi phí Việc vận dụng các chuẩn mực kế toán để áp dụng vào thực tế càng nhiều hạn chế Và khó khăn hơn là phải phù hợp với các yêu cầu của cơ quan thuế Trên các diễn đàn này cũng đã có nhiều trao đổi để áp dụng các chuẩn mực về ghi nhận doanh thu, chi phí trong xây dựng phù hợp với thực tế
và cơ quan thuế
Ngoài các luận văn đã được đề cập ở trên thì còn có các bài báo, báo cáo khoa học đã trình bày quan điểm cũng như các vấn đề xoay quanh lợi nhuận Trong đó có bài viết được đăng trên trên tạp chí kế toán của tác giả Nguyễn
Công Phương (2009) về chủ đề“Kế toán theo sơ sở dồn tích và kế toán theo
cơ sở tiền” [15] Nội dung của bài viết tập trung đề cập đến việc vận dụng kế
toán theo cơ sở dồn tích có thể mang lại cơ hội cho nhà quản trị thực hiện hành động điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt được mục tiêu nào đó Các công cụ được dùng để điều chỉnh là: lựa chọn phương pháp kế toán, vận dụng phương pháp kế toán, lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và ước
Trang 157tính các khoản chi phí, doanh thu, lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý TSCĐ
Hầu hết các nghiên cứu của các tác giả trước đây đã đi sâu vào việc phân tích thực trạng và cũng đã chỉ ra được các khuyết điểm còn tồn tại trong công tác đo lường lợi nhuận tại Công ty Các tác giả đi trước cũng đã đề xuất hàng loạt các giải pháp để hoàn thiện đo lường lợi nhuận Riêng tại Công ty CP Sữa đậu nành VinaSoy Quảng Ngãi chưa có tác giả nào thực hiện nghiên cứu này Để góp phần hoàn thiện vào chủ đề nghiên cứu này, tác giả tiếp tục
nghiên cứu hoàn thiện đo lường lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Sữa đậu nành Vinasoy Quảng Ngãi
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN
KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 KHÁI NIỆM VÀ MỤC TIÊU ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN 1.1.1 Khái niệm lợi nhuận
Mục tiêu truyền thống và quan trọng của một chủ công ty theo lý thuyết là đạt tối đa hóa lợi nhuận và giả thuyết này rất bền vững Nó vẫn tạo nên cơ sở của rất nhiều lý thuyết của kinh tế vi mô Về lịch sử mà nói những nhà kinh tế trong các phân tích của họ về công ty đều lấy lợi nhuận làm mục đích cuối cùng.Tuy nhiên có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận
Trong kinh tế học, lợi nhuận là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó Bao gồm cả chi phí cơ hội [8, tr.4]. Trong kế toán, lợi nhuân là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất Sự khác nhau giữa định nghĩa ở hai lĩnh vực trên là quan niệm
về chi phí Trong kế toán, người ta chỉ quan tâm đến các chi phí bằng tiền,
mà không quan tâm đến chi phí cơ hội như trong kinh tế học Trong kinh tế học, ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận sẽ bằng 0 Chính sự khác nhau này dẫn tới hai khái niệm lợi nhuận: lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học trước Marx “cái phần trội nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận” Karl Marx cho rằng “giá trị thặng dư hay phần trội lên trong toàn bộ giá trị của hàng hóa trong đó lao động thặng dư chính là lao động không được trả công của công nhân đã được vật hóa thì tôi gọi là lợi nhuận” [6, tr.14 ].
Nhà kinh tế học hiện đại P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus thì định
Trang 179nghĩa rằng: “Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số đã chi ra” hoặc cụ thể hơn là “Lợi nhuận được định nghĩa như là một khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một Công ty và tổng chi phí” [8,tr.315].
Theo chuẩn mực kế toán VAS01 – Chuẩn mực chung [1] , lợi nhuận kế
toán là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu
tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập
khác và chi phí Như vậy, đo lường lợi nhuận kế toán thực chất là đo lường
doanh thu, chi phí kế toán ghi nhận và trình bày các khoản mục đó trong báo cáo kết quả kinh doanh
Vậy, lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp Từ góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp
có thể thấy rằng, lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại
1.1.2 Nguyên tắc đo lường và ghi nhận doanh thu, chi phí để xác định lợi nhuận
Theo Chuẩn mực VAS 14 “Doanh thu và thu nhập khác” [2] , Đo
lường lợi nhuận phụ thuộc vào đo lường doanh thu và đo lường chi phí
đo lường doanh thu dựa vào nguyên tắc ghi nhận doanh thu trong Đo lường chi phí dựa vào nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc thận trọng
Nguyên tắc ghi nhận doanh thu
Theo Chuẩn mực VAS 14 “Doanh thu và thu nhập khác” [2] , doanh
thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy Trường hợp giao dịch
Trang 18về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó Trường hợp giao dịch về bán hàng thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của dịch vụ trong từng kỳ thường được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần công việc đã hoàn thành
Theo Chuẩn mực VAS 14 “Doanh thu và thu nhập khác” [2], doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Khi không thể thu hồi được khoản doanh thu đã ghi nhận thì phải hạch toán vào chi phí mà không được ghi giảm doanh thu Khi không chắc chắn thu hồi được một khoản mà trước đó đã ghi vào doanh thu (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu Khoản
nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi”
Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi thỏa mãn tất cả năm điều kiện sau:
+ Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
+ Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
+ Doanh thu đã được xác định tương đối chắc chắn;
+ Doanh nghiệp đã thu hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;
+ Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng và cung
Trang 1911cấp dịch vụ
Nguyên tắc đo lường và ghi nhận chi phí
- Nguyên tắc phù hợp: “Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu
của kỳ đó” (Theo chuẩn mực kế toán VAS01- Chuẩn mực chung) [1]
- Nguyên tắc thận trọng: “Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, có những phán đoán cần thiết để lập các ước tính trong các điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc thận trọng yêu cầu việc ghi tăng vốn chủ hữu chỉ được thực hiện khi có bằng chứng chắc chắn, còn việc ghi giảm giá vốn chủ sở hữu được ghi nhận từ khi có chứng cứ về khả năng có thể xảy ra Vận dụng nguyên tắc thận trọng để đo lường lợi nhuận thể hiện:
+ Ghi nhận ngay chi phí phát sinh trong kỳ khi chi phí này không mang lại lợi ích (không làm giảm vốn chủ sở hữu), ví dụ như: lập dự phòng, tiền phạt,…
+ Ghi nhận ngay chi phí phát sinh trong kỳ khi chi phí này không chắc chắn mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai hoặc việc xác định lợi ích mang lại không đáng tin cậymang lại lợi ích trong tương lai, nhưng không thể đo lường lợi ích đáng tin cậy, ví dụ như: chi phí quản lý doanh nghiệp,…
Theo chuẩn mực kế toán VAS 01 – Chuẩn mực chung [1] , tuân thủ
nguyên tắc thận trọng sẽ giúp cho doanh nghiệp bảo toàn nguồn vốn, hạn chế rủi ro và khả năng hoạt động liên tụcLợi nhuận được xác định phải tuân thủ nguyên tắc ghi nhận doanh thu, nguyên tắc phù hợp và nguyên
Trang 2012tắc thận trọng Trình tự các bước để xác định lợi nhuận là: i) Xác định doanh thu tuân theo nguyên tắc ghi nhận doanh thu; ii) Xác định chi phí tuân theo nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc thận trọng
1.2 ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1.2.1 Đo lường và ghi nhận doanh thu
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Theo VAS14- Doanh thu và thu nhập khác [2] Giá trị doanh thu bán
hàng và cung cấp dịch vụ được xác định tuân theo nguyên tắc giá gốc (giá phí) chính là bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán
+ Doanh thu đã được xác định tương đối chắc chắn;
+ Doanh nghiệp đã hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;
+ Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Khi không thể thu hồi được các khoản doanh thu đã ghi nhận thì phải hạch toán vào chi phí mà không được ghi giảm doanh thu Khi không chắc chắn thu hồi được một khoản mà trước đó đã ghi vào doanh thu (nợ phải thu khó đòi) thì phải
Trang 2113lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu Khoản nợ phải thu khó đòi khi được xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi
Theo VAS14 – Doanh thu và thu nhập khác [2], doanh nghiệp có thể ước tính doanh thu cung cấp dịch vụ khi thỏa thuận được với bên đối tác giao dịch những điều kiện sau:
+ Trách nhiệm và quyền của mỗi bên trong việc cung cấp hoặc nhận dịch vụ;
+ Giá thanh toán;
+ Thời hạn và phương thức thanh toán
Để ước tính doanh thu cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp phải có hệ thống kế hoạch tài chính và kế toán phù hợp Khi cần thiết, doanh nghiệp
có quyền xem xét và sửa đổi cách ước tính doanh thu trong quá trình cung cấp dịch vụ
Doanh thu tài chính
Theo VAS14 – Doanh thu và thu nhập khác [2], doanh thu hoạt động tài chính gồm tiền lãi, cổ tức lợi nhuận được chia, thu nhập về hoạt động đầu
tư mua, lãi tỷ giá hối đoái;
Doanh thu phát sinh từ tiền lãi, cổ tức, lợi nhuận được chia của doanh nghiệp được ghi nhận là doanh thu tài chính khi thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện
- Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó;
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
Doanh thu từ tiền lãi được ghi nhận trên cơ sở thời gian và lãi suất thực tế từng kỳ; doanh thu từ cổ tức lợi nhuận được chia được ghi nhận khi
cổ đông được quyền nhận cổ tức hoặc các bên tham gia góp vốn được
Trang 2214quyền nhận lợi nhuận từ việc góp vốn
Doanh thu và thu nhập khác
Thu nhập khác quy định trong chuẩn mực kế toán VAS14 – Doanh thu
và thu nhập khác gồm các khoản thu từ các hoạt động xảy ra không thường xuyên, ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu như thu về thanh lý TSCĐ, nhượng bán TSCĐ; thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng kinh tế; thu tiền bảo hiểm được bồi thường; thu được các khoản nợ phải thu khó đòi
đã xóa sổ tính vào chi phí kỳ trước; khoản nợ phải trả nay mất chủ được ghi tăng thu nhập; thu các khoản thuế được giảm, được hoàn lại
Khoản thu về thanh lý TSCĐ, nhượng bán TSCĐ là tổng số tiền thực
tế đã thu và sẽ thu được của người mua từ hoạt động thanh lý, nhượng bán TSCĐ Thu được các khoản nợ phải thu khó đòi đã xóa sổ tính vào chi phí của kỳ trước là khoản nợ phải thu khó đòi được xác định là không thu hồi được, đã được xử lý xóa sổ và tính vào chi phí để xác định kết quả kinh doanh trong các kỳ trước nay thu hồi được
Các khoản thu nhập khác được ghi nhận dựa vào tính chắc chắn của số thu và khoản thu đó đã đo lường được
Các khoản giảm trừ doanh thu:
- Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định
là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán
Trang 2315Giá trị các khoản giảm trừ doanh thu được ghi nhận theo nguyên tắc phù hợp dựa trên giá trị của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thu được cùng với sự thỏa thuận về tỉ lệ giảm trừ (chiết khấu thương mại) giữa bên mua và bên bán
1.2.2 Đo lường chi phí
a Đo lường và ghi nhận giá vốn
Giá vốn hàng bán liên quan trực tiếp đến doanh thu Do đó cần xác định
và ghi nhận giá vốn khi có doanh thu Hay nói cách khác, giá vốn được xác định phù hợp với doanh thu ghi nhận (nguyên tắc phù hợp)
Giá vốn được xác định theo một trong bốn phương pháp: Đích danh, bình quân, nhập trước-xuất trước, nhập sau-xuất trước Ngoài ra, kế toán doanh nghiệp cần phân bổ chi phí mua hàng cho hàng bán ra để tính vào giá vốn Đối với doanh nghiệp sản xuất, do giá vốn được xác định dựa vào giá gốc (thông qua 1 trong bốn phương pháp trên) nên giá vốn phản ánh đúng chi phí khi giá gốc (giá thành) hợp lý Có nghĩa là cần tính giá thành theo cách hợp lý Giá thành hợp lý phụ thuộc và cách thức tập hợp chi phí, và xác định giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
Để giá vốn phù hợp vói doanh thu, cần xác định giá vốn hợp lý Giá vốn hợp lý khi giá vốn được đo lường gần đúng giá gốc Hay nói cách khác, giá vốn được xác định dựa vào giá gốc của hàng hoá, thành phẩm
b Đo lường và ghi nhận chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng liên quan đến hàng bán ra Một số khoản chi phí bán hàng liên quan trực tiếp đến hàng bán ra như chi phí nhân viên bán hàng, chi phí vận chuyển, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí bao gói, chi phí dự bảo hành sản phẩm, Do đó cần xác định dựa vào nguyên tắc phù hợp, và được ghi nhận vào chi phí trong kỳ để xác định lợi nhuận Một số chi phí còn có liên quan đến
Trang 2416hàng bán ra trong kỳ (như chi phí quảng cáo, chi phí hành chính, dự phòng bảo hành sản phẩm, ) nhưng không đo lường đáng tin cậy mức lợi nhuận do các chi phí này mang lại nên được ghi nhận vào kỳ phát sinh chi phí (dựa vào nguyên tắc thận trọng)
c Đo lường và ghi nhận chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí liên quan đến việc quản lý chung của doanh nghiệp Đối với các khoản chi phí phát sinh trong tương lai nhưng lại liên quan đến doanh thu tạo ra trong kỳ như chi phí sửa chữa lớn TSCĐ của
bộ phận quản lý doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải trích trước và tiến hành phân bổ cho các kỳ kế toán có liên quan Đối với các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi và dự phòng trợ cấp mất việc, vào cuối năm doanh nghiệp cần xác định mức dự phòng và phản ánh vào chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phi quản lý doanh nghiệp phát sinh trong kỳ được tính hết vào chi phí
để xác định kết quả tuân theo nguyên tắc phù hợp hoặc nguyên tắc thận trọng Những chi phí ghi nhận theo nguyên tắc thận trọng là những chi phí không góp phần tạo ra doanh thu trong kỳ (như chi phí dự phòng phải thu khó đòi, các khoản tiền phạt) hoặc những chi phí có góp phần tạo ra doanh thu trong kỳ tới nhưng không thể xác định hợp lý mức doanh thu tạo ra là bao nhiêu thì phải được tính hết trong kỳ phát sinh; (phần lớn là các chi phí quản lý doanh nghiệp)
d Đo lường và ghi nhận chi phí tài chính
Chi phí tài chính được ghi nhận dựa trên nguyên tắc phù hợp Các chi phí tài chính liên quan đến việc tạo ra doanh thu trong kỳ cũng được ghi nhận chi phí trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh Chi phí lãi vay sau khi xác định vốn hóa chi phí đi vay, phần còn lại được tính vào chi phí tài chính trong kỳ
e Đo lường và ghi nhận chi phí khác
Chi phí khác chủ yếu gồm các khoản chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ,
Trang 2517bán phế liệu, khen thưởng, phạt (nộp chậm bảo hiểm, vi phạm hành chính,…) Theo nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc thận trọng thì các khoản chi phí này đều được ghi nhận là chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh để xác định lợi nhuận trong kỳ
1.3 VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN
Lợi nhuận được đo lường dựa vào một số nguyên tắc nhất định Các nguyên tắc này được đặt ra nhằm lợi nhuận được xác lợi nhuận phù hợp với lợi nhuận kinh tế Do chuẩn mực kế toán đưa ra một số lựa chọn cho từng loại giao dịch nên doanh nghiệp có thể vận dụng linh hoạt các chính sách kế toán để đo lường lợi nhuận phù hợp với lợi nhuận kinh tế Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể vận dụng các chính sách kế toán nhằm đo lường lợi nhuận nhằm đạt được lợi ích nào đó Trường hợp này được gọi là “quản trị lợi nhuận”
Theo bài nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Phương (2009), “Lợi nhuận và chính sách kế toán” [7], Quản trị lợi nhuận là hành động điều chỉnh
lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán Chế độ kế toán hiện hành quy định rằng
kế toán doanh nghiệp phải được thực hiện theo cơ sở dồn tích Kinh tế theo
cơ sở dồn tích mang lại cơ hội cho nhà quản trị thực hiện hành động điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt được một mục tiêu nào đó, vì chế độ kế toán cũng đưa ra nhiều lựa chọn cho mỗi loại giao dịch (đối tượng) có liên quan đến ghi nhận doanh thu và chi phí Cụ thể:
- Lựa chọn chính sách kế toán đối với hàng tồn kho
Xác định giá trị hàng tồn kho: Việc lựa chọn phương pháp tính giá
hàng tồn kho sẽ có ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý trong việc trình bày giá trị hàng tồn kho trên báo cáo tài chính và kết quả lãi, lỗ của các hoạt
Trang 2618động của một doanh nghiệp Thông tin về hàng tồn kho kết quả lãi, lỗ theo từng loại hoạt động của doanh nghiệp là cơ sở để phân tích, đánh giá và đưa
ra các quyết định quản lý hàng tồn kho và các quyết định kinh doanh Sẽ có những thiếu sót, sai lầm trong các định hướng sản xuất kinh doanh một khi các thông tin kế toán cung cấp không đảm bảo kịp thời, trung thực và hợp lý
Chính sách kế toán liên quan đến xác định giá trị sản phẩm dở dang:
Đánh giá sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp sản xuất được xem là một biểu hiện của ước tính kế toán Chuẩn mực hàng tồn kho không đưa ra các nguyên tắc đánh giá sản phẩm dở dang, mặc dù chuẩn mực vẫn thừa nhận đây là một hình thức hàng tồn kho của doanh nghiệp Do vậy, xuất phát từ bản chất của quá trình sản xuất thì sản phẩm dở dang là sự kết tinh của chi phí vật liệu và các chi phí chế biến còn đang làm dở cho những loại sản phẩm này Với mỗi phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang khác nhau thì giá trị dở dang sẽ khác nhau nên sẽ ảnh hưởng đến giá thành sản xuất sản phẩm Từ đó, ảnh hưởng đến chi phí giá vốn của sản phẩm bán ra trong kỳ
Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho: theo chuẩn mực số 02-Hàng tồn
kho, doanh nghiệp được trích lập dự phòng khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc của hàng tồn kho Các khoản chi phí tiêu thụ ước tính thì doanh nghiệp phỉa tự đưa ra, việc này mang tính chất chủ quan của doanh nghiệp Như vậy, nếu việc xem xét chi phí tiêu thụ của hàng tồn kho tại thời điểm lập báo cáo tài chính không khách quan và hợp lý thì sẽ ảnh hưởng đến thông tin cung cấp trên các báo cáo tài chính
- Lựa chọn chính sách kế toán liên quan đến nợ phải thu
Trích lập dự phòng phải thu khó đòi tại doanh nghiệp dựa vào dự kiến mức tổn thất không thể thu hồi được Do đó doanh nghiệp có thể dự kiến mức tổn thất cao hay thấp là tùy thuộc vào nhận thức chủ quan của doanh
Trang 2719nghiệp, đồng thời doanh nghiệp sẽ ghi nhận mức trích lập dự phòng phải thu khó đòi vào chi phí quản lý trong kỳ và sẽ ảnh hưởng đến chi phí phát sinh trong kỳ Theo đó, lợi nhuận của công ty trong kỳ cũng thay đổi nghịch với
sự thay đổi của chi phí
- Lựa chọn chính sách kế toán liên quan đến tài sản cố định
Lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ: Các doanh nghiệp có quyền
nhất định trong việc lựa chọn các phương pháp khấu hao TSCĐ cũng như sự linh động trong việc lập dự tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ Theo
đó, các doanh nghiệp có thể lựa chọn một phương pháp khấu hao cho mục đích kế toán khác với phương pháp khấu hao cho mục đích thuế Điều này giúp cho các nhà quản tị doanh nghiệp tính toán mức độ khấu hao hợp lý để đảm bảo thời gian thu hồi lượng vốn đầu tư và TSCĐ, chủ động trong việc đổi mới nhanh chóng máy móc thiết bị, hiện đại hóa quy trình sản xuất kinh doanh
Chính sách kế toán liên quan đến chi phí sửa chữa TSCĐ: việc trích
trước hoặc phân bổ thời gian sửa chữa lớn TSCĐ dài hay ngắn tùy thuộc vào việc sửa chữa đó ảnh hưởng đến chi phí hạch toán vào từng kỳ ít hay nhiều làm chỉ tiêu lợi nhuận trên báo cáo tài chính sẽ tăng hoặc giảm Nếu kế toán không xem xét, tính toán thời gian hợp lý thì sẽ ảnh hưởng đến thông tin cung cấp trên báo cáo tài chính
- Lựa chọn chính sách liên quan đến đầu tư tài chính
Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn và dài hạn là ước tính phần giá trị
có thể tổn thất trong tương lai do các khoản đầu tư chứng khoán của doanh nghiệp bị giảm giá tịa thời điểm lập báo cáo tài chính để ghi nhận trước giá trị tổn thất vào chi phí tài chính của kỳ kế toán hiện tại
- Lựa chọn chính sách kế toán liên quan đến doanh thu và chi phí
Trang 28Doanh thu hoạt động tài chính: Với hai phương pháp phân bổ lãi trả
chậm là phương pháp phân bổ lãi trả dần và phương pháp phân bổ lãi trả đều thì phần lãi hạch toán vào doanh thu tài chính sẽ khác nhau dẫn đến thông tin trình bày trên báo cáo tài chính với mỗi phương pháp phân bổ lãi trả chậm là khác nhau
Chi phí trả trước, chi phí phải trả, dự phòng phải trả: Các khoản chi
phí này cũng là một chỉ tiêu có thể làm sai lệch thông tin trên báo cáo tài chính (ví dụ: lựa chọn số kỳ phân bổ chi phí trả trước; mức trích lập dự phòng, hoàn nhập qua các giá trị ước tính,…)
1.4 NHẬN DIỆN KHẢ NĂNG ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN
Theo tài liệu nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Phương (2011),
“Kế toán theo cở sở dồn tích và kế toán theo cơ sở tiền” [15] , Cơ sở dồn
tích cho phép nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận thông qua hành vi ghi nhận doanh thu và chi phí, trong khi đó đối với cơ sở kế toán tiền, nhà quản trị không thể điều chỉnh các giao dịch Từ đó làm nảy sinh chênh lệch giữa lợi nhuận và dòng tiền tạo ra những biến kế toán mà các nhà nghiên cứu thường gọi là accruals Hay nói cách khác accruals là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Biến kế toán dồn
Lợi nhuận sau thuế -
Dòng tiền hoạt động kinh doanh
Lợi nhuận sau thuế = Biến kế toán
dồn tích +
Dòng tiền hoạt động kinh doanh
Trang 29Do dòng tiền từ hoạt động kinh doanh không thể điều chỉnh, nên để điều chỉnh lợi nhuận thì các nhà quản trị phải nhận diện được các biến kế toán và điều chỉnh các biến này Tuy nhiên không phải toàn bộ biến Accruals đều có thể đến từ hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị
mà có một số biến Accruals không thể điều chỉnh được Chẳng hạn như tăng khoản nợ phải thu do giảm dự phòng phải thu khó đòi, điều này là do mức lập dự phòng cần lập ít hơn (chọn tỷ lệ % lập dự phòng ít hơn) so với năm trước Như vậy, biến kế toán là có thể được điều chỉnh vì nhà kế toán
có thể kiểm soát được mức dự phòng cùng lập (tất nhiên là chỉ trong giới hạn cho phép của chế độ trích lập dự phòng phải thu khó đòi) Ngoài ra, một nguyên nhân khác làm tăng khoản nợ phải thu có thể là do chính sách tín dụng thoáng hay tăng trưởng về quy mô hoạt động của doanh nghiệp Dạng thứ nhất có thể được điều chỉnh bởi nhà quản trị trong khi dạng thứ hai không thể thay đổi
Từ ví dụ trên, ta thấy tổng accruals bao gồm 2 phần: một phần gọi là Accruals không thể điều chỉnh (nondiscretionary accruals), phần còn lại gọi
là accruals được điều chỉnh từ hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị (discretionary accruals)
Biến kế toán
dồn tích =
Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh
+
Biến kế toán dồn tích có điều chỉnh Theo Nguyễn Công Phương (2011), có các loại mô hình phổ biến nhận diện khả năng điều chỉnh lợi nhuận gồm mô hình tổng accruals trung bình của Healy(1985), mô hình của DeAngelo (1986), mô hình dãy thời gian của Jones(1991), mô hình ngành của Dechaw và sloan(1991) Qua phân tích tình hình tại việt Nam, để nhận điện khả năng điều chỉnh
Trang 3022lợi nhuận chỉ có thể áp dụng mô hình Friedlan (1994) và mô hình DeAngelo(1986) Theo DeAngelo, cho rằng sự biến đổi về mức độ accruals giữa hai kỳ chính là lợi nhuận được điều chỉnh (discretionary accruals) Như vậy, phần discretionary accruals là chênh lệch giữa total accruals giữa năm t và năm t-1:
Biến kế toán dồn tích
có thể điều chỉnh =
Biến kế toán dồn tích (t) +
Biến kế toán dồn tích (t-1)
Từ đó, phần biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (nondiscretionary accruals) là biến kế toán dồn tích (total accruals) của năm trước
Biến kế toán
dồn tích không thể điều chỉnh (t) =
Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (t-1) Ước tính nondiscretionary accruals trong mô hình của DeAngelo thật sự chính xác nếu nondiscretionary accruals không thay đổi theo thời gian và trung bình Discretionary accruals bằng 0 ở kỳ ước tính Tuy nhiên, nondiscretionary accruals thường phụ thuộc vào mức độ hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp đang ở pha tăng trưởng thì phần nondiscretionary accruals sẽ biến động từ năm này sang năm khác Ví dụ doanh nghiệp đang ở pha tăng trưởng vì thế cần đầu
tư thêm nhiều máy móc thiết bị, mở rộng qui mô kinh doanh,…mà ứng với mỗi loại tài sản cố định sẽ có mức khấu hao khác nhau từ đó sẽ dẫn đến phần nondiscretionary accruals biến động, trong trường hợp này nondiscretionary accruals không chính xác Để khắc phục nhược điểm này Friedlan đã cải tiến mô hình bằng cách kiểm soát phần nondiscretionary accruals thay đổi do thay đổi mức độ hoạt động kinh doanh của doanh
Trang 3123nghiệp bằng cách chia nondiscretionary accruals tính được theo mô hình của DeAngelo cho doanh thu Cụ thể
Biến kế toán dồn tích (t-1) Doanh thu (t) Doanh thu (t-1) Tùy thuộc vào kết quả tính toán (<0, >0, 0) mà có thể đưa ra kết luận có hay không việc điều chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị và điều chỉnh này là
tăng hay giảm
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1, trình bày hệ thống hóa những nội dung cơ bản về đo lường lợi nhuận trong các doanh nghiệp nói chung và lĩnh vực sản xuất nói riêng Chương 1 đã trình bày khái niệm, các nguyên tắc liên quan đến đo lường lợi nhuận thông qua việc đo lường doanh thu và chi phí, cụ thể: doanh thu được xác định theo nguyên tắc ghi nhận doanh thu và chi phí được xác định theo nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc thận trọng Bên cạnh đó, chương này cũng đã trình bày các phương pháp kế toán khác nhau được áp dụng thì sẽ ảnh hưởng như thế nào đến thông tin cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin khác nhau Vì vậy, để thông tin cung cấp ra bên ngoài phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp, kế toán cần phải xác định phương pháp nào phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp nhất để lựa chọn phương pháp kế toán và cung cấp thông tin một cách chính xác nhất Đây là cơ sở lý luận cho việc phản ánh thực trạng và tìm ra những giải pháp hoàn thiện công tác đo lường lợi nhuận tại Công ty cổ phần Sữa đậu nành VinaSoy Quảng Ngãi
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN SỮA ĐẬU NÀNH VINASOY QUẢNG NGÃI 2.1 ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA ĐẬU NÀNH VINASOY QUẢNG NGÃI 2.1.1 Giới thiệu về công ty
Công ty cổ phần Sữa đậu nành VinaSoy Quảng Ngãi, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất và cung ứng sữa đậu nành cho thị trường Việt Nam Công ty có tư cách pháp nhân Công ty có vốn điều lệ 91.000.000.000 đồng Công ty cổ phần Sữa đậu nành VinaSoy Quảng Ngãi có chức năng sản xuất và cung ứng các loại sữa từ đậu nành để phục vụ nhu cầu dinh dưỡng ngày càng cao của người tiêu dùng trên khắp cả nước
Vinasoy hiện là công ty dẫn đầu ngành hàng sữa đậu nành bao bì giấy trên toàn quốc với hơn 75% thị phần Với hơn 15 năm hoạt động, VinaSoy đã từng bước khắc phục, đẩy mạnh sản xuất, đưa sản phẩm ra thăm dò thị trường
để dần ổn định và nâng cao chất lượng sản phẩm Đồng thời Công ty cũng đang từng bước hoàn thiện trang thiết bị máy móc và không ngừng đầu tư cải tiến dây chuyền công nghệ, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
2.1.2 Đặc điểm sản xuất, kinh doanh
Đối với một doanh nghiệp, muốn sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng thì bên cạnh những tiêu chuẩn về bộ máy quản lý, trình độ lao động, còn đòi hỏi phải có một hệ thống trang thiết bị máy móc tiên tiến và dây chuyền công nghệ hiện đại thì mới có thể sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt, giá thành hạ
Xuất phát từ nhu cầu hiện nay của thị trường, Công ty đã chủ động nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Sau nhiều lần
Trang 3426đổi mới, ngày nay với hệ thống máy tính nối mạng toàn nhà máy, tất cả mọi công việc điều được thực hiện trên máy tính Có thể nói đây là một bước tiến quan trọng trong nhiều bước vận dụng công nghệ thông tin vào công tác quản
lý và điều hành hoạt động kinh doanh Điều này giúp cho Công ty giải quyết được các công việc nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn và sẽ giúp tăng năng xuất lao động
Dây chuyền thiết bị của VinaSoy do tập đoàn Tetrapak - Thụy Điển cung cấp Đây là hệ thống sản xuất sữa đậu nành hoàn toàn tự động và khép kín từ khâu sản xuất đến đóng gói sản phẩm, kết hợp với việc áp dụng phù hợp công nghệ Tetra – Alwinsoy, hệ thống khép kín này tạo nên sự đột phá về chất lượng sản phẩm, vừa giữ được hương vị đậu nành đậm đà từ thiên nhiên vừa giữ được các thành phần dinh dưỡng có trong đậu nành mà không sử dụng
chất bảo quản
Chất lượng sản phẩm của VinaSoy luôn ổn định và an toàn nhờ việc quản lý chất lượng theo hệ thống tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2008 và tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm HACCP
Trang 35Hình 2.1: Sơ đồ qui trình sản xuất
Nguyên liệu đậu
Trữ lạnh
Đóng gói vô trùng
Nước, đường, phụ gia
Lưu kho
Phân phối
Trang 36Bộ phận mua hàng sẽ tiến hành lựa chọn những hạt đậu nành thỏa mãn các tiêu chuẩn: Có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đáp ứng các yêu cầu thành phần dinh dưỡng, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm Đậu nành hạt trước khi chế biến phải qua hệ thống làm sạch và phân loại để thu được những hạt đồng đều về kích thước, đạt chất lượng tốt nhất Qua hai giai đoạn nghiền thô và nghiền tinh với nước nóng, đậu nành chuyển thành dạng dịch, các chất dinh dưỡng được hòa tan, hệ thống máy ly tâm sẽ trích ly tối đa các thành phần dinh dưỡng có trong hạt đậu nành Khâu xử lý nhiệt và bài khí tại công đoạn này sẽ tạo ra mùi vị đặc trưng
tự nhiên của dịch đậu nành Các Enzyme không có lợi cho sản phẩm được loại bỏ hoàn toàn Dịch đậu nành nguyên chất là thành phần chính được kết hợp để tạo ra lợi ích cốt lõi của sản phẩm, để tăng thêm giá trị sử dụng cho sản phẩm, các thành phần dinh dưỡng khác (nước, đường, gia vị) được thêm vào, đây là quá trình tạo cho sản phẩm có thành phần dinh dưỡng cân đối, hương vị hài hòa tạo cảm giác ngon miệng và khác biệt Dưới áp xuất cao, các thành phần dinh dưỡng trong sản phẩm được phân tán đồng nhất Chế độ xử lý nhiệt tiệt trung UHT vừa đảm bảo tiêu diệt hoàn toàn vi sinh vật vừa bảo toàn hương vị và thành phần dinh dưỡng có trong đậu nành Sản phẩm được đóng gói trong bao bì hộp giấy và được tiệt trùng Sau khi hoàn thành sản phẩm được nhập kho thành phẩm
Hiện Công ty đang sản xuất các loại sản phẩm về sữa như: Sữa đậu nành Fami; Sữa đậu nành Fami; Sữa đậu nành Mè đen;…
Công ty CP Sữa đậu nành VinaSoy Quảng Ngãi chuyên sản xuất và cung ứng các sản phẩm sữa chế biến từ đậu nành trên 2 lĩnh vực chính:
- Lĩnh vực sữa thương mại: là doanh nghiệp đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam chuyên sản xuất và cung ứng các sản phẩm chế biến từ đậu nành, VinaSoy hiện là nhà sản xuất và cung ứng đa dạng các sản phẩm sữa đậu nành cho thị trường tiêu thụ rộng lớn
Trang 37- Lĩnh vực sữa dinh dưỡng học đường: liên tục nhiều năm từ 2001 -
2008, VinaSoy được Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ bình chọn làm nhà cung cấp sữa đậu nành cho các trường học trong chương trình “Dinh dưỡng học đường” tại Việt Nam Đây là chương trình cấp phát miễn phí sữa đậu nành và bánh bích quy cho các em học sinh tiểu học ở vùng sâu vùng xa thuộc 9 tỉnh : Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Điện Biên, Lai Châu
Trang 38PHÒNG NCPT
T.PHÒN
G TCKT
BP TCHC
Trang 39- Ban giám đốc: điều hành mọi hoạt động của Công ty, xây dựng Công
ty vững mạnh về mọi mặt, có quan hệ tốt và uy tín đối với khách hàng Giám đốc Công ty do Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi bổ nhiệm và miễn nhiệm Đảm bảo kết quả sản xuất kinh doanh cũng như các chính sách, chế độ đối với người lao động theo sự phân cấp của Giám đốc Công ty, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật Nhà nước và Tổng Giám đốc Công ty CP Đường Quảng Ngãi Và cũng là trưởng ban quản lý và điều hành hệ thống chất lượng và môi trường theo tiêu chuẩn ISO 9001 - 2000
- Các phòng ban chức năng:
+ Phòng Kỹ thuật - Sản xuất: Xây dựng kế hoạch sản xuất, trực tiếp bảo dưỡng máy móc thiết bị, triển khai các chỉ tiêu kỹ thuật sản xuất, tổng kết, phân tích kết quả các quá trình sản xuất
+ Phòng Nghiên cứu - Phát triển và Phân tích Sản phẩm: Có chức năng kiểm tra và quản lý nguyên liệu, thành phẩm, đảm bảo chất lượng và tiêu chuẩn về môi trường, kiểm soát tài liệu, kiểm soát hồ sơ, đánh giá nội bộ, nghiên cứu sản phẩm mới
+ Phòng Tài chính - Kế toán: Ghi chép, phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời các hoạt động kinh tế phất sinh, kế hoạch thu, chi tài chính Cung cấp số liệu cần thiết cho ban giám đốc về tình hình quản lý vốn, tài sản và hiệu quả kinh doanh nhằm giúp ban giám đốc có những thông tin chính xác và đầy đủ
về tình hình tài chính hoạt động kinh doanh của toàn nhà máy
+ Phòng Kế hoạch - Kinh doanh: tổng hợp và xác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của Nhà máy theo chỉ đạo của Giám đốc Nhà máy Tổng hợp phân tích và đánh giá kết quả thực hiện đề xuất phương án, biện pháp nhằm đảm bảo kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế Tổng hợp nhu cầu, cân đối kế hoạch cung ứng, sử dụng vật tư thiết bị, hóa chất,
Trang 4033nguyên liệu theo sự phân cấp của Công ty Xác lập kế hoạch hoạt động của Công ty theo định kỳ Tổ chức và thực hiện công tác tiêu thụ sản phẩm Thực hiện báo cáo định kỳ, đột xuất theo yêu cầu
+ Bộ phận Tổ chức - Hành chính: Đảm bảo công tác hành chính; Quản lý nhân sự, sắp xếp bố trí lao động, đề bạt nâng lương, điều hành công tác bảo vệ
cơ quan; xây dựng nội quy, lập kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên Công ty Quản lý các hồ sơ, văn bản đến
và văn bản đi một cách an toàn khoa học Chuẩn bị các văn bản về hành chính quản trị doanh nghiệp
Như vậy, mỗi bộ phận chức năng trong Công ty tuy thực hiện các nhiệm
vụ khác nhau nhưng đều có mục đích chung là đảm bảo sao cho quá trình sản xuất và kinh doanh của Công ty mang lại hiệu quả cao nhất, tiết kiệm được chi phí nhất