1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tác động của sự phát triển thị trường vốn đối với quá trình tăng trưởng kinh tế ở việt nam trong những năm gần đây và đưa ra những khuyến nghị cần thiết

34 248 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 290,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thị trường tiền tệ là thị trường tài chính trong đó các công cụ ngắn hạn có kỳ hạn dưới một năm được mua bán - Còn thị trường vốn là thị trường giao dịch, mua bán các công cụ tàichính

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP NHÓM

Đề bài: Tác động của sự phát triển thị trường vốn đối với quá trình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong những năm gần đây và đưa ra những khuyến nghị cần thiết

Nhóm 1

Hà Nội - 2017

Trang 2

MỤC LỤC

Phần 1: Lý thuyết về thị trường vốn……….3

1 Khái niệm và vai trò của thị trường vốn……… 3

2 Cấu trúc của thị trường vốn……… 5

2.1 Thị trường cổ phiếu……….5

2.2 Thị trường trái phiếu……….10

2.2 Thị trường tín dụng trung và dài hạn………13

Phần 2: Tình hình thị trường vốn tại Việt Nam hiện nay……… 17

1 Thị trường chứng khoán Việt Nam từ 2013 đến nay……… 17

2 Thị trường trái phiếu ……… 23

Phần 3: Vai trò của thị trường vốn đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam….28 1 Thị trường cổ phiếu……….28

2.Thị trường trái phiếu………29

3.Thị trường tín dụng trung và dài hạn……… 30

4.Giải pháp………31

Trang 3

PHẦN I: LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG VỐN

1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG VỐN:

Căn cứ vào thời hạn luân chuyển của vốn, thị trường tài chính được chiathành hai bộ phận: thị trường tiền tệ và thị trường vốn

- Thị trường tiền tệ là thị trường tài chính trong đó các công cụ ngắn hạn (có kỳ hạn dưới một năm) được mua bán

- Còn thị trường vốn là thị trường giao dịch, mua bán các công cụ tàichính trung và dài hạn (gồm các công cụ vay nợ dài hạn và cổ phiếu)

Hiểu theo một nghĩa rộng thì Thị Trường Vốn là một thị trường nơi cáctài sản tài chính có kỳ hạn dài hoặc vô thời hạn, hay Thị trường vốn là thịtrường cung cấp vốn cho các khoản đầu tư dài hạn các doanh nghiệp, của chínhphủ và các hộ gia đình

Để phát triển kinh tế nhanh, mạnh và bền vững, phải có thị trường vốnphát triển Phát triển thị trường vốn – nơi diễn ra cung và cầu vốn của nền kinh

tế sẽ có cơ hội thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước, tạo điều kiện sử dụngđồng vốn hiệu quả cao

Thị trường vốn có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốcgia, nó được thể hiện ở các yếu tố sau:

Thứ nhất, thị trường vốn là một kênh huy động vốn quan trọng cho đầu

tư phát triển Thông qua việc phát hành và mua bán chứng khoán, dòng vốn dichuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu, từ nơi sử dụng kém hiệu quả đến nơi sử dụng

có hiệu quả hơn Thị trường vốn giúp các doanh nghiệp (DN), tổ chức kinh tế,

cá nhân có cơ hội để trở thành nhà đầu tư thực hiện nghiệp vụ đầu tư, mua bánchứng khoán và các công cụ tài chính trên thị trường để kiếm lời.Chính phủ trung ương và địa phương có thể vay nợ các tổ chức, DN, dân cưthông qua việc phát hành trái phiếu trung và dài hạn, thực hiện các công trình hạtầng kinh tế - xã hội, cũng như đáp ứng các nhu cầu đầu tư phát triển của trungương/địa phương

Thứ hai, thị trường vốn tạo tính thanh khoản cho chứng khoán và các

công cụ tài chính, khi các nhà đầu tư cần tiền Nhờ đó, họ có thể tối ưu hóa hiệuquả đồng vốn để hưởng lợi (thường lãi của các chứng khoán và công cụ tàichính cao hơn lãi tiền gửi tiết kiệm)

Thứ ba, phát triển thị trường vốn để thu hút và kiểm soát vốn đầu tư nước

ngoài Đây là kênh đầu tư hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường Với nhữngthông tin công khai, minh bạch, thị trường vốn là nơi mà các nhà đầu tư nướcngoài có thể phân tích, nhận định, đánh giá “sức khỏe” của DN, ngân hàng đểđưa ra các quyết định đầu tư hợp lý Họ đầu tư bằng cách mua cổ phiếu, trái

Trang 4

phiếu trên thị trường hoặc góp vốn vào DN, ngân hàng để trở thành các cổ đôngchiến lược.

Thứ tư, thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán (TTCK) là

công cụ đánh giá hoạt động kinh doanh của DN Thông qua thị trường vốn,những nhà đầu tư có cơ sở đánh giá thực trạng và dự đoán tương lai của nềnkinh tế Cơ quan quản lý thường thông qua thị trường vốn để phân tích, dự báo,ban hành các văn bản pháp lý để điều tiết và quản lý thị trường một cách hiệuquả

Thứ năm, thị trường vốn tác động đến tăng trưởng tới nền kinh tế của đất

nước Theo các lý thuyết về đầu tư như : lý thuyết về đầu tư , lý thuyết gia tốcđầu tư thì vốn có tác động rất lớn tới sự phát triển kinh tế Vốn được huy động

từ rất nhiều nguồn khác nhau trong đó có thị trường vốn =>tác động rất lớn tới

sự phát triển kinh tế của đất nước Tăng trưởng kinh tế Vốn đầu tư Tầm quantrọng của nguồn vốn đầu tư tác động tới sự tăng trưởng kinh tế Khi nguồn vốnđầu tư tăng thì khối lượng sản phẩm sản xuất ra tăng , từ đó làm tăng tổng thunhập quốc dân , làm cho GDP tăng từ đó làm cho nền kinh tế tăng trưởng Tuynhiên khi nguồn vốn đầu tư tăng đến một mức nào đó thì kinh tế không thể tăngtrưởng thêm đựơc do nền kinh tế cũng phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác nhau Kể

từ khi đất nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tếthị trường thì nguồn vốn là một điều rất quan trọng Hiếm thấy lần phát hànhtrái phiếu Chính phủ đầu tiên nào thu được thành công như của Việt Nam" lànhận định được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đưa ra

Thứ sáu, thị trường vốn làm đa dạng hoá các cơ hội đầu tư cho các chủ

đầu tư Khi chưa có thị trường vốn thì các nhà đầu tư thường không có nhiều cơhội đầu tư, nhất là những nhà đầu tư có quy mô vốn nhỏ , những người có vốnnhàn rỗi Thị trường vốn xuất hiện thì đã tạo ra rất , rất nhiều cơ hội đầu tư chocác nhà đầu tư

Thứ bảy, thị trường vốn tạo điều kiện để thực hiện các chính sách kinh tế

vi mô Thị trường vốn có một ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tếcủa các nước có nền kinh tế thị trường Thị trường vốn như một cái van điều tiếtcủa nền kinh tế, điều tiết từ nơi sử dụng vốn không hiệu quả sang đến nơi sửdụng vốn có hiệu quả hơn, từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn Từ khi xuất hiệnthị trường vốn thì thị trường tài chính của Việt Nam đã được ổn định rất nhiều

Thứ tám, thị trường vốn là công cụ đánh giá, dự báo chu kì kinh doanh

của các doanh nghiệp của nền kinh tế Thị trường vốn thực sự là cầu nối giữadoanh nghiệp, nhà nước và thị trường Với chính phủ thì phải ban hành nhữngquy định và chính sách kinh tế ngày càng hợp lý hơn, ngày càng đi sâu đi sátvào tình hình trên thị trường vốn hơn Đối với các doanh nghiệp thì thị trườngvốn là một căn cứ rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp,nhất là với các công ty cổ phần , các công ty trách nhiệm hữu hạn có quy môvốn hầu hết là vừa và nhỏ

Trang 5

Thứ chín, thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của nhà nước.

Chính sách và hệ thống biện pháp của một nhà nước trong lĩnh vực lưu thôngtiền tệ, nhằm điều hành khối lượng cung và cầu tiền tệ bằng các biện pháp Thịtrường vốn là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách và cơ chế quản

lí kinh tế của nhà nước, trên cơ sở vận dụng đúng đắn quy luật của sản xuấthàng hoá và quy luật lưu thông tiền

2 CẤU TRÚC CỦA THỊ TRƯỜNG VỐN:

2.1 THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU:

2.1.1 Khái niệm:

Lịch sử ra đời Cổ phiếu gắn liền với lịch sử hình thành Công ty cổphần - Cổ phiếu chính là sản phẩm riêng của công ty cổ phần Vốn điều lệ củacông ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Người

phần gọi là cổ phiếu Cổ phiếu là bằng chứng và là chứng chỉ xác nhận quyền sởhữu của cổ đông đối với công ty cổ phần Quyền sở hữu của cổ đông trong công

ty cổ phần tương ứng với số lượng cổ phần mà cổ đông nắm giữ Vì vậy, cổphiếu còn được gọi là chứng khoán vốn

2.1.2 Phân loại:

Thứ nhất, Khi xem xét Cổ phiếu của Công ty cổ phần, thường có sự phânbiệt cổ phiếu được phép phát hành, cổ phiếu đã phát hành, cổ phiếu quỹ, cổphiếu đang lưu hành

- Cổ phiếu được phép phát hành: Khi công ty cổ phần được thành lập, thì

được phép phát hành cổ phiếu để huy động vốn Nhưng luật pháp các nước quyđịnh công ty phải đăng ký tổng số cổ phiếu của công ty và phải ghi trong điều lệ

công ty và được gọi là cổ phiếu được phép phát hành' hay cổ phiếu đăng ký Cổ

phiếu được phép phát hành là số lượng cổ phiếu tối đa của một công ty có thểphát hành từ lúc bắt đầu thành lập cũng như trong suốt quá trình hoạt động Khicần có sự thay đổi số lượng cổ phiếu được phép phát hành thì phải được đa số

cổ đông bỏ phiếu tán thành và phải sửa đổi điều lệ công ty

- Cổ phiếu đã phát hành: là cổ phiếu mà công ty được bán ra cho các nhà

đầu tư trên thị trường và công ty đã thu về được toàn bộ tiền bán số cổ phiếu đó,

nó nhỏ hơn hoặc tối đa là bằng với số cổ phiếu được phép phát hành

- Cổ phiếu quỹ: là cổ phiếu đã được giao dịch trên thị trường và được

chính tổ chức phát hành mua lại bằng nguồn vốn của mình Số cổ phiếu này cóthể được công ty lưu giữ một thời gian sau đó lại được bán ra; luật pháp một sốnước quy định số cổ phiếu này không được bán ra mà phải hủy bỏ Cổ phiếuquỹ không phải là cổ phiếu đang lưu hành, không có vốn đằng sau nó; do đókhông được tham gia vào việc chia lợi tức cổ phần và không có quyền tham gia

bỏ phiếu

Trang 6

- Cổ phiếu đang lưu hành: là cổ phiếu đã phát hành, hiện đang lưu hành

trên thị trường và do các cổ đông đang nắm giữ Số cổ phiếu đang lưu hànhđược xác định như sau:

Số cổ phiếu đang lưu hành = Số cổ phiếu đã phát hành - Số cổ phiếu quỹ

Trong trường hợp công ty có cả hai loại cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu

đãi, người ta sẽ xác định cụ thể cho từng loại một Số cổ phiếu thường đang lưu hành là căn cứ quan trọng để phân chia lợi tức cổ phần trong công ty.

Thứ hai, dựa vào hình thức cổ phiếu, có thể phân biệt cổ phiếu ghi danh

và cổ phiếu vô danh

- Cổ phiếu ghi danh: là cổ phiếu có ghi tên người sở hữu trên tờ cổ phiếu.

Cổ phiếu này có nhược điểm là việc chuyển nhượng phức tạp, phải đăng ký tại

cơ quan phát hành và phải được Hội đồng Quản trị của công ty cho phép

- Cổ phiếu vô danh: là cổ phiếu không ghi tên người sở hữu Cổ phiếu

này được tự do chuyển nhượng mà không cần thủ tục pháp lý

Thứ ba, dựa vào quyền lợi mà cổ phiếu đưa lại cho người nắm giữ, có thể

cách phân loại phổ biến nhất Khi nói đến cổ phiếu của một công ty, người ta

thường nói đến cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường) và cổ phiếu ưu đãi.

- Cổ phiếu thường: Là loại cổ phiếu có thu nhập phụ thuộc vào hoạt độngkinh doanh của công ty Người sở hữu cổ phiếu phổ thông được tham gia họpĐại hội đồng cổ đông và được bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọngnhất của công ty, được quyền bầu cử và ứng cử vào Hội đồng Quản trị của côngty

+ Cổ phiếu của công ty không có thời hạn hoàn trả, vì đây khôngphải là khoản nợ đối với công ty

Cổ đông được chia phần giá trị tài sản còn lại khi thanh lý công ty sau khicông ty đã thanh toán các khoản nợ và thanh toán cho các cổ đông ưu đãi

Người góp vốn vào công ty không được quyền trực tiếp rút vốn ra khỏicông ty, nhưng được quyền chuyển nhượng sở hữu cổ phần dưới hình thức bánlại cổ phiếu hay dưới hình thức quà tặng hay để lại cho người thừa kế Chínhđiều này đã tạo ra tính thanh khoản cho cổ phiếu công ty, đồng thời cũng hấpdẫn nhà đầu tư

Được quyền ưu tiên mua cổ phiếu khi công ty phát hành cổ phiếu mới đểtăng vốn

Được quyền triệu tập đại hội đồng cổ đông bất thường theo luật định

tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm giới hạn trong phạm vi số

Trang 7

+ Các hình thức giá trị của Cổ phiếu thường

Mệnh giá của cổ phiếu thường: Mệnh giá hay còn gọi là giá trị danh nghĩa là

giá trị mà công ty cổ phần ấn định cho một cổ phiếu và được ghi trên cổ phiếu

Mệnh giá cổ phiếu thường được sử dụng để ghi sổ sách kế toán của công

ty Mệnh giá cổ phiếu không có giá trị thực tế đối với nhà đầu tư khi đã đầu tư, nên nó không liên quan đến giá thị trường của cổ phiếu đó Mệnh giá cổ phiếu chỉ có ý nghĩa quan trọng vào thời điểm công ty phát hành

cổ phiếu thường lần đầu huy động vốn thành lập công ty Mệnh giá thể

hiện số tiền tối thiểu Công ty phải nhận được trên mỗi cổ phiếu mà Công

ty phát hành ra

Một số nước luật pháp cho phép Công ty cổ phần có thể phát hành cổphiếu thường không có mệnh giá

Giá trị sổ sách: của cổ phiếu thường là giá trị của cổ phiếu được xác định dựa

trên cơ sở số liệu sổ sách kế toán của công ty

Trường hợp công ty chỉ phát hành cổ phiếu thường thì giá trị sổ sách của

một cổ phiếu thường được xác định bằng cách lấy vốn chủ sở hữu hoặctổng giá trị tài sản thuần (phần giá trị chênh lệch giữa giá trị tổng tài sản

với tổng số nợ) của công ty chia cho tổng số cổ phiếu thường đang lưu

hành

Trường hợp công ty phát hành cả cổ phiếu ưu đãi, thì phải lấy tổng giá trị tài sản thuần trừ đi phần giá trị thuộc cổ phiếu ưu đãi rồi mới chia cho

số cổ phiếu thường đang lưu hành.

Phần giá trị của cổ phiếu ưu đãi được tính theo mệnh giá hoặc giá mua lại tùy thuộc loại cổ phiếu ưu đãi công ty phát hành và cộng với phần cổ tức

công ty còn khất lại chưa trả cho cổ đông ưu đãi trong các kỳ trước đó(nếu có)

Việc xem xét giá trị sổ sách, cho phép Cổ đông thấy được số giá trị

tăng thêm của cổ phiếu thường sau một thời gian công ty hoạt động so

với số vốn góp ban đầu

Giá trị thị trường: là giá trị thị trường hiện tại của cổ phiếu thường, được thể

hiện trong giao dịch cuối cùng đã được ghi nhận Giá trị thị trường hay còn được gọi là giá thị trường Thực tế, giá thị trường của cổ phiếu không phải do công ty ấn định và cũng không do người nào khác quyết định, mà giá thị trường của cổ phiếu được xác định bởi giá thống nhất mà người bán sẵn sàng

bán nó và giá cao nhất mà người mua sẵn sàng trả để mua nó

Tóm lại, Giá thị trường của cổ phiếu được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường Giá trị thị trường cổ phiếu của một công ty phụ thuộc rất nhiều yếu tố, do vậy nó thường xuyên biến động.

Cổ phiếu ưu đãi:

Trang 8

+ Cổ phiếu ưu đãi là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong mộtcông ty, đồng thời cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một

số quyền lợi ưu tiên hơn so với cổ đông phổ thông Người nắm giữ cổ phiếu ưu

đãi được gọi là cổ đông ưu đãi của công ty.

+ Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi có các quyền lợi sau:

phiếu ưu đãi chỉ được quyền hưởng lợi tức cổ phần giới hạn nhưng họ đượctrả cổ tức trước khi chia lợi tức cho cổ đông thường Khác với cổ tức của cổphiếu phổ thông, cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được xác định trước và thườngđược xác định bằng tỷ lệ phần trăm cố định so với mệnh giá của cổ phiếuhoặc bằng số tiền nhất định in trên mỗi cổ phiếu

nhưng sau người có trái phiếu

đãi không được tham gia bầu cử, ứng cử vào Hội đồng Quản trị và quyết

định những vấn đề quan trọng của công ty

Cổ phiếu ưu đãi có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá và mệnh giá

của nó cũng không ảnh hưởng tới giá thị trường của cổ phiếu ưu đãi Mệnhgiá của cổ phiếu ưu đãi có ý nghĩa hơn đối với mệnh giá của cổ phiếu phổthông, vì nó là căn cứ để trả cổ tức và là căn cứ để hoàn vốn khi thanh lý haygiải thể công ty

cổ tức khi công ty làm ăn không có lợi nhuận (thua lỗ)

Sự kiện nhận cổ tức, chia tách, cổ phiếu thưởng, mua cổ phiếu ưu đãi đều đượcthực hiện tại "NGÀY GIAO DỊCH KHÔNG HƯỞNG QUYỀN" NGÀY GIAODỊCH KHÔNG HƯỞNG QUYỀN là ngày thực hiện quyền của 1 cổ phiếu đãđược công ty thông báo trước đó Nếu như cổ đông nắm giữ cổ phiếu trướcngày giao dịch không hưởng quyền cổ đông đó sẽ nhận được cổ tức hoặc quyềnmua cổ phiếu đó

Quyền được chia làm ba loại: Quyền nhận cổ tức bằng tiền: cổ tức sẽ được trảbằng tiền trên mỗi cổ phiếu Tỉ lệ cổ tức sẽ được quy ra trên mệnh giá, mỗi cổphiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đều có mệnh giá là10,000 Ví dụ công ty chia cổ tức bằng tiền 10% bạn sẽ được nhận 1,000 đồngtrên mỗi cổ phiếu Cổ phiếu thưởng, cổ phiếu chia tách: cổ phiếu sẽ được chianhỏ theo tỉ lệ công ty đã công bố Ví dụ công ty công bố tỉ lệ thưởng hoặc chiatách là 10:2 => nghĩa là 10 cổ phiếu sẽ thành 12 cổ phiếu, nếu bạn đang có 10

cổ phiếu bạn sẽ được nhận thêm 2 cổ phiếu

2.1.3 Đặc điểm thị trường cổ phiếu:

- Không có kỳ hạn và không hoàn vốn

Trang 9

Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn của các cổ đông vào công ty cổ phần Chỉ cóchiều góp vào, không thể hiện thời hạn hoàn vốn; không có kỳ hạn (Khi công

ty phá sản hoặc giải thể, thì sẽ không còn tồn tại cổ phiếu)

- Cổ tức không ổn định và phụ thuộc vào kết quả SXKD của doanh

nghiệp

Cổ tức cổ phiếu thường tùy thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, và

vì kết quả kinh doanh không ổn định nên cổ tức cũng không thể cố định Khidoanh nghiệp làm ăn phát đạt thì cổ đông được hưởng lợi nhuận nhiều hơn sovới các loại chứng khoán khác có lãi suất cố định Ngược lại, khi làm ăn khókhăn hoặc thua lỗ, cổ tức có thể rất thấp hoặc không có cổ tức

- Khi phá sản, cổ đông là người cuối cùng nhận được giá trị còn lại của

tài sản thanh lý

Giá cổ phiếu biến động rất mạnh

Giá biến động nhiều nhất là trên thị trường thứ cấp, do giá chịu sự tác động củanhiều nhân tố, và nhân tố quan trọng đó là kết quả kinh doanh của công ty

"Bên cạnh đó, theo quan điểm của những nhà đầu tư, Cổ phiếu có các đặc điểmsau:"

- Tính thanh khoản cao

khoản của cổ phiếu phụ thuộc vào các yếu tố sau:

+ Kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành (công ty có cổ phiếu

niêm yết) Nếu tổ chức phát hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, trả cổ tứccao, cổ phiếu của công ty sẽ thu hút nhà đầu tư và cổ phiếu thực sự dễ mua bántrên thị trường Ngược lại nếu công ty làm ăn kém hiệu quả không trả cổ tứchoặc cổ tức thấp, cổ phiếu của công ty sẽ giảm giá và khó bán

+ Mối quan hệ cung - cầu trên thị trường chứng khoán: Thị trường

cổ phiếu cũng như các loại thị trường khác đều chịu sự chi phối của quy luật cung cầu Giá cổ phiếu trên thị trường không chỉ phụ thuộc vào chất lượng công

ty mà còn phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu của nhà đầu tư Tuy một loại cổ phiếurất tốt nhưng thị trường đang bão hòa nguồn cung (nhiều hàng bán) thì cổ phiếu

đó cũng khó tăng giá Ngược lại khi thị trường khan hiếm hàng hóa thì ngay cảnhững cổ phiếu chất lượng kém hơn cũng có thể bán dễ dàng Tuy nhiên cũngcần chú ý đến sự đầu cơ trong thị trưòng, một số nhà đầu tư sở hữu một phầnlớn lượng cổ phiếu trong thị trường, đẩy giá lên xuống theo ý mình để trục lợi

- Có tính Lưu thông

Tính lưu thông khiến cổ phiếu có giá trị như một loại tài sản thực sư, nếu nhưtính thanh khoản giúp cho chủ sở hữu cổ phiếu chuyển cổ phiếu thành tiền mặtkhi cần thiết thì tính lưu thông giúp chủ sở hữu cổ phiếu thực hiện được nhiềuhoạt động như thừa kế tặng cho để thục hiện nghĩa vụ tài sản của mình

Trang 10

- Tính Tư bản giả

phiếu không phải là tiền và nó chỉ có giá trị khi được đảm bảo bằng tiền Mệnhgiá của cổ phiếu không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu

- Tính Rủi ro cao

phiếu luôn biến động theo các yếu tố này

2.2 Thị trường trái phiếu:

2.2.1 Khái niệm:

Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả

cho người sở hữu trái phiếu đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của tráiphiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức quy định Người phát

phiếu doanh nghiệp'), một tổ chức chính quyền như Kho bạc nhà nước (trong

được ghi trên trái phiếu (trường hợp này gọi là trái phiếu ghi danh) hoặc khôngđược ghi (trái phiếu vô danh) Trái chủ là người cho nhà phát hành vay và họkhông chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả sử dụng vốn vay của người vay.Nhà phát hành có nghĩa vụ phải thanh toán theo các cam kết nợ được xác địnhtrong hợp đồng vay

2.2.2 Đặc điểm cơ bản:

- Chủ thể phát hành trái phiếu không chỉ có Công ty, mà còn có Chínhphủ Trung ương và chính quyền địa phương

- Người mua trái phiếu chỉ là người cho chủ thể phát hành vay tiền và là

Chủ sở hữu Công ty

- Thu nhập của trái phiếu là tiền lãi, là khoản thu cố định không phụthuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty

- Trái phiếu là chứng khoán nợ, vì vậy khi Công ty bị giải thể hoặc phásản thì trước hết Công ty phải có nghĩa vụ thanh toán cho các Chủ trái phiếutrước, sau đó mới chia cho các Cổ đông

Với những đặc điểm trên, trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi

ro hơn cổ phiếu Vì vậy, trái phiếu là loại chứng khoán được các nhà đầu tư ưachuộng

Trang 11

để xác định lợi tức trái phiếu.

- Thời hạn của trái phiếu là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngàyngười phát hành hoàn trả vốn lần cuối Trái phiếu có thời hạn khác nhau, tráiphiếu trung hạn có thời gian từ 1 năm đến 5 năm Trái phiếu dài hạn, có thờigian từ 5 năm trở lên

- Kỳ trả lãi là khoảng thời gian người phát hành trả lãi cho người nắm giữtrái phiếu Lãi suất trái phiếu được xác định theo năm, nhưng việc thanh toán lãisuất trái phiếu thường được mỗi năm hoặc hai năm một lần

- Giá phát hành là giá bán ra của trái phiếu vào thời điểm phát hành.Thông thường giá phát hành được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) của mệnhgiá Tùy theo tình hình của thị trường và của người phát hành để xác định giáphát hành một cách thích hợp Có thể phân biệt 3 trường hợp: giá phát hànhbằng mệnh giá (ngang giá), giá phát hành dưới mệnh giá (giá chiết khấu)và giáphát hành trên mệnh giá (giá gia tăng)(Với mệnh giá là giá trị của cổ phiếu khichào bán lần đầu và trên lý thuyết công ty phát hành cổ phiếu cam kết sẽ khôngphát hành thêm một cổ phiếu nào dưới mệnh giá đó)

- Dù trái phiếu được bán với giá nào (ngang giá, giá chiết khấu hay giágia tăng), thì lợi tức luôn được xác định theo mệnh giá của trái phiếu và khi đáohạn, người có trái phiếu sẽ được thanh toán theo mệnh giá của trái phiếu

2.2.4 Phân loại Trái phiếu

- Phân loại theo người phát hành

+ Trái phiếu của Chính phủ: Đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chínhphủ, chính phủ phát hành trái phiếu để huy động tiền nhàn rỗi trong dân và các

tổ chức kinh tế, xã hội Chính phủ luôn được coi là Nhà phát hành có uy tín nhấttrên thị trường; Vì vậy, Trái phiếu Chính phủ được coi là loại chứng khoán có ítrủi ro nhất

+ Trái phiếu của doanh nghiệp là những trái phiếu do doanh nghiệpnhà nước, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn phát hành để tăngvốn hoạt động Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại và rất đa dạng

Trang 12

+ Trái phiếu của ngân hàng và các tổ chức tài chính: các tổ chứcnày có thể phát hành trái phiếu để tăng thêm vốn hoạt động.

- Phân loại theo lợi tức trái phiếu

xác định theo một tỷ lệ phần trăm (%) cố định tính theo mệnh giá

mà lợi tức được trả trong các kỳ có sự khác nhau và được tính theo một lãi suất

có sự biến đổi theo một lãi suất tham chiếu

+ Trái phiếu có lãi suất bằng không là loại trái phiếu mà người muakhông nhận được lãi, nhưng được mua với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiếtkhấu) và được hoàn trả bằng mệnh giá khi trái phiếu đó đáo hạn

- Phân loại theo mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành

+ Trái phiếu bảo đảm là loại trái phiếu mà người phát hành dùngmột tài sản có giá trị làm vật đảm bảo cho việc phát hành Khi nhà phát hànhmất khả năng thanh toán, thì trái chủ có quyền thu và bán tài sản đó để thu hồilại số tiền người phát hành còn nợ Trái phiếu bảo đảm thường bao gồm một sốloại chủ yếu sau:

phát hành cầm cố một bất động sản để bảo đảm thanh toán cho trái chủ.Thường giá trị tài sản cầm cố lớn hơn tổng mệnh giá của các trái phiếuphát hành để đảm bảo quyền lợi cho trái chủ

đảm bằng việc người phát hành thường là đem ký quỹ số chứng khoán dễchuyển nhượng mà mình sở hữu để làm tài sản bảo đảm

+Trái phiếu không bảo đảm là loại trái phiếu phát hành không cótài sản làm vật bảo đảm mà chỉ bảo đảm bằng uy tín của người phát hành

- Phân loại dựa vào hình thức trái phiếu

+ Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên của ngườimua và trong sổ sách của người phát hành Trái chủ là người được hưởng quyềnlợi

+ Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu có ghi tên của người mua vàtrong sổ sách của người phát hành

- Phân loại dựa vào tính chất trái phiếu

+ Trái phiếu có thể chuyển đổi là loại trái phiếu của công ty cổphần mà trái chủ được quyền chuyển sang cổ phiếu của công ty đó Việc nàyđược quy định cụ thể về thời gian và tỷ lệ khi mua trái phiếu

Trang 13

+ Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu là loại trái phiếu có kèm theophiếu cho phép trái chủ được quyền mua một số lượng nhất định cổ phiếu củacông ty.

+ Trái phiếu có thể mua lại là loại trái phiếu cho phép nhà pháthành được quyền mua lại một phần hay toàn bộ trước khi trái phiếu đến hạnthanh toán

2.3 Thị trường tín dụng trung và dài hạn:

2.3.1 Khái niệm tín dụng trung – dài hạn

Tín dụng (credit), xuất phát từ tiếng Latinh là credo – là sự tin tưởng, sự tín

nhiệm và được định nghĩa dưới nhiều giác độ khác nhau:

- Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả

- Tín dụng là quá trình tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ hay hiện vậttrên nguyên tắc có hoàn trả

- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sởhữu sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớnhơn lượng giá trị ban đầu

- Tín dụng là sự chuyển dịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật củamột tổ chức, cá nhân này cho một tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong một thờigian nhất định trên nguyên tắc hoàn trả

Như vậy, tín dụng có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng bảnchất của tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa một bên là người đi vay vàmột bên là người cho vay trên cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi

Đối với một ngân hàng thương mại, tín dụng là chức năng cơ bản của ngânhàng, là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng Tín dụng ngân hàngđược định nghĩa như sau:

Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về tài sản(tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng

và bên đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong

đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhấtđịnh theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc

và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

Về các hình thức của tín dụng ngân hàng thì có nhiều tiêu thức khác nhau đểphân chia tín dụng ngân hàng Dưới đây là một cách phân chia phổ biến màNgân hàng thường sử dụng khi phân tích và đánh giá:

 Phân theo thời hạn tín dụng ta có:

- Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để bổ sung

sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp, và nó còn có thể được vaycho những tiêu dùng cá nhân

Trang 14

- Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm Loại hình tíndụng này thường được dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến vàđổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốnnhanh.

- Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có thời gian trên 5 năm Loại tín dụng nàyđược dùng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các xí nghiệpmới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất,…

Nói chung, tín dụng - trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố địnhcủa khách hàng, mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuậtcủa doanh nghiệp để từ đó cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sảnphẩm, mở rộng sản xuất chiếm lĩnh thị trường

2.3.2 Đặc diểm tín dụng trung dài hạn

Tín dụng trung dài hạn có những đặc điểm quan trọng sau:

- Tín dụng trung - dài hạn được cấp cho khách hàng nhằm hỗ trợ cho họtrong việc mua sắm, tạo lập tài sản cố định Do đó, đối tuợng cho vay chủ yếucủa ngân hàng thương mại trong hình thức tín dụng này là vốn thiếu hụt tạmthời của các doanh nghiệp

- Do gắn liền với tài sản cố định và vốn vố định của khách hàng, tín dụngtrung - dài hạn của ngân hàng thương mại thường gắn liền với các dự án đầu tư.Tuy nhiên, với tín dụng trung hạn thường đầu tư theo chiều sâu, trong khi đó tíndụng dài hạn tập trung cho các dự án đầu tư mở rộng

- Tín dụng trung - dài hạn của ngân hàng thương mại có thời gian hoànvốn chậm Nguồn trả tiền vay cho ngân hàng chủ yếu được lấy từ quỹ khấu hao

và một phần từ lợi nhuận của chính dự án mang lại Vì thế, khách chỉ có thểhoàn trả khoản vay có quy mô lớn thành nhiều lần khác nhau – thời hạn cho vaykéo dài trong nhiều năm

- Tín dụng trung - dài hạn thường có thời gian kéo dài, quy mô tín dụngthường lớn, nguy cơ rủi ro cao vì nền kinh tế quốc gia luôn biến động Sự biếnđộng này có thể tích cực hoặc tiêu cực mà chúng ta không thể biết được Do đó

mà môt khoản vay dài hạn thường đem lại nhiều rủi ro hơn là một khoản vayngắn hạn vì thời gian càng dài thì xác suất xảy ra những biến động này lớn hơn Mặt khác, lãi suất của cho vay trung - dài hạn thường lớn hơn lãi suất cho vayngắn hạn Vì độ rủi ro cao hơn, thời gian thu hồi vốn lâu hơn

2.3.3 Các hình thức tín dụng trung - dài hạn

- Tín dụng theo dự án đầu tư

 Cho vay đồng tài trợ ( Synđicate loan):

+ Là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụng (từ 2 tổ chức tíndụng trở lên) cho một dự án, do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phói hợp với

Trang 15

các bên bên đồng tài trợ để thực hiện, nhằn phân tán rủi ro của các tổ chức tíndụng.

+ Hình thức này được được áp dụng trong các trường hợp : Các dự án đầu

tư đòi hỏi một khoản vốn lớn mà các ngân hàng riêng lẻ thìo không đáp ứng hếtđược ngân hàng thường chỉ được phép đầu tư vốn tới một mức độ nhất định sovới tổng nguồn vốn của mình và không được đầu tư qúa nhiều vốn vào mộtcông ty để đảm bảo an toàn vốn tài sản Thậm chí đối với một vài dự án ngânhàng có thể đáp ứng toàn bộ nhưng rủi ro quá lớn ngân hàng không muốn đảmnhận hết Do vậy, cho vay đồng tài trợ là một họat động tín dụng giúp ngânhàng phân tán rủi ro và có thể sử dụng tối đa nguồn vốn của họ cho đầu tư vàocác dự án dài hạn

 Cho vay trực tiếp theo dự án:

Đây là hình thức tín dụng trung – dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thịtrường ngân hàng thương mại tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách nhiệmvới từng dự án đầu tư của khách hàng mà họ đẫ lựa chọn để tài trợ

Chính vì vậy, công việc của ngân hàng không chỉ đơn thuần là cho vay

mà còn phải quán xuyến hàng loạt các công việc khác có liên quan đến trực thi

có hiệu quả của dự án như : quy hoạch sản xuất, thiết kế, quy trình công nghệ,tiêu chuẩn thiết bị máy móc, giá cả thị trường, hiệu quả đầu tư Bởi vì việc quyđịnh cấp một khoản tín dụng sẽ dàng buộc ngân hàng với người vay trong một

số thời gian, cho nên cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc và xem xét kỹlưỡng các rủi ro có thể xẩy ra

- Tín dụng thuê mua (leasing credit)

Thuê mua là hình thức cho vay tài sản thông qua một hợp đồng tín dụngthuê mua qua đó người cho thuê chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu củamình cho người đi thuê sử dụng và ngưòi thuê có trách nhiệm thanh toán tiềnthuê trong suốt thời hạn thuê và có thể đựoc quyền sở hữu tài sản thuê, đượcquyền mua tài sản thuê hoặc được quyền thuê tiếp theo các điều kiện đã đượchai bên thoả thuận

 Tài sản thuê bao gồm cả động sản và bất động sản :

+ Động sản chủ yếu gồm máy móc thiết bị, ô tô dây chuyền công nghệ…+ Bất động sản chủ yếu là cửa hàng, văn phòng làm việc, cơ sở sảnxuất…

Về mặt pháp lý, tài sản thuê thuộc quyền sở hữu của người cho thuê, còn đi thuêchỉ được quyền sử dụng Vì vậy, người đi thuê không đựơc bán chuyển nhượngcho người khác Song họ được hưởng những lợi ích do việc sử dụng tài sản đóđem lại, đồng thời chịu phần vốn rủi ro có liên quan đến tài sản Tín dụng thuêmua có một số hình thức như : thuê mua có tham gia của ba bên, thuê mua có sựtham gia của hai bên, tái thuê mua (sale – base back), thuê mua hợp tác(levereged lease, thuê mua giáp lưng (under lease)…

Trang 16

 Xét về lợi ích thì cả ngân hàng và khách hàng đều có lợi

+ Đối với ngân hàng (bên cho thuê): đây là hình thức tài trợ bổ sung chocác hình thức tài trợ khác đang tồn tại ở ngân hàng, nó giúp ngân hàng mở rộngdịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm mức độ rủi ro, đảm bảo nguyên tắcvốn vay được sử dụng đúng mục đích

+ Đối với các doanh nghiệp : hình thức này có thể giúp các doanh nghiệp

có thể sử dụng vốn vay dưới dạng các máy móc, thiết bị mà không phải bỏvốn lớn, không ảnh hưởng tới bảng tổng kết tài sản và hạn mức tín dụng củadoanh nghiệp việc cấp tín dụng thuê mua thường nhanh chóng, từ đó cho phépđầu tư khẩn cấp, đáp ứng được thời cơ sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thịtrường, mặt khác phương thức thanh toán tiền thuê linh hoạt thích ứng với hoàncảnh và điều kiện sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và mỗi

cá nhân

+ Đối với các công ty nhỏ hoặc công ty không có uy tín : ngân hàng cóthể không chấp nhận cho vay dài hạn nhưng có thể cho hưởng tín dụng thuêmua Có thể nói, mô hình tín dụng thuê mua rất có ý nghĩa đối với nền kinh tếthị trường, nhất là đối với nền kinh tế nhiều thành phần như ở Việt Nam hiệnnay

Trang 17

PHẦN 2: TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG VỐN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Thị trường chứng khoán Việt Nam từ 2013 đến nay

Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu có sự phát triển mạnh mẽ kể

từ khi chính thức ra nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO) năm 2007 Tuynhiên, đến năm 2008, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, TTCKnước ta cũng theo đó mà tụt dốc một cách khủng khiếp Song, nhờ những nỗ lựctái cấu trúc thị trường tài chính nói chung và thị trường vốn nói riêng, chúng ta

đã bắt đầu thấy được những tín hiệu khởi sắc hơn trong 5 năm trở lại đây

Về hoạt động niêm yết, đấu giá và huy động vốn, Tổng giá trị niêm yếtnăm 2014 tăng 19% và trái phiếu tăng 25% so với năm 2013 Tính đến tháng12/2015, trên 2 sàn có 682 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ với tổng giá trị niêm yếttheo mệnh giá là 528 nghìn tỷ đồng, tăng 24% so với năm 2014 và 571 mã tráiphiếu với tổng giá trị niêm yết là 709 nghìn tỷ đồng, tăng 5% so với cuối năm

2014 Và đến 2016, tổng giá trị niêm yết đạt 712 nghìn tỷ đồng (tăng 22%) và

590 mã trái phiếu với tổng giá trị niêm yết là 934 nghìn tỷ đồng (tăng 22,5%)

2017Tổng số cổ phiếu và chứng

chỉ quỹ niêm yết

Tổng giá trị niêm yết (tỷ

đồng)

361.000

425.000

528.000

712.000

651.000

709.000

934.000

Tại hội nghị tổng kết công tác của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước(UBCKNN), ông Vũ Bằng, Chủ tịch UBCKNN nhận định, trong năm 2013, tìnhhình kinh tế vĩ mô đã có bước ổn định và nhiều tín hiệu tích cực, song tăngtrưởng kinh tế còn chưa cao, hoạt động của các doanh nghiệp còn khó khăn

Tuy vậy, trên thị trường chứng khoán, chỉ số VN-Index vẫn đạt mức tăngxấp xỉ 22% so với cuối năm 2012 TTCK Việt Nam lúc đó đã được xếp là 1trong 10 thị trường chứng khoán có mức tăng mạnh nhất thế giới

Tiếp tục nhờ những cải thiện kinh tế vĩ mô và các giải pháp tái cấu trúc TTCK,TTCK năm 2014, 2105 tuy mức tăng trưởng không quá biến động lớn nhưngcũng có kết quả khả quan với : Chỉ số VNIndex tăng trưởng lần lượt là 8,13%

và 6,1%

Năm 2016, mặc dù chịu nhiều tác động bởi tình hình thế giới, TTCK ViệtNam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng tốt, được đánh giá là 1 trong 5 thịtrường có mức tăng trưởng cao nhất tại khu vực Đông Nam Á với Chỉ số VN-

Ngày đăng: 17/11/2017, 10:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w