Chính vì vậy, việc nghiên cứu các đặc điểm ngôn ngữ trong các văn bản Kháng cáo hàng hải bằng tiếng Anh giúp cho công tác đào tạo thuyền trưởng là cấp thiết.. Mục đích và nhiệm vụ nghiên
Trang 1VIỆN HẦN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Hoàng Thị Thu Hà
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG
KHÁNG CÁO HÀNG HẢI BẰNG TIẾNG ANH
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 62.22.02.40
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Mai Xuân Huy
2 TS Phạm Đăng Bình
Phản biện 1: GS TS Nguyễn Thiện Giáp
Phản biện 2: PGS TS Phạm Hùng Việt
Phản biện 3: PGS TS Lê Hùng Tiến
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân,
Hà Nội
vào hồi…giờ…phút, ngày…tháng…năm 2017
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 "Một số phương tiện liên kết trong Kháng cáo hàng hải
tiếng Anh" Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 12(254) –
2016 pp 87-92 (2016)
2 "Đặc điểm lớp từ vựng trong Kháng cáo hàng hải tiếng Anh." Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư 1(45) –
2017 pp 9-15 (2017)
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong một phiêu trình hàng hải, một điều tối quan trọng đối với thuyền trưởng là phải đảm bảo an toàn cho tàu, hàng hoá và sinh mạng trên tàu Tuy nhiên, những sự cố, rủi ro, tai nạn có thể xảy ra ngoài tầm kiểm soát của con người Khi sự cố xảy ra, thuyền trưởng phải lập Kháng cáo hàng hải để chứng minh tai nạn là do khách quan
và thuyền viên trên tàu đã mẫn cán làm hết trách nhiệm của mình khắc phục sự cố, tai nạn
Kĩ năng viết một văn bản Kháng cáo hàng hải là một kĩ năng
vô cùng quan trọng đối với thuyền trưởng Hiện nay, vì ngành hàng hải chưa có quy định về cách viết Kháng cáo hàng hải, đồng thời, do trình độ tiếng Anh của các thuyền trưởng còn hạn chế, nên việc viết Kháng cáo hàng hải khi tai nạn xảy ra đối với thuyền trưởng người Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, việc nghiên cứu các đặc điểm ngôn ngữ trong các văn bản Kháng cáo hàng hải bằng tiếng Anh giúp cho công tác đào tạo thuyền trưởng là cấp thiết
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Từ quan điểm phân tích diễn ngôn, luận án xác định các đặc điểm ngôn ngữ trong Kháng cáo hàng hải bằng tiếng Anh
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận ánlà: (1) Tìm hiểu về văn bản
Kháng cáo hàng hải (2) Khảo sát các phương tiện ngôn ngữ trong Kháng cáo hàng hải bằng tiếng Anh: các lớp từ vựng, các cấu trúc ngữ pháp, cách tổ chức văn bản
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là một số phương tiện ngôn ngữ cơ bản
nhất trong Kháng cáo hàng hải bằng tiếng Anh đó là: các lớp từ
vựng, các cấu trúc ngữ pháp chuyên dụng và cấu trúc văn bản của
Kháng cáo hàng hải bằng tiếng Anh
Ngữ liệu phục vụ cho nghiên cứu là 17 văn bản Kháng cáo
hàng hải bằng tiếng Anh do các thuyền trưởng Việt Nam và nước
Trang 5ngoài lập từ năm 2010 đến 2015 tại Cảng vụ Hải Phòng Những Kháng cáo hàng hải này có độ dài khá tương đương nhau, bản dài nhất có 372 từ, bản ngắn nhất có 165 từ Vì lý do bảo mật nên những thông tin về tên tàu, tên thuyền trưởng v.v… đã được xóa
Tiêu chí thu thập những Kháng cáo hàng hải bằng tiếng Anh này là tính xác thực (authentic) và tính tự nhiên (genuine in nature) Những Kháng cáo hàng hải được nghiên cứu trong luận án được thu thập từ cơ quan chức năng (Cảng vụ Hải Phòng) và do chính các thuyền trưởng có các quốc tịch khác nhau tạo lập Thêm nữa, để đảm bảo hai tiêu chí này, khi phân tích 17 Kháng cáo hàng hải, chúng tôi giữ nguyên lỗi mà các thuyền trưởng đã viết
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp miêu tả giúp luận án phác họa một bức
tranh toàn cảnh về Kháng cáo hàng hải bằng tiếng Anh hiện đang được s dụng tại Việt Nam
4.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn giúp luận án diễn giải
được chi tiết các đặc trưng ngôn ngữ từ đó đưa ra được quy luật s dụng của các phương tiện ngôn ngữ của Kháng cáo hàng hải bằng tiếng Anh
4.3 Thủ pháp thống kê được s dụng xuyên suốt chương 3 và
chương 4 cho ph p luận án thống kê những đặc điểm của các yếu tố ngôn ngữ được s dụng trong Kháng cáo hàng hải ở các cấp độ như:
từ vựng, ngữ pháp, và văn bản
5 Đóng góp mới về khoa học
Luận án là một công trình nghiên cứu Kháng cáo hàng hải
bằng tiếng Anh về góc độ ngôn ngữ học Kháng cáo hàng hải được
nghiên cứu như là một thể loại văn bản pháp luật và được tập trung khảo sát một cách toàn diện trong luận án này
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
6.1 Về lí luận
Luận án cung cấp những cơ sở khoa học giúp nhận ra những đặc điểm ngôn ngữ của thể loại Kháng cáo hàng hải
Trang 66.2 Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được s dụng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng giáo trình và công tác dạy - học tiếng Anh chuyên ngành trong các trường đào tạo nghiệp vụ hàng hải
7 Cơ cấu của luận án
Luận án gồm bốn chương sau đây:
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Cơ sở lý luận
Chương 3: Đặc điểm từ vựng và ngữ pháp trong Kháng cáo hàng hải
Chương 4: Đặc điểm về liên kết, mạch lạc và cấu trúc văn bản của Kháng cáo hàng hải
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Kháng cáo hàng hải trên thế giới
Giai đoạn trước những năm 70 của thế kỷ trước đã có nhiều những nghiên cứu sâu hơn về ngôn ngữ học pháp luật Đại diện cho
giai đoạn này là David Mellinkoff [75] Cuốn sách "Ngôn ngữ pháp
luật" của ông đặt mốc quan trọng trong lịch s nghiên cứu ngôn ngữ
và pháp luật Anh Ngoài ra, các nghiên cứu về bản chất phức tạp của văn bản pháp luật có thể thấy ở các nghiên cứu của Allen [31], Hager [55], Christie [41], Mehler [74], Probert [85], O'Barr và Conley [80]
và Platt [83] Vấn đề nâng cao hiệu quả giao tiếp ngôn ngữ trong lĩnh vực pháp luật có thể được tìm thấy trong các nghiên cứu khác của Redish và Janice [87], Renton [88], Robinson [91], Sales, Elwork và Alfini [93], Wright [114,115]
Các nghiên cứu sau những năm 70 của thế kỷ trước cho đến nay đã tập trung vào việc lý giải về hình thức phức tạp của ngôn ngữ pháp luật Tiêu biểu là các công trình của Bhatia [36, 37] và Swales
& Bhatia [103] đã s dụng những thành tựu của ngôn ngữ học chức
Trang 7năng để khám phá bản chất của ngôn ngữ pháp luật Bên cạnh đó còn
có những nghiên cứu của Maley [71], Gibbons [51] đã có những đóng góp quan trọng trong việc tìm hiểu, đưa những kiến giải thuyết phục về ngôn ngữ pháp luật
Những nghiên cứu giai đoạn này được Liao Mezhen chia thành ba hướng chủ yếu [68]: hướng nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật
như một quá trình (process), hướng nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật như một công cụ (instrument), và hướng nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật như một nhân chứng chuyên gia (expert witness) Những nhà
nghiên cứu đại diện cho hướng phân tích này là O'Barr [79, 80], van Dijk [107], Levi và Walker [67], Stygall [101] Các nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật như một công cụ quan tâm đến việc ngôn ngữ được s dụng như thế nào để thực thi pháp luật và khám phá biến xã hội - quyền lực trong mối quan hệ với ngôn ngữ pháp luật Svartvik [102]
và Solan [100] là những đại diện tiêu biểu cho cách tiếp cận này Ở hướng nghiên cứu cuối cùng, nhà ngôn ngữ học hoạt động như một nhân viên điều tra Các chứng cớ được xem x t dưới góc độ ngôn ngữ học trên các bình diện ngữ âm, chính tả, từ vựng, ngữ pháp, cấu trúc mệnh đề, phân tích cấu trúc tầng lớp diễn ngôn, và phân tích tâm lý, hành vi ngôn ngữ Những xem x t trên được đề cập trong các nghiên cứu của Eagleson [48], Shuy [97], Rieber và Stewart [90] … Trên thực tế, theo tìm hiểu của chúng tôi, trên thế giới, KCHH hầu như chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, đặc biệt là dưới
góc độ ngôn ngữ
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu Kháng cáo hàng hải ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trước đây việc nghiên cứu phân tích văn bản pháp luật chủ yếu là về văn bản pháp luật bằng tiếng Việt Hầu hết các nghiên cứu về phong cách học tiếng Việt đều xếp các văn bản pháp luật vào phong cách hành chính (Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú [4], Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa [17]) Các tác giả trên cho rằng chức năng ngôn ngữ của phong cách hành chính được
Trang 8hiện thực hóa qua hai chức năng chính là giao tiếp lý trí (thông báo)
và chức năng ý chí (sai khiến)
Các nghiên cứu về văn bản pháp luật tiếng Việt còn có các tài liệu viết về soạn thảo văn bản quản lý nhà nước của các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đăng Dung và Hoàng Trọng Phiến [7], Vương Đình Quyền và Nguyễn Văn Hàm [19], Nguyễn Văn Thâm [23] Những nhà nghiên cứu này xếp văn bản pháp luật thuộc loại
văn bản quản lý nhà nước và đã chỉ ra những đặc thù của loại văn
bản này
Ngoài ra, ngôn ngữ pháp luật còn được nghiên cứu trong các luận án tiến sĩ ngữ văn Luận án tiêu biểu nhất nghiên cứu về ngôn
ngữ pháp luật là “Một số đặc điểm của ngôn ngữ luật pháp tiếng
Việt” của tác giả Lê Hùng Tiến [26] Tác giả Dương Thị Hiền [10]
trong luận án "Phân tích ngôn ngữ văn bản pháp luật qua văn bản
hiến pháp Hoa Kỳ và hiến pháp Việt nam" đã phân tích đặc điểm
chức năng ngôn ngữ của văn bản pháp luật tiếng Việt và tiếng Anh, những n t tương đồng và khác biệt chính giữa các văn bản này, điển hình là trong văn bản hiến pháp Hoa Kỳ và hiến pháp Việt nam
Ở Việt nam, KCHH hầu như chưa được quan tâm và mới chỉ được nghiên cứu từ góc độ luật học Kỹ sư Nguyễn Tường Luân [69] trong cuốn sách “Ship's Correspondence” có sưu tầm và dịch một số mẫu KCHH Trong "Sổ tay Hàng hải", tác giả Tiếu Văn Kinh [16] có sưu tầm 11 mẫu KCHH và để ở Phụ lục 2 Cả hai cuốn sách chỉ dừng lại ở việc trình bày mẫu KCHH cho sinh viên hàng hải nghiên cứu mà không có sự phân tích về mặt ngôn ngữ
1.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trên thế giới, ngôn ngữ học pháp luật đã được được nghiên cứu từ rất lâu nhưng ban đầu chủ yếu chỉ tập trung vào ngôn ngữ lập pháp và văn bản pháp luật Thập kỷ 70 của thế kỷ trước, bản chất phức tạp của ngôn ngữ pháp luật được các nhà ngôn ngữ học tập trung phân tích Những thập niên về sau, các nhà ngôn ngữ học đã
Trang 9chú trọng nghiên cứu ngôn ngữ học pháp luật ở dạng tương tác lời nói
Ở Việt nam việc nghiên cứu phân tích ngôn ngữ pháp luật với tư cách là thể loại diễn ngôn độc lập là không nhiều và chỉ tập trung vào văn bản pháp luật tiếng Việt KCHH hầu như chưa được quan tâm và chỉ được nghiên cứu từ góc độ luật học Có thể thấy, cả trên thế giới và ở Việt Nam, số công trình nghiên cứu về KCHH như
là một thể loại văn bản pháp luật là không đáng kể Luận án này là công trình tập trung khảo sát một cách toàn diện về văn bản KCHH trên phương diện ngôn ngữ để tìm ra những đặc điểm ngôn ngữ đặc thù về từ vựng, ngữ pháp, và văn bản của KCHH
Chương 2: : CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO TIẾP
2.1.1 Giao tiếp
Giao tiếp là một đặc trưng của xã hội Trong ngôn ngữ học, giao tiếp được nhìn nhận như là những cái vốn có trong thông điệp ngôn ngữ: qua bình diện nội dung và bình diện biểu hiện (hình thức) của thông điệp bằng ngôn ngữ, người ta có thể hiểu tình huống, ngữ cảnh và bản thân những người trao đổi lời với nhau tự thể hiện mình [2:19]
Ngôn ngữ có chức năng giao tiếp Trong quá trình giao tiếp, ngôn ngữ có hai chức năng chính: chức năng giao dịch và chức năng liên nhân
2.1.2 Mô hình giao tiếp
2.1.2.1 Mô hình giao tiếp coi trọng sự tạo lập văn bản
Mô hình giao tiếp coi trọng văn bản tập trung chú ý vào việc xây dựng văn bản thế nào cho có hiệu quả giao tiếp cao nhất Loại
mô hình giao tiếp này bao gồm mô hình các yếu tố và chức năng
trong giao tiếp và mô hình tự điều chỉnh [2:27]
Trang 102.1.2.2 Mô hình giao tiếp coi trọng sự trao đổi
Trong giao tiếp, hiệu quả của sự trao đổi lời được phản ánh trong những mô hình giao tiếp khác nhau: mô hình tuyến tính giản đơn, mô hình đối thoại
2.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN BẢN HÀNH CHÍNH 2.2.1 Khái niệm về văn bản hành chính
2.2.1.1 Khái niệm văn bản
Trong luận án này, chúng tôi dựa theo định nghĩa về văn bản
trong cuốn Bách khoa thư ngôn ngữ và ngôn ngữ học "1 Một quãng
viết hay một phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc, đề tài - chủ đề… của nó, hình thành nên một đơn vị, loại như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường…2 Văn học Trước hết được coi như một tài liệu viết, thường đồng nghĩa với sách […] 3 Trong Phân tích diễn ngôn, đôi khi được đánh đồng với ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn thì được dành cho cả ngôn ngữ nói, hoặc diễn ngôn được dùng bao gồm cả văn bản [2:5]
2.2.1.2 Khái niệm văn bản hành chính
Vũ Thị Sao Chi trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
“Nghiên cứu, khảo sát ngôn ngữ hành chính Việt Nam phục vụ cho việc xây dựng luật ngôn ngữ ở Việt Nam” khái quát định nghĩa văn
bản hành chính gắn với lĩnh vực hành chính theo nghĩa rộng “Văn
bản hành chính là loại văn bản được sử dụng trong hoạt động quản
lí, tổ chức và điều hành xã hội để truyền đạt thông tin quản lí như các quy định, quyết định, mệnh lệnh, ý kiến trao đổi, giao dịch, cam kết, thỏa thuận về công việc ; thực hiện sự giao tiếp giữa các cơ quan, tổ chức, công dân với đối tác có liên quan trên cơ sở pháp lí.”
[6:27] Trong luận án này, chúng tôi chấp nhận quan điểm này và coi KCHH là một thể loại của văn bản hành chính
Trang 11(văn bản cá biệt), văn bản hành chính thông thường, và văn bản quản
lí chuyên môn.[6:27]
2.2.2 Đặc điểm của văn bản hành chính
2.2.2.1 Đặc điểm về chức năng
Văn bản hành chính có những chức năng rất điển hình là chức
năng thông tin, chức năng quản lí, và chức năng pháp lí [6:29-32]
Văn bản hành chính phải đảm bảo đạt chất lượng cả về nội
dung và hình thức Về nội dung, văn bản hành chính phải có tính chính xác, tính hệ thống, khoa học, và tính trọng tâm Về hình thức,
văn bản hành chính phải được trình bày đúng thể thức quy định
2.2.2.1 Đặc điểm về phong cách
a Phong cách ngôn ngữ
Theo tiêu chí chức năng ngôn ngữ, phong cách ngôn ngữ được chia thành sáu phong cách cơ bản là (1) phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, (2) phong cách ngôn ngữ khoa học, (3) phong cách ngôn ngữ báo chí, (4) phong cách ngôn ngữ chính luận, (5) phong cách ngôn ngữ hành chính, và (6) phong cách ngôn ngữ văn chương
b Phong cách ngôn ngữ hành chính
Vũ Thị Sao Chi [6: 41] trong đề tài nghiên cứu khoa học của mình cho rằng “phong cách ngôn ngữ hành chính là phong cách ngôn ngữ gọt giũa được dùng trong phạm vi giao tiếp thuộc lĩnh vực công tác quản lý, tổ chức, điều hành, giao dịch của các cơ quan, đoàn thể, hiệp hội, tổ chức, công dân, trên cơ sở pháp lý (theo nguyên tắc pháp lý).”
Ngôn ngữ hành chính có những đặc điểm, tính chất nổi bật là
tính chính xác, tường minh; tính khuôn mẫu, tính khách quan, lí trí; tính trang trọng, lịch sự; và tính phổ thông đại chúng
2.3 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NGÔN NGỮ HỌC VĂN BẢN
2.3.1 Liên kết, mạch lạc và cấu trúc của văn bản
2.3.1.1 Liên kết
Trần Ngọc Thêm [25] quan niệm liên kết là khái niệm thuộc
về cấu trúc của văn bản, được khai thác trên cả hai phương diện hình
Trang 12thức lẫn mặt ý nghĩa Liên kết gồm liên kết hình thức và liên kết nội
dung Liên kết nội dung gồm liên kết chủ đề và liên kết lô-gích Hệ
thống liên kết của Trần Ngọc Thêm gồm mười ph p liên kết: lặp, đối,
thế đồng nghĩa, thế đại từ, liên tưởng, tuyến tính, tỉnh lược yếu, tỉnh lược mạnh, nối lỏng, và nối chặt.:
2.3.1.2 Mạch lạc
Cùng với liên kết văn bản, mạch lạc là một vấn đề thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Mạch lạc
trong nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm chính là liên kết nội dung
Liên kết nội dung trước hết nhằm tới ba mục tiêu: (1) thể hiện được chủ đề của văn bản, (2) tạo được tính chặt chẽ, lô-gích của văn bản
và (3) kết nối được các văn bản, nếu cần, trong những tình huống
giao tiếp nhất định Liên kết nội dung bao gồm liên kết chủ đề và liên
kết lô-gích
2.3.1.3 Cấu trúc văn bản
Diệp Quang Ban [2:103] cho rằng văn bản thường chia làm
hai loại: loại có khuôn hình cố định cứng nhắc và loại có khuôn hình
linh hoạt “Văn bản có khuôn hình cố định cứng nhắc, đã được định
sẵn, loại như các văn bản quy thức dùng trong công vụ hành chính…cụ thể là các công văn, đơn từ, tờ khai, công hàm, v.v…” Văn bản có khuôn hình linh hoạt được chia nhỏ thành văn bản có
khuôn hình thường dùng và tùy chọn
2.3.2 Ngôn ngữ học văn bản (Text linguistics)
Ngôn ngữ học văn bản là phân ngành nghiên cứu sự s dụng ngôn ngữ ở cấp độ trên câu Trong ngôn ngữ học, phân tích văn bản
thường được nhận diện theo 4 bình diện: bình diện lý thuyết, bình
diện chung - chuyên ngành, bình diện ứng dụng và bình diện mức độ phân tích [26:15]
Ngôn ngữ học văn bản đã trải qua trong những cấp độ trong
những năm gần đây là: phân tích ngữ vực, phân tích ngữ pháp - tu từ,
phân tích tương tác, và phân tích thể loại
Trang 132.4 KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN KHÁNG CÁO HÀNG HẢI 2.4.1 Khái niệm Kháng cáo hàng hải
Bộ luật Hàng hải năm 2005 tại Điều 56, chương III của bộ luật có quy định về Kháng cáo (kháng nghị) hàng hải như sau:
“Kháng nghị hàng hải là văn bản do thuyền trưởng lập, công
bố hoàn cảnh tàu biển gặp phải và những biện pháp thuyền trưởng đã
áp dụng để khắc phục hoàn cảnh đó, hạn chế tổn thất xảy ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ tàu và những người có liên quan.”
2.4.2 Mục đích viết Kháng cáo hàng hải
KCHH được lập ra là nhằm một mục đích giao tiếp đặc biệt: chứng minh thuyền trưởng và thuyền viên đã mẫn cán hợp lý để bảo
vệ tàu và/hoặc hàng hóa, tạo lập quyền để bảo vệ lợi ích hợp pháp cho thuyền trưởng, chủ tàu và những người liên quan khỏi trách nhiệm đối với tổn thất và thiệt hại về hàng hoá, tàu, sinh mạng khi rủi
ro, sự cố xảy ra do hiểm họa của biển cả
2.4.3 Đặc điểm ngôn ngữ cơ bản của Kháng cáo hàng hải
2.4.3.1 Đặc điểm phong cách
Vũ Thị Sao Chi [6:37-40] phân chia phong cách ngôn ngữ thành 6 loại: (1) phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, (2) phong cách ngôn ngữ khoa học, (3) phong cách ngôn ngữ báo chí, (4) phong cách ngôn ngữ chính luận, (5) phong cách ngôn ngữ hành chính (6) phong cách ngôn ngữ văn chương
Theo cách phân loại phong cách ngôn ngữ của Vũ Thị Sao Chi, KCHH thuộc phong cách ngôn ngữ hành chính
2.4.3.2 Đặc điểm thể loại
Trong luận án này, chúng tôi xếp KCHH vào tiểu thể loại
văn bản quy phạm pháp luật KCHH, một loại văn bản quy phạm
pháp luật đặc biệt, được dùng với mục đích trình bày những tổn thất, thiệt hại đối với tàu, hàng hóa trong một phiêu trình hàng hải cùng tuyên bố miễn trách cho sự mẫn cán hợp lí của thuyền trưởng và thuyền viên khi đã cố gắng, nỗ lực bảo vệ tàu và/hoặc hàng hóa, được
g i tới cơ quan chức năng làm căn cứ để cơ quan chức năng ra quyết