1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Cải thiện môi trường kinh doanh nhằm phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn

106 188 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 542,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Sự phát triển của nền kintế Việt Nam trong những năm qua có sự đóng góp hết sức quan trọng của doanh nghiệp tư nhân như huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển

Trang 1

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Trang 2

Để hoàn thành được luận văn này, trước nhất, tôi xin chân thành cảm

ơn TS Nguyễn Hiệp - Đại học Đà Nẵng, người đã dành nhiều thời gian tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn Ban giám hiệu Đại học Đà Nẵng, đặc biệt

là các thầy cô giáo, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường.

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND thành phố Đà Nẵng, Cục thống kê,

Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, và những cơ quan đã cung cấp những

số liệu cần thiết và giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu.

Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tôi đã được rất nhiều sự giúp đỡ của bạn bè và gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và ghi nhận những tình cảm quý báu đó.

Đà Nẵng, ngày tháng năm 2012

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ

TƯ NHÂN

1.1 Tổng quan về kinh tế tư nhân 4

1.1.1 Khái niệm, thành phần và vai trò của kinh tế tư nhân 4

1.1.1.1 Khái niệm 4

1.1.1.2 Các loại hình của kinh tế tư nhân 4

1.1.1.3 Vai trò của kinh tế tư nhân 6

1.1.2 Lý luận chung về phát triển kinh tế tư nhân 9

1.1.2.1 Khái niệm 9

1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tư nhân 12

1.1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của KTTN 14

1.2 Môi trường kinh doanh và các yếu tố cấu thành của môi trường kinh doanh 21

1.2.1 Khái niệm của môi trường kinh doanh 21

1.2.2 Các yếu tố của môi trường kinh doanh 22

1.2.2.1 Môi trường vĩ mô 22

1.2.2.2 Môi trường vi mô 26

1.2.2.3 Môi trường nội bộ 28

1.3 Vai trò của cải thiện môi trường kinh doanh đối với phát triển kinh tế tư nhân 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

Trang 4

2.1 Tổng quan về thành phố Đà Nẵng 31

2.1.1 Điều kiện tư nhiên 31

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31

2.1.3 Nhận xét tác động của điều kiện tự nhiên, xã hội đối với sự phát triển kinh tế của Đà Nẵng 33

2.2 Đặc điểm kinh tế tư nhân thành phố Đà Nẵng 34

2.2.1 Sự phát triển về quy mô của thành phần kinh tế tư nhân 35

2.2.2 Đóng góp của kinh tế tư nhân trong tổng thể nền kinh tế thành phố 40

2.2.3 Những tồn tại và hạn chế của kinh tế tư nhân tại thành phố Đà Nẵng

47 2.3 Thực trạng môi trường kinh doanh thành phố Đà Nẵng 49

2.3.1 Pháp lý 52

2.3.2 Kinh tế 56

2.3.3 Tài chính 61

2.3.4 Văn hóa - xã hội 65

2.3.5 Lao động 68

2.4 Những thành quả và tồn tại của việc cải thiện môi trường kinh doanh cho kinh tế tư nhân của thành phố Đà Nẵng thời gian qua 72

2.4.1 Thành quả 72

2.4.2 Tồn tại và nguyên nhân 73

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 77

3.1 Quan điểm và định hướng phát triển kinh tế tư nhân của thành phố Đà Nẵng 77

3.1.1 Quan điểm 77

3.1.2 Định hướng 78

Trang 5

3.2.1 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng “một cửa, một đầu

mối” 79

3.2.2 Giải pháp phát triển các yếu tố hỗ trợ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân 80

3.2.2.1 Giải pháp về hỗ trợ tín dụng 80

3.2.2.2 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 82

3.2.2.3 Giải pháp về đẩu tư phát triển cơ sở hạ tầng 83

3.2.2.4 Giải pháp về hỗ trợ kỹ thuật cho hoạt động sản xuất 83

3.2.3 Giải pháp đổi mới và đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư 84

3.2.4 Hoàn thiện hệ thống thuế 86

3.2.5 Chú trọng đầu tư kinh tế tư nhân vào những ngành phù hợp với điều kiện thành phố 87

3.3 Kiến nghị 87

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 89

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

PHỤ LỤC

Trang 6

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa- hiện đại hóa

CNTT : Công nghệ thông tin

DNTN : Doanh nghiệp tư nhân

DNVVN : Doanh nghệp vừa và nhỏ

KTTN : Kinh tế tư nhân

KH – ĐT : Kế hoạch và đầu tư

KCN-CNC : Khu công nghiệp – công nghệ cao

TCTD : Tài chính tín dụng

TBXH : Thương binh xã hội

Trang 7

382.4 Thống kê GDP theo thành phần kinh tế tại Đà Nẵng

402.5 Thống kê cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế tại Đà Nẵng

42

2.7 Thống kê cơ cấu thu ngân sách tại Đà Nẵng 442.8 Giá trị sản xuất và thu ngân sách năm 2010 57

Trang 8

tại ĐN 372.3 Thống kê vốn đầu tư theo thành phần kinh tế tại Đà Nẵng 392.4 Thống kê GDP theo thành phần kinh tế Đà Nẵng 412.5 Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế tại Đà Nẵng 422.6 Đóng góp ngân sách của doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển của nền kintế Việt Nam trong những năm qua có sự đóng góp hết sức quan trọng của doanh nghiệp tư nhân như huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển, có ý nghĩa then chốt trong quá trình giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội như xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển đồng đều giữa các khu vực trong

cả nước… Bên cạnh đó Việt Nam đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới do đó phải biết tận dụng các các lợi thế so sánh, chính các doanh nghiệp tư nhân là cơ hội để sử dụng tốt các lợi thế này

Với thành phố Đà Nẵng cũng vậy, hiện thành phố đã và đang làm hết sức mình để phát triển kinh tế tư nhân Bằng nhiều cách, nhưng cách hiệu quả nhất là cải thiện môi trường kinh doanh nhằm thu hút đầu tư của các cá thể có vốn và các

điều kiện kinh doanh Vì vậy tôi chọn đề tài “CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH

DOANH NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

ĐÀ NẴNG” Qua đề tài này tôi đã đầu tư vào tìm hiểu các biện pháp mà thành phố

đang áp dụng nhằm cải thiện môi trường kinh doanh tại Đà Nẵng, qua đó nhận xét các thế mạnh và yếu, từ đó đi đến các đề xuất giải pháp nhằm cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh tại đây

Qua đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn là TS Nguyễn Hiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài này

Do còn hạn chế về thời gian thực hiện, kinh nghiệm còn chưa sâu sắc và kiện thức còn ít nên mong các thầy cô đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành đề tài này được tốt hơn

Trang 10

2 Mục đích nghiên cứu

Dựa trên lý thuyết đã được học trong chương trình làm nền tảng, thông qua việc thu thập số liệu, tình hình thực tế tại các doanh nghiệp tư nhân tại thành phố bằng nhiều nguồn, sẽ tiến hành phân tích thực trạng môi trường kinh doanh tài thành phố Đà Nẵng, tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu với những nguyên nhân cụ thể, từ đó đưa ra các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh nhằm phát triển kinh

tế tư nhân tại thành phố Đà Nẵng trong tương lai

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

- Ðối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các loại hình doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các loại hình doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN thành phố Đà Nẵng; cụ thể là các DNTN, công ty TNHH, công ty CP

và không kể các doanh nghiệp có yếu tố vốn nước ngoài, bỏ qua các loại hình kinh doanh cá thể, tiểu chủ vì loại hình này rất khó thu thập thông tin và số liệu thống kê

có sẵn không đầy đủ

4 Phương pháp nghiên cứu

- Để thực hiện được đề tài này, phương pháp chung được sử dụng xuyên suốt

là phương pháp duy vật biện chứng, xem xét và giải quyết các vấn đề có liên quan trong mối liên hệ phổ biến, trong trạng thái vận động và phát triển, có tính chất hệ thống và khách quan Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê,…

- Thu thập ý kiến chuyên gia và lãnh đạo các Sở, ban, ngành tỉnh kết hợp với

dữ liệu thống kê có sẵn thu thập được tại Cục Thống kê, Sở Kế hoạch & Ðầu tư, Sở Tài chính,

- Phương pháp xử lý số liệu: sử dụng công cụ excel để phân tích và sử dụng thống kê mô tả là chủ yếu

Trang 11

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về cải thiện môi trường kinh doanh trong phát triển kinh tế tư nhân

Chương 2 Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân và cải thiện môi trường kinh doanh tại thành phố Đà Nẵng

Chương 3 Giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh nhằm phát triển kinh tế tư nhân thành phố Đà Nẵng

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN

1.1 Tổng quan về kinh tế tư nhân

1.1.1 Khái niệm, thành phần và vai trò của kinh tế tư nhân

1.1.1.1 Khái niệm

- Quan điểm của Lênin: “kinh tế tư nhân là khái niệm chỉ khu vực kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất với các hình thức tổ chức kinh doanh như: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, các cơ sở kinh tế tiểu chủ…” [2]

- Nghị quyết 16 Bộ chính trị khóa VI (15/7/1988): “kinh tế tư nhân là đơn vị kinh tế do những người có vốn, có tài sản lập ra, sản xuất và kinh doanh theo pháp luật”

- Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ 7 của Đảng (1991): đã xác định thành phần kinh tế tư nhân ở nước ta gồm hai thành phần phần kinh tế: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hai hình thức là hộ kinh doanh cá thể

và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh)

1.1.1.2 Các loại hình của kinh tế tư nhân

- Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ:

Kinh tế cá thể được hiểu là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lao động của chính hộ hay cá nhân đó, không thuê mướn lao động làm thuê

Kinh tế tiểu chủ là hình thức kinh tế do một chủ tổ chức, quản lý và điều hành, hoạt động trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và có sử dụng lao

Trang 13

động thuê mướn ngoài lao động của chủ; quy mô vốn đầu tư và lao động nhỏ hơn các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.

- Thành phần kinh tế tư bản tư nhân:

Kinh tế tư bản tư nhân: bao gồm các công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần được thành lập theo Luật Doanh nghiệp tư nhân

và Luật Công ty

Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà xuất kinh doanh dựa trên cơ

sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột sức lao động làm thuê

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, thành phần này có vai trò đáng kể xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất,xã hội hoá sản xuất cũng như về phương diện giải quyết các vấn đề xã hội Đây cũng là thành phần kinh tế rất năng động nhạy bén với kinh tế thị trường, do đó sẽ có những đóng góp không nhỏ vào quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước Hiện nay, kinh tế tư bản tư nhân bước đầu có sự phát triển, nhưng phần lớn tập trung vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ và kinh doanh bất động sản; đầu tư vào sản xuất con ít và chủ yếu quy mô vừa và nhỏ

Chính sách của Đảng và Nhà nước ta là khuyến khích tư bản tư nhân bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất, đáp ứng các nhu cầu của dân cư Nhà nứoc bảo hộ quyền

sở hữu và lợi ích hợp pháp của họ; xoá bỏ định kiến và tạo điều kiện thuận lợi về tín dụng, về khoa học công nghệ, về đào tạo cán bộ - cho thành phần kinh tế này

Tuy nhiên, đây là thành phần kinh tế có tính tự phát rất cao Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX có đoạn viết:” Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm Tạo môi trưòng kinh doanh thuận lợi về chính sách pháp lý để kinh tế tư bản

tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài ; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phiếu cho người

Trang 14

lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước, xây dựng quan hệ tốt với chủ doanh nghiệp và người lao động

1.1.1.3 Vai trò của kinh tế tư nhân

- Góp phần quan trọng để tăng trưởng kinh tế:

+ Trên giác độ tổng cung

Kinh tế tư nhân cung cấp cho xã hội sản phẩm vật chất và dịch vụ để thoả mãn nhu cầu về đời sống , nhu cầu cho quá trình tái sản xuất của xã hội Với ưu thế nổi trội của khu vực kinh tế tư nhân : suất đầu tư thấp , dễ chuyển đổi phương hướng sản xuất cho phù hợp với nhu cầu của thị trường , quy mô nhỏ phù hợp với năng lực quản lý của các hộ gia đình , nên đã thu hút được đông đảo các tầng lớp dân cư Tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tư bản tư nhân khá ổn định

+ Trên giác độ tổng cầu

Trong những năm gần đây khu vực kinh tế tư nhân tăng rất nhanh về mặt

số lượng , nhiều doanh nghiệp được hình thành vì thế việc sản xuất hàng hoá với nhiều mặt hàng trở nên rất đa dạng và phong phú Việc tiêu dùng của người dân cũng như của các doanh nghiệp tăng nhanh rõ rệt, doanh nghiệp thì cần sử dụng nhiều nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất, người tiêu dùng do nhu cầu đời sống ngày càng cao, kèm theo mặt hàng trở nên phong phú đa dạng cho nên mức tiêu dùng của toàn xã hội tăng rất nhanh vì thế xét trên giác độ tổng cầu thì khu vực kinh

tế tư nhân đã đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo:

Trang 15

6,6 lần so với khu vực kinh tế Nhà nước Khả năng tạo thêm việc làm của khu vực kinh tế Nhà nước còn có hạn nhất là về thu hút số lượng lao đông

Sự gia tăng của các doanh nghiệp tỷ lệ thuận với sự gia tăng về số lượng lao động phù hợp với trình độ kỹ thuật của lao động , việc sử dụng lao động tại chỗ của khu vực kinh tế tư nhân đã giảm bớt khâu giải quyết nơi ăn ở , các điều kiện cơ sở

hạ tầng khác như phương tiện giao thông , trường học trạm xá… , tình trạng thất nghiệp đã giảm dần

+ Xóa đói giảm nghèo

Khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần đáng kể vào việc xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân ở khu vực thành thị và nông thôn Theo thực tế khảo sát, thu nhập của người lao động trong khu vực kinh tế tư nhân thường có mức tương hoặc cao hơn thu nhập của lao động trồng lúa ở nông thôn cùng địa bàn Phát triển khu vực kinh tế tư nhân góp phần rất quan trọng để tạo ra việc làm tại chỗ cho gia đình và địa phương, đem lại thu nhập cho người lao động

Kinh tế tư nhân thu hút thêm hàng vạn lao động Xét một cách cụ thể, không

kể các lao động làm việc tại các doanh nghiệp Công ty có vốn lớn thì lao động ở các

hộ gia đình, các cơ sở sản xuất nhỏ đã có thu nhập ổn định đời sống, thu nhập của

họ có khi chủ yếu từ các nguồn vốn đó mà đây là chiếm bộ phận khá lớn, giúp họ thoát khỏi cảnh nghèo đói dai dẳng, đó là tín hiệu đáng khích lệ của khu vực kinh tế này

- Đóng góp và huy động các nguồn vốn trong xã hội nộp ngân sách nhà nước

Trong hai năm 2009-2010, sau khi có luật doanh nghiệp ra đời, số doanh nghiệp tư nhân ra đời 35.440, với số vốn đăng ký đạt 40.455 tỷ đồng, nhiều hơn số doanh nghiệp tư nhân được thành lập trong 5 năm trước cộng lại Năm 2011, khu vực kinh tế tư nhân có bước phát triển mạnh mẽ Khu vực kinh tế tư nhân chiếm 26,7% tổng vốn đầu tư phát triển, hầu hết giá trị nông nghiệp, chiếm 25,5% giá trị công nghiệp, phần lớn giá trị dịch vụ, 48% kim ngạch xuất khẩu

Trang 16

Trên bình diện chung toàn xã hội, sự phát triển kinh tế tư nhân những năm vừa qua đã trực tiếp góp phần vào việc tăng ngân sách Nhà nước, đóng góp đáng kể vào sự gia tăng GDP toàn xã hội chiếm 42,26% GDP toàn xã hội Trong đó, hộ kinh doanh chiếm 34,8%, hộ nông dân ngoài HTX là 15,08%, hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp là 19,72%

Với sự phát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển của đất nước, với số vốn huy động lớn trong toàn xã hội, khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã đóng góp ngày càng tăng vào ngân sách nhà nước

Năm 2009 nộp được 5.900 tỷ đồng, ước tính chiếm 7,3% tổng thu ngân sách tăng 12,5% so với năm 2008 Đến năm 2010, khu vực doanh nghiệp tư nhân nộp ngân sách nhà nước đạt trên 11.075 tỷ đồng, chiếm 14,8% tổng thu ngân sách Qua

số liệu cho chúng ta thấy khu vực kinh tế tư bản tư nhân có vai trò rất lớn trong nguồn thu ngân sách của nhà nước Trong năm 2010 chiếm 14,8% trong tổng ngân sách nhà nước với tốc độ phát triển nhanh chóng thì chỉ trong một vài năm gần đây khu vực kinh tế này sẽ thể hiện một vị thế quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế và là chỗ dựa vững chắc trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước trở thành một nước công nghiệp hoá hiện đại hoá

- Thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

+ Quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế

Sự phát triển của kinh tế tư nhân đã đặt ra những yêu cầu mới thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đã xuất hiện nhiều doanh nhân kinh doanh thành đạt, đưa doanh nghiệp của mình phát triển cải thiện được đời sống người lao động, đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội được xã hội tôn vinh

Các doanh nghiệp, công ty đăng ký sản xuất kinh doanh theo pháp luật và được tự do sản xuất kinh doanh tự do chọn mặt hàng sản xuất hay kinh doanh Thị

Trang 17

trường Việt Nam với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế tư nhân đã tạo ra môi trường hợp tác trên cơ sở 2 bên cùng có lợi và cạnh tranh dưới sự quản lý của nhà nước tạo điều kiện phat triển nhanh chóng kinh tế Việt Nam , hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Kinh tế tư nhân góp phần vào quá trình thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao cạnh tranh của nền kinh tế, tăng quy mô của kim ngạch xuất khẩu Với đặc điểm và ưu thế riêng của mình, sự phát triển kinh tế tư nhân trực tiếp khơi dậy nhiều ngành, nhiều nghề truyền thống trong các ngành, vủng ở các địa phương tạo ra nhiều chủng loại hàng hoá đa dạng, phong phú và cung cấp nhiều hơn hàng hoá phục vụ xuất khẩu

Thành phần kinh tế tư nhân ngoài ra còn có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Nhờ có chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước xúc tiến mạnh mẽ quá trình lập pháp tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần kinh tế nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng

1.1.2 Lý luận chung về phát triển kinh tế tư nhân

1.1.2.1 Khái niệm

- Phát triển kinh tế

“Phát triển kinh tế là quá trình biến đổi nền kinh tế quốc dân bằng một sự gia tăng sản xuất và nâng cao mức sống của dân cư” Đối với các nước đang phát triển, phát triển kinh tế là quá trình nền kinh tế chậm phát triển thoát khỏi lạc hậu, đói nghèo, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá; là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế, văn hoá, pháp luật, thậm chí về

kĩ năng quản lý, phong cách và tập tục Tăng trưởng kinh tế là tiền đề và điều kiện tất yếu của phát triển kinh tế, nhưng không đồng nghĩa với phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế là tăng thu nhập và sản phẩm bình quân đầu người Phát triển kinh

Trang 18

tế bao hàm ý nghĩa rộng hơn tăng trưởng kinh tế, vì trong tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người chỉ là thước đo về số lượng, chưa biểu thị được chất lượng Về khía cạnh chất lượng, phát triển kinh tế có ý nghĩa rộng lớn hơn tổng sản phẩm thực tế của nền kinh tế, nó bao gồm hầu như tất cả các khía cạnh văn hoá, xã hội, chính trị Cho nên, phát triển kinh tế không phải chỉ là sự tăng trưởng,

vì nó có những mục tiêu khác với sự tăng trưởng đơn giản của tổng sản phẩm quốc dân Sự phát triển là quá trình một xã hội đạt đến trình độ thoả mãn các nhu cầu

mà xã hội ấy coi là cơ bản Phát triển kinh tế được xem xét trước hết và cơ bản ở

ba khía cạnh chính:

Thứ nhất, Tổng sản phẩm trong nước (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân

(GNP) tính theo đầu người Đây là chỉ tiêu tổng hợp, thể hiện đại thể và căn bản về trạng thái kinh tế, sự tăng trưởng và sự phát triển của một nước Nhưng xét về mặt chất lượng, còn phải xem xét năng suất lao động chung và năng suất của các ngành, các vùng khác nhau, thu nhập của các tầng lớp dân cư và của các vùng khác nhau

Thứ hai, Mức độ thoả mãn các nhu cầu xã hội được coi là cơ bản, tức là các

chỉ tiêu xã hội về phát triển; chúng phản ánh chất lượng của sự phát triển xét về nội dung phương thức sinh hoạt kinh tế như tuổi thọ bình quân, số calo theo đầu người,

tỉ lệ người biết chữ,

Thứ ba, Cơ cấu của nền kinh tế, tính chất và sự thay đổi của nó.

* Phát triển kinh tế theo chiều rộng:

Phát triển kinh tế bằng cách tăng số lượng lao động, khai thác thêm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động trên cơ

sở kĩ thuật như trước Trong điều kiện một nước kinh tế chậm phát triển, những tiềm năng kinh tế chưa được khai thác và sử dụng hết, nhất là nhiều người lao động chưa có việc làm thì phát triển kinh tế theo chiều rộng là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, nhưng đồng thời phải coi trọng phát triển kinh tế theo chiều sâu Nó thể hiện ở chỗ mức tăng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân vừa dựa vào lực lượng lao động và tài sản cố định, vừa dựa vào cải tiến thiết bị, kĩ thuật, công nghệ và tăng năng suất lao động Tuy nhiên, phát triển kinh có những giới hạn, mang lại hiệu quả

Trang 19

kinh tế - xã hội thấp Vì vậy, phương hướng cơ lâu phải chuyển sang phát triển kinh

tế theo chiều sâu

* Phát triển kinh tế theo chiều sâu:

Phát triển kinh tế chủ yếu nhờ đổi mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ kĩ thuật, cải tiến tổ chức sản xuất và phân công lại lao động, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn nhân tài, vật lực hiện có Trong điều kiện hiện nay, những nhân tố phát triển theo chiều rộng đang cạn dần, cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật trên thế giới ngày càng phát triển mạnh với những tiến bộ mới

về điện tử và tin học, công nghệ mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học đã thúc đẩy các nước coi trọng chuyển sang phát triển kinh tế theo chiều sâu Kết quả phát triển kinh tế theo chiều sâu được biểu hiện ở các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm hàm lượng vật tư và tăng hàm lượng chất xám, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của đồng vốn, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đầu người ở Việt Nam và một số nước chậm phát triển, do điều kiện khách quan có tính chất đặc thù, kinh tế chậm phát triển, nên phát triển kinh tế theo chiều rộng vẫn còn có vai trò quan trọng Nhưng để mau chóng khắc phục sự lạc hậu, đuổi kịp trình độ phát triển chung của các nước trên thế giới, trước hết là các nước trong khu vực, phát triển kinh tế theo chiều sâu phải được coi trọng và kết hợp chặt chẽ với phát triển theo chiều rộng trong phạm vi cần thiết và điều kiện có cho phép

- Phát triển kinh tế tư nhân

Là quá trình tăng lên về quy mô và có sự thay đổi về cơ cấu dẫn tới tăng lên

cả về chất và lượng của thành phần kinh tế tư nhân Tăng lên về số lượng nghĩa là ở

đó có sự tăng trưởng về số lượng các doanh nghiêp, quy mô doanh nghiệp được mở rộng, lao động tăng lên, mặt bằng sản xuất kinh doanh được mở rộng, máy móc thiết bị được đầu tư Tăng lên về chất là tăng về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, trình độ quản lý được nâng lên, trình độ sản xuất kinh doanh phát triển lên một bước mới, thị trường không ngừng được mở rộng, giá trị đóng góp cho nền

Trang 20

kinh tế của KTTN ngày càng tăng lên Thay đổi về cơ cấu trong lao động, cơ cấu

ngành nghề kinh doanh, cơ cấu vốn,

1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tư nhân

- Chính sách của Nhà nước

Trong quản lý Nhà nước, quản lý Nhà nước về kinh tế giữ vị trí đặc biệt quan trọng, bởi vì lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã khẳng định rằng không khi nào và không ở đâu có Nhà nước phi kinh tế, đứng bên trên hay bên ngoài kinh tế Các hoạt động của Nhà nước (người đại diện trực tiếp là Chính phủ) đều hoặc là tác động thúc đẩy hoặc là kìm hãm sự vận động của nền kinh tế; mặt khác bất cứ nhà nước nào cũng đều có vai trò quản lý nền kinh tế quốc dân thông qua các công

cụ quản lý và can thiệp bằng thể chế, chính sách để điều khiển nền kinh tế sao cho nền kinh tế tự thân vận động nhằm đạt tới mục tiêu mong muốn và theo quỹ đạo

đã lựa chọn

Trong nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa hiện nay, nền kinh tế đất nước nói chung và Kinh tế tư nhân nói riêng có phát triển được hay trì trệ, suy thoái là tùy thuộc rất lớn vào định hướng và các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước Nếu không có định hướng đúng đắn, không có các chính sách phù hợp với quy luật, phù hợp với lòng dân thì chúng ta sẽ không thể đạt được những mục tiêu đã định trước Hơn nữa, khi đã có các chính sách đúng, thì việc vận dụng và tổ chức thực hiện chính sách cũng như việc khắc phục những mặt trái, kẽ hở của chính sách là việc làm có ý nghĩa thực tiễn to lớn quyết định sự thành công của chính sách

- Môi trường đầu tư

Cơ chế và bộ máy hành chính quan liêu, cơ cấu quản lý phức tạp làm cho việc ra đời và phát triển các doanh nghiệp KTTN còn gặp nhiều khó khăn Thủ tục hành chính rườm rà và quá nhiều quy định cũng là một trở ngại, không những tạo ra

kẽ hở cho nạn tham nhũng, mà còn cản trở đầu tư của KTTN Mặc dù một số loại giấy phép đã được loại bỏ, nhưng trong thời gian gần đây đã có một số văn bản pháp luật được ban hành có nội dung không phù hợp với Luật Doanh nghiệp, hoặc việc đặt ra các loại giấy phép mới, khôi phục lại các loại giấy phép cũ dưới hình

Trang 21

thức khác, hoặc đặt ra những điều kiện hành chính mới, Sự chồng chéo, phức tạp trên đang tạo ra nhiều sơ hở và yếu kém về mặt quản lý hành chính, gặm nhấm dần tính hiệu lực của Luật Doanh nghiệp, phục hồi cơ chế xin – cho, gây mất lòng tin cho các doanh nghiệp.

- Đất đai và mặt bằng sản xuất kinh doanh

Khả năng tiếp cận đất đai vẫn đang là một trong những rào cản lớn nhất tác động đến sự phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam Luật Đất đai được sửa đổi thông qua tháng 10/2003 có cải thiện tình trạng này, song trên thực tế khả năng tiếp cận đất đai của KTTN vẫn còn khó khăn do vấn đề khan hiếm quỹ đất, chi phí, thủ tục hành chính,

Vì vậy, việc tạo điều kiện thuận lợi hoặc khuyến khích đầu tư tư nhân trong lĩnh vực xây dựng diện tích văn phòng cho các công ty tư nhân thuê với vị trí thuận tiện, giá cả hợp lý sẽ là hình thức thiết thực mà chính quyền địa phương có thể làm

để giúp đỡ các doanh nghiệp KTTN phát triển

- Vốn đầu tư

Vốn là một nhân tố cơ bản không thể thiếu của quá trình sản xuất kinh doanh Nhờ có vốn mới có thể kết hợp được lao động với những tiềm năng kinh tế hiện thực để tạo ra quá trình sản xuất kinh doanh Điều này đã được nhiều học giả nghiên cứu và đã được thực tế chứng minh

Trang 22

- Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng quyết định đối với sự phát triển nền kinh tế nói chung và KTTN nói riêng Hiện nay, nguồn nhân lực cho KTTN rất dồi dào nhưng chất lượng chưa cao, việc sử dụng nguồn nhân lực chưa được hợp lý và

có hiệu quả

Cơ chế sử dụng lao động hiện nay vẫn còn nhiều bất cập Kinh nghiệm một

số quốc gia cho thấy cơ chế sử dụng nhân lực có hiệu quả nói chung là cơ chế thị trường, tuy nhiên cần có sự ưu tiên lựa chọn của Nhà nước Điều này hiện nay chúng ta chưa làm được

- Khoa học và công nghệ

Ngày nay, công nghệ được hiểu là “tập hợp những hiểu biết để tạo ra các giải pháp kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất” bao gồm trang thiết bị, kỹ năng tay nghề, kinh nghiệm của người lao động, các thông tin, dữ liệu, bí quyết sản xuất và

cả yếu tố tổ chức Trình độ công nghệ quyết định tới chất lượng giá thành sản phẩm, năng suất lao động càng cao Hơn nữa chỉ có công nghệ hiện đại mới tạo ra được những sản phẩm cao cấp Những nghiên cứu của nhiều học giả đã chỉ ra “ở Mỹ trong những năm 1950 – 1980 công nghệ đã đóng góp vào tăng năng suất từ 30 – 50%, tương tự ở Nhật Bản trong thời kỳ 1995 – 1979, công nghệ đã đóng góp tới 40% tăng trưởng kinh tế ngành chế tạo máy”

1.1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của KTTN

- Gia tăng số lượng và quy mô doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành của kinh tế tư nhân, do vậy số lượng doanh nghiệp ngày càng nhiều chứng tỏ KTTN ngày càng phát triển Phát triển KTTN là phải có sự tăng trưởng nghĩa là sự gia tăng về số lượng, quy mô các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân Sự phát triển về quy mô, số lượng các doanh nghiệp là một trong những tiêu chí quan trọng để nghiên cứu đánh giá sự phát triển kinh tế tư nhân

Quy mô của doanh nghiệp có thể hiểu là độ lớn của từng cơ sở về vốn, lao động, mặt bằng sản xuất kinh doanh,… Phát triển quy mô chính là làm cho các yếu

Trang 23

tố này của từng doanh nghiệp lớn lên, phù hợp hơn Quy mô doanh nghiệp hợp lý là

sự đầu tư hợp lý về vốn, lao động, mặt bằng sản xuất kinh doanh,… nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phù hợp yêu cầu, mục tiêu kinh tế - xã hội, với nhu cầu thị trường, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp

Phát triển về số lượng doanh nghiệp không chỉ là sự tăng lên về số lượng đăng ký kinh doanh, mà là sự tăng lên về số lượng doanh nghiệp hoạt động thực chất và ổn định; mặt khác sự tăng lên về số lượng đó phải phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội

Phát triển vế số lượng, quy mô doanh nghiệp cần được xem xét đánh giá cơ cấu ngành nghề, khu vực hợp lý đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu cũng như cơ cấu về trình độ công nghệ phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học- công nghệ trong nước và thế giới

Sự phát triển về số lượng, quy mô doanh nghiệp phải được kiểm chứng thông qua cạnh tranh, uy tín thương hiệu, nói cách khác chỉ tăng thêm số lượng những doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh, hội nhập mới đánh giá đúng sự phát triển của kinh tế tư nhân

- Mở rộng quy mô thị trường

Mục đích sống còn của cơ sở kinh doanh là tồn tại phát triển đi lên và tìm kiếm lợi nhuận Để làm được điều đó doanh nghiệp cần có chiến lược tìm kiếm thị trường cho riêng mình Thị trường ở đây bao hàm hai yếu tố:

Thứ nhất: Thị trường đầu vào doanh nghiệp là thị trường ở đó cung cấp các

nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp như thị trường nguyên liệu, lao động, vốn, máy móc thiết bị,…

Thứ hai: Thị trường đầu ra của doanh nghiệp hay là thị trường tiêu thụ sản

phẩm dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra hay cung cấp trên thị trường

Để nghiên cứu, nắm bắt sự phát triển của một loại hình doanh nghiệp thì ngoài việc nghiên cứu xem sự phát triển về quy mô, số lượng của nó phát triển ra sao, thì việc nghiên cứu xu hướng biến động thị trường và khả năng tìm kiếm mở rộng thị trường của doanh nghiệp cũng là một vấn đề quan trọng Khả năng tiếp cận

Trang 24

thị trường, đặc biệt là khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài, tiếp cận với các thông tin về sản phẩm, thị trường, công nghệ, xu hướng phát triển sản phẩm,… cũng tác động đến doanh nghiệp Doanh nghiệp đã được tiếp cận với các nguồn thông tin đáng tin cậy hay chưa, việc cập nhật về thị trường trong nước cũng như thị trường thế giới ra sao, vấn đề hỗ trợ thông tin, cung cấp các thông tin chất lượng cao về thị trường xuất khẩu cho doanh nghiệp của các tổ chức, hiệp hội, các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương các cấp như thế nào,… đó là những câu hỏi đặt

ra hiện nay

Phát triển thị trường là nói đến việc tìm kiếm thêm thị trường tiêu thụ cho doanh nghiệp Muốn phát triển thị trường, doanh nghiệp phải tăng khả năng sản xuất, cung cấp hàng hóa, sản phẩm cho thị trường, cho xã hội Cần có sự hiểu biết, nghiên cứu rõ ràng về các loại thị trường cả trong và ngoài nước, về cơ hội và thách thức đặc biệt trong điều kiện hiện nay nước ta đã ra nhập WTO, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới

Cùng với việc phát triển thị trường, cũng cần nghiên cứu về thị phần của doanh nghiệp Thị phần của doanh nghiệp bao gồm cả thị phần hàng hóa, dịch vụ và thị phần kết hợp Việc phát triển tăng thị phần của doanh nghiệp chính là sự thể hiện

sự nhạy bén của doanh nghiệp trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh, tìm kiếm hướng đi, tìm đầu ra cho sản phẩm của mình Từ việc nghiên cứu một cách đầy đủ,

dự báo được thị phần của mình trong tương lai, doanh nghiệp sẽ có sự đầu tư đúng đắn và phù hợp, tránh được các lãng phí không cần thiết, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực

Khi nghiên cứu sự phát triển của KTTN nói chung và sự phát triển của các doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN nói riêng, một tiêu chí thể hiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là việc mở rộng thị trường mới và khả năng tăng thêm thị phần ở thị trường hiện tại của doanh nghiệp Phân tích tiêu chí này ta có thể đánh giá được xu thế phát triển của một loại hình doanh nghiệp

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, xã hội ngày càng văn minh hiện đại, nhu cầu của con người ngày càng cao và đa dạng, nghiên cứu nhu cầu của

Trang 25

khách hàng, tìm đầu ra cho sản phẩm là vấn đề sống còn đối với sự tồn tại của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có thể thỏa mãn đầy đủ được nhu cầu của khách hàng sẽ chiếm được thị trường và mở rộng được thị phần, có chiến lược đầu tư đúng hướng, phù hợp với thị phần dự báo trong tương lai sẽ phát triển đi lên.

- Mức độ gia tăng quy mô vốn và mặt bằng sản xuất kinh doanh

Ngoài những chỉ tiêu về số lượng đơn vị được cấp phép, số đơn vị thực tế hoạt động, một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN trong thời gian vừa qua

đó là yếu tố về vốn kinh doanh và mặt bằng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Sự phát triển của kinh tế tư nhân, các loại hình doanh nghiệp thuộc thành phần này tỷ lệ thuận với việc huy động vốn đưa vào sản xuất kinh doanh, nó được thể hiện qua sự tăng lên về vốn đăng ký hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm, sự tăng lên về tổng nguồn vốn cũng phản ánh quy mô và năng lực tài chính của doanh nghiệp tại mỗi giai đoạn phát triển

Vốn đầu tư của doanh nghiệp chính là vốn cho xây dựng, vốn đầu tư cho máy móc thiết bị, vốn dự phòng,… và vốn lưu động Sự tăng lên về vốn đầu tư của mỗi doanh nghiệp phản ánh sự một phần quan trọng sự phát triển của doanh nghiệp, tuy nhiên ngoài việc đánh giá sự tăng lên về quy mô của vốn điều cần quan tâm vẫn

là hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đó ra sao, tức là nghiên cứu chỉ tiêu lợi nhuận mang lại trên một đồng vốn bỏ ra

Việc tiếp cận các nguồn vốn của doanh nghiệp có thể từ Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, các quỹ đầu tư,…

Khi nghiên cứu xem xét tiềm lực vốn tài chính của doanh nghiệp, giá trị tài sản dài hạn là một chỉ tiêu rất đáng chú ý

Để có cơ sở thuận lợi cho sản xuất kinh doanh ngoài khả năng huy động vốn

và sử dụng nguồn vốn một yếu tố cũng rất quan trọng đó là mặt bằng sản xuất kinh doanh

Ngay từ khi đăng ký thành lập, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải nghĩ tới việc chọn cho mình một mặt bằng sản xuất kinh doanh cho phù hợp Khi có mặt

Trang 26

bằng sản xuất kinh doanh thuận lợi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, giảm được chi phí vận chuyển và các chi phí trung gian khác cho doanh nghiệp.

Khi nghiên cứu về mặt bằng sản xuất không nên chỉ quan tâm tới vị trí hay diện tích của mặt bằng đất đai mà cần chú ý tất cả các yếu tố về cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư trên đó như nhà xưởng, máy móc, hệ thống giao thông, hạ tầng phục vụ cho tất cả các hoạt động của doanh nghiệp Tiêu chí mở rộng mặt bằng sản xuất kinh doanh, tăng lên về quy mô cơ sở vật chất của doanh nghiệp cũng thể hiện

sự phát triển của doanh nghiệp đó Khi doanh nghiệp phát triển đi lên, làm ăn có lãi, thị trường đầu ra luôn được mở rộng thì việc mở rộng sản xuất kinh doanh là điều tất yếu, khả năng chọn vị trí, bố trí mặt bằng sản xuất kinh doanh một cách hợp lý

sẽ mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp

Bất kỳ một hộ hoặc doanh nghiệp nào khi làm ăn có lãi đều cần mở rộng cũng như bố trí một cách hợp lý mặt bằng sản xuất kinh doanh của mình, việc đảm bảo mặt bằng sản xuất kinh doanh thuận lợi hợp lý là sự thể hiện sự phát triển của mỗi doanh nghiệp đó

Hiện nay, với chủ trương của Đảng, Nhà nước, các địa phương đề ra các chính sách khuyến khích đầu tư, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển Thể hiện điều đó là việc xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật ban đầu thuận lợi cho các doanh nghiệp có nhu cầu thuê đất xây dựng nhà xưởng sản xuất kinh doanh Đây là điều kiện hết sức quan trọng vì giai đoạn khó khăn nhất chính là giai đoạn đầu tư ban đầu

- Sự phát triển của trình độ công nghệ và qui mô máy móc thiết bị phục

vụ cho hoạt động sản xuất – kinh doanh

Trang thiết bị khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng trong việc tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng của sản phẩm, giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp KTTN mà hầu hết có quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, tiềm lực tài chính có hạn thì việc lựa chọn và ứng dụng công nghệ thích hợp với khả năng về vốn, trình độ công nhân

Trang 27

cũng như trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp, chứ không nhất thiết phải là công nghệ hiện đại.

Vấn đề trang thiết bị và trình độ công nghệ hiện nay là một trong những điểm yếu cần được lưu tâm đối với các doanh nghiệp KTTN

Khả năng đầu tư máy móc thiết bị có liên hệ tỷ lệ thuận với tiềm lực tài chính và khả năng huy động vốn của doanh nghiệp Hiện nay, so với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước thì hầu hết các cơ sở của doanh nghiệp KTTN có trang thiết bị và trình độ công nghệ thấp hơn, chủ yếu đang sử dụng các công nghệ truyền thống, số doanh nghiệp KTTN được trang bị máy móc hiện đại tiên tiến chưa nhiều, thiết bị chủ yếu được mua trong nước, hoặc tìm kiếm sản phẩm trung bình từ các nước phát triển đã loại ra

Việc đầu tư máy móc thiết bị sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, gắn với nó là khả năng bảo vệ môi trường và đảm bảo các điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn lao động Phát triển máy móc thiết bị

sẽ giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm sản xuất được nâng cao, đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, giảm bớt chi phí sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp từ đó mang lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp

Khi nói tới sức mạnh của doanh nghiệp, trước hết phải nói tới trình độ công nghệ, máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất, dịch vụ Để thành công trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi, cải tiến công nghệ, máy móc thiết bị của mình Sự phát triển về công nghệ, máy móc thiết

bị là biểu hiện khả năng nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường nói riêng và trình độ trang bị máy móc thiết bị biểu hiện bộ mặt phát triển của một thành phần kinh tế nói chung

- Cải thiện về năng lực và trình độ quản lý doanh nghiệp

Bất kỳ một loại hình kinh tế, một tổ chức kinh doanh nào dù là tập thể hay

cá nhân khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nào đó đều cần phải có một

bộ máy quản lý và điều hành mọi hoạt động của đơn vị

Trang 28

Sự phát triển của KTTN mạnh hay yếu, nhanh hay chậm được thể hiện rất rõ thông qua năng lực và trình độ quản lý của bộ máy điều hành các cơ sở thuộc khu vực kinh tế này.

Đối với đội ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp nói chung và các nhà quản lý doanh nghiệp KTTN nói riêng trong cơ chế mới hiện nay cần có sự năng động, sáng tạo, thể hiện sự nhạy bén trong quản lý điều hành, tăng cường trình độ, thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn thích ứng kịp thời với những biến động của nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt

Trình độ quản lý doanh nghiệp của người đứng đầu được thể hiện không chỉ thông qua bằng cấp, chứng chỉ hành nghề được các tổ chức có chức năng đào tạo công nhận mà còn được thể hiện thông qua kinh nghiệm thực tế, xử lý các thông tin, điều hành công việc, xây dựng các phương án, đề ra các kế hoạch, xây dựng các chiến lược kinh doanh một cách phù hợp với điều kiện thị trường và phù hợp với nội lực của doanh nghiệp

Muốn đưa một doanh nghiệp phát triển đi lên hay nói một cách rộng ra để góp phần thúc đẩy sự phát triển của KTTN thì ngoài việc quan tâm tới cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, vốn, các yếu tố nguồn lực phục vụ cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thì rất cần tới sự phát triển và đầu tư cho đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành của doanh nghiệp KTTN phát triển phụ thuộc rất lớn vào khả năng nhạy bén, thích nghi với cơ chế mới của đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành Đây cũng là một tiêu chí đánh giá, nhận biết sự phát triển của doanh nghiệp

Trong thực tế hiện nay, đội ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp KTTN dù đã

có nhiều cố gắng trong cơ chế mới nhưng nhìn chung về trình độ chưa thực sự đáp ứng được đòi hỏi trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường nhiều biến động Chủ doanh nghiệp chưa đủ khả năng quản lý doanh nghiệp khi đăng ký nhiều ngành nghề, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý còn yếu

Sự hiểu biết chuyên môn của các chủ doanh nghiệp KTTN thường được tích lũy theo kinh nghiệm hoạt động của mỗi người, đa số chưa qua trường lớp đào tạo nghiệp vụ kinh doanh, do đó còn hạn chế trong việc xử lý thông tin, xây dựng

Trang 29

phương án sản xuất kinh doanh Đây cũng là một trở ngại đối với chính bản thân các doanh nghiệp khi có nhu cầu vay vốn từ hệ thống Ngân hàng.

Đội ngũ cán bộ quản lý các doanh nghiệp KTTN đa số chưa nhận thức được lợi ích cũng như vai trò của các hình thức chuyên môn hóa như kiểm toán, đào tạo, thiết kế, điều tra thị trường, xử lý số liệu, quảng cáo nên phần lớn các doanh nghiệp

tự làm lấy các công việc trên đã làm tăng chi phí cho các dịch vụ đó và bỏ qua lợi ích của chuyên môn hóa trong xã hội Các doanh nghiệp còn thiếu các nhà quản trị chuyên nghiệp và việc tổ chức hoạch định chiến lược vẫn còn nặng về thủ tục hành chính Nhiều doanh nghiệp còn xây dựng chiến lược ở trạng thái bị động, mang tính đối phó tình thế trong ngắn hạn

1.2 Môi trường kinh doanh và các yếu tố cấu thành của môi trường kinh doanh

1.2.1 Khái niệm môi trường kinh doanh

Kinh doanh là hành động bỏ vốn ngày hôm nay để thu lại lợi nhuận trong tương lai, trong quá trình đó môi trường kinh doanh đóng vai trò như một chất xúc tác ban đầu cho việc lựa chọn quyết định bỏ vốn của nhà kinh doanh, vì vậy môi trường kinh doanh có một vị trí vô cùng quan trọng

Cách hiểu rộng nhất, môi trường kinh doanh là tập hợp những điều kiện bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp Đây cũng là quan điểm của Jauch và Glueck (1988), theo đó có những tầng mức môi trường kinh doanh khác nhau Tầng mức môi trường nội tại bao gồm một số yếu tố bên trong mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được như vốn, lao động, thông tin, ý tưởng, đất đai, thiết bị, và quyết định sản lượng Tầng mức môi trường bên ngoài liên quan đến các yếu tố ngành (điều kiện chung cho tất cả các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành), quốc gia (hệ thống các yếu tố rộng và bao quát những ngành hoạt động khác nhau của nền kinh tế như ngân hàng, giáo dục, thương mại, công nghiệp, …), khu vực và thế giới (các điều kiện ảnh hưởng đến quốc gia) Đây là tầng mức môi trường mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được mà chỉ có thể phản hồi hoặc tương tác lại Các doanh nghiệp sẽ điều

Trang 30

chỉnh những thành tố môi trường nội tại để nắm bắt được những cơ hội cũng như để đối mặt với những thách thức từ môi trường bên ngoài.

Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu hiện tại định nghĩa môi trường kinh doanh chỉ bao gồm những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp Robin Wood (2000) cho rằng môi trường kinh doanh là một tập hợp các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ Những yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát và có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của doanh nghiệp

Theo nghĩa chung nhất, môi trường kinh doanh là tổng hoà các yếu tố bên ngoài liên quan đến hoạt động kinh doanh Có nhiều cách phân loại môi trường kinh doanh, song theo nhiều nhà kinh tế, môi trường kinh doanh có thể chia ra môi trường cứng và môi trường mềm Môi trường cứng liên quan đến các yếu tố thuộc

cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển kinh tế, gồm: hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông (đường xá, cầu cảng hàng không, cảng biển ), hệ thống thông tin liên lạc, năng lượng Môi trường mềm bao gồm: hệ thống các dịch vụ hành chính, dịch vụ pháp lý liên quan đến hoạt động kinh doanh (đặc biệt các vấn đề liên quan đến chế độ đối xử và giải quyết các tranh chấp, khiếu nại); hệ thống các dịch vụ tài chính – ngân hàng, kế toán và kiểm toán

1.2.2 Các yếu tố của môi trường kinh doanh

1.2.2.1 Môi trường vĩ mô

Môi trường vĩ mô của doanh nghiệp là nơi mà doanh nghiệp phải bắt đầu tìm kiếm những cơ hội và những mối đe dọa có thể xuất hiện, nó bao gồm tất cả các nhân tố và lực lượng có ảnh hưởng đến hoạt động và kết quả thực hiện của doanh nghiệp

- Tự nhiên – Cơ sở hạ tầng: tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp Về cơ bản thường tác động bất lợi đối với các hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có liên quan đến tự nhiên như: sản xuất nông phẩm, thực phẩm theo mùa, kinh doanh khách sạn, du lịch Để chủ động đối phó với các tác động của yếu tố tự nhiên, các doanh nghiệp

Trang 31

phải tính đến các yếu tố tự nhiên có liên quan thông qua các hoạt động phân tích, dự báo của bản thân doanh nghiệp và đánh giá của các cơ quan chuyên môn Các biện pháp thường được doanh nghiệp sử dụng : dự phòng, san bằng, tiên đoán và các biện pháp khác Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến các doanh nghiệp như vấn đề tiếng ồn, ô nhiễm môi trường và các doanh nghiệp phải cùng nhau giải quyết.

- Kinh tế: Bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng và sự ổn định của nền

kinh tế, sức mua, sự ổn định của giá cả, tiền tệ, lạm phát, tỷ giá hố đoái tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ hội và cả những thách thức với doanh nghiệp.Để đảm bảo thành công của hoạt động doanh nghiệp trước biến động về kinh tế, các doanh nghiệp phải theo dõi, phân tích, dự báo biến động của từng yếu tố để đưa ra các giải pháp, các chính sách tương ứng trong từng thời điểm cụ thể nhằm tận dụng, khai thác những cơ hội, né tránh, giảm thiểu nguy

cơ và đe dọa Khi phân tích, dự báo sự biến động của các yếu tố kinh tế, để đưa ra kết luận đúng, các doanh nghiệp cần dựa vào 1 số căn cứ quan trọng: các số liệu tổng hợp của kì trước, các diễn biến thực tế của kì nghiên cứu,các dự báo của nhà kinh tế lớn

Một môi trường đầu tư lành mạnh đòi hỏi phải có một sự ổn định kinh tế vĩ

mô nhất định Lạm phát thấp, thâm hụt ngân sách ở mức chấp nhận được và hệ thống tỷ giá hối đoái thực là những chỉ số phản ánh sự ổn định kinh tế vĩ mô Sự bất

ổn cản trở đầu tư vì nó làm cho những thành quả dự kiến trong tương lai trở nên không chắc chắn và nó cũng có thể làm giảm giá trị của tài sản

Lạm phát cao và sự thăng trầm của tỷ giá hối đoái là hai ví dụ của sự bất ổn kinh tế vĩ mô Ảnh hưởng của hai yếu tố này đặc biệt nghiêm trọng đối với những đối tượng có mức thu nhập cố định, giá trị của các tài sản và có rất ít phương tiện để

tự bảo vệ mình trước sự giảm sức mua của đồng tiền Chúng cũng làm giảm uy tín đối với các chủ nợ, khiến cho việc tiếp cận với những nguồn tín dụng khó khăn hơn Đứng trên một phương diện khác, sự thâm hụt ngân sách quá nhiều cũng sẽ ảnh

Trang 32

hưởng đến môi trường đầu tư Để cải thiện tình trạng thâm hụt thì một trong những cách đơn giản và dễ thực hiện mà trước đây các chính phủ hay áp dụng là in thêm tiền để bổ sung cho sự thiếu hụt Thực tế đã chứng minh tuy đây là một phương pháp đơn giản, dễ thực hiện nhưng hậu quả mà nó tác động đến lạm phát, sẽ dễ đẩy nền kinh tế lâm vào khủng hoảng Hay một giải pháp khác mà chính phủ cũng hay thực hiện đó là tăng thuế bổ sung nguồn thu, rõ ràng giải pháp này chỉ mang lại lợi ích trước mắt nhưng về lâu dài sẽ mang lại hậu quả rất lớn bởi vì nó tác động đến tâm lý nhà đầu tư, từ đó hạn chế đến hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Kỹ thuật – Công nghệ: đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh, trực tiếp đến

doanh nghiệp Các yếu tố công nghệ thường biểu hiện như phương pháp sản xuất mới, kĩ thuật mới, vật liệu mới, thiết bị sản xuất, các bí quyết, các phát minh, phần mềm ứng dụng Khi công nghệ phát triển, các doanh nghiệp có điều kiện ứng dụng các thành tựu của công nghệ để tạo ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao hơn nhằm phát triển kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh Tuy vậy, nó cũng mang lại cho doanh nghiệp nguy cơ tụt hậu, giảm năng lực cạnh tranh nếu doanh nghiệp không đổi mới công nghệ kịp thời

- Văn hóa – Xã hội: ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động quản trị và kinh

doanh của một doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải phân tích các yếu tố văn hóa,

xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra Mỗi một sự thay đổi của các lực lượng văn hóa có thể tạo ra một ngành kinh doanh mới nhưng cũng có thể xóa đi một ngành kinh doanh

- Chính trị – An ninh – Pháp luật: gồm các yếu tố chính phủ, hệ thống

pháp luật, xu hướng chính trị các nhân tố này ngày càng ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp Sự ổn định về chính trị, nhất quán về quan điểm, chính sách lớn luôn là sự hấp dẫn của các nhà đầu tư Trong xu thế toàn cầu hiện nay, mối liên

hệ giữa chính trị và kinh doanh không chỉ diễn ra trên bình diện quốc gia mà còn thể hiện trong các quan hệ quốc tế Để đưa ra được những quyết định hợp lí trong

Trang 33

quản trị doanh nghiệp, cần phải phân tích, dự báo sự thay đổi của môi trường trong từng giai đoạn phát triển.

Không có yếu tố nào có thể phá hủy môi trường đầu tư mạnh như sự bùng

nổ xung đột giữa các đảng phái chính trị và xung đột vũ trang Trong tất cả các loại vốn: nhân lực, vật chất, xã hội đều bị tàn phá, đầu tư bị gián đoạn và các nguồn lực

sẽ bị định hướng chệch ra khỏi nhiều hoạt động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nội chiến, hình thức chiến tranh phổ biến trong vòng hơn một nửa thế kỷ qua đã gây ra một tác động tàn phá đặc biệt đối với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Theo tính toán, trong vòng hơn 50 năm qua, một cuộc nội chiến tiêu biểu kéo dài 7 năm làm giảm tốc độ tăng trưởng dự kiến dự kiến hàng năm là 2.2%, đến khi kết thúc chiến tranh, GDP đạt được sẽ thấp hơn 15% so với mức đáng ra phải có Trong ngắn hạn, một cuộc nội chiến khốc liệt cũng có thể làm giảm một phần ba mức thu nhập bình quân đầu người của các quốc gia láng giềng Đây là hệ quả tất yếu của cuộc nội chiến tác động làm giảm hoạt động đầu tư cả trong và ngoài nước Điều này càng được chứng minh đối với nước láng giềng của Việt Nam là Thái Lan Trong những tháng cuối năm 2006, với cuộc đảo chính của phía quân sự lật đổ chính quyền đương đại đã đưa nước này lâm vào tình trạng nội chiến và hơn ai hết người dân nước này nhận thấy rõ sự giảm sút về tốc độ tăng trưởng khi các nhà đầu

tư cả trong và ngoài nước càng trở nên e ngại khi bỏ vốn đầu tư tại đây và ngay cả đối với hoạt động du lịch, ngành nghề đem lại thu nhập lớn cho người dân và chiếm

tỷ trọng cao trong GDP của quốc gia này, cũng giảm mạnh khi tâm lý của các khách nước ngoài không muốn mạo hiểm đến du lịch tại một nơi luôn có xung đột và chiến tranh

Nội chiến và thu nhập thấp là hai hiện tượng luôn đi kèm với nhau Khả năng xẩy ra nội chiến ở một nước có thu nhập thấp cao gấp 15 lần so với nước phát triển Một quốc gia càng nghèo thì càng có nhiều nguy cơ bị vướn vào vòng xoáy đi xuống cảu bạo lực và suy thoái kinh tế Theo đó, một quốc gia muốn phát triển cần cải thiện môi trường đầu tư, việc làm này sẽ tăng thu hút đầu tư, tạo công ăn việc

Trang 34

làm, tăng thu nhập từ đó cải thiện mức sống để giảm thiểu khả năng vướn vào một cuộc xung đột.

Trong khi sự ổn định nhất định về kinh tế và chính trị là những yếu tố cần thiết để tiến hành đầu tư thì các doanh nghiệp lại đòi hỏi nhiều hơn về sự lành mạnh của môi trường đầu tư, đó là nơi mà con người và tài sản được bảo vệ một cách thích hợp Hay nói cách khác, vấn đề mà nhà đầu tư muốn đề cập ở đây chính là vấn

đề về tội phạm; việc đảm bảo các quyền về tài sản, tạo thuận lợi cho việc buộc thực thi hợp đồng và chấm dứt sự chiếm đoạt tài sản, nạn cướp giật, lừa đảo và các tệ nạn khác làm tổn hại tài sản và con người cũng phá hoại môi trường đầu tư Tội phạm lan tràn sẽ ngăn cản các doanh nghiệp tiến hành đầu tư và làm tăng chi phí hoạt động kinh doanh, thông qua những thiệt hại trực tiếp về hàng hóa hay qua các chi phí áp dụng biện pháp phòng ngừa (thuê nhân viên bảo vệ, xây hàng rào, lắp đặt hệ thống báo động ) Trong một số trường hợp các doanh nghiệp nước ngoài sẽ giảm đầu tư, các doanh nghiệp trong nước sẽ rời bỏ đất nước để tìm địa điểm an toàn hơn

1.2.2.2 Môi trường vi mô

Các lực lượng tác động trong môi trường vi mô của công bao gồm: công ty, những người cung ứng, các đối thủ cạnh tranh, môi giới marketing, khách hàng và công chúng trực tiếp Những người quản trị marketing không thể tự giới hạn mình trong những nhu cầu của thị trường mục tiêu Họ phải chú ý đến tất cả những yếu tố của môi trường vi mô

Doanh nghiệp: Khi soạn thảo các kế hoạch kinh doanh, những người lãnh

đạo bộ phận marketing của công ty phải chú ý đến lợi ích và khả năng của công ty, của các nhóm trong nội bộ như ban lãnh đạo, Phòng tài chính, Phòng nghiên cứu thiết kế thử nghiệm, Phòng cung ứng vật tư, bộ phận sản xuất và kế toán Những người soạn thảo các kế hoạch marketing xem tất cả những nhóm này tạo nên môi trường vi mô của công ty và luôn đưa ra giải pháp dung hòa giữa yếu tố lợi ích cho công ty và lợi ích cho người làm ra sản phẩm

Trang 35

Những người cung ứng: Những người cung ứng cho công ty là những công

ty kinh doanh và những người cá thể cung cấp cho công ty và các đối thủ cạnh tranh

và các nguồn vật tư cần thiết để sản xuất ra những mặt hàng cụ thể hay dịch vụ nhất định

Ví dụ, để sản xuất nội thất, công ty nội thất phải mua gỗ, ốc vít, keo, sơn Ngoài ra, công ty còn phải mua sức lao động, thiết bị, nhiên liệu, điện năng, máy

tính… cần thiết để cho nó hoạt động tạo ra sản phẩm

Những người môi giới marketing: Những người môi giới marketing là

những công ty hỗ trợ cho công ty đi lên, tiêu thụ và phổ biến hàng hóa của công ty trong giới khách hàng Người môi giới marketing cho công ty nội thất là các chủ showroom, các đại lý bán lẽ, các lực lượng marketing của công ty Những lực lượng này góp phần tích cực vào việc phát triển sản phẩm cho công ty

Khách hàng: Công ty cần phải nghiên cứu kỹ những khách hàng của mình

Nhìn chung có năm dạng thị trường khách hàng Tất cả những thị trường này được trình bày dưới đây là những định nghĩa ngắn gọn về chúng

•Thị trường người tiêu dùng: những người và hộ dân mua hàng hoá và dịch vụ

•Thị trường của các cơ quan Nhà nước: những tổ chức mua hàng và dịch vụ

để sau đó sử dụng trong lĩnh vực dịch vụ công cộng hoặc chuyển giao hàng hoá và dịch vụ đó cho những người cần đến nó

•Thị trường quốc tế: những người mua hàng ở ngoài nước bao gồm những người tiêu dung, sản xuất bán trung gian và các cơ quan Nhà nước ở ngoài nước

Trang 36

Đối thủ cạnh tranh: Mọi công ty đều có rất nhiều đối thủ cạnh tranh khác

nhau Những công ty có thể xếp vào đối thủ cạnh tranh là những công ty có cùng mặt hàng kinh doanh, có cùng chiến lượt kinh doanh, hoặc cùng thị trường tiêu thụ… mà ảnh hưởng đến sự lựa chọn của khách hàng đối với sản phẩm của công ty

và lợi ích khác

1.2.2.3 Môi trường nội bộ

Các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến công ty là: Văn hóa công ty, Hình ảnh công ty, Cơ cấu tổ chức, Nhân lực chủ chốt, Khả năng sử dụng các nguồn lực, Kinh nghiệm đã có, Hiệu quả hoạt động, Năng lực hoạt động, Danh tiếng thương hiệu, Thị phần, Nguồn tài chính, Hợp đồng chính yếu, Bản quyền và bí mật thương mại… Những điều này Công ty đã tận dụng phát triển tối đa lợi ích và khả năng hiện có, giảm thiểu tối đa yếu điểm của mình

Với các yếu tố của môi trường kinh doanh như đã nêu trên, trong phạm vi nghiên cứu đề tài xin được phép nghiên cứu và phân tích môi trường vĩ mô của môi trường kinh doanh

1.3 Vai trò của cải thiện môi trường kinh doanh đối với phát triển kinh

tế tư nhân

Theo trên thì môi trường kinh doanh có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đến quá trình hình thành và phát triển của các loại hình kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân Bất kỳ chủ thể nào sinh ra và lớn lên đều phải nằm trong một môi trường sống nhất định, kinh doanh cũng vậy, môi trường kinh doanh quyết định loại hình kinh doanh đó có được sinh ra, cho nó tồn tại và phát triển hay không

Với kinh tế tư nhân thì lại càng phải có một môi trường kinh doanh tốt nhất

vì đây là những cá thể có vốn nhưng đại đa số là nguồn vốn nhỏ bé và kinh nghiệm kinh doanh kém hơn các tập đoàn kinh tế, hoặc các doanh nghiệp Nhà nước Nếu môi trường kinh doanh không tốt thì loại hình kinh tế tư nhân khó mà tồn tại và phát triển được

Trang 37

Qua tổng kết tại Hội nghị sơ kết tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương

5 khóa 9 ngày 6/4/2010 “về tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” cho thấy sau hơn 7 năm thực hiện Nghị quyết

14 của Ban chấp hành Trung ương khóa IX về việc tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể đã phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, vị trí và vai trò ngày càng tăng góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội

Tỷ trọng thu ngân sách nhà nước từ khu vực kinh tế tư nhân tăng từ 6% trong năm

2002 đến trên 11% trong năm 2008 Trong năm 2008, khu vực kinh tế ngoài nhà nước đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hơn 46% trong đó có phần đóng góp quan trọng của kinh tế tư nhân Năng lực của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế

đã được tăng lên đáng kể Tổng số vốn đăng ký giai đoạn 2002-2008 là hơn 2.100 tỷ đồng, lớn hơn cả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn đăng ký bình quân tăng 61,5%

Trong tổng số 500 doanh nghiệp lớn nhất nước ta, số lượng doanh nghiệp tư nhân lớn chiếm 30% trong năm 2009 Một số doanh nghiệp tư nhân đã phát triển thành tập đoàn kinh tế, đầu tư ra nước ngoài, với sản phẩm ngày càng phong phú,

đa dạng, có uy tín và có thương hiệu

Các cải thiện môi trường kinh doanh vì thế có tác động tích cực tới sự phát triển của kinh tế tư nhân trong thời gian rất nhanh Một chính sách tốt sẽ đưa khu vực kinh tế tư nhân phát triển vượt bậc, và ngược lại nếu môi trường không tốt thì không ai dám bỏ tiền, công sức ra mà kinh doanh cả

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương này luận văn đã tập trung đề cập 3 vấn đề cơ bản mang tính lý luận về cải thiện môi trường kinh doanh trong phát triển kinh tế tư nhân như:

Thứ nhất, luận văn trình bày về khái niệm, thành phần và vai trò của kinh tế

tư nhân, Lý luận chung về phát triển kinh tế tư nhân

Thứ hai, luận văn đã đề cập đến môi trường kinh doanh và các yếu tố cấu thành của môi trường kinh doanh Trong nội dung này luận văn đã đi sâu xem xét: khái niệm môi trường kinh doanh, các yếu tố của môi trường kinh doanh ( môi trường vĩ mô, môi trường vi mô, môi trường nội bộ)

Vấn đề thứ ba mà luận văn này tập trung xem xét là vai trò của cải thiện môi trường kinh doanh đối với phát triển kinh tế tư nhân

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH TẠI

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 Tổng quan về thành phố Đà Nẵng

2.1.1 Điều kiện tư nhiên

Vị trí địa lý: Thành phố Đà Nẵng trải dài từ 15°15’ đến 16°40’ Bắc và từ

107°17’ đến 108°20’ Đông Phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía tây và nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp biển Đông Trung tâm thành phố cách thủ

đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam, cách kinh đô thời cận đại của Việt Nam là thành phố Huế 108 km về hướng Tây Bắc

Địa hình: Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng duyên hải, vừa có

đồi núi Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 – 1.500 m, độ dốc lớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất

ở và các khu chức năng của thành phố

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Dân số: Đà Nẵng là thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm 6 quận nội

thành, 1 huyện ngoại thành và 1 huyện đảo Tổng cộng gồm 57 phường, xã và thị trấn Toàn thành phố có diện tích 1.255,53 km² (trong đó phần đất liền là 950,53 km²; phần huyện đảo Hoàng Sa là 305 km²) Đà Nẵng hiện tại có tất cả là 6 quận,

và 2 huyện là Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa Dân số đến năm 2009 là 887.070 người

Trang 40

Đơn vị hành chính: Thành phố Đà Nẵng – đơn vị hành chính trực thuộc

Trung ương – bao gồm 6 quận nội thành, 1 huyện ngoại thành và 1 huyện đảo với tổng diện tích 1.255,53km2, dân số 752.493 người (số liệu tháng 12 năm 2003) Các quận huyện là Quận Hải Châu, Quận Thanh Khê, Quận Sơn Trà, Quận Ngũ Hành Sơn, Quận Liên Chiể, Quận Cẩm Lệ, Huyện Hòa Vang, và Huyện đảo Hoàng Sa

Kinh tế: Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của thành phố Đà Nẵng năm 2010 đạt 10.400 tỉ đồng, tăng bình quân 11%/năm GDP bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 33,2 triệu đồng, gấp 2,2 lần so với năm 2005 và bằng 1,6 lần mức bình quân chung cả nước

Đà Nẵng có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đứng đầu Việt Nam liên tiếp trong 3 năm 2008, 2009 và 2010, đồng thời đứng đầu về chỉ số hạ tầng, xếp thứ 4 về môi trường đầu tư Tính đến tháng 5 năm 2010, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Đà Nẵng đạt gần 2,7 tỷ USD và vốn thực hiện ước đạt 1,3 tỷ USD với 99 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động Hiện vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài có 80% đổ vào xây dựng khu đô thị, du lịch và căn hộ biệt thự cao cấp

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp Tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP năm 2009 đạt 50,5%; công nghiệp – xây dựng đạt 46,5% và nông nghiệp đạt 3% Cơ cấu lao động chuyển biến tích cực, đến năm 2010, tỷ lệ lao động nông nghiệp (thủy sản – nông – lâm) ước còn 9,6%, lao động công nghiệp – xây dựng là 35,1% và dịch vụ 55,3%

Giao thông và lưu thông hàng hóa: Đà Nẵng nằm ở trung bộ của Việt Nam, trên trục giao thông huyết mạch Bắc – Nam về cả đường bộ, đường sắt, đường biển

và đường hàng không, là cửa ngõ giao thông quan trọng của cả miền Trung và Tây Nguyên Thành phố còn là điểm cuối trên Hành lang kinh tế Đông – Tây đi qua các nước Myanma, Thái Lan, Lào, Việt Nam, vì vậy giao thông ở đây rất phát triển về

số lượng và chất lượng

Ngày đăng: 17/11/2017, 11:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Mai Ngọc Cường (2010), Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2010
[2] Đại học Kinh Tế Quốc Dân (2009), Giáo tình kinh tế chính trị, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo tình kinh tế chính trị
Tác giả: Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2009
[3] Lê Thế Giới (2002), “Môi trường đầu tư – cơ hội và thách thức trong tiến trình CNH, HĐH ở khu vực Miền Trung và Tây Nguyên”, Tạp chí Khoa học và công nghệ, (số 1/2003), tr.56-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường đầu tư – cơ hội và thách thức trong tiến trình CNH, HĐH ở khu vực Miền Trung và Tây Nguyên”," Tạp chí Khoa học và công nghệ
Tác giả: Lê Thế Giới
Năm: 2002
[4] Cục thống kê (2010), Niên giám thống kê Đà Nẵng, NXB thống kê, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Đà Nẵng
Tác giả: Cục thống kê
Nhà XB: NXB thống kê
Năm: 2010
[5] Viện chiến lược phát triển (2009), Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020
Tác giả: Viện chiến lược phát triển
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2009
[6] Viện chiến lược phát triển (2010), Lựa chọn và thực hiện chính sách phát triển kinh tế ở Việt Nam, NXB chính tị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn và thực hiện chính sách phát triển kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Viện chiến lược phát triển
Nhà XB: NXB chính tị quốc gia
Năm: 2010
[7] Nguyễn Minh Tú (2010), Một số vấn đề cơ bản về đổi mới quản lý kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về đổi mới quản lý kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Tú
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w