Hệ thống hóa và làm rõ thêm cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế. Phân tích, đánh giá vai trò, đóng góp của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản giai đoạn 19551973 Đưa ra những nhận xét đánh giá về mô hình nhà nước điều hành kinh tế của Nhật Bản, cũng như những điều kiện sử dụng vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-BÙI ĐÔNG HƯNG
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA NHẬT BẢN TRONG THỜI KỲ TĂNG TRƯỞNG CAO 1955-1973
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Trang 2Hà Nội – 2016
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-BÙI ĐÔNG HƯNG
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA NHẬT BẢN TRONG THỜI KỲ TĂNG TRƯỞNG CAO 1955-1973
Chuyên ngành : Kinh tế quốc tế
Mã số : 60 31 01 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐẶNG THỊ PHƯƠNG HOA
Hà Nội - 2016
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,không sao chép của ai Trong nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng cáctài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trangweb theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả luận văn
Bùi Đông Hưng
Trang 5Tôi xin chân thành cám ơn tập thể các thầy cô giáo đang công tác tại
Bộ phận sau đại học, phòng Đào tạo, các anh/chị chuyên viên văn phòngKhoa Kinh tế quốc tế Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để tôi thựchiện tốt luận văn này
Trong quá trình thực hiện, luận văn khó tránh khỏi những sai sót, rấtmong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn đọc để luậnvăn được hoàn thiện hơn
Xin chân th nh cám n! ành cám ơn! ơn!
Tác giả luận văn
Bùi Đông Hưng
MỤC LỤCDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Câu hỏi nghiên cứu : 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận văn 3
6 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5
1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế 5
1.2 Các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam 6
1.3 Các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế của Nhật Bản 7
1.4 Những điểm kế thừa và khoảng trống nghiên cứu 9
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ 11
2.1 Cơ sở lý luận 11
2.1.1 Cách nhìn của trường phái Tân cổ điển 11
2.1.2 Quan niệm của Keynes và trường phái Keynes 13
2.1.3 Quan điểm của Chủ nghĩa tự do mới 15
2.1.4 Quan điểm của “nhà nước phát triển” 17
2.1.4.1 Khái niệm và đặc điểm của mô hình Nhà nước phát triển 18
2.1.4.2 Điều kiện áp dụng nhà nước phát triển 27
2.2 Cơ sở thực tiễn 30
Trang 72.2.1 Mô hình kinh tế thị trường Bắc Âu: 30
2.2.2 Kinh tế thị trường ở các quốc gia và vùng lãnh thổ NICS Châu Á: .31
2.2.3 Kinh tế thị trường ở Trung quốc 34
CHƯƠNG 3: CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.1 Phương pháp luận 38
3.2 Cách tiếp cận nghiên cứu 38
3.3 Phương pháp nghiên cứu 39
3.3.1 Phương pháp tổng hợp dữ liệu thứ cấp 39
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 40
3.3.3 Phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh: 41
3.4 Thiết kế nghiên cứu 41
Sơ đồ 3.1 : Khung phân tích nghiên cứu 42
CHƯƠNG 4: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC NHẬT BẢN TRONG GIAI ĐOẠN TĂNG TRƯỞNG CAO 43
4.1 Tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh tế, vừa là chủ thể quản lý kinh tế vừa là chủ thể đầu tư đối với các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế quốc dân 45
4.1.1 Đầu tư vào cơ sở hạ tầng sản xuất xã hội, vào xây dựng cơ sở ngành công nghiệp mới 45
4.1.2 Đầu tư vào những ngành đòi hỏi vốn lớn, khả năng thu hồi vốn chậm hiệu quả không cao, nhưng lại là những ngành cơ bản, trọng yếu 47 4.2 Thúc đẩy, tạo điều kiện phát triển nhanh các ngành kinh tế và khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là các lĩnh vực công nghiệp mới 48
4.2.1 Phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu đặc biệt quan trọng ở mỗi giai đoạn phát triển và hỗ trợ các ngành công nghiệp yếu kém tái cơ cấu 49
Trang 84.2.2 Bảo vệ hiệu quả các ngành công nghiệp còn non yếu, khuyến khích
mở rộng các ngành công nghiệp mới và ngành công nghiệp định hướng
xuất khẩu 52
4.3 Áp dụng các chính sách biện pháp quản lý khuyến khích để thúc đẩy phát triển kinh tế 55
4.3.1 Biện pháp thuế 55
4.3.2 Biện pháp huy động vốn 57
4.4 Định hướng chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biện là thông qua các biện pháp kế hoạch hoá 64
4.4.1.Thực hiện kế hoạch hoá nền sản suất - xã hội 64
4.4.2 Thông qua và thực hiện 7 kế hoạch 66
4.5 Hỗ trợ, tạo điều kiện và thúc đẩy việc tiếp thu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật 71
4.6 Một số biện pháp kinh tế vĩ mô thất bại trong giai đoạn này: 74
CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM 79
- Kết luận 79
- Hàm ý đối với Việt Nam 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết
1 MITI Ministry of International Trade and
Industry
Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế
2 IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
3 GATT General Agreement on Tariff and
International Trade
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
5 R&D Research and development Nghiên cứu và phát
9 TFP Total factor productivity Năng suất các nhân tố
tổng hợp
10 OECD Organization of Economic
Cooperration Development
Tổ chức hợp tác và pháttriển kinh tế
11 ODA Official Development Assisstance Nguồn vốn Hỗ trợ phát
triển chính thức
12 NICS Newly Industrialized Country Các nước công nghiệp
mới
DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 4.1 Một số kế hoạch kinh tế chính và mục tiêu của nó 67
2 Bảng 4.2 Một số biện pháp kinh tế vĩ mô thất bại 75
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
S Ơ ĐỒ ĐỒ
BI U ỂU ĐỒ ĐỒ
1 Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ vốn đầu tư cố định/GDP trong khoảng
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta đang từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường theo địnhhướng Xã hội chủ nghĩa Quá trình đó đã và đang đặt ra nhiều vấn đề phứctạp đòi hỏi phải có được những nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, trong
đó có vấn đề vai trò kinh tế của Nhà Nước
Trong bối cảnh kinh tế đương đại, việc nhận thức và xác định đúng đắnphạm vi và mức độ can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế có vai trò rất quantrọng, nó quyết định sự thành công cho toàn bộ qúa trình phát triển triển kinh
tế của một nước Lịch sử phát triển kinh tế của các nước trên thế giới chothấy, sự can thiệp quá mức của Nhà nước vào quá trình phát triển kinh tế cóthể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, kìm hãm sự phát triển kinh tế củamột quốc gia (như các nước Châu Phi, Philippine, Ấn độ…) Bên cạnh đó,lịch sử cũng ghi nhận những kinh nghiệm thành công của sự can thiệp có hiệuquả của Nhà nước trong phát triển kinh tế như Hàn Quốc, Nhật Bản, ĐàiLoan Đặc biệt là trường hợp của Nhà nước Nhật Bản đã có những đóng gópquan trọng trong tăng trưởng kinh tế của đất nước này
Nhà nước Nhật Bản nắm vai trò quan trọng trong điều tiết kinh tế vĩ
mô Nhà nước Nhật Bản đảm bảo cân bằng giữa sự can thiệp của nhà nướcvào nền kinh tế và quá trình tự vận động của nền kinh tế thị trường Sự thànhcông của Nhật Bản được xem như là bài học, kinh nghiệm và gợi ý về chínhsách phát triển kinh tế đối với các nước đang phát triển trong khu vực và trênthế giới
Đối với các nước công nghiệp hoá muộn như Việt Nam, việc nâng caovai trò của Nhà nước sẽ rút ngắn thời gian phát triển, từ đó tạo ra tiền đề cho
sự phát triển bền vững của đất nước Hơn nữa, Việt Nam đang cải cách và đổimới mạnh mẽ từ cuối 2013 đến nay sau khi sửa đổi Hiến pháp và hàng loạt
Trang 13luật liên quan, hội nhập bước vào giai đoạn sâu và rộng đòi hỏi phải cải cách
bộ máy Trong cuộc họp thường kỳ của Chính phủ tháng 4 năm 2016, Thủtướng Nguyễn Xuân Phúc nhận định: “Chính phủ mới kiện toàn chuyểnphương thức chỉ đạo điều hành từ mệnh lệnh hành chính sang Chính phủ kiếntạo và phục vụ.” như một cách thay đổi tư duy về mối quan hệ giữa Nhà nước
và thị trường Để có một chính phủ mạnh không có con đường nào khác ngoàiviệc phải cải cách hoạt động của chính phủ Cuộc cải cách này giải quyếtnhững đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụthể Cải cách đòi hỏi nhìn nhận những vấn đề đặt ra bằng con mắt mới, tư duymới và hành động theo một phong cách mới Trong khi đó, Nhà nước NhậtBản có thể được xem như một điển hình thành công của sự can thiệp của Nhànước vào nền kinh tế Vì vậy, việc nghiên cứu vai trò của Nhà nước đối với
sự phát triển kinh tế Nhật Bản trong thời kỳ tăng trưởng cao 1955-1973 là hếtsức có ý nghĩa Thông qua việc nghiên cứu này, luận văn mong muốn làm rõhơn vai trò kinh tế của Nhà nước và cách thức để sử dụng nó một cách cóhiệu quả để thúc đẩy quá trình vận động nền kinh tế theo hướng có lợi nhất
Vai trò kinh tế của Nhà nước là một vấn đề rộng lớn, trong phạm vinghiên cứu của luận văn sẽ chỉ tập trung nghiên cứu về vai trò của Nhà nướcđối với sự phát triển kinh tế của Nhật Bản trong thời kỳ tăng trưởng cao 1955-
1973 Đây là giai đoạn đặc trưng Nhất trong lịch sử phát triển kinh tế củaNhật Bản
2 Câu hỏi nghiên cứu :
+ Nhà nước có vai trò như thế nào đối với sự tăng trưởng kinh tế nhanhchóng của Nhật Bản những năm 1955-1973?
+ Từ những kinh nghiệm của Nhật Bản, làm thế nào để vận dụng vaitrò của Nhà nước trong phát triển kinh tế?
Trang 143 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu :
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề cơ bản về vai trò của Nhà nướcđối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản, Luận văn phân tích, đánh giá về việcđiều hành của Nhà nước Nhật Bản đối với nền kinh tế, từ đó rút ra những kếtquả đạt được, những khó khăn hạn chế cần được khắc phục, trên cơ sở đó đềxuất những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả điều tiết của Nhà nước đốivới nền kinh tế
Nhiệm vụ nghiên cứu :
- Hệ thống hoá những vấn đề về lý luận chung và thực tiễn về vai tròcủa Nhà nước trong phát triển kinh tế
- Phân tích vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bảngiai đoạn 1955 - 1973
- Rút ra những nhận xét kết luận và hàm ý đối với Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Vai trò của Nhà nước Nhật Bản đối với sự tăng trưởng kinh
tế của nước này
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu khảo sát giai đoạnphát triển “thần kỳ” của nền kinh tế Nhật Bản 1955-1973
5 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về vai trò
của nhà nước trong phát triển kinh tế
- Phân tích, đánh giá vai trò, đóng góp của Nhà nước đối với sự pháttriển kinh tế Nhật Bản giai đoạn 1955-1973
Trang 15- Đưa ra những nhận xét đánh giá về mô hình nhà nước điều hành kinh tếcủa Nhật Bản, cũng như những điều kiện sử dụng vai trò của nhà nước trongphát triển kinh tế.
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng, biểu, hình vẽ, danh mụctài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà Nước trong phát triểnkinh tế
Chương 3: Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Vai trò của Nhà nước Nhật Bản trong giai đoạn tăng trưởng caoChương 5 : Kết luận và hàm ý đối với Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế
Vai trò của nhà nước đối với phát triển kinh tế không phải là một vấn
đề mới Thực tế đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước liên
quan đến vấn đề này, như đề tài “Nhìn nhận lại vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn phát triển mới” của Trần Du Lịch Trong đề tài này tác
giả Trần Du Lịch đã nói về những điều kiện để áp dụng mô hình nhà nướcphát triển, sự thành công hay thất bại của các quốc gia khác nhau, từ đó rút rađược những bài học kinh nghiệm phù hợp với tình hình thực tế của nước ta
Tìm hiểu riêng về vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế có cuốnsách “Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế” của tác giả Vũ TuấnAnh, NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 1994 Cuốn sách là tập hợp nhữngbài viết của các nhà khoa học thuộc 11 quốc tịch: Việt Nam, Ấn Độ, Canađa,Đài Loan, Inđônêxia, Malaixia, Nam Triều Tiên, Nhật Bản, Thái Lan, TrungQuốc, Xingapo Đây là những báo cáo khoa học đã được trình bày tại cuộctọa đàm khoa học với chủ đề “Vai trò của Nhà nước trong quá trình cơ cấu lại
và phát triển kinh tế ở các nước châu Á” do Viện kinh tế thế giới chủ trì từngày 14 đến ngày 16 tháng 12 năm 1993 Trong đó có bài “Những điều kiệntiên quyết cho chính sách công nghiệp ở Nhật Bản” của tác giả ManabuShimizu
Nghiên cứu “Kinh tế thị trường và vai trò của nhà nước” Jeongho Kim
đã phân tích, định nghĩa về kinh tế thị trường, lý do nào nhà nước phải canthiệp vào thị trường và làm thể nào để xây dụng kinh tế thị trường bền vững.Ông đồng thời cũng đưa ra những đanh giá về sự thay đổi trong vài trò củanhà nước khi nền kinh tế thị trường chín muồi, những thay đổi trong nền kinh
tế thị trường và vai trò của Chính phủ tại Hàn Quốc Theo ông, để thành công
Trang 17trong vài trò điều tiết kinh tế, Chính phủ cần chú ý đến việc ra tăng năng suấtthông qua cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo, đổi mới công nghệ, củng cố
hệ thống thị trường tự do và mở cửa nền kinh tế hơn nữa, chuyển dịch dần cấutrúc công nghiệp bằng cách thúc đẩy các ngành có giá trị gia tăng cao và cóhàm lượng khoa học, công nghệ, sáng tạo cao như các ngành công nghệ cao,viễn thông, dịch vụ y tế/sức khỏe và tài chính
“State Development Planning: Did it Create an East Asian Miracle?”
(http://www.independent.org/pdf/working_papers/54_state_development.pdf)đăng trên tạp chí Independent Institute tác giả Benjamin Powell đã cố gắngtìm kiếm kết luận: liệu có phải mô hình “Nhà nước phát triển” đã tạo nên một
sự “thần kỳ Đông Á”
1.2 Các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam.
Nghiên cứu “Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường từ một
số học thuyết kinh tế cận, hiện đại và vận dụng vào Việt Nam” của Phạm Thị
Hồng Điệp đã góp phần hệ thống hóa quan niệm về vai trò của nhà nướctrong nền kinh tế thị trường ở một số học thuyết kinh tế từ đầu thế kỷ XX đếnnay, chỉ ra tính quy luật của sự biến đổi các quan niệm về vai trò của nhànước đối với kinh tế thị trường và nguyên lý cân bằng, hài hoà trong việc giảiquyết mối quan hệ giữa thị trường và nhà nước trong vận hành nền kinh tế thịtrường, từ đó đề xuất một số khuyến nghị về giải quyết mối quan hệ giữa nhànước và thị trường trong sự phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu “Nhận thức về vai trò của Nhà nước và kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường của nước ta” của Trần Du Lịch đã đánh giá về
những những trở lực của quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường củanước ta Vấn đề trung tâm, mang tính chất cơ sở lý lụân để tiến hành đổi mớithể chế là việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường; sự định vị
Trang 18đúng vị trí, vai trò của Nhà nước và kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thịtrường của Việt Nam Tác giả đồng thời cũng đưa ra những ý kiến liên quanđến vai trò của Nhà nước và kinh tế nhà nước trong mô hình kinh tế thịtrường Việt Nam.
1.3 Các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế của Nhật Bản
Trong cuốn sách “Nhật Bản, đường đi tới một siêu cường kinh tế” của
tác giả Lê Văn Sang - Lưu Ngọc Trịnh xuất bản năm 1991 đã đưa ra nhữngquan điểm: trong suốt quá trình công nghiệp hóa, chính phủ Nhật Bản đã tíchcực tham ra một cách sâu rộng vào phát triển kinh tế nhiều hơn chính phủ ởcác nước phương Tây Sau chiến tranh thế giới thứ hai, bản chất của sự canthiệp của chính phủ vào quá trình tăng trưởng kinh tế đã thay đổi, nhưng nóvấn tiếp tục giữ vai trò tích cực Cuốn sách đã chỉ ra các tác động tích cực củaChính phủ Nhật Bản vào nền kinh tế trong thời kỳ tăng trưởng cao như: kiểmsoát nhập khẩu bằng cấp giấy phép và kiếm soát ngoại tệ Chính phủ tác độngđến cơ cấu công nghiệp bằng cách chỉ cho phép các công ty trong diện ưu tiênđược phép nhập khẩu kỹ thuật nước ngoài, kiểm soát việc xây dựng và mởrộng các nhà máy theo hướng ưu tiên bằng các biện pháp tài chính tiền tệ, nhờ
đó hình thành được mô hình công nghiệp có lợi cho tăng trưởng…
“Lý thuyết về lợi thế so sánh: Sự vận dụng trong chính sách công nghiệp và thương mại của Nhật Bản 1955-1990” của tác giả Trần Quang
Minh xuất bản năm 2000 đã đưa ra những nhận định về vai trò của Nhà nướcNhật Bản góp phần làm nên sự thần kỳ của kinh tế Nhật Bản trong nhữngnăm 50 và 60 là sự tận dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh vốn có đồng thờikhuyến khích sự phát triển của những ngành công nghiệp then chốt có khảnăng tạo ra lợi thế so sánh mới
Trang 19Cuốn sách “Kinh tế Nhật Bản giai đoạn “thần kì” của tác giả Lê VănSang Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện kinh tế thế giới đã xuất bảncuốn sách này năm 1988 Cuốn sách nghiên cứu sự phát triển kinh tế NhậtBản giai đoạn 1951 – 1973 Tác giả tìm hiểu nguyên nhân phát triển, sự pháttriển của nền kinh tế Nhật Bản, hậu quả của sự phát triển đó và yếu tố vai tròcủa Nhà nước được tác giả tìm hiểu như một trong những nguyên nhân chủyếu dẫn đến sự phát triển nhanh của nền kinh tế Nhật Bản.
Tiếp theo, phải kể đến các công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Lưu NgọcTrịnh Tìm hiểu về Nhật Bản, nhất là sự phát triển kinh tế, các nhân tố tácđộng đến sự phát triển kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai chotới những năm 90 của thế kỉ XX, Lưu Ngọc Trịnh có các công trình “Chiếnlược con người trong “thần kì” kinh tế Nhật Bản”, NXB Chính trị Quốc giaxuất bản năm 1996; “Kinh tế Nhật Bản: những thăng trầm trong lịch sử”,NXB Thống kê xuất bản năm 1998
Năm 1998, NXB Chính trị Quốc gia đã xuất bản cuốn sách củaNakamura “Những bài giảng về lịch sử kinh tế Nhật Bản hiện đại 1926 –
1994, Lưu Ngọc Trịnh dịch Cuốn sách đã tập trung trình bày những biến đổilớn của nền kinh tế Nhật Bản từ năm 1926 đến năm 1994 Qua việc trình bàycác chính sách của Chính phủ nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển qua cácthời kì, độc giả sẽ nhận thấy vai trò của Nhà nước và tác động của các chínhsách này đối với sự tăng trưởng
Tìm hiểu một cách toàn diện về nền kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranhthế giới thứ hai tới những năm 80 của thế kỉ XX, không thể không nhắc đếncông trình nghiên cứu của tập thể các tác giả thuộc Viện nghiên cứu Đại họcChuo: “Kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai” Cuốn sách đượcnhà nghiên cứu Phạm Hưng Long dịch, Nxb Khoa học xã hội phát hành năm
1992 Khi trình bày sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản các tác giả cũng đã
Trang 20đề cập đến vai trò của Nhà nước như là một nguyên nhân thúc đẩy sự pháttriển kinh tế Nhật Bản qua các thời kì.
Wolt Martin, trong công trình “Những bài học từ sự thành công của nềnkinh tế Nhật Bản”, NXB Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1990, đãcung cấp cho bạn đọc những bài học kinh nghiệm bổ ích rút ra từ sự thànhcông trong phát triển kinh tế Nhật Bản Trong những bài học đó, đương nhiên
có bài học vai trò của Nhà nước trong việc tận dụng nguồn vốn, nguồn khoahọc – kĩ thuật của Nhật Bản trong phát triển kinh tế
Nghiên cứu về nền kinh tế Nhật Bản cũng là vấn đề mà học giả G.CAllen tìm hiểu qua cuốn sách “Chính sách kinh tế của Nhật Bản” Nền kinh tếNhật Bản được tác giả đề cập dưới góc độ các chính sách của Nhà nước, quacác thời kì lịch sử Cuốn sách được Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Việnkinh tế thế giới xuất bản năm 1988
“Japan: Who Governs? : The Rise of the Developmental State” xuất
bản năm 1994 của Chalmers A Johnson đã đưa ra những nhận định làm thếnào và tại sao Nhật Bản lại trở thành một cường quốc kinh tế chỉ trong vòng
25 năm, và liệu rằng có phải chính phủ Nhật Bản là một trong những nhân tốtác động chính đến sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Nhật Bản giai đoạnsau thế chiến thứ 2
1.4 Những điểm kế thừa và khoảng trống nghiên cứu
Dù rằng có rất nhiều nghiên cứu về nền kinh tế Nhật Bản giai đoạn tăngtrưởng cao, nhưng vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế NhậtBản sau Chiến tranh thế giới thứ hai hầu như chưa được các tác giả trình bàymột cách toàn diện, tập trung và có hệ thống mà chỉ đề cập một cách rải rác,
sơ lược ở các khía cạnh khác nhau Bên cạnh đó, Tuy rằng vai trò của Nhànước Nhật Bản trong thời kỳ tăng trưởng cao đã được nghiên cứu xuyên suốttrong rất nhiều đề tài được thực hiện trong nước, nhưng ít có đề tài nhìn nhận
Trang 21những vai trò này dưới quan điểm của mô hình “Nhà nước phát triển” Vì vậy
đề tài có thể sẽ có được những đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu nềnkinh tế Nhật Bản giai đoạn tăng trưởng cao, dưới một góc nhìn mới
Trên cơ sở tiếp thu các công trình khoa học của những người đi trước,luận văn mong muốn làm rõ hơn đề tài này
Trong luận văn này sẽ phải tiếp tục giải quyết các vấn đề chủ yếu sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về vai trò
của nhà nước trong phát triển kinh tế
- Phân tích, đánh giá vai trò, đóng góp của Nhà nước đối với sự pháttriển kinh tế Nhật Bản giai đoạn 1955-1973
- Đưa ra những nhận xét đánh giá về mô hình nhà nước điều hành kinh tếcủa Nhật Bản, cũng như những điều kiện sử dụng vai trò của nhà nước trongphát triển kinh tế
Trang 22CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Cách nhìn của trường phái Tân cổ điển
Trường phái tân cổ điển xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, thời kỳ chủnghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền Nhữngmâu thuẫn vốn có và những khó khăn về kinh tế của chủ nghĩa tư bản ngàycàng trở nên trầm trọng Các cuộc khủng hoảng kinh tế xuất hiện ngày càngthường xuyên hơn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn vốn có của chủnghĩa tư bản, đồng thời làm xuất hiện nhiều hiện tượng và mâu thuẫn kinh tếmới Bên cạnh đó, sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác đã vạch rõ bản chất bóc lột
và xu hướng vận động tất yếu của chủ nghĩa tư bản Trước tình hình đó, cáchọc thuyết của trường phái cổ điển đã tỏ ra bất lực trong bảo vệ chủ nghĩa tưbản Vì vậy đòi hỏi phải có những lý thuyết mới nhằm biện hộ cho chủ nghĩa
tư bản và khắc phục những khó khăn về kinh tế
Đặc điểm của trường phái tân cổ điển là họ muốn biến kinh tế chính trịhọc thành kinh tế học thuần tuý Trong phân tích họ chủ yếu sử dụng phươngpháp phân tích vi mô, tích cực áp dụng toán học vào phân tích kinh tế, đồngthời dựa rất nhiều vào các yếu tố tâm lý chủ quan để giải thích các hiện tượng,các quá trình kinh tế xã hội
Giống như trường phái cổ điển, các nhà kinh tế của trường phái tân cổđiển ủng hộ tự do cạnh tranh, chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế,tin tưởng vững chắc vào cơ chế thị trường tự phát sẽ bảo đảm thăng bằngcung cầu, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển
Họ đưa ra lý thuyết cân bằng tổng quát, cho rằng hoạt động tự do củacác doanh nhân theo sự biến động tự phát của quan hệ cung cầu và giá cả trên
Trang 23thị trường là điều kiện cơ bản cho sự phát triển và cân đối tình hình trên thịtrường.
Cụ thể, nền kinh tế thị trường có ba loại thị trường: sản phẩm (hànghoá), vốn (tư bản), và lao động (nhân công) Ba thị trường này tách rời nhau,chúng có quan hệ với nhau nhờ các doanh nhân: trên thị trường hàng hoá,doanh nhân là sức cung, khi bán hàng doanh nhân có doanh thu Trên thịtrường tư bản và lao động doanh nhân là sức cầu
Theo tân cổ điển, vay tư bản phải trả lợi tức, thuê lao động phải trảcông, lợi tức và tiền công bằng chi phí Khi thu nhập lớn hơn chi phí thìdoanh nhân tiếp tục sản xuất, cung về hàng hoá lớn giá cả giảm và doanh thucủa chủ doanh nghiệp giảm, đồng thời cầu về tư bản và lao động tăng làmtăng lợi tức và tiền công, chi phí tăng
Khi doanh thu bằng chi phí thì doanh nhân ngừng mở rộng sản xuất.Nền kinh tế đạt cân bằng tổng quát: giá - lương và lãi suất ổn định
Đồng thời với lý luận cân bằng tổng quát, các nhà kinh tế phái tân cổđiển cũng như phái cổ điển đều thấy một thực tế là theo đà phát triển của nềnkinh tế, chức năng của nhà nước ngày càng được mở rộng, do vậy vai trò củanhà nước tăng lên Đặc biệt trước những đòi hỏi của thực tế trong lĩnh vựcngoại thương, sự xuất hiện của các tổ chức độc quyền và những vấn đề tái sảnxuất sức lao động, nhà nước tư sản ngày càng phải tăng cường can thiệp vàonền kinh tế
Tuy nhiên họ vẫn cho rằng tự do kinh tế là sức mạnh của nền kinh tế thitrường Quy luật kinh tế là vô địch mặc dù chính sách kinh tế của nhà nước cóthể thúc đẩy hay kìm chế hoạt động của các quy luật kinh tế Họ có niềm tinvững chắc vào cơ chế thị trường và sự điều tiết hoạt động cung cầu và giá cả.Theo sự điều tiết của bàn tay vô hình mà quá trình tái sản xuất bản đảm đượcnhững tỷ lệ cân đối và duy trì được sự phát triển bình thường
Trang 242.1.2 Quan niệm của Keynes và trường phái Keynes
Học thuyết Keynes1 ra đời vào những năm 30 của thế kỷ XX Lý luận
về sự điều tiết của cơ chế thị trường của phái cổ điển và tân cổ điển đã bị phásản trước một thực tế phũ phàng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mà đỉnh cao
là cuộc đại suy thoái 1929-1933 Mặt khác, vào những năm 30 của thế kỷ 20,lực lượng sản xuất phát triển, độc quyền ra đời và bắt đầu bành trướng thếlực… tình hình đó đòi hỏi phải có sự can thiệp của nhà nước
Keynes phê phán lý luận của các phái cổ điển và tân cổ điển về khảnăng tự điều chỉnh của thị trường, đồng thời nêu lên quan điểm về vấn đềkhủng hoảng thất nghiệp và vai trò điều tiết của nhà nước Theo ông giữacung và cầu ít khi có sự cân bằng, bởi vì chúng chịu tác động của hàng loạtnhân tố (thu nhập, xu hướng tiêu dùng giới hạn, tiết kiệm, hiệu quả giới hạncủa tư bản, lãi suất, xu hướng ưa chuộng tiền mặt…) và trong hầu hết cáctrường hợp thì tổng cầu luôn nhỏ hơn tổng cung Tình hình đó gây nên hiệntượng thừa hàng hoá, làm sản xuất bị thu hẹp thất nghiệp gia tăng Keynesthừa nhận sự phát triển có tính chu kỳ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và coi
đó là một hiện tượng vô cùng phức tạp, một căn bệnh nan giải và để khắcphục không thể dựa vào sự điều tiết của thị trường cũng như dựa vào nhữngsáng kiến cá nhân Ông khẳng định cần có vai trò nhà nước trong điều tiết nềnkinh tế Vai trò đó được thể hiện tập trung ở việc điều chỉnh tổng cầu
Sự vận dụng lý thuyết Keynes mặc dù có đưa lại nhiều hiệu quả nhấtthời, song thực tế chứng minh rằng, nó không phải là liều thuốc chữa chạy
1 John Maynard Keynes (1884-1946) là nhà kinh tế học người Anh, giáo sư trường Đại học tổng hợp Cambridge, một nhà hoạt động xã hội, một chuyên gia trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, thống đốc ngân hàng Anh, cố vấn kinh tế của chính phủ Anh, chủ bút tờ tạp chí Nhà kinh tế.
Trang 25cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thoát khỏi khủng hoảng và thất nghiệp Tráilại nó còn nhiều mặt phản tác dụng: đội quân thất nghiệp tăng ngày mộtnhanh hơn, khủng hoảng diễn ra liên tiếp… Nguyên nhân là do mặc dùKeynes đã vạch ra và phân tích được những mâu thuẫn của xã hội tư bảnnhưng còn phiến diện, mới dừng lại ở những hiện tượng bề ngoài, chưa tìmđược nguyên nhân sâu xa của các mâu thuẫn, khó khăn Chủ nghĩa tư bảnkhông chỉ đứng trước khó khăn là khủng hoảng thất nghiệp và nguồn gốc của
nó không phải là do tổng cầu giảm Đó chỉ là biểu hiện bề ngoài mà thôi.Nguyên nhân sâu xa chính là do mâu thuẫn nội tại của phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn giữa trình độ và tính chất xã hội hoá ngày càngcao của lực lượng sản xuất và chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về các
tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội Hơn nữa, khẳng định vai trò của nhà nướcđối với nền kinh tế là một luận điểm có tính cách mạng của Keynes, nhưngông lại quá đề cao vai trò của nhà nước mà bỏ qua vai trò của thị trường.Trong các biện pháp, chính sách để kích cầu của Keynes có nhiều điểm tháiquá như kích thích lối sống hưởng thụ, tăng cường quân sự hoá nền kinh tế,thực hiện lạm phát có mức độ…Đây là một con dao hai lưỡi và thực tế nó đãđẩy nhiều nền kinh tế tư bản vào tình trạng “đình lạm”
Tuy vậy, cho tới hiện nay những nhân tố hợp lý trong lý thuyết củaKeynes vẫn còn có ý nghĩa thực tiễn và vẫn được các nước vận dụng (có kếthợp với các lý thuyết kinh tế khác) để điều hành kinh tế vĩ mô
2.1.3 Quan điểm của Chủ nghĩa tự do mới
Đến những năm 30 của thế kỷ XX, học thuyết Keynes đã thắng thếtrước lý luận về “tự do kinh doanh” của những người Cổ điển và Tân cổ điển
và trở thành học thuyết kinh tế chính thống của thế giới tư bản Nhưng khi lựclượng sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định, nó lại bộc lộ những hạnchế của nó Trước bối cảnh đó, các lý luận gia kinh tế tư sản khôi phục lại tư
Trang 26tưởng kinh tế tự do và sửa đổi, hoàn thiện chúng cho thích hợp với hoàn cảnhmới Từ đó “chủ nghĩa tự do kinh tế mới” ra đời.
Học thuyết kinh tế tự do mới phát triển ở nhiều nước với những tên gọikhác nhau như chủ nghĩa tự do mới ở Đức (lý thuyết về nền kinh tế thị trường
xã hội); lý thuyết trọng tiền, lý thuyết trọng cung ở Mỹ, …
- Vai trò của nhà nước trong “Nền kinh tế thị trường xã hội” ở Cộnghoà Liên bang Đức
Lý thuyết về nền kinh tế thị trường xã hội ra đời ở Đức sau thế chiếnthứ hai, trong hoàn cảnh nước Đức thua trận, nền kinh tế bị chiến tranh tànphá Theo lý thuyết này, nền kinh tế thị trường xã hội là một nền kinh tế dựatrên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa nguyên tắc tự do và nguyên tắc công bằng xãhội, trên cơ sở nền kinh tế thị trường và hướng vào mục tiêu khuyến khíchđộng viên mọi sáng kiến cá nhân để đảm bảo lợi ích chung của xã hội, đồngthời loại bỏ lạm phát thất nghiệp và đói nghèo Các quyết định về kinh tếchính trị của nhà nước phải nhằm phục vụ cho các cá nhân và gia đình họ, do
đó nó phải do người tiêu dùng và các công dân đề ra Một nền kinh tế thịtrường xã hội phải đảm bảo 6 tiêu chuẩn sau: Quyền tự do cá nhân; Côngbằng xã hội; Khắc phục các chu kỳ kinh doanh; Chính sách tăng trưởng kinhtế; Chính sách cơ cấu; Đảm bảo tính tương hợp của thị trường
- Vai trò nhà nước trong lý thuyết trọng tiền của M.Friedman
Thuyết trọng tiền ra đời vào những năm 40 và 50 của thế kỷ XX ở Hoa
Kỳ, đại diện tiêu biểu là M.Friedman Tư tưởng cơ bản của phái này là đề caovai trò của các đại lượng tiền tệ đối với các biến động kinh tế vĩ mô Theo họ,
về bản chất nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là tương đối ổn định, với giá cả vàtiền công tương đối linh hoạt, cơ chế thị trường tự nó sẽ bảo đảm cân bằngcung cầu và không nhất thiết phải trải qua các chu kỳ kinh doanh Sở dĩ trongnền kinh tế đã xẩy ra những đợt suy thoái hay lạm phát cao là do nhà nước đã
Trang 27cung ứng quá nhiều hoặc quá ít tiền cho nền kinh tế Nếu cần thiết phải điềuchỉnh khi nền kinh tế vận động sai lệch, nhà nước chỉ nên áp dụng chính sáchtiền tệ, chủ yếu là điều chỉnh khối lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông.
Thực tế lý thuyết này đã được áp dụng ở Mỹ đầu những năm 80, nhưng
nó chưa khắc phục được những căn bệnh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩanhư thất nghiệp lạm phát…
- Vai trò nhà nước trong trường phái trọng cung
Trường phái trọng cung ra đời ở Mỹ vào những năm 70 của thế kỷ XXkhi nền kinh tế nước này lâm vào suy thoái, lạm phát và thất nghiệp cao.Quan điểm mấu chốt của những người trọng cung là: thị trường là hệ thốnghữu hiệu nhất để định hướng các yếu tố sản xuất vào các hoạt động kinh tếmột cách tối ưu Các doanh nghiệp và các cá nhân đều có ý chí, họ ứng xửbằng cạch cực đại hoá để đáp ứng nhu cầu của mình Giá cả tương đối sẽ giúp
họ xác định các lựa chọn tối ưu Thuế, các khoản chi tiêu công cộng và cácchính sách phân phối lại thu nhập có hiệu lực rất hạn hẹp, thậm chí đa sốtrường hợp đi ngược lại mục tiêu ban đầu Từ đó họ phủ nhận các giải phápcan thiệp vào nền kinh tế như “thâm hụt ngân sách”, hiệu quả của “lý thuyết
số nhân” do Keynes đề xuất Theo họ, sự can thiệp của chính phủ đã làm biếndạng quan hệ cung cầu trong nền kinh tế thị trường hiện đaị Họ đề xuất mộtchính sách kinh tế giản đơn kết hợp giảm thuế với bỏ bớt những quy định vàhạn chế gây cản trở đến sức cung
Giống như lý thuyết trọng tiền, lý thuyết trọng cung cũng đã đượcchính phủ Mỹ áp dụng (trong thời kỳ từ 1979 - 1981) nhưng đã làm nẩy sinhnhiều vấn đề thực tế mà chính các nhà trọng cung cũng chưa giải quyết được
Tóm lại: lý thuyết tự do mới ra đời trong bối cảnh học thuyết Keynes
bộc lộ những hạn chế và thất bại trong điều chỉnh nền kinh tế tư bản chủnghĩa Các nhà kinh tế tự do mới muốn quay về khôi phục lại lý thuyết về tự
Trang 28do kinh doanh của các nhà Cổ điển, đồng thời có kết hợp ở một mức độ nhấtđịnh với lý thuyết về vai trò nhà nước trong học thuyết Keynes Lý thuyết của
họ có những điểm tiến bộ, đặc biệt trong lý thuyết về nền kinh tế thị trường xãhội của Cộng hoà Liên bang Đức, nhưng nó vẫn không giải quyết được cácvấn đề của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
2.1.4 Quan điểm của “nhà nước phát triển”
Nhà nước phát triển không phải là một khái niệm mới, các nguyên lýcủa lý thuyết Nhà nước phát triển đã được giới thiệu bởi nhiều học giả từtrước những năm 1980 Thậm chí chúng ta có thể tìm thấy một lý thuyết vềNhà nước phát triển được giới thiệu từ những năm 1960 Thời gian đó,Gerschenkron (1962) đã xây dựng một mô hình công nghiệp dựa kinh nghiệmcông nghiệp hóa của các nước Đông Âu Ông ngầm khẳng định sự cần thiếtcần phải tồn tại một Nhà nước phát triển trong một quốc gia có nền kinh tế lạchậu Sau đó, nhiều học giả như Hirschman (1968) đã nhấn mạnh hơn vai tròcủa Nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa Tuy vậy, phải đến những năm
1980, một lý thuyết rõ ràng về “Nhà nước phát triển” mới được đề xuất bởiChalmers Johnson trong cuốn sách của ông mang tựa đề “MITI và sự thần kỳNhật Bản” (Evans, 1989) Và cũng lần đầu tiên, Chalmers Johnson sử dụngcụm từ “Nhà nước phát triển” một cách chính thức Trong cuốn sách đóJohnson (1982) đã bắt tay vào phát triển một khuôn khổ chung của Nhà nướcphát triển bằng việc nghiên cứu những yếu tố đằng sau mang đến sự “thần kỳNhật Bản”
Trong bối cảch “phát triển muộn” Nhật Bản đã chọn mục tiêu phát triểnkinh tế như là một cách để đảm bảo sự sống còn của quốc gia Theo Johnson,Nhật Bản là trường hợp của “một nền kinh tế được huy động cho chiến tranh,nhưng không bao giờ “xuất ngũ” trong thời bình” Những gì thay đổi chỉ làchuyển từ chủ nghĩa dân tộc thời kỳ chiến tranh sang chủ nghĩa dân tộc kinh
Trang 29tế, tìm cách bắt kịp, thậm chí vượt qua phương Tây bằng cách đẩy mạnh hỗtrợ các chính sách mục tiêu và áp dụng đòn bẩy của Nhà nước khi thực hiệncác chính sách này.
2.1.4.1 Khái niệm và đặc điểm của mô hình Nhà nước phát triển
- Khái niệm mô hình Nhà nước phát triển:
Định nghĩa về Nhà nước phát triển được đưa ra lần đầu bởi ChalmersJohnson (1982) Theo ông, Nhà nước phát triển là một mô hình quản lý Nhànước, trong đó Nhà nước đề ra các chính sách mang tính định hướng pháttriển, tạo môi trường và điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy mọitiềm năng trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế; tăng cường giámsát để phát triển các mặt cân đối có thể xảy ra, đảm bảo phát triển ổn địnhkinh tế vĩ mô
Như vậy “Nhà nước phát triển” là thuật ngữ thường được dùng để mô
tả vai trò của Nhà nước trong việc phát triển kinh tế và cải thiện mức sống vàchất lượng cuộc sống của các tầng lớp dân cư Mối liên hệ giữa một nền kinh
tế phát triển bùng nổ với một Nhà nước phát triển càng trở nền mật thiết hơntrong trường hợp nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên ngoài, như nhậpkhẩu hoặc viện trợ Nhà nước phát triển không chỉ tập trung vào phát triểnkinh tế và con người, mà còn có vai trò quan trọng trong việc khai thác tàinguồn nguyên của quốc gia và đưa ra các biện pháp khuyến khích sản xuấtthông qua một quá trình hoạch định chính sách đặc biệt (Johnson, 1982, trang43)
- Quan điểm của một số học giả về Nhà nước phát triển
+ Chalmers Johnson: Can thiệp phù hợp với thị trường
Công trình tiên phong của Chalmers Johnson tập trung vào sự pháttriển, tái thiết sau chiến tranh và quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng
Trang 30(1925-1975) của Nhật Bản (Johnson, 1982) Johnson (1982) cho rằng bảnthân Nhà nước phát triển dẫn dắt quá trình công nghiệp hóa, có nghĩa là Nhànước có chức năng phát triển Ông cho rằng, động cơ đằng sau việc tạo ra mộtNhà nước phát triển của Nhật Bản là do sự phát triển muộn của chính bảnthân Nhật Bản (Johnson, 1982, trang 11 và 25; Johnson, 1999, trang 44)
“Ý tưởng Nhà nước phát triển có nguồn gốc từ các nước có quá trìnhcông nghiệp hóa muộn và mục tiêu của Nhà nước phát triển luôn được mang
so sánh với các nền kinh tế khác” (Johnson, 1982, trang 24) Theo Johnson,
mô hình Nhà nước phát triển Nhật Bản đặc trưng bởi ba đặc điểm thể chế đặcbiệt Đầu tiên, một Nhà nước quy mô nhỏ, nhưng quản lý chuyên nghiệp cùngvới một bộ máy quan liêu2 hiệu quả (Johnson, 1982, trang 314-320) Trongnghiên cứu của ông, MITI là trung tâm mô hình phát triển của Nhật Bản, đặcbiệt là liên quan đến cách quản lý quan liêu của MITI trong quá trình pháttriển công nghiệp (Johnson, 1999, trang 47-50) Hơn nữa, Johnson chỉ ra rằngcác điều kiện chính trị thuận lợi đã cung cấp đầy đủ và đảm bảo cho cơ quanthí điểm này duy trì một mức độ uy tín cao, hợp pháp và có thẩm quyền trong
2 Bộ máy quan liêu là bộ máy của tổ chức xã hội, mà hoạt động của nó được phân chia thành các vai trò, các vai trò này được xác định bởi những quy tắc, thủ tục và được sắp xếp vào một thứ bậc quyền lực Trong ngôn ngữ thường ngày, thuật ngữ "Bộ máy quan liêu" thường được dùng với nghĩa xấu Theo nhà lý thuyết xã hội học người Đức Max Weber (1864-1920), các tổ chức xã hội theo mô hình bộ máy quan liêu có ý nghĩa tích cực trong quá trình tổ chức và vận hành xã hội Các tổ chức này có cấu trúc nahư vậy vì chúng muốn hợp lý hóa cách tổ chức hoạt động, một xu hướng của xã hội hiện đại Xu hướng hợp lý hóa tổ chức hoạt động thể hiện ở bước chuyển mạnh mẽ từ cách thực hiện công việc tự phát, thiếu kế hoạch, định hướng giá trị truyền thống sang cách làm việc có hệ thống, được
tổ chức theo quy tắc, luật lệ, định hướng mục đích và duy lý.
Trang 31việc thúc đẩy công nghiệp hóa.
Thứ hai, Nhà nước phải đảm bảo rằng các công cụ chính sách sẽ cungcấp thêm thẩm quyền cho quan chức thực hiện các biện pháp can thiệp củaNhà nước vào nền kinh tế mà không phá hoại nguyên tắc thị trường, tức là
“hoàn thiện các phương pháp thị trường phù hợp với sự can thiệp của Nhànước” (Johnson, 1982, trang 57-9 và 315-16) Ông nhận định rằng: “Nhật Bảnhợp nhất mối quan hệ giữa ngành hành pháp và lập pháp có thể gây thất vọngđối với những người theo chủ nghĩa tự do, nhưng từ quan điểm của Nhà nướcphát triển, đây lại là một lợi thế ẩn” (Johnson, 1982, trang 44) Trên cơ sởnày, Johnson xác định “Nhà nước kế hoạch phát triển hợp lý” đã gây ảnhhưởng đến hướng và tốc độ phát triển của nền kinh tế bằng cách trực tiếp canthiệp vào quá trình phát triển, hơn là dựa trên việc phối hợp các lực lượng thịtrường để phân bổ nguồn lực kinh tế (Johnson, 1982, trang 319-20)
+ Peter Evans: Quyền tự chủ không thể tách rời3
Kinh nghiệm thực tế cho thấy một Nhà nước yếu kém sẽ tạo ra nhiềuvấn đề hơn là giải quyết chúng Ví dụ: Nhà nước ở các nước châu Phi nhưmiêu tả của Kohli (2004) là “khả năng tập trung yếu kém, thiếu tính chínhdanh, phụ thuộc vào tính cách cá nhân của lãnh đạo, không bị kiềm chế bởicác luật, và một nền quản lý hành chính chất lượng tồi.” Theo Evans, Congo
là một điển hình của mô hình Nhà nước mà ở đó giai cấp thống trị tham
3 Embedded autonomy Cụm từ “quyền tự chủ không thể tách rời” thể hiện ý tưởng về một nhà nước vừa có mối liên hệ với xã hội thông qua mạng lưới của những thế lực chính (đặc biệt với giới doanh nghiệp), song đồng thời cũng mang tính tự chủ trong xã hội nhờ vào năng lực và tính độc lập về thể chế của nhà nước đó, tới mức nó có thể xây dựng các chiến lược phát triển dài hạn ở tầm cao hơn và vượt lên trên sự đòi hỏi về lợi ích của các bộ phận trong xã hội (Evans, 1995, trang 9).
Trang 32nhũng đã biến xã hội thành những con mồi của họ Kết quả là trong mô hìnhNhà nước này, nguồn lực trở nên lãng phí hoặc bị cướp bóc, dịch vụ côngkhông được cung cấp, và không có việc bảo vệ quyền lợi xã hội, tư pháp vàkinh tế cho người dân, đặc biệt là người nghèo.
Theo Evans, các Nhà nước yếu kém sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề chứkhông có khả năng giải quyết vấn đề Họ thường xuyên ra những quyết địnhsai lầm về chính sách làm tồi tệ thêm nền kinh tế và phá hủy sinh kế củangười dân, đặc biệt nông dân nghèo Ngược lại, quản lý của Nhà nước tốt sẽ
là chất xúc tác cho phát triển kinh tế Nhiều lý thuyết và nghiên cứu thựcnghiệm đã chỉ ra rằng quốc gia nào có Nhà nước mạnh thì càng có khả năngđạt được mục tiêu phát triển
Evans xây dựng khái niệm “quyền tự chủ không thể tách rời” để minhhọa cho lập luận của mình rằng kết quả phát triển của bất cứ nước nào cũngđều dựa trên việc điều hòa hình thái tổ chức Nhà nước, các yếu tố quan liêu,cũng như bản chất của mối quan hệ giữa Nhà nước với các lợi ích xã hội(Evans, 1989)
Có thể nói, sự thành công của Nhật Bản là bằng chứng cho thấy rằngthành công của Nhà nước phát triển bắt nguồn từ “tự chủ không thể tách rời”,trong đó các quốc gia phát triển có liên quan mật thiết với khu vực tư nhânnhưng giữ khoảng cách đủ để nhắm đến các chính sách mục tiêu phù hợp với
sự phát triển của quốc gia
Những đóng góp của Evans vào việc xây dựng khung lý thuyết của Nhànước phát triển bao gồm 5 điểm chính Đầu tiên, ông nhấn mạnh về sự hiếm
có của bộ máy quan liêu kiểu mẫu, đặc biệt là những đặc trưng của Nhà nướcphát triển ở khu vực Đông Á (Evans, 1995, trang 39) Thứ hai, ngay cả trongcác trường hợp thành công nhất của quyền tự chủ không thể tách rời, Nhà
Trang 33nước cũng không tách khỏi những lợi ích đặc thù Thứ ba, Evans cho rằngNhà nước phát triển không ở trạng thái tĩnh mà luôn xu hướng thay đổi (đểthích ứng) (Evans, 1992, trang 165) Cuối cùng, Evans cho rằng Nhà nướcphát triển được xây dựng trong hoàn khó khăn và không có nhiều điều kiệnthuận lợi (Evans, 1992, trang 164).
Hạn chế trong nghiên cứu của Evans là ông có những phân tích ấntượng về yếu tố quan liêu của Nhà nước phát triển, nhưng lại ít đề cập đếncác khía cạnh cần thiết để hình thành Nhà nước phát triển, đặc biệt là về điềukiện chính trị và xã hội
+ Linda Weiss: Suy nghĩ về toàn cầu hóa
Đóng góp Linda Weiss tập trung vào việc trả lời cho câu hỏi: Toàn cầuhóa đối Nhà nước phát triển liệu có thích hợp? Theo quan điểm của Weiss(Weiss, 2000), quyền lực Nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong việcthúc đẩy toàn cầu hóa Weiss cho rằng toàn cầu hóa không dẫn đến xói mònquyền lực Nhà nước do sự hội nhập toàn cầu mạnh mẽ của các hoạt động kinh
tế Thay vào đó, nó dẫn đến sự quốc tế hóa của các hoạt động kinh tế (Weiss2003) Weiss lập luận Nhà nước luôn thay đổi để thích ứng với quá trình toàncầu hóa (Weiss, 1999 trang 6) Weiss cho rằng các quan điểm về sự sụp đổcủa Nhà nước phát triển do toàn cầu hoá đã bỏ qua khả năng tự thích nghi của
mô hình này Weiss chỉ ra ba yếu tố giúp các quốc gia “Nhà nước phát triển”
có được sự thích ứng cần thiết đối với những tác động của toàn cầu hoá, cụthể là: xây dựng các mục tiêu phát triển cụ thể; có một cơ quan quản lý thíđiểm kiểu MITI; và mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước và doanh nghiệp sẽgiúp các quốc gia nhà nước phát triển thích ứng với quá trình toàn cầu hoá
Trang 34thuận lợi (Weiss, 2000, trang 23) Trọng tâm của quá trình thích ứng này làviệc tăng cường và nâng cao năng lực quản trị, đặc biệt là sự linh hoạt trongquan hệ giữa khu vực Nhà nước và tư nhân, cũng như các chính sách chiếnlược
Weiss có hai đóng góp lớn vào việc xây dựng mô hình “Nhà nước pháttriển” Đầu tiên, Weiss ủng hộ quan điểm của Evans cho rằng Nhà nướckhông ở trạng thái tĩnh mà luôn có xu hướng biến đổi phù hợp với hoàn cảnh
cụ thể của nền kinh tế Thứ hai, và cũng quan trọng hơn, đóng góp Weiss giúpxoá bỏ những hoài nghi đối với lý thuyết Nhà nước phát triển Tuy nhiên,ranh giới giữa “sự sụp đổ” và “thích ứng” chưa được thể hiện rõ ràng trongnghiên cứu của Weiss Ví dụ, mức độ nào của việc giảm kiểm soát của Nhànước vào nền kinh tế (của các quốc gia Nhà nước phát triển) có thể được coinhư là một sự thích nghi?
- Đặc điểm của mô hình Nhà nước phát triển
Nhiều nhà kinh tế học cho rằng Nhà nước phát triển là mô hinh kinh tếphù hợp nhất với các nước công nghiệp hóa muộn Đây là mô hình phát triểnkinh tế phức tạp, với nhiều đặc điểm, trong đó có bốn đặc điểm nổi bật nhưsau:
+ Nhà nước nắm vai trò trung tâm trong quá trình phát triển kinh tế
Rõ ràng rằng, một Nhà nước phát triển phải đưa ra được các chính sách
vĩ mô đúng đắn, nắm vai trò chủ đạo trong định hướng của nền kinh tế Tuynhiên, dù nắm vai trò chủ đạo nhưng Nhà nước không hạn chế sự phát triểncủa các chủ thể khác trong nền kinh tế mà giữ nhiệm vụ kiến tạo phát triển,Nhà nước chi phối về chiến lược đầu tư phát triển Nhà nước phát triển phải
Trang 35hài hòa giữa các chính sách kinh tế và sự vận động tự nhiên của nền kinh tế,tức là định hướng chứ không áp đặt lên nền kinh tế Để làm được điều đó Nhànước phát triển cần có những công cụ chính sách phát triển đặc thù Trong đó
có hai công cụ quan trọng nhất Thứ nhất là công cụ tài chính: Nhà nước phải
sở hữa và chi phối hệ thống ngân hàng – thông qua các ngân hàng thương mạiNhà nước, đồng thời chủ động quản lý ngân sách trung ương một cách tậptrung (bao gồm cả ODA) Thứ hai là công cụ doanh nghiệp: Nhà nước phảichi phối hoạt động của các doanh nghiệp quy mô lớn trong nền kinh tế quốcdân Về chính sách phát triển thì quan trọng nhất là chính sách công nghiệpvới định hướng tập trung mọi nguồn lực để ưu tiên phát triển bằng được cácngành công nghiệp then chốt có ầm ảnh hướng chiến lược lâu dài đối với đấtnước
Trong trường hợp của các nước Đông Á, giới chính trị của các nướcnày đã tạo điều kiện để vừa ổn định chính trị vừa phát triển kinh tế (Waldner,
1999, trang 1) Những lãnh đạo ưu tú trong bộ máy quan liêu có đủ thẩmquyền để thực hiện các sáng kiến và đã hành động để theo đuổi mục tiêu pháttriển (Weiss, 2003, trang 4) Theo Deyo, nét độc đáo của các quốc gia Đông
Á là sự tồn tại của các liên minh chính trị và quản lý có hiệu quả của bộ máyquan liêu Kết quả là, sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế mang lạihiệu quả cao (Deyo 1987)
+ Hệ thống nhân sự và tổ chức hành chính Nhà nước chuyên nghiệp,hiệu quả dựa trên chế độ tuyển dụng nhân tài
Nhà nước phát triển xây dựng một bộ máy hành chính theo hướng rõngười, rõ việc, rõ trách nhiệm Chế độ tuyển dụng công chức và phân bổ nhân
Trang 36lực minh bạch, công khai, đúng người đúng việc Hệ thống hành chính trongNhà nước phát triển được vận hành một cách hiệu quả, nhanh gọn, khoa học
và linh động Lý do là bởi sự thành bại của chính sách còn do yếu tố conngười, còn do khả năng tiến hành nhanh gọn và chính xác các thủ tục hànhchính trong khâu tổ chức thực hiện và việc triển khai hiệu quả đến đâu trongthực tế Do vậy một Nhà nước phát triển phải là một Nhà nước gần dân, hạnchế tối đa hiện tượng cán bộ nhũng nhiễu, lãnh đạm trước việc nước việc dân;Nhà nước kiến tạo và phục vụ cho lợi ích của nhân dân
Nhà nước phát triển đồng thời cũng đòi hỏi phải có một bộ máy quanliêu hiệu quả So với những nước khác, hiệu quả của bộ máy hành chính ở cácnước Đông Á rất cao (Clapham, 1996, trang 162) Điều này được bắt nguồn
từ bộ máy quan liêu (theo kiểu trường phái Weberian4) ưu tiên tuyển dụngnhân tài, ưu đãi về mặt lương bổng, thu nhập đã đảm bảo được mức độ uy tíncao và tính hợp pháp của bộ máy công quyền (Johnson, 1982, trang 20) Onisủng hộ quan điểm này, ông cho rằng: “Tiêu chuẩn nghiêm ngặt của việc xétduyệt vị trí lãnh đạo không chỉ đảm bảo mức độ quan liêu cao, mà còn tạo ra
sự đồng nhất về tư tưởng, tham vọng phát triển đất nước của giới lãnh đạo
Do đó, các quan chức đã thấm nhuần ý thức trách nhiệm và tự gắn mình vớicác mục tiêu quốc gia” (Onis, 1991, trang 114) Cam kết về một sự nghiệp lâudài cũng mang đến cho bộ máy quan liêu quyền tự chủ (Evans, 1995, trang
4 Quản trị quan liêu (Weberian model of bureaucracy) thuộc trường phái quản trị hành chính, ra đời và mang lại sự phồn thịnh kinh tế vào giai đoạn cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ
XX Quản trị kiểu quan liêu là một hệ thống dựa trên những nguyên tắc, hệ thống thứ bậc,
sự phân công lao động rõ ràng, những thủ tục chắc chắn (cứng nhắc) Lý thuyết này đưa ra một quy trình về cách thức điều hành một tổ chức Quy trình này có 7 đặc điểm như sau: Tính nguyên tắc; Tính khách quan; Phân công lao động; Hệ thống thứ bậc; Cơ cấu quyền lực (cấu trúc quyền hạn); Sự cam kết việc làm lâu dài; Và tính hợp lý.
Trang 3712-13 và 48-49) Kết quả là, bộ máy lãnh đạo có thể tự xây dựng chính sáchkinh tế, liên kết kinh doanh và giúp Nhà nước trực tiếp can thiệp vào nền kinh
tế Trong bối cảnh này, sự quan liêu cũng đã đi vượt ra ngoài mô hình Saxon, thể hiện rõ ràng vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế qua các biệmpháp can thiệp như: hướng dẫn thị trường, chi phối thị trường, điều chỉnh phụthuộc lẫn nhau và thậm chí là “bóp méo thị trường” (Johnson, 1982)
Anglo-+ Nhà nước và doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ để thực hiện nhữngchương trình phát triển chung trong chính sách công nghiệp
Quá trình kiến tạo phát triển đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế, trong
đó mũi nhọn là phát triển công nghiệp Tuy nhiên, vấn đề chọn ngành côngnghiệp nào và tập trung phát triển như thế nào lại là một câu hỏi lớn Đặctrưng quan trọng của Nhà nước phát triển là tạo mối liên hệ chặt chẽ giữadoanh nghiệp Nhà nước và người lao động nhằm đạt được các mục tiêu pháttriển vĩ mô, đảm bảo lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp và người lao động,đồng thời tối đa hóa phúc lợi xã hội Muốn thực hiện được các mục tiêu ấy,Nhà nước phát triển vừa làm công tác hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô,vừa làm công tác định hướng, hỗ trợ các doanh nghiệp trong sản xuất kinhdoanh, từ đó xây dựng mối liên hệ bền vững, giữa các chủ thể trong nền kinh
tế Nhà nước sẽ chủ động sử dụng các tập đoàn kinh tế lớn để thực hiện cácchương trình đầu tư quốc gia
Theo Aküyz, một khu vực tư nhân sản xuất theo định hướng là yếu tốquan trọng dẫn đến quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng của các nướcĐông Á (Booth, 1999, trang 306) Việc định hướng này mang đến hiệu quảkinh tế với tốc độ và sự linh hoạt cần thiết, nhắm đến mục tiêu phát triển tổng
Trang 38thể của các nước này (Amsden, 1989, trang 316).
Theo Amsden, sự can thiệp của Nhà nước trong các quốc gia phát triển
ở Đông Á đã đánh dấu một loại hình mới của chủ nghĩa tư bản, mục đíchchính của sự can thiệp là để thúc đẩy lợi ích của khu vực tư nhân, tạo điềukiện tích lũy vốn và cải thiện năng suất (Amsden, 1989) Nhà nước sử dụngmột loạt các công cụ để ưu đãi doanh nghiệp trong nước nhằm đáp ứng tiêuchuẩn sản xuất trong nước và quốc tế, nâng cao năng suất, năng lực tổ chức
và kỹ thuật của các doanh nghiệp này Các công cụ này bao gồm chọn lọc và
sử dụng chiến lược bảo hộ, trợ cấp cho các ngành công nghiệp, và tạo ra cácliên kết kinh doanh giữa vốn chủ sở hữu và vốn Nhà nước Nhà nước pháttriển xây dựng liên kết thể chế chính trị lâu dài, góp vốn đầu tư, xây dựngquan hệ đối tác nhà nước – doanh nghiệp trên nguyên tắc cùng có lợi, chẳnghạn như trợ cấp và đóng vai trò khuyến khích doanh nghiệp nâng cao năngsuất (Woo- Cumings, 1999, trang 15)
Trang 39Bên cạnh đó, Nhà nước phát triển còn có những đặc trưng khác như đòihỏi sự quyết tâm và kiện định của lãnh đạo Nhà nước; năng lực của Nhà nướctrong điều tiết các thế lực và lợi ích tư nhân, nhập khẩu các chính sách địnhhướng, chú trọng sự phát triển đồng bộ giữa các lĩnh vực kinh tế, xã hội, cũngnhư cân bằng tốc độ phát triển giữa thành thị và nông thôn…
2.1.4.2 Điều kiện áp dụng nhà nước phát triển
Để xây dựng mô hình Nhà nước phát triển, phải có một (hoặc một số)nhà lãnh đạo và một đội ngũ hoạch định chiến lược tài giỏi, có tinh thần yêunước mãnh liệt, tận tuỵ và tâm huyết với sự phát triển kinh tế của đất nước,luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân Đội ngũ lãnh đạo phải luôn
có quyết tâm cao nhất trong việc phát triển và đưa đất nước chuyển mình, cấtcánh
Đội ngũ hoạch định chiến lược phát triển cần hội tụ được các chuyêngia đầu ngành trong các lĩnh vực trọng yếu, và cần được trao những quyền tựquyết tương đối, họ được ví như “tổ chức hoa tiêu” (pilot agencies) cho contàu kinh tế của mỗi quốc gia (Vũ Minh Khương, 2009)
Một trong những chiến lược quan trọng nhất là chiến lược phát triểncông nghiệp, bao gồm ở cấp vĩ mô (về phát triển cơ cấu và tỉ trọng các ngành)
và cấp vi mô (hợp lý hoá và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp, của môi trường kinh doanh và của các thành phần kinh tế quốc dân)
Thứ hai, bộ máy lãnh đạo phải có quyền tự trị, độc lập tương đối trongviệc theo đuổi các lợi ích quốc gia, mặc dù có thể làm ảnh hưởng đến lợi íchcủa những nhóm cục bộ (như lợi ích của một giai tầng, một vùng hoặc mộtlĩnh vực nào đó)
Trang 40Thứ ba, là phải có một bộ máy cán bộ công chức có đủ năng lực vàtương đối độc lập Sự quyết tâm trong phát triển của lãnh đạo và quyền độclập tương đối của bộ máy Nhà nước sẽ giúp hình thành một bộ máy côngchức chuyên nghiệp, đủ năng lực, tích cực và chủ động Để xây dựng đượcđội ngũ công chức như vậy cần phải dựa trên chế độ tuyển dụng nhân tài, chế
độ bổ nhiệm và bãi miễn phù hợp
Thứ tư, bộ máy Nhà nước độc lập và đủ mạnh phải được đặt trong một
xã hội tương đối “yếu” hơn Điều này có lẽ hơi khó chấp nhận trong điều kiện
sự đòi hỏi về tính dân chủ ngày càng tăng cao, cùng với sự phát triển củanhân quyền
Tuy nhiên, đó là thực tế được phân tích ở các nước đã thành công Sựyếu tương đối của các lực lượng xã hội sẽ tạo điều kiện cần thiết cho việc tiếnhành quyết sách của Nhà nước được nhanh chóng hơn và dễ dàng hơn
Tuy vậy, ở khía cạnh này, Nhà nước vẫn được chia thành hai loại làNhà nước “mạnh” và Nhà nước “cứng rắn” Nhà nước “mạnh” được thể hiệntrong sự hợp lý của các chính sách đưa ra và đạt được sự đồng thuận cao của
xã hội Trái lại Nhà nước “cứng rắn” gắn liền với hình ảnh áp đặt và đàn áp,bắt xã hội phải chấp nhận các quyết sách của mình
Thứ năm là khả năng quản lý, kiểm soát một cách có hiệu quả các lợiích tư nhân Việc củng cố sức mạnh và quyền lực của Nhà nước, trước khitầm quan trọng của nguồn vốn trong và ngoài nước tăng lên, sẽ tăng cườngkhả năng kiểm soát của Nhà nước đối với các lợi ích kinh tế tư nhân cả từ bênngoài lẫn bên trong
Nhà nước sẽ có ảnh hưởng lớn hơn trong việc quyết định vai trò của