1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Phát triển công nghiêp Huyện Núi Thành, Tỉnh Quảng Nam

107 291 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu * Mục tiêu chung Với mục tiêu nghiên cứu thực trạng phát triển công nghiệp, chất lượng phát triển công nghiệp ở huyện Núi Thành trong những năm gần đây để tìm ra nh

Trang 1

NGUYỄN THANH RIỆM

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số : 60.31.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Đức Hùng

Đà Nẵng - Năm 2013

Trang 2

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thanh Riệm

Trang 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4

7 Kết cấu của luận văn 4

8 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu ……… 4

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 8

1.1 ĐẶC ĐIỂM, VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP 8

1.1.1 Một số khái niệm 8

1.1.2 Đặc điểm của sản xuất công nghiệp 10

1.1.3 Vị trí của ngành công nghiệp trong nền kinh tế 11

1.1.4 Vai trò của sản xuất công nghiệp với phát triển kinh tế 12

1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 15

1.2.1 Lý thuyết phát triển kinh tế phân kỳ (Lý thuyết cất cánh) 15

1.2.2 Lý thuyết nhị nguyên (Lý thuyết hai khu vực) 16

1.2.3 Lý thuyết phát triển cân đối và không cân đối 18

1.2.4 Mô hình: kết hợp phía trước và phía sau 20

1.2.5 Mô hình: 4 con đường phát triển công nghiệp 20

1.3 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 21

1.3.1 Lựa chọn cơ cấu công nghiệp hợp lý 21

1.3.2 Gia tăng số lượng và quy mô các cơ sở sản xuất 23

1.3.3 Mở rộng quy mô các yếu tố sản xuất 24

Trang 4

1.3.6 Phát triển thị trường tiêu thụ 30

1.3.7 Nâng cao trình độ tổ chức quản lý 30

1.4 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 31

1.4.1 Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội 31

1.4.2 Nhóm nhân tố về vai trò quản lý nhà nước 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM 41

2.1 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN NÚI THÀNH 41

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 41

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 44

2.1.3 Kết luận rút ra từ nghiên cứu tổng quan về địa bàn 48

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HUYỆN NÚI THÀNH 49

2.2.1 Hiện trạng số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp 49

2.2.2 Quy mô về lao động công nghiệp 51

2.2.3 Giá trị sản xuất công nghiệp 52

2.2.4 Về cơ cấu công nghiệp 53

2.2.5 Hiện trạng quy mô về thiết bị và công nghệ 60

2.2.6 Về trình độ tổ chức quản lý 61

2.2.7 Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giai đoạn 2005-2012 62

2.2.8 Vị trí công nghiệp Núi Thành trong công nghiệp tỉnh Quảng Nam và Miền Trung 63

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP HUYỆN NÚI THÀNH 67

2.3.1 Những thành tựu đạt được 67

2.3.2 Những mặt hạn chế ngành công nghiệp của huyện 67

2.3.3 Nguyên nhân 69

Trang 5

3.1 THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HUYỆN NÚI THÀNH 72

3.1.1 Bối cảnh quốc tế 72

3.1.2 Tình hình trong nước 74

3.1.3 Phát triển công nghiệp huyện Núi Thành trong mối quan hệ với công nghiệp Miền Trung và công nghiệp tỉnh Quảng Nam 76

3.2 QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HUYỆN NÚI THÀNH 77

3.2.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Núi Thành 77

3.2.2 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển công nghiệp huyện Núi Thành 78

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HUYỆN NÚI THÀNH 82

3.3.1 Đầu tư kết cấu hạ tầng phát triển công nghiệp 82

3.3.2 Phát triển nguồn nhân lực phục vụ sản xuất công nghiệp 85

3.3.3 Giải pháp về khoa học công nghệ 87

3.3.4 Giải pháp về phát triển thị trường tiêu thụ 88

3.3.5 Giải pháp về thu hút đầu tư phát triển công nghiệp 89

3.3.6 Phát triển đô thị và dịch vụ 91

3.3.7 Phát triển công nghiệp hỗ trợ 93

3.3.8 Thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường 93

3.4 KHUYẾN NGHỊ 95

3.4.1 Đối với Chính phủ 95

3.4.2 Đối với tỉnh Quảng Nam nói chung và huyện Núi Thành nói riêng 95 3.4.3 Đối với doanh nghiệp công nghiệp 96

KẾT LUẬN 97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

Trang 6

HĐH : Hiện đại hóa

KCN : Khu công nghiệp

Trang 7

Số hiệu

Bảng 2.1 Tốc độ tăng tổng sản phẩm và đóng góp của các ngành vào tăng trưởng của huyện giai đoạn 2005 - 2012 44

Bảng 2.2 Số cơ sở sản xuất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp 49

Bảng 2.3 Số cơ sở sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế 50 Bảng 2.4 Số lao động công nghiệp giai đoạn 2005-2012 51 Bảng 2.5 Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo loại hình kinh tế 52 Bảng 2.6 Cơ cấu ngành công nghiệp giai đoạn 2005-2012 54 Bảng 2.7 Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài nhà nước phân theo ngành sản xuất 56 Bảng 2.8 Cơ cấu công nghiệp chế biến ngoài nhà nước 58 Bảng 2.9 Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo thành phần kinh tế 60 Bảng 2.10 Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giai đoạn 2005-2012 62

Bảng 2.11

GTSX và cơ cấu kinh tế huyện Núi Thành và một số huyện, thành phố trong tỉnh Quảng Nam năm 2012 (giá cố định 1994)

64

Bảng 2.12

Vị trí công nghiệp huyện Núi Thành trong cơ cấu công nghiệp Quảng Nam và Miền Trung năm 2012 (giá cố định 1994)

66

Trang 8

Số hiệu

Hình 2.1 Tốc độ tăng trưởng GO công nghiệp phân theo loại hình kinh tế 53 Hình 2.2 Cơ cấu GO công nghiệp phân theo ngành công nghiệp 55 Hình 2.3 Cơ cấu GO công nghiệp chế biến ngoài nhà nước 57

Hình 2.4

Giá trị sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ huyện

Núi Thành và một số huyện, thành phố trong tỉnh Quảng

Nam

65

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển công nghiệp thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa sản xuất, mở rộng thị trường, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình đô thị hóa…

Mục tiêu của huyện Núi Thành đến năm 2015 cơ bản trở thành huyện công nghiệp Khi đó: tỷ trọng về kinh tế của ngành nông nghiệp là 6%; ngành công nghiệp là 69,4%; ngành dịch vụ là 24,6% Từ năm 2003 đến nay, nền kinh tế huyện có những chuyển biến tích cực, công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của huyện Việc thu hút các dự án mới trong ngành công nghiệp được triển khai có hiệu quả…Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và một số làng nghề truyền thống được phục hồi Cơ sở hạ tầng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được cải thiện một bước đáng kể Một số cụm công nghiệp, làng nghề tập trung được quy hoạch và xây dựng

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì còn nhiều vấn đề đặt ra cho sự phát triển công nghiệp của huyện, đó là:

Thứ nhất, các cơ sở công nghiệp quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm chưa cao

Thứ hai, ngành công nghiệp phát triển với tốc độ cao nhưng giá trị gia tăng không cao, chủ yếu dựa vào nguồn nhân công giá rẻ, khai thác lợi thế tài nguyên; hầu hết các sản phẩm công nghiệp sản xuất ra phải nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện, phụ kiện

Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ và lực lượng lao động tuy đã được quan tâm song chưa đáp ứng kịp với tốc độ phát triển công nghiệp

Thứ tư, doanh nghiệp có trình độ công nghệ cũ còn phổ biến, công nghệ

Trang 10

thiết bị chậm đổi mới, chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về đổi mới công nghệ để giảm tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu và nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm

Thứ năm, công tác giải phóng mặt bằng ở một số nơi còn gặp ách tắc, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án; công tác quy hoạch phát triển công nghiệp chưa gắn bó chặt chẽ với phát triển nông nghiệp và dịch vụ

Do vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là cần phải tạo ra bước phát triển đột phá về công nghiệp, huyện Núi Thành cùng với tỉnh xây dựng thành công Khu kinh tế mở Chu Lai, đưa Núi Thành cơ bản trở thành huyện công nghiệp vào năm 2015

Đây chính là lý do em chọn đề tài “Phát triển công nghiệp huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu chung

Với mục tiêu nghiên cứu thực trạng phát triển công nghiệp, chất lượng phát triển công nghiệp ở huyện Núi Thành trong những năm gần đây để tìm ra những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế và từ đó có thể đề xuất ra những giải pháp tích cực nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển ngành công nghiệp trên địa bàn huyện theo hướng hiện đại

* Mục tiêu cụ thể

- Góp phần làm rõ các khái niệm về công nghiệp, phát triển công nghiệp, tăng trưởng công nghiệp; nêu ra các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp; chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp Đồng thời chỉ ra xu hướng phát triển công nghiệp trong thời gian đến

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quá trình phát triển công nghiệp trên

Trang 11

địa bàn huyện Núi Thành từ năm 2005 đến năm 2012

- Chỉ ra nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Núi Thành

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đánh giá đúng thực trạng và đề ra được các giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Núi Thành, đề tài cần trả lời các câu hỏi sau:

- Phát triển công nghiệp huyện Núi Thành cần phải phát triển nội dung gì?

- Thực trạng phát triển công nghiệp trong thời gian qua trên địa bàn huyện Núi Thành như thế nào? Nguyên nhân của thành tựu đạt được và nguyên nhân của hạn chế là gì?

- Nhân tố nào tác động đến sự phát triển công nghiệp huyện Núi Thành?

- Giải pháp nào là phù hợp để thúc đẩy phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Núi Thành trong thời gian đến?

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Núi Thành Luận văn cần phân tích cơ sở lý luận, thực trạng phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Núi Thành, phân tích mục tiêu, phương

hướng và đề xuất giải pháp phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Với phương pháp nghiên cứu tiếp cận duy vật biện chứng, duy vật lịch

sử cùng với các phương pháp thống kê mô tả, phân tích, so sánh trong phạm

Trang 12

vi nghiên cứu là từ năm 2005 đến năm 2012

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

* Ý nghĩa khoa học

Những kết quả khoa học thu được thông qua thực hiện đề tài sẽ bổ sung

cơ sở thực tiễn để đánh giá chung tình hình phát triển công nghiệp của địa phương trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa

* Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài ngoài việc đóng góp để giải quyết vấn đề thực tiễn bức xúc đang đặt ra hiện nay ở huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam, kết quả

nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo cho các địa phương trên toàn tỉnh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn tốt nghiệp của tôi gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về phát triển công nghiệp

Chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Núi

Thành, tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Núi

Thành, tỉnh Quảng Nam

8 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu

Đã có nhiều công trình khoa học, nhiều bài viết, bài báo nghiên cứu về phát triển công nghiệp Một số công trình nghiên cứu tác giả đã tham khảo sau đây:

- PGS.TS Bùi Quang Bình (2011) đã đề cập tới điều kiện để phát triển công nghiệp nói chung và công nghiệp chế biến nói riêng trên cơ sở nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

- Kinh tế phát triển (2012) của PGS.TS Bùi Quang Bình đã đề cập: Sự

phát triển công nghiệp gắn với các mô hình khác nhau như: Mô hình ngành

Trang 13

công nghiệp tập trung; mô hình kết hợp phía trước và phía sau; mô hình phát triển cân đối và không cân đối; mô hình bốn con đường phát triển công nghiệp

- Lê Hữu Đốc (2004), Công nghiệp thành phố Đà Nẵng: Thực trạng và giải pháp phát triển, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách này phân

tích thực trạng, tiềm năng và thế mạnh của Đà Nẵng trong phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng cùng những phương hướng, giải pháp phát triển công nghiệp thành phố Đà Nẵng đến năm 2010

- Bài viết của TS Vũ Thị Tuyết Mai tại Tạp chí Kinh tế và phát triển số

188, tháng 02/2013, trang 24-29: "Chính sách công nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu hóa" Bài viết này tranh luận rằng Việt Nam cần thay đổi

mạnh mẽ chính sách công nghiệp trong thời kỳ nền kinh tế toàn cầu Chính sách và cách tiếp cận công nghiệp hóa kiểu cũ không còn phù hợp và tương thích với thời kỳ mới, mà đang kìm hãm năng lực cạnh tranh và cản trở sự phát triển của ngành công nghiệp Bài viết đề xuất thay đổi mô hình phát triển công nghiệp dựa vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, từ bỏ quan điểm chọn trước một khu vực nào đó là “xương sống” hay “chủ đạo”, khuyến khích thích đáng các hoạt động công nghiệp thuận theo lợi thế so sánh, tăng cường hiệu quả thông tin và hiệu lực điều phối trong việc hoạch định và thực thi chính sách công nghiệp

- TS Phạm Thị Huyền, Tạp chí KT&PT số 185, tháng 11/2012, trang

56-63: "Phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nhằm thu hút các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhật Bản vào phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam" Bài

viết phân tích nhu cầu của các SMEs Nhật Bản, làm cơ sở đề xuất với các địa phương, các KCN của Việt Nam thiết kế một hệ thống dịch vụ hỗ trợ họ nhằm thu hút họ vào, cùng phát triển một nền công nghiệp bền vững trên nền tảng công nghiệp hỗ trợ phát triển

Trang 14

- Bài viết: "Đánh giá hiện trạng phát triển xanh trong một số phân ngành công nghiệp tại Việt Nam" của TS Lê Anh Tuấn, TS Phương Hoàng

Kim, KT&PT Số 180, tháng 06/2012, trang 23-27 Bài viết đề xuất một mô hình các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển xanh trong các ngành công nghiệp và tiến hành khảo sát đánh giá hiện trạng phát triển xanh trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam Việc đánh giá hiện trạng phát triển xanh sẽ giúp các doanh nghiệp định hướng phát triển đồng thời cũng giúp các cơ quan quản lý

đề ra các chính sách hợp lý để thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển hiệu quả theo hướng thân thiện môi trường

Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu, luận án, luận văn về phát triển công nghiệp khác mà tác giả tham khảo như sau:

- Hoàng Văn Hoá, Phạm Huy Vinh (2010), Phát triển công nghiệp chủ lực Hà Nội đến năm 2020, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Nguyễn Thị Hường (2009), Phát triển bền vững công nghiệp Việt Nam: Thành tựu, hạn chế và một số đề xuất chính sách, Nghiên cứu kinh tế (372),

Trang 15

- Luận văn Thạc sỹ kinh tế phát triển: "Hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp tại tỉnh Gia Lai", Nguyễn Năng Dũng, Đà Nẵng - 2011

- Luận văn Thạc sỹ kinh tế phát triển: "Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong ngành công nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng", Vũ Thị

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

1.1 ĐẶC ĐIỂM, VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP 1.1.1 Một số khái niệm

a Công nghiệp

Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất vật chất mà sản phẩm được chế tạo, chế biến cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp theo Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của tiến bộ khoa học, kỹ thuật

và công nghệ Theo cách phân loại của Tổng cục thống kê, công nghiệp bao gồm ba nhóm ngành: công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và công nghiệp điện, khí, nước

Công nghiệp khai thác: là ngành khai thác các tài nguyên thiên nhiên:

bao gồm các nguồn năng lượng (dầu mỏ, khí đốt, than…), quặng kim loại (sắt, thiết, boxit), vật liệu xây dựng (đá, sỏi, cát…) Ngành này cung cấp các nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp khác

Công nghiệp chế biến: bao gồm công nghiệp chế tạo các công cụ sản

xuất (chế tạo máy, cơ khí, kỹ thuật điện và điện tử), công nghiệp sản xuất vật phẩm tiêu dùng (dệt - may, chế biến thực phẩm - đồ uống, chế biến gỗ giấy, chế biến thủy tinh - sành sứ) và công nghiệp sản xuất đối tượng lao động (hóa chất, hóa dầu, luyện kim và vật liệu xây dựng)

Công nghiệp điện, khí, nước: bao gồm các ngành sản xuất và phân phối các

nguồn điện (thủy điện và nhiệt điện), gas - khí đốt và nước [5, tr.182-183]

Công nghiệp hóa: là quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong

toàn bộ các ngành kinh tế của một vùng kinh tế hay một ngành kinh tế Đó là

tỷ trọng về lao động, về giá trị gia tăng…

Trang 17

Về bản chất, công nghiệp hóa là một quá trình phát triển về kinh tế, mà trong đó một bộ phận nguồn lực ngày càng tăng của đất nước được huy động

để phát triển một cơ cấu kinh tế đa ngành với công nghệ hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận chế biến luôn thay đổi, để sản xuất

ra tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng có khả năng bảo đảm tốc độ tăng trưởng

kinh tế cao và sự tiến bộ nhanh về mặt xã hội (theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc, 1963) [1, tr.186]

Cơ cấu công nghiệp: là số lượng các bộ phận hợp thành công nghiệp và

mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận ấy Việc xác định số lượng các bộ phận hợp thành hệ thống công nghiệp tùy thuộc vào các cách phân loại công nghiệp Theo cách phân loại công nghiệp hiện nay, xác định một số loại cơ cấu công nghiệp như: cơ cấu ngành công nghiệp, cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế, cơ cấu công nghiệp theo vùng lãnh thổ

b Phát triển công nghiệp

Khái niệm tăng trưởng kinh tế: Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển

kinh tế của kinh tế học phát triển, tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế diễn tả động thái; biến đổi về mặt lượng của nền kinh tế của một quốc gia Là

sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế (GDP) hay sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người (GDP/ng) qua một thời gian nhất định, thường được phản ánh qua mức tăng trưởng và tỷ lệ tăng trưởng

Khái niệm phát triển kinh tế: Cũng theo lý thuyết tăng trưởng và phát

triển kinh tế của kinh tế học phát triển Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là sự gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/đầu người hay GDP, GDP/đầu người…thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn; sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất

Trang 18

của nền kinh tế - xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như; thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào phát triển kinh tế - xã hội

Khái niệm phát triển công nghiệp: Phát triển công nghiệp thể hiện quá

trình thay đổi của nền công nghiệp ở giai đoạn này so với giai đoạn trước đó

và thường đạt ở mức độ cao hơn cả về lượng và về chất

Phát triển công nghiệp khác với tăng trưởng công nghiệp: Tăng trưởng công nghiệp chỉ thể hiện rằng ở thời điểm nào đó, nền công nghiệp có nhiều đầu ra so với giai đoạn trước, chủ yếu phản ánh sự thay đổi về kinh tế và tập trung nhiều về mặt lượng Tăng trưởng công nghiệp thường được đo bằng mức tăng thu nhập quốc dân trong nước của công nghiệp, mức tăng về sản lượng và sản phẩm công nghiệp, số lượng doanh nghiệp, chủng loại sản phẩm quy mô thị trường Còn phát triển công nghiệp thể hiện cả về lượng và về chất Phát triển công nghiệp không những bao hàm cả tăng trưởng mà còn phản ánh các thay đổi cơ bản trong cơ cấu công nghiệp, về trình độ sản xuất và

tổ chức xã hội của sản xuất, sự thích ứng của công nghiệp với hoàn cảnh mới

1.1.2 Đặc điểm của sản xuất công nghiệp

Quá trình sản xuất công nghiệp có thể chia làm nhiều công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn có thể do một bộ phận trong hệ thống dây chuyền sản xuất hoặc do một bộ phận độc lập thực hiện Do đó, trong sản xuất công nghiệp các nhà sản xuất có thể lựa chọn mức độ chuyên môn hóa phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất mà không phải nhất thiết phải thực hiện sản xuất hoàn chỉnh một sản phẩm

Đặc điểm về công nghệ sản xuất: công nghệ sản xuất trong công nghiệp

Trang 19

do con người tạo ra Quá trình tạo ra sản phẩm công nghiệp được thực hiện thông qua hệ thống máy móc, thiết bị với đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao Vì vậy, mỗi quốc gia tùy vào khả năng và hoàn cảnh cụ thể để có chiến lược đầu tư, đổi mới và hiện đại hóa công nghệ cũng như đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề trong quá trình phát triển công nghiệp

Đặc điểm về sự biến đổi của các đối tượng lao động sau mỗi chu kỳ sản xuất và sản phẩm tạo ra Từ một nguồn nguyên liệu, sau mỗi chu kỳ sản xuất, với những công nghệ khác nhau có thể tạo ra nhiều sản phẩm với nhiều công dụng khác nhau; cùng một loại sản phẩm có thể tạo ra nhiều kiểu dáng, mẫu

mã khác nhau Đây là một ưu thế của sản xuất công nghiệp, tạo khả năng sáng tạo, mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả của sản xuất công nghiệp so với các ngành kinh tế khác Tuy nhiên, khả năng sáng tạo và nâng cao hiệu quả của sản xuất công nghiệp phụ thuộc vào chiến lược phát triển công nghiệp, nhất là chiến lược lựa chọn các ngành công nghiệp được ưu tiên và chính sách đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới sản phẩm của mỗi quốc gia

Sản xuất công nghiệp có khả năng tập trung với mật độ cao, có thể bố trí trong các nhà xưởng với điều kiện nhiệt độ, ánh sáng… nhân tạo So với sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp ít bị ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên (trừ ngành công nghiệp khai thác)

Tất cả những đặc điểm của sản xuất công nghiệp đã tạo ra nhưng ưu thế đặc biệt cho sản xuất công nghiệp, làm cho công nghiệp có những điều kiện thuận lợi để phát triển nhanh, ổn định trên cơ sở trình độ ứng dụng thiết bị khoa học và công nghệ ngày càng rộng rãi, các hình thức, phương thức tổ chức quản lý ngày càng hiện đại và trở thành ngành có vai trò dẫn dắt, định hướng cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân [5, tr.268-271]

1.1.3 Vị trí của ngành công nghiệp trong nền kinh tế

Công nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất có vị trí quan

Trang 20

trọng trong nền kinh tế quốc dân, vị trí đó xuất phát từ các lý do chủ yếu sau: Công nghiệp là bộ phận hợp thành cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp -dịch vụ Trong quá trình phát triển nền kinh tế lên nền sản xuất lớn, công nghiệp phát triển từ vị trí thứ yếu trở thành ngành có vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế đó

Mục tiêu cuối cùng của nền sản xuất xã hội là tạo ra sản phẩm để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, công nghiệp là ngành không những chỉ khai thác tài nguyên mà còn tiếp tục chế biến các loại nguyên liệu nguyên thủy được khai thác và sản xuất từ các loại tài nguyên khoáng sản, động thực vật thành các sản phẩm trung gian để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng, nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho con người

Sự phát triển của ngành công nghiệp là một yếu tố có tính quyết định để thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa toàn bộ nền kinh tế quốc dân Trong quá trình phát triển nền kinh tế lên nền sản xuất lớn, tùy theo trình

độ phát triển của bản thân công nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế, xuất phát

từ những điều kiện và đặc điểm cụ thể của mỗi nước, mỗi thời kỳ cần phải xác định đúng đắn vị trí của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, hình thành cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ và định hướng từ chuyển dịch cơ cấu đó một cách có hiệu quả Đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc tổ chức nền kinh tế, nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước

1.1.4 Vai trò của sản xuất công nghiệp với phát triển kinh tế

a Công nghiệp đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân

Dưới sự tác động của tiến bộ khoa học và công nghệ, sự phát triển của công nghiệp không bị giới hạn Vì thế năng suất lao động của khu vực công nghiệp cao hơn hẳn các ngành kinh tế khác, mà năng suất lao động là yếu tố

Trang 21

quyết định nâng cao thu nhập, thúc đẩy nhanh tăng trưởng công nghiệp và đóng góp ngày càng lớn vào thu nhập của quốc gia Sự phát triển của công nghiệp còn tác động đến sự phát triển của các ngành kinh tế khác như nông nghiệp và dịch vụ Công nghiệp còn là ngành cung cấp đại bộ phận hàng tiêu dùng cho dân cư, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao hơn và mới hơn: Công nghiệp đóng góp vào tích luỹ của nền kinh tế bao gồm cả vốn tài chính

và vốn vật chất là các tư liệu sản xuất, cùng với quá trình tích luỹ về khoa học

và công nghệ gắn bó với tri thức và kinh nghiệm quản lý - những điều kiện cơ bản để tăng trưởng và phát triển bền vững nền kinh tế [5, tr.273-274]

b Công nghiệp cung cấp đại bộ phần hàng tiêu dùng cho dân cư

Nông nghiệp cung cấp những sản phẩm tiêu dùng thiết yếu đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người Công nghiệp cung cấp những sản phẩm tiêu dùng ngày càng phong phú và đa dạng Khi thu nhập dân cư tăng gắn với quá trình phát triển kinh tế thì nhu cầu của con người lại cao hơn và mới hơn Chính sự phát triển của công nghiệp mới đáp ứng những nhu cầu thay đổi này và đồng thời nó lại hướng dẫn tiêu dùng của con người

c Công nghiệp cung cấp nhiều việc làm cho xã hội

Dưới tác động của công nghiệp năng suất lao động công nghiệp được nâng cao tạo điều kiện dịch chuyển lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp, nhưng không ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp Sự phát triển của công nghiệp làm

mở rộng nhiều ngành sản xuất mới, khu công nghiệp mới và cả các ngành dịch vụ đầu vào và đầu ra sản phẩm công nghiệp và như vậy thu hút lao động nông nghiệp

và giải quyết việc làm cho xã hội Công nghiệp phát triển còn tạo ra việc làm mới thông qua sự phát triển của các ngành dịch vụ [1, tr 184]

d Công nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền kinh tế

Do đặc điểm của sản xuất công nghiệp, đặc biệt là đặc điểm về công nghệ

Trang 22

sản xuất, về công dụng sản phẩm, công nghiệp là ngành tạo ra sản phẩm làm chức năng tư liệu sản xuất, cho nên nó là ngành có vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế Trình độ phát triển công nghiệp càng cao thì tư liệu sản xuất càng hiện đại, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động xã hội

Ngày nay, sự phát triển của công nghiệp đang đưa hoạt động kinh tế thế giới đến trình độ sản xuất cao, đó là việc tạo ra các tư liệu sản xuất có khả năng thay thế phần lớn sức lao động của con người Đó chính là sự ra đời và phát triển mạnh mẽ các tư liệu sản xuất có khả năng tự động hóa trong một số khâu hoặc toàn bộ quá trình sản xuất Máy móc tự động hóa thể hiện sự phát triển cao của công nghiệp trong việc tạo ra tư liệu sản xuất phục vụ cho các ngành sản xuất và cho bản thân công nghiệp

e Công nghiệp tạo ra hình mẫu ngày càng hoàn thiện về tổ chức sản xuất

Do đặc điểm của sản xuất, công nghiệp luôn có một đội ngũ lao động có tính tổ chức, kỷ luật cao, có tác phong lao động "công nghiệp" do đó đội ngũ lao động trong công nghiệp luôn là bộ phận tiên tiến trong cộng đồng dân cư Bên cạnh đó, lao động trong công nghiệp ngày càng có trình độ chuyên môn hóa cao tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động và chất lượng của sản phẩm Trong hoạt động sản xuất công nghiệp, còn có điều kiện tăng nhanh trình độ công nghệ của sản xuất áp dụng những thành tựu khoa học ngày càng cao vào sản xuất Tất cả những đặc điểm trên đây làm cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển và theo đó quan hệ sản xuất ngày càng hoàn thiện hơn Sự hoàn thiện về các mô hình tổ chức sản xuất làm cho sản xuất công nghiệp trở thanh hình mẫu về kỹ thuật sản xuất hiện đại, phương pháp quản lý tiên tiến, người lao động có ý thức tổ chức và kỷ luật

Trang 23

1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 1.2.1 Lý thuyết phát triển kinh tế phân kỳ (Lý thuyết cất cánh)

Walt Rostow - cha đẻ của lý thuyết này cho rằng: quá trình phát triển của bất

cứ quốc gia nào trên thế giới cũng đều phải trải qua 5 giai đoạn tuần tự như sau:

Xã hội truyền thống: đặc trưng là nông nghiệp giữ vai trò thống trị trong

đời sống kinh tế, năng suất lao động kém và xã hội kém linh hoạt

Giai đoạn chuẩn bị cất cánh (pre-takeoff): những thay đổi quan trọng là

trong xã hội đã xuất hiện một tầng lớp chủ xí nghiệp (entrepreneur) có khả năng đổi mới, kết cấu hạ tầng xã hội - nhất là giao thông đã phát triển; đã bắt đầu hình thành những ngành chủ lực có tác động thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Giai đoạn cất cánh (take-off): với những dấu hiệu quan trọng là tỷ lệ đầu

tư so với thu nhập quốc dân đạt từ mức 10% trở lên, xuất hiện những ngành công nghiệp chế biến có tốc độ tăng trưởng cao, có những chuyển biến mạnh

mẽ về thể chế xã hội mà thuận lợi cho sự phát triển của các ngành sản xuất hiện đại và hoạt động kinh tế đối ngoại

Giai đoạn chuyển đến sự chín muồi kinh tế: là giai đoạn mà tỷ lệ đầu tư

so với thu nhấp quốc dân đạt mức cao và xuất hiện nhiều cực tăng trưởng mới

Kỷ nguyên tiêu dùng hàng loạt: là giai đoạn kinh tế phát triển cao, đa dạng

hóa sản xuất, thị trường linh hoạt và có hiện tượng tốc độ tăng trưởng suy giảm

Theo lý thuyết này, hầu hết các nước đang phát triển và đang trong quá trình công nghiệp hóa nằm ở trong khoảng giai đoạn 2 và 3 Về mặt cơ cấu kinh tế, phải bắt đầu hình thành được những ngành công nghiệp chế biến có khả năng thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng Ngoài ra, sự chuyển tiếp

từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3 đi kèm với sự thay đổi của những ngành chủ

Trang 24

lực, đóng vai trò đầu tàu Ðiều này nghĩa là, trong chính sách cơ cấu, cần xét đến trật tự ưu tiên phát triển những ngành, lĩnh vực có khả năng đảm trách vai trò đầu tàu kinh tế trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau

1.2.2 Lý thuyết nhị nguyên (Lý thuyết hai khu vực)

Lý thuyết này do A Lewis chủ xướng Lý thuyết này cho rằng ở các nền kinh tế có hai khu vực kinh tế song song tồn tại: khu vực truyền thống, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và có đặc trưng là rất trì trệ, năng suất lao động rất thấp (năng suất lao động biên xem như bằng không) và lao động dư thừa; khu vực công nghiệp hiện đại có đặc trưng năng suất lao động cao và có khả năng tự tích lũy Do lao động dư thừa nên việc chuyển một phần lao động thặng dư từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp không gây ảnh hưởng gì đến sản lượng nông nghiệp Do có năng suất lao động cao và tiền công cao hơn nên khu vực công nghiệp thu hút lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp chuyển sang, và do lao động trong khu vực nông nghiệp quá dư thừa và tiền công thấp hơn nên các ông chủ công nghiệp có thể thuê mướn nhiều nhân công mà không phải tăng thêm tiền công, lợi nhuận của các ông chủ ngành càng tăng; giả định rằng toàn bộ lợi nhuận sẽ được đem tái đầu tư thì nguồn tích lũy để mở rộng sản xuất trong khu vực công nghiệp ngày càng tăng lên

Như vậy, có thể rút ra từ lý thuyết này một nhận định là để thúc đẩy sự phát triển, các quốc gia đang phát triển cần phải mở rộng khu vực công nghiệp hiện đại bằng mọi giá mà không quan tâm đến khu vực truyền thống

Sự tăng trưởng của khu vực công nghiệp tự nó sẽ thu hút hết lượng lao động

dư thừa trong nông nghiệp chuyển sang và từ trạng thái nhị nguyên, nền kinh

tế sẽ chuyển sang một nền kinh tế công nghiệp phát triển

Lý thuyết nhị nguyên của Lewis tiếp tục được nhiều kinh tế gia nổi tiếng (như G Ranis, J Fei, Harris) khác tiếp tục nghiên cứu và phân tích Luận cứ

Trang 25

của họ xuất phát từ khả năng phát triển và tiếp nhận lao động của khu vực công nghiệp hiện đại Khu vực này có nhiều khả năng lựa chọn công nghệ sản xuất, trong đó có công nghệ sử dụng nhiều lao động nên về nguyên tắc có thể thu hút hết lượng lao động dư thừa của khu vực nông nghiệp Nhưng việc di chuyển lao động được giả định là do chênh lệch về thu nhập giữa lao động của hai khu vực kinh tế trên quyết định (các tác giả giả định rằng thu nhập của lao động công nghiệp tối thiểu cao hơn 30% so với lao động trong khu vực nông nghiệp) Như vậy, khu vực công nghiệp chỉ có thể thu hút lao động nông nghiệp khi có sự dư thừa lao động nông nghiệp và chênh lệch tiền công giữa hai khu vực đủ lớn Nhưng khi nguồn lao động nông nghiệp dư thừa ngày càng cạn dần thì khả năng duy trì sự chênh lệch về tiền lương này sẽ ngày một khó khăn Ðến khi đó, việc tiếp tục di chuyển lao động nông nghiệp sang công nghiệp sẽ làm giảm sản lượng nông nghiệp và làm cho giá cả nông sản tăng lên, và kéo theo đó là mức tăng tiền công tương ứng trong khư vực công nghiệp Sự tăng lương của khu vực công nghiệp này đặt ra giới hạn về mức cầu tăng thêm đối với lao động của khu vực này Như thế, về mặt kỹ thuật, mặc dù khu vực công nghiệp có thể thu hút không hạn chế lượng lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp chuyển sang thì về mặt thu nhập và độ co giãn cung cầu thì khả năng tiếp nhận lao động từ khu vực nông nghiệp của khu vực công nghiệp là có hạn

Một hướng phân tích khác dựa trên lý thuyết nhị nguyên là phân tích khả năng di chuyển lao động từ nông thôn (khu vực nông nghiệp) ra thành thị (khu vực công nghiệp) mà Todaro là một điển hình Quá trình dịch chuyển lao động chỉ diễn ra suôn sẻ khi tổng cung về lao động từ nông nghiệp phù hợp với tổng cầu ở khu vực công nghiệp Sự di chuyển lao động này không những phụ thuộc vào chênh lệch thu nhập mà còn vào xác suất tìm được việc làm đối với lao động nông nghiệp

Trang 26

Một cách tổng quát, khi phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hai lĩnh vực sản xuất vật chất quan trọng nhất của nền kinh tế các nước đang phát triển, các lý thuyết nhị nguyên đã đi từ việc cho rằng chỉ cần tập trung vào phát triển công nghiệp mà không quan tâm đến sự phát triển của khu vực nông nghiệp đến việc chỉ ra những giới hạn của việc này và như vậy, khu vực nông nghiệp cũng cần được quan tâm thích đáng trong quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế

1.2.3 Lý thuyết phát triển cân đối và không cân đối

Những người ủng hộ quan điểm phát triển cân đối (như R Nurkse, Rosenstein - Rodan.) cho rằng phải phát triển đồng đều ở tất cả mọi ngành kinh tế quốc dân để nhanh chóng công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu Luận cứ của họ như sau:

Trong quá trình phát triển, tất cả các ngành có liên quan mật thiết với nhau, "đầu ra" của ngành này là "đầu vào" của ngành kia và như vậy, sự phát triển đồng đều và cân đối chính là đòi hỏi sự cân bằng cung cầu trong sản xuất

Sự phát triển cân đối giữa các ngành như thế giúp tránh được các ảnh hưởng tiêu cực của thị trường thế giới và hạn chế được mức độ phụ thuộc vào các nền kinh tế khác, qua đó tiết kiệm được nguồn ngoại tệ

Một nền kinh tế dựa trên cơ cấu cân đối giữa tất cả các ngành là nền tảng vững chắc đảm bảo sự độc lập chính trị của các nước đang phát triển

Lý thuyết này khi đưa ra được các quốc gia đang phát triển đi theo con đường công nghiệp hóa hướng nội (công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu) rất

ưa chuộng Tuy nhiên, khi được áp dụng thực tế đã bộc lộ những yếu điểm như sau:

Việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối và hoàn chỉnh đã đẩy các nền kinh tế đến chỗ khép kín và tách biệt với thế giới bên ngoài: điều này đi

Trang 27

ngược lại với xu thế quốc tế hóa và toàn cần hóa kinh tế đang diễn ra trên thế giới và không tận dụng được những lợi ích tích cực từ môi trường bên ngoài đem lại

Các nền kinh tế đang phát triển không đủ nguồn lực về nhân tài, vật lực

để có thể thực hiện được những mục tiêu cơ cấu đặt ra

Những đại diện tiêu biểu của lý thuyết phát triển không cân đối (A Hirschman, F Perrons.) cho rằng không thể và không nhất thiết đảm bảo tăng trưởng bền vững bằng cách duy trì cơ cấu cân đối liên ngành đối với mọi quốc gia Họ lập luận như sau:

Việc phát triển không cân đối sẽ tạo ra kích thích đầu tư Nếu cung bằng cầu trong tất cả các ngành thì sẽ triệt tiêu động lực đầu tư nâng cao năng lực sản xuất Ðể phát triển được, cần phải tập trung đầu tư vào một số ngành nhất định, tạo ra một "cú hích" thúc đẩy và có tác dụng lôi kéo đầu tư trong các ngành khác theo kiểu lý thuyết số nhân, từ đó kéo theo sự phát triển của nền kinh tế

Trong mỗi giai đoạn phát triển, vai trò "cực tăng trưởng" của các ngành trong nền kinh tế là không giống nhau Vì vậy, cần tập trung những nguồn lực (vốn khan hiếm) cho một số lĩnh vực cụ thể trong một thời điểm nhất định

Do trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, các nước đang phát triển rất thiếu các nguồn lực sản xuất và không có khả năng phát triển cùng một lúc đồng bộ tất cả các ngành hiện đại Vì thế, phát triển không cân đối gần như là một sự lựa chọn bắt buộc

Cách đặt vấn đề phát triển một cơ cấu không cân đối và mở cửa ra bên ngoài của lý thuyết này là chấp nhận sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh

tế, mà thường thì các quốc gia chậm phát triển chịu nhiều thiệt thòi hơn cho nên lúc đầu lý thuyết này không được các nước đang phát triển đang theo mô hình công nghiệp hóa hướng nội và phát triển cân đối mặn mà cho lắm nhưng

Trang 28

càng về sau thì lý thuyết này càng được thừa nhận rộng rãi, nhất là từ sau sự thành công của các nước công nghiệp hóa mới (NICs) Từ thập niên 1980 trở lại đây, lý thuyết này đã được nhiều nước đang phát triển áp dụng với mô hình công nghiệp hóa mở cửa và hướng ngoại

1.2.4 Mô hình: kết hợp phía trước và phía sau

Theo Hirschman, phát triển công nghiệp được mở rộng thông qua sự kết hợp phía trước và phía sau

Các ngành công nghiệp có sự kết hợp phía trước là các ngành công nghiệp

mà các sản phẩm của nó sau đó trở thành đầu vào của các ngành công nghiệp khác

Các ngành công nghiệp có sự kết hợp phía sau là những ngành công nghiệp sử dụng đầu vào từ các ngành công nghiệp khác

Cả hai sự kết hợp phía trước và phía sau sẽ dẫn đến nhu cầu phát triển những ngành công nghiệp mới và các ngành này tạo ra nhu cầu mới nữa và cứ thế tiếp tục phát triển

1.2.5 Mô hình: 4 con đường phát triển công nghiệp

S.S.Park đưa ra mô hình phát triển công nghiệp theo 4 con đường:

Con đường phát triển thứ nhất: tăng trưởng công nghiệp phụ thuộc vào

số lượng lao động và quy mô vốn

Con đường phát triển thứ hai: tăng trưởng công nghiệp phụ thuộc vào năng suất lao động

Con đường phát triển thứ ba: tăng trưởng công nghiệp phụ thuộc vào cả

số lượng lao động, quy mô vốn và năng suất lao động

Con đường phát triển thứ tư: tăng trưởng công nghiệp phụ thuộc vào cả

số lượng lao động, quy mô vốn, năng suất lao động và dịch chuyển lao động Con đường phát triển thứ tư còn được gọi là con đường phát triển tổng hợp được kết hợp cả con đường phát triển thứ ba và ảnh hưởng của dịch chuyển

Trang 29

lao động

Con đường phát triển thứ tư là mô hình hiện thực và rất thực tế đối với quá trình phát triển công nghiệp từ một nền kinh tế lạc hậu lên nền công nghiệp hiện đại

Đặc điểm chung của quá trình công nghiệp hóa ở các nước thu nhập thấp

là thường đi theo con đường phát triển bằng cách tăng số lượng lao động nhanh hơn tăng năng suất lao động và con đường đó sẽ đảo ngược lại khi công nghiệp đạt trình độ phát triển cao hơn [1, tr 192- 195]

1.3 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

1.3.1 Lựa chọn cơ cấu công nghiệp hợp lý

Cơ cấu công nghiệp là số lượng các bộ phận hợp thành hệ thống công nghiệp và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận ấy Việc xác định số lượng các bộ phận hợp thành hệ thống công nghiệp tùy thuộc vào các cách phân loại công nghiệp Mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận hợp thành hệ thống công nghiệp phản ánh mối liên hệ sản xuất và tình trạng phụ thuộc lẫn nhau giữa các bộ phận trong hệ thống thống nhất Về mặt lượng nó được xác định bằng tỷ trọng giá trị sản xuất của từng bộ phận trong tổng giá trị sản xuất của toàn bộ công nghiệp Tỷ trọng này phản ánh vị trí của mỗi bộ phận trong tổng thể và mối liên hệ sản xuất giữa các bộ phận trong hệ thống công nghiệp Những ngành công nghiệp giữ vị trí trọng yếu, then chốt thường được ưu tiên đầu tư phát triển: Những ngành công nghiệp mới lúc đầu thường chiếm tỷ trọng nhỏ và tỷ trọng này sẽ tăng dần cùng với sự trưởng thành của chúng Trong kế hoạch hóa cơ cấu công nghiệp, người ta dùng hệ số vượt để đánh giá việc hoạch định cơ cấu công nghiệp có bảo đảm yêu cầu giành sự ưu tiên thỏa đáng cho các ngành có vị trí quan trọng trong hệ thống công nghiệp hay

không

Trang 30

Có các loại cơ cấu công nghiệp như: cơ cấu ngành công nghiệp, cơ cấu theo thành phần kinh tế cơ cấu công nghiệp theo lãnh thổ

Cơ cấu công nghiệp luôn là cơ cấu động được điều chỉnh thích ứng với

sự thay đổi môi trường và yêu cầu phát triển Sự thay đổi cơ cấu công nghiệp

từ trạng thái này sang trạng thái khác được gọi là chuyển dịch cơ cấu công nghiệp Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp là một quá trình dưới sự tác động của nhiều yếu tố Xu thế và tính hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu công nghiệp thường phải được xem xét trong trung hạn và dài hạn Kế hoạch hóa cơ cấu công nghiệp, đặc biệt là cơ cấu ngành công nghiệp, là vấn đề mang tính chiến lược của xây dựng và phát triển hệ thống công nghiệp Thực chất công tác này

là xác định phương hướng, quy mô, tốc độ phát triển các bộ phận hợp thành của hệ thống công nghiệp và bảo đảm mối tương quan hợp lý giữa các bộ phận ấy Cơ cấu công nghiệp được hình thành phải thể hiện khả năng khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế của đất nước hay một địa phương, ứng dụng được những thành tựu mới của khoa học công nghệ phù hợp với quá trình chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp có chứa đựng những yếu tố nhất định của nền kinh tế tri thức, bảo đảm phát huy vai trò của công nghiệp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước của địa phương Bảo đảm khả năng cạnh tranh và liên kết của công nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế [5, tr.42-44]

Cơ cấu công nghiệp hợp lý là cơ cấu phản ánh được xu thế phát triển chung Đó là cơ cấu đa dạng nhưng thống nhất và có khả năng hỗ trợ tốt cho nhau, cho phép tạo ra các giá trị gia tăng lớn nhất Trong đó, hàm lượng công nghệ và chế biến sâu trở thành động lực chính của tăng trưởng, quyết định nội dung về chất của cơ cấu

Trang 31

Tiêu chí phản ánh: Cơ cấu công nghiệp:

- Về cơ cấu ngành:

100

CNi i

GOCNi: Giá trị sản xuất của ngành i

GOCN: Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp

- Về cơ cấu thành phần kinh tế:

100

CNj j

GOCNj : Giá trị sản xuất của thành phần kinh tế j

GOCN: Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp j

1.3.2 Gia tăng số lượng và quy mô các cơ sở sản xuất

Sự phát triển công nghiệp có thể diễn ra nhờ nhiều người sản xuất hay doanh nghiệp tham gia vào thị trường, đặc biệt doanh nghiệp công nghiệp là hạt nhân, là bộ phận cấu thành quan trọng nhất của sản xuất công nghiệp Có càng nhiều doanh nghiệp lớn mạnh thì ngành công nghiệp càng phát triển Tân dụng lợi thế kinh tế theo quy mô trong phát triển một số ngành công nghiệp có thể giảm được nhiều chi phí như: chi phí nghiên cứu, thiết kế, khấu hao có thể cố định so với sản lượng; chi phí nguyên liệu sử dụng trong máy móc thiết bị tăng cùng với sản lượng nhưng với một tỷ lệ thấp hơn; quy mô lớn cho phép chuyên môn hóa với công nhân, cũng như với máy móc, thiết bị nên năng suất cao hơn vì giảm thời gian gá, lắp, đặt lại thiết bị

Tuy nhiên, phát triển các ngành công nghiệp quy mô vừa và nhỏ cũng tỏ

ra khá hiệu quả với một số ngành công nghiệp mà sản phẩm mang tính thời

Trang 32

trang như quần áo, giày dép, đồ gỗ, vật liệu xây dựng, thực phẩm Những xí nghiệp thôn dã, những ngành công nghiệp truyền thống thường sử dụng công nghệ thâm dụng lao động nên tạo nhiều việc làm, góp phần phân phối lại thu nhập, nó còn là vườn ươm những tài năng quản lý

Tiêu chí phản ánh: số lượng và mức tăng cơ sở sản xuất công nghiệp

Để phản ánh quy mô doanh nghiệp và so sánh quy mô doanh nghiệp ta

ý nghĩa rất lớn đối với các quốc gia đang phát triển có nguồn nhân lực dồi dào trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mặt khác, nguồn lao động là hoạt động sản xuất vật chất làm tăng của cải và là phương thức để tìm kiếm thu nhập của đại bộ phận dân cư nên quy mô và chất lượng nguồn lao động quyết định quy mô thu nhập, quyết định quy mô cầu (quy mô thị trường), tức quyết định quy mô đầu ra trong công nghiệp Ngày nay, sức mua của xã hội đang thực sự là một giới hạn trực tiếp của sự phát triển công nghiệp

Lao động chính là động lực của sự phát triển công nghiệp Để có thu

Trang 33

nhập, lao động trở thành nhu cầu cấp thiết và chính đáng nhất của con người; chính nhu cầu đó thúc đẩy con người tìm việc làm, thúc đẩy con người đến với công việc và thúc đẩy con người tiến hành các hoạt động kinh tế để đẩy mạnh phát triển công nghiệp

Tóm lại, lao động hay nhân tố con người giữ vị trí trung tâm của sự phát triển công nghiệp Sự nghiệp phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng gắn liền với sự phát triển con người

Tiêu chí phản ánh:

- Số lượng và mức tăng lao động trong doanh nghiệp;

- Cơ cấu lao động của doanh nghiệp

b Nguồn lực vốn:

Đầu tư là sử dụng những nguồn lực (vốn, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ) ở hiện tại để tiến hành các hoạt động kinh tế nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra Lợi ích của hoạt động đầu tư không chỉ đem lại lợi nhuận cho đầu tư mà còn đảm bảo cho nền kinh tế thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và sinh hoạt của nền kinh tế, đóng góp vào ngân sách, giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chuyên môn của người lao động, bổ sung nguồn lực có kỹ thuật cho nền kinh tế để có thể tiếp nhận công nghệ ngày càng hiện đại, góp phần nâng cao trình độ công nghệ, kỹ thuật của nền kinh

tế Trong thời đại của toàn cầu hóa thì vốn đầu tư (bao gồm cả công nghệ, kỹ thuật thiết bị, chất xám…) thường được lưu chuyển từ những vùng, những quốc gia phát triển đến những quốc gia khác nhưng có khả năng đem lại tỷ suất lợi nhuận cao Do đó, những quốc gia nào biết tranh thủ đầu tư, định hướng đúng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là chiến lược công nghiệp thì đều có thể nhanh chóng vượt lên để trở thành nước công nghiệp phát triển trong thời gian ngắn, đuổi kịp các nước phát triển

Trang 34

Ngày nay vốn đầu tư và vốn sản xuất được coi là yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất Vốn sản xuất vừa là yếu tố đầu vào, vừa là sản phẩm đầu

ra của quá trình sản xuất Vốn đầu tư không chỉ là cơ sở để tạo ra vốn sản xuất tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của nền kinh tế mà còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học - công nghệ, góp phần đáng kể vào việc đầu tư theo chiều sâu, hiện đại hóa quá trình sản xuất Việc tăng vốn đầu

tư cũng góp phần vào việc giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động khi mở ra các công trình xây dựng và mở rộng quy mô sản xuất Cuối cùng cơ cấu sử dụng vốn đầu tư là điều kiện quan trọng tác động vào việc chuyển dịch

cơ cấu kinh tế đất nước (nâng cao tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp trong cơ cấu GDP của đất nước mà công nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế)

Tiêu chí phản ánh:

- Mức tăng tổng tài sản của doanh nghiệp;

- Quy mô và mức tăng vốn của chủ sở hữu với doanh nghiệp;

- Tỷ lệ vốn vay/tổng tài sản của doanh nghiệp

c Về khoa học và công nghệ:

Phát triển khoa học và công nghệ và khả năng ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất, kinh doanh có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Khoa học và công nghệ phát triển, một mặt làm xuất hiện nhiều loại nhu cầu mới, tác động đến sự thay đổi nhu cầu của ngành này hay ngành khác, làm thay đổi tốc độ phát triển của từng ngành Mặt khác, khoa học và công nghệ còn tạo khả năng phát triển các ngành nghề mới, sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, phù hợp thị hiếu khách hàng Khoa học và công nghệ phát triển còn cho phép các ngành kinh tế phát hiện và khai thác có hiệu quả các nguồn lực từ đó làm thay đổi số lượng ngành cũng như vai trò, vị trí của từng ngành trong nền kinh tế

Trang 35

Mở rộng quy mô về thiết bị và công nghệ trong doanh nghiệp không nên hiểu chỉ là tăng đầu tư mua sắm những trang thiết bị mới, áp dụng những quy trình công nghệ tiên tiến mà điều đặc biệt quan trọng hiện nay đối với các doanh nghiệp là phải tận dụng kỹ thuật hiện có trong doanh nghiệp, phải đào tạo đội ngũ công nhân đủ trình độ để điều khiển và kiểm soát công nghệ một cách hiệu quả Đây cũng là hướng quan trọng của nhiều nước trên thế giới, kể

cả các nước phát triển mạnh về công nghiệp Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ là biện pháp rất cơ bản để tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả kinh

tế của sản xuất

d Về nguồn nguyên liệu:

Nguồn nguyên liệu là đối tượng lao động - một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất Đối với các doanh nghiệp thì chi phí nguyên vật liệu thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh Trong các nguyên vật liệu, thì nguyên vật liệu đầu vào giữ vai trò quyết định Ngành công nghiệp tồn tại và phát triển được hay không hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu có được

Nguyên liệu của ngành công nghiệp hiện nay được cung cấp từ hai nguồn chính là trong nước và nhập khẩu

Do nguồn nguyên liệu trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu về chủng loại sản phẩm nên nước ta phải nhập khẩu một khối lượng tương đối lớn nguyên liệu từ các nước trong khu vực và trên thế giới Việc nhập khẩu từ một số quốc gia có nền công nghiệp chưa phát triển đang đứng trước những nguy cơ bị các tổ chức phi chính phủ quốc tế lên án và yêu cầu hạn chế Các nước này cũng đang dần hoàn thiện phát triển bền vững để đáp ứng những yêu cầu của các tổ chức quốc tế đề ra Như vậy trong một vài năm tới việc nhập khẩu nguyên liệu từ các nước trên thế giới sẽ bị hạn chế rất nhiều

Để phát triển ổn định, nâng cao khả năng cạnh tranh, ngành công nghiệp

Trang 36

cần chủ động nguồn nguyên liệu, khai thác các thị trường cung cấp một cách hữu hiệu nhằm đạt được mục tiêu sản xuất đảm bảo các yêu cầu quản lý chất lượng với chi phí thấp nhất có thể Nguồn nguyên liệu thực sự là một yếu tố quan trọng, với đặc trưng của ngành công nghiệp, giải quyết được bài toán nguyên liệu là đã có được lợi thế nhất định trong quá trình phát triển ngành công nghiệp

1.3.4 Gia tăng sản lượng ngành công nghiệp

Sản lượng công nghiệp là kết quả của quá trình sản xuất trong các cơ sở công nghiệp Nếu tiếp cận theo hướng hàm sản xuất thì mức gia tăng sản lượng công nghiệp phụ thuộc vào số lượng các yếu tố nguồn lực như vốn, lao động và trình độ công nghệ Khi mức sản lượng công nghiệp tăng lên theo thời gian sẽ phản ánh kết quả hoạt động sản xuất của các cơ sở công nghiệp tăng lên Nếu giả định rằng chất lượng sản phẩm công nghiệp không đổi thì nền kinh tế cũng có nhiều sản phẩm công nghiệp hơn Khối lượng sản phẩm công nghiệp tăng thêm này là cơ sở để có thể tăng tích lũy cho phát triển sản xuất công nghiệp nói riêng và tăng vốn cho nền kinh tế cũng như trang bị kỹ thuật cho nền kinh tế tốt hơn Ngoài ra, khối lượng sản phẩm công nghiệp tăng thêm bảo đảm tăng mức tiêu dùng cho xã hội Nếu công nghệ sản xuất trong công nghiệp tốt hơn và chất lượng sản phẩm được nâng cao sẽ tạo ra

“cú sốc công nghệ” khiến cả tổng cung và tổng cầu tăng lên kích thích nền kinh tế phát triển

Quá trình sản xuất công nghiệp có nhiều sản phẩm khác nhau, thậm chí

có nhiều sản phẩm là kết quả của nhiều quá trình sản xuất khác nhau trong nhiều cơ sở sản xuất khác nhau trong chuỗi cung ứng sản phẩm Để phản ánh kết quả và sự gia tăng sản xuất công nghiệp người ta có thể sử dụng đơn vị hiện vật, nhưng chỉ cho từng loại sản phẩm mà thôi Nếu nhiều loại sản phẩm khác nhau thì người ta phải quy ra giá trị hay tính bằng tiền Đó chính là giá trị sản lượng công nghiệp Do tính bằng giá trị nên giá trị sản lượng công

Trang 37

nghiệp chịu ảnh hưởng của giá dùng để tính, nên để phản ánh sự phát triển công nghiệp người ta phải dùng giá cố định

Tiêu chí phản ánh:

Chỉ tiêu đo lường quy mô của công nghiệp phạm vi cấp huyện: Giá trị sản xuất công nghiệp (GOCN), số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp, quy mô

lao động trong công nghiệp…

Tốc độ tăng trưởng công nghiệp

Tốc độ tăng trưởng giữa thời điểm t và thời điểm t-1

1 1

100

t t y

Yn: giá trị sản lượng công nghiệp tại thời điểm n của kỳ phân tích

Y0: giá trị sản lượng công nghiệp tại thời điểm gốc của kỳ phân tích n: số năm trong giai đoạn chúng ta cần xác định kể từ năm gốc

1.3.5 Đổi mới công nghệ sản xuất và cải tiến quy trình sản xuất

Phát triển công nghiệp vừa phải phản ánh xu thế phát triển khoa học - công nghệ, vừa phải có khả năng ứng dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ Nói cách khác, tiến bộ khoa học - công nghệ ảnh hưởng đến việc hình thành, phát triển công nghiệp và ngược lại công nghiệp phát triển là nhân tố thúc đẩy khoa học - công nghệ phát triển Trình độ tiến bộ khoa học - công nghệ càng cao thì trình độ chuyên môn hóa càng sâu Cuối cùng, muốn đạt được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải phát triển công nghiệp, nhưng nếu không đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ thì không thể nói đến phát triển công nghiệp và thực hiện thành công chiến lược

Trang 38

công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tiến bộ khoa học - công nghệ thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội phát sinh yêu cầu phải phát triển mạnh một số ngành công nghiệp Nói cách khác, tập trung đầu tư để phát triển một số ngành công nghiệp trọng điểm là điều kiện vật chất thiết yếu, là tiền đề quan trọng để thực hiện có hiệu quả các nội dung của tiến bộ khoa học

- công nghệ Tiến bộ khoa học - công nghệ không những tạo ra những khả năng sản xuất mới, mà còn tạo ra những nhu cầu mới và chính những nhu cầu này đòi hỏi sự ra đời và phát triển mạnh một số ngành công nghiệp trọng điểm những ngành được coi là đại diện của công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, có hàm lượng chất xám cao, tạo ra giá trị gia tăng cao, tuy là những ngành còn non trẻ, nhưng sự khởi đầu của kỷ nguyên (hoặc thế hệ) công nghệ

mới, nên có triển vọng phát triển mạnh mẽ trong tương lai

1.3.6 Phát triển thị trường tiêu thụ

Tác động của thị trường đến phát triển công nghiệp thể hiện: nó chỉ ra xu thế phát triển công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu sản phẩm công nghiệp; nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của sản xuất kinh doanh Trong cơ chế thị trường, thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thị trường vừa là động lực, là điều kiện,

là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp bao gồm thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu Thị trường tiêu thụ sản phẩm là vấn đề có ý nghĩa rất quyết định đến sự phát triển các ngành kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng Do đó, để phát triển công nghiệp thì cần thiết phải phát triển thị trường tiêu thụ rộng khắp, chiếm lĩnh thị trường bằng năng lực cạnh tranh của sản phẩm và các chính sách thương mại hỗ trợ sản phẩm

1.3.7 Nâng cao trình độ tổ chức quản lý

Tổ chức quản lý sản xuất là quá trình chủ thể quản lý - các nhà quản trị

Trang 39

của doanh nghiệp hay tổ chức tạo ra một cơ cấu các bộ phận trong doanh nghiệp với những chức năng phù hợp bảo đảm cho tổ chức hoạt động theo mục tiêu nào làm tác động, cùng với quá trình đó họ sử dụng nhiều công cụ khác nhau để điều khiển quá trình hoạt động tổ chức đó

Nâng cao trình độ tổ chức quản lý là tất yếu để tồn tại và phát triển tổ chức, nếu không có quá trình hoàn thiện về cơ cấu tổ chức và cách thức quản

lý doanh nghiệp sẽ thất bại trong kinh doanh Trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt và những thay đổi liên tục của môi trường kinh doanh, sự hoàn thiện và nâng cao trình độ tổ chức quản lý cho phép doanh nghiệp thích ứng với môi trường có thể đưa ra những sản phẩm mới thích hợp hơn và hiệu quả kinh doanh cao hơn

Nâng cao trình độ tổ chức quản lý phải bắt đầu từ nâng cao trình độ của nhà quản trị các cấp thông qua đào tạo bồi dưỡng thường xuyên gắn liền với công tác tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ và đào thải

Hiện nay, các doanh nghiệp và tổ chức thường sử dụng các bộ tiêu chuẩn ISO làm tiêu chuẩn thực hiện những điều chỉnh và tổ chức hoạt động của doanh nghiệp hay tổ chức của mình Điều này cũng đưa tới những thành công nhất định Tuy nhiên hoàn thiện tổ chức quản lý có nhiều cách khác nhau và tùy theo đặc điểm của mỗi loại tổ chức mà lựa chọn mô hình và cách thức áp dụng khác nhau

1.4 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 1.4.1 Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội

a Nhân tố về điều kiện tự nhiên

Bao gồm đất đai, nguồn tài nguyên, khoáng sản, tài nguyên, động thực vật, nguồn nước, khí hậu, vị trí địa lý…

Tự nhiên vừa cung cấp các yếu tố vật chất trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế, vừa tạo môi trường cho các hoạt động đó Những yếu tố vật

Trang 40

chất mà tự nhiên cung cấp cho loài người (tài nguyên thiên nhiên) là nguồn lực kinh tế, là những yếu tố đầu vào không thể thiếu được trong các hoạt động kinh tế, vì thế nó có ảnh hưởng rất lớn đến chuyển dịch kinh tế của mỗi quốc gia Đối với những nước đang phát triển, trình độ công nghiệp hóa còn thấp thì cơ cấu kinh tế nói chung còn phụ thuộc rất lớn vào nhân tố tự nhiên Mỗi quốc gia tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên của mình mà lựa chọn phát triển các ngành có lợi thế về tài nguyên (có thể phát triển công nghiệp, khai thác tài nguyên…)

Nhận thức nhân tố này đòi hỏi Nhà nước phải tiến hành điều tra, khảo sát thăm dò các nguồn tài nguyên, đánh giá chính xác điều kiện khí hậu, thời tiết của từng vùng, địa phương…Trên cơ sở đó cần xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội, chiến lược phát triển từng ngành kinh tế; từng vùng, địa phương phù hợp với lợi thế về tài nguyên, vị trí địa lý, đồng thời tiến hành quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên gắn với quy hoạch phát triển ngành

và quy hoạch phát triển từng vùng địa phương Đó là cơ sở để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế trong từng ngành kinh tế và trong từng vùng địa phương

Những đánh giá không chính xác, thiếu cơ sở khoa học về điều kiện tự nhiên sẽ dẫn đến sai lầm trong việc lựa chọn ngành (sản phẩm) từ đó dẫn đến sai lầm trong đầu tư cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế việc lựa chọn các ngành dựa vào khai thác lợi thế về tài nguyên phải kết hợp với công nghiệp chế biến tài nguyên hiện đại mới đảm bảo khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên và phát triển bền vững

b Nhân tố về kinh tế và xã hội

Môi trường kinh tế là nhân tố bên ngoài tác động tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp Trước hết, phải kể đến

Ngày đăng: 16/11/2017, 21:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w