MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Hiện nay, các giống gà lông màu đang được nhiều quốc gia trên thế giới chú trọng phát triển. Gà lông màu có thịt trứng thơm ngon, sức đề kháng cao, ít dịch bệnh, có thể tận dụng được các loại phụ phẩm của nông nghiệp để chăn thả nên có hiệu quả kinh tế cao, giá bán sản phẩm thường gấp đôi so với gà công nghiệp. Ở Việt Nam, các giống gà lông màu địa phương như: Ri, Mía, Đông Tảo, Hồ… có chất lượng thịt, trứng thơm ngon nhưng năng suất thấp và chưa được chọn lọc chiếm tỷ lệ cao. Vì vậy, trong những năm qua nước ta đã phải chi nhiều ngoại tệ để nhập giống nhưng chỉ nhập được con thương phẩm, bố mẹ hoặc ông bà một giới tính. Kết hợp với phương thức nuôi chủ yếu trong điều kiện thông thoáng tự nhiên, thức ăn chưa được kiểm soát thường xuyên nên năng suất chỉ đạt 80-85% so với giống nguyên sản. Để phát triển gà lông màu trong những năm trước đây, nước ta đã nhập gà Tam Hoàng 882 (năm 1993), gà Tam Hoàng Jiangcun (năm 1995) là các giống gà lông màu của Trung Quốc, năng suất trứng đạt 145-155 quả/mái/năm, khối lượng cơ thể 77 ngày tuổi đạt 1,4-1,7kg/con (Đặng Thị Hạnh, 2007). Sau một thời gian nuôi thích nghi đã phát triển ở nhiều địa phương trong cả nước. Sau đó phát triển chậm lại do không đáp ứng được đòi hỏi của người chăn nuôi về năng suất. Tiếp tục đến năm 1998, nước ta đã nhập giống gà Lương Phượng. Đây là giống gà có sản lượng trứng đạt 165-170 quả/mái/năm, khối lượng cơ thể lúc 70 ngày tuổi đạt 1,7-1,9kg/con, màu sắc lông đa dạng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng (Vũ Ngọc Sơn và cs, 1999). Những năm gần đây, do nhu cầu thị trường về con giống năng suất cao, thời gian nuôi ngắn (56-63 ngày tuổi) các giống gà lông màu Sasso, ISA được nhập từ cộng hòa Pháp; gà Kabir nhập từ Israel. Tuy nhiên, các giống gà này có màu sắc lông nâu đỏ đồng nhất và khả năng thích nghi kém, chất lượng thịt chưa cao nên phát triển trong phạm vi hẹp. Như vậy, thực tiễn sản xuất luôn luôn đòi hỏi phải có những giống gà có các ưu điểm về màu sắc lông, năng suất, chất lượng sản phẩm cao phù hợp với phương thức nuôi tập trung và chăn thả. Xuất phát từ thực tiễn trên, từ năm 2006 - 2010 Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương đã chọn tạo thành công 8 dòng gà lông màu chăn thả, năng suất, chất lượng cao. Trong đó, có 3 dòng gà TP4, TP2 và TP3 với các tính trạng về sinh trưởng, sinh sản đạt tương đương với các giống gà thịt lông màu cao sản nhập nội nuôi tại Việt Nam (Phùng Đức Tiến, 2010). Dòng trống TP4 có khối lượng con trống ở 56 ngày tuổi đạt 1,9-2,0kg, dòng mái TP2 và TP3 có năng suất trứng/mái/68TT đạt lần lượt là 176-178 quả và 182-183 quả. Gà lai thương phẩm nuôi thịt giữa dòng trống và dòng mái có tốc độ sinh trưởng nhanh, màu sắc lông đa dạng, dễ nuôi, mỏ, chân, da màu vàng phù hợp thị hiếu người tiêu dùng, khối lượng cơ thể đạt 2,3-2,4 kg/con, tiêu tốn thức ăn thấp. Tuy rằng, trong quá trình chọn tạo 3 dòng gà này đã tương đối ổn định về đặc điểm ngoại hình, các tính trạng về năng suất đạt được yêu cầu đề ra. Song một số chỉ tiêu năng suất vẫn chưa thật sự ổn định, hệ số biến dị cao, hệ số di truyền về khối lượng cơ thể và năng suất trứng còn biến động. Xuất phát từ vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành “Nghiên cứu chọn lọc ổn định ba dòng gà lông màu TP4, TP2, TP3”.
Trang 1VIỆN CHĂN NUÔI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS PHÙNG ĐỨC TIẾN
PGS TS NGUYỄN HUY ĐẠT
Trang 3VIỆN CHĂN NUÔI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS PHÙNG ĐỨC TIẾN
PGS TS NGUYỄN HUY ĐẠT
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN iii
MỤC LỤC iv
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Đặc điểm di truyền của các tính trạng số lượng 4
1.2 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng của gia cầm 6
1.2.1 Khối lượng cơ thể 6
1.2.2 Tốc độ sinh trưởng 10
1.3 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm 11
1.3.1 Tuổi đẻ 11
1.3.2 Năng suất trứng 12
1.3.3 Khối lượng trứng 14
1.3.4 Khả năng ấp nở của trứng gà 17
1.4 Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm 18
1.5 Cơ sở khoa học của chọn lọc giống gia cầm 19
1.5.1 Các phương pháp chọn lọc 19
1.5.2 Nguyên lý của chọn lọc 21
1.5.3 Chọn lọc tính trạng khối lượng cơ thể và năng suất trứng 23
1.5.4 Sử dụng chỉ số chọn lọc ở gà 26
1.5.5 Cở sở của nguyên lý chọn lọc ngắn hạn trứng gia cầm 28
1.6 Cơ sở khoa học của công tác lai tạo và ưu thế lai 28
Trang 61.7 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 31
1.7.1 Một số kết quả chọn lọc và lai tạo gia cầm trên thế giới 31
1.7.2 Một số kết quả chọn lọc và lai tạo gia cầm trong nước 40
1.8 Giới thiệu về các dòng gà TP4, TP2, TP3 45
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 48
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 48
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 48
2.2 Nội dung nghiên cứu 49
2.2.1 Đặc điểm ngoại hình của 3 dòng gà TP4, TP2, TP3 và gà bố mẹ .49
2.2.2 Chọn lọc ổn định năng suất ba dòng gà TP4, TP2, TP3 49
2.2.3 Khả năng sản xuất của gà bố mẹ 49
2.2.4 Khả năng sản xuất của tổ hợp lai gà thương phẩm 2 dòng, 3 dòng 49
2.3 Phương pháp nghiên cứu 49
2.3.1 Phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng 49
2.3.2 Phương pháp chọn lọc 50
2.3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 50
2.3.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 53
2.3.5 Phương pháp tính số liệu 56
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 60
3.1 Chọn lọc ổn định năng suất 3 dòng gà TP4, TP2, TP3 60
3.1.1 Dòng gà trống TP4 60
3.1.2 Kết quả chọn lọc dòng mái TP2 73
3.1.3 Kết quả chọn lọc dòng mái TP3 85
3.2 Khả năng sản xuất của gà lai TP32 và TP23 94
Trang 73.2.1 Đặc điểm ngoại hình 94
3.2.2 Tỷ lệ nuôi sống 96
3.2.3 Khả năng sinh trưởng ở các tuần tuổi 97
3.2.4 Lượng thức ăn tiêu thụ 99
3.2.5 Tuổi thành thục sinh dục 99
3.2.6 Khả năng sinh sản 101
3.2.7 Hiệu quả sử dụng thức ăn 103
3.3 Khả năng sản xuất của gà thương phẩm TP43, TP42 104
3.3.1 Đặc điểm ngoại hình 104
3.3.2 Tỷ lệ nuôi sống 105
3.3.3 Khả năng sinh trưởng 106
3.3.4 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của gà lai TP43, TP42 109
3.3.5 Tiêu tốn thức ăn 111
3.4 Khả năng sản xuất của gà lai thương phẩm TP423, TP432 113
3.4.1 Đặc điểm ngoại hình 113
3.4.2 Tỷ lệ nuôi sống 114
3.4.3 Khả năng sinh trưởng 116
3.4.4 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của gà thịt thương phẩm 118
3.4.5 Tiêu tốn thức ăn 121
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 124
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 126
TÀI LIỆU THAM KHẢO 127 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Hệ số di truyền của tính trạng năng suất trứng 12
Bảng 1.2 Khối lượng trứng của gà Sasso qua các thời điểm khảo sát 15
Bảng 1.3 Khối lượng trứng của một số giống gà 15
Bảng 1.4 Một số công thức lai tạo đã được công bố gần đây 30
Bảng 2.1 Chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc gà sinh sản 49
Bảng 2.2 Chế độ dinh dưỡng nuôi gà sinh sản 50
Bảng 2.3 Chế độ dinh dưỡng nuôi gà thịt 50
Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi nuôi sống và lượng thức ăn tiêu thụ ở các thế hệ chọn lọc của gà TP4 63
Bảng 3.2 Kết quả chọn lọc khối lượng cơ thể gà TP4 ở 8 tuần tuổi 65
Bảng 3.3 Kết quả chọn lọc năng suất trứng gà TP4 ở 38 tuần tuổi 68
Bảng 3.4 Tuổi đẻ, khối lượng gà, khối lượng trứng của dòng gà TP4 69
Bảng 3.5 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng qua các thế hệ của dòng gà TP4 72
Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu ấp nở của gà TP4 73
Bảng 3.7 Tỷ lệ nuôi nuôi sống và lượng thức ăn tiêu thụ đối với dòng P2 75
Bảng 3.8 Kết quả chọn lọc khối lượng cơ thể gà TP2 ở 8 tuần tuổi 77
Bảng 3.9 Kết quả chọn lọc năng suất trứng ở 38 tuần tuổi của dòng TP2 .79
Bảng 3.10 Tuổi đẻ, khối lượng trứng qua các thế hệ của dòng TP2 81
Bảng 3.11 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng qua các thế hệ của dòng TP2 82
Bảng 3.12 Một số chỉ tiêu ấp nở của gà TP2 84
Bảng 3.13 Tỷ lệ nuôi nuôi sống và lượng thức ăn tiêu thụ đối với dòng TP3 87
Bảng 3.14 Kết quả chọn lọc khối lượng cơ thể lúc 8 tuần tuổi của dòng TP3 88 Bảng 3.15 Kết quả chọn lọc năng suất trứng lúc 38 tuần tuổi của dòng
Trang 9Bảng 3.16 Tuổi đẻ, khối lượng trứng ở các thế hệ của dòng TP3 90
Bảng 3.17 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng qua các thế hệ của dòng TP3 92
Bảng 3.18 Một số chỉ tiêu ấp nở của gà TP3 94
Bảng 3.19 Tỷ lệ màu lông gà mái của gà TP32 và TP23 (%) 95
Bảng 3.20 Tỷ lệ nuôi sống gà mái giai đoạn gà con, dò, hậu bị (%) 96
Bảng 3.21 Khối lượng cơ thể gà mái giai đoạn gà con, dò, hậu bị (g/con) .97
Bảng 3.22 Lượng thức ăn tiêu thụ/con/giai đoạn gà con, dò, hậu bị (g) 99
Bảng 3.23 Tuổi thành thục sinh dục 100
Bảng 3.24 Tỷ lệ đẻ của gà TP32, TP23 (%) 101
Bảng 3.25 Năng suất trứng của gà TP32, TP23 102
Bảng 3.26 Tiêu tốn thức ăn/10 trứng (kg) 103
Bảng 3.27 Tỷ lệ nuôi sống của gà TP43, TP42 (%) 105
Bảng 3.28 Khối lượng cơ thể trung bình của gà TP43, TP42 qua các tuần tuổi 108
Bảng 3.29 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của gà TP43, gà TP42 109
Bảng 3.30 Tốc độ sinh trưởng tương đối của gà TP43, gà TP42 (%) 110
Bảng 3.31 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể (kg) 112
Bảng 3.32 Tỷ lệ nuôi sống của gà TP432, TP423 (%) 114
Bảng 3.33 Khối lượng cơ thể gà lai qua các tuần tuổi 117
Bảng 3.34 Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) 119
Bảng 3.35 Sinh trưởng tương đối của gà lai 3 dòng (%) 120
Bảng 3.36 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể (kg) 112
Trang 10DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Gà TP4 một ngày tuổi và 24 tuần tuổi 61
Hình 3.2 Gà TP2 01 ngày tuổi, 8 tuần tuổi, 20 tuần tuổi 74
Hình 3.3 Gà TP3 ở các giai đoạn khác nhau 85
Hình 3.4 Gà TP23 một ngày tuổi và gà sinh sản 95
Hình 3.5 Gà TP32 một ngày tuổi và gà sinh sản 96
Hình 3.6 Gà TP43 01 ngày tuổi và 9 tuần tuổi 104
Hình 3.7 Gà TP42 01 ngày tuổi và 9 tuần tuổi 104
Hình 3.8 Gà TP423 1 ngày tuổi và 9 tuần tuổi 114
Hình 3.9 Gà TP432 01 ngày tuổi và 9 tuần tuổi 114
Trang 11DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1: Tỷ lệ nuôi sống của gà TP4 ở các thế hệ 62
Đồ thị 3.2 Kết quả chọn lọc về tính trạng khối lượng cơ thể 66
Đồ thị 3.3 Tỷ lệ đẻ của gà TP4 qua các thế hệ 71
Đồ thị 3.4 Tỷ lệ nuôi sống của gà TP2 74
Đồ thị 3.5 Năng suất trứng của đàn quần thể và đàn chọn ở 38 tuần tuổi của dòng TP2 78
Đồ thị 3.6 Tỷ lệ đẻ của gà TP2 qua các thế hệ 83
Đồ thị 3.7 Tỷ lệ nuôi sống của gà TP3 qua các thế hệ chọn lọc 86
Đồ thị 3.8 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng qua các thế hệ của dòng TP3 93
Đồ thị 3.9 Tỷ lệ nuôi sống của gà TP43, TP42 ở các tuần tuổi (%) 106
Đồ thị 3.10 Khối lượng cơ thể ở của gà TP43, TP42 ở các tuần tuổi 107
Đồ thị 3.11 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của gà TP43, TP42 110
Đồ thị 3.12 Biểu diễn tốc độ sinh trưởng tương đối của gà TP43, TP42 111
Đồ thị 3.13 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể của gà TP43, TP42 (kg) .113
Đồ thị 3.14 Tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi của gà TP432, TP423 (%) .115
Đồ thị 3.15 Khối lượng cơ thể của gà lai 3 dòng qua các tuần tuổi (g) .116
Đồ thị 3.16 Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) 119
Đồ thị 3.17 Tốc độ sinh trưởng tương đối của gà lai 3 dòng (%) 121
Đồ thị 3.18 Tiêu tốn thức ăn của gà thịt thương phẩm ba dòng (kg) 123
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, các giống gà lông màu đang được nhiều quốc gia trên thếgiới chú trọng phát triển Gà lông màu có thịt trứng thơm ngon, sức đềkháng cao, ít dịch bệnh, có thể tận dụng được các loại phụ phẩm của nôngnghiệp để chăn thả nên có hiệu quả kinh tế cao, giá bán sản phẩm thườnggấp đôi so với gà công nghiệp
Ở Việt Nam, các giống gà lông màu địa phương như: Ri, Mía, ĐôngTảo, Hồ… có chất lượng thịt, trứng thơm ngon nhưng năng suất thấp vàchưa được chọn lọc chiếm tỷ lệ cao Vì vậy, trong những năm qua nước ta
đã phải chi nhiều ngoại tệ để nhập giống nhưng chỉ nhập được con thươngphẩm, bố mẹ hoặc ông bà một giới tính Kết hợp với phương thức nuôi chủyếu trong điều kiện thông thoáng tự nhiên, thức ăn chưa được kiểm soátthường xuyên nên năng suất chỉ đạt 80-85% so với giống nguyên sản Đểphát triển gà lông màu trong những năm trước đây, nước ta đã nhập gà TamHoàng 882 (năm 1993), gà Tam Hoàng Jiangcun (năm 1995) là các giống
gà lông màu của Trung Quốc, năng suất trứng đạt 145-155 quả/mái/năm,khối lượng cơ thể 77 ngày tuổi đạt 1,4-1,7kg/con (Đặng Thị Hạnh, 2007).Sau một thời gian nuôi thích nghi đã phát triển ở nhiều địa phương trong cảnước Sau đó phát triển chậm lại do không đáp ứng được đòi hỏi của ngườichăn nuôi về năng suất Tiếp tục đến năm 1998, nước ta đã nhập giống gàLương Phượng Đây là giống gà có sản lượng trứng đạt 165-170quả/mái/năm, khối lượng cơ thể lúc 70 ngày tuổi đạt 1,7-1,9kg/con, màu sắclông đa dạng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng (Vũ Ngọc Sơn và cs,1999) Những năm gần đây, do nhu cầu thị trường về con giống năng suấtcao, thời gian nuôi ngắn (56-63 ngày tuổi) các giống gà lông màu Sasso,ISA được nhập từ cộng hòa Pháp; gà Kabir nhập từ Israel Tuy nhiên, các
Trang 13giống gà này có màu sắc lông nâu đỏ đồng nhất và khả năng thích nghikém, chất lượng thịt chưa cao nên phát triển trong phạm vi hẹp Như vậy,thực tiễn sản xuất luôn luôn đòi hỏi phải có những giống gà có các ưu điểm
về màu sắc lông, năng suất, chất lượng sản phẩm cao phù hợp với phươngthức nuôi tập trung và chăn thả
Xuất phát từ thực tiễn trên, từ năm 2006 - 2010 Trung tâm nghiêncứu gia cầm Thụy Phương đã chọn tạo thành công 8 dòng gà lông màu chănthả, năng suất, chất lượng cao Trong đó, có 3 dòng gà TP4, TP2 và TP3 vớicác tính trạng về sinh trưởng, sinh sản đạt tương đương với các giống gàthịt lông màu cao sản nhập nội nuôi tại Việt Nam (Phùng Đức Tiến, 2010).Dòng trống TP4 có khối lượng con trống ở 56 ngày tuổi đạt 1,9-2,0kg, dòngmái TP2 và TP3 có năng suất trứng/mái/68TT đạt lần lượt là 176-178 quả
và 182-183 quả Gà lai thương phẩm nuôi thịt giữa dòng trống và dòng máicó tốc độ sinh trưởng nhanh, màu sắc lông đa dạng, dễ nuôi, mỏ, chân, damàu vàng phù hợp thị hiếu người tiêu dùng, khối lượng cơ thể đạt 2,3-2,4kg/con, tiêu tốn thức ăn thấp
Tuy rằng, trong quá trình chọn tạo 3 dòng gà này đã tương đối ổnđịnh về đặc điểm ngoại hình, các tính trạng về năng suất đạt được yêu cầu
đề ra Song một số chỉ tiêu năng suất vẫn chưa thật sự ổn định, hệ số biến
dị cao, hệ số di truyền về khối lượng cơ thể và năng suất trứng còn biến
động Xuất phát từ vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành “Nghiên cứu chọn
lọc ổn định ba dòng gà lông màu TP4, TP2, TP3”.
2 Mục tiêu của đề tài
- Chọn lọc ổn định ngoại hình, năng suất 3 dòng gà lông màu TP4,TP2, TP3 ở thế hệ 4, 5, 6 Trong đó:
+ Dòng trống TP4: Lông màu nâu cánh gián, khối lượng cơ thể 56ngày tuổi đạt: 2,0-2,1 kg/con (con trống); 1,5-1,6 kg/con (con mái)
Trang 14+ Dòng mái TP2: Lông màu vàng xám tro, cườm cổ, năng suất trứngđạt 176-178 quả/mái/68TT.
+ Dòng mái TP3: Lông màu nâu xám tro, cườm cổ, năng suất trứngđạt 182-183 quả/mái/68TT
- Từ 3 dòng gà trên sẽ tạo con thương phẩm có màu sắc lông vàngxám tro, khối lượng cơ thể lúc 63 ngày tuổi đạt 2,4-2,5kg/con; tiêu tốn thứcăn/kg tăng khối lượng 2,4-2,5kg
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Chọn lọc ổn định kiểu hình, năng suất 3 dòng gà TP4, TP2, TP3;Đánh giá khả năng sản xuất của gà lai TP23, TP32, TP43, TP42, TP423,TP432
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu khoa học có giá trị giúp chocông tác nghiên cứu và giảng dạy sau này
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Từ những kết quả nghiên cứu của đề tài đã ổn định được ngoại hình,năng suất của 3 dòng gà TP4, TP2, TP3 để tạo ra con lai thương phẩm cónăng suất cao phục vụ sản xuất và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngườichăn nuôi
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm di truyền của các tính trạng số lượng
Khi nghiên cứu các tính trạng về năng suất của gia cầm, được nuôitrong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu đặc điểm di truyền của cáctính trạng số lượng và ảnh hưởng của môi trường lên các tính trạng đó Hầuhết các tính trạng về năng suất của gia cầm như: khối lượng cơ thể, khảnăng sản xuất thịt, khả năng sản xuất trứng,… đều là các tính trạng số lượng(Đặng Vũ Bình, 2002)
Tính trạng số lượng có thể xác định bằng các dụng cụ đo lường, lànhững chỉ tiêu kinh tế quan trọng nên được sử dụng để đánh giá phẩm chấtgiống Những tính trạng số lượng do nhiều gen tương tác quy định nên có
hệ số di truyền thấp, chịu ảnh hưởng nhiều bởi tác động ngoại cảnh, vì vậychúng có khoảng dao động lớn Có nhiều gen cùng quy định một tính trạng
số lượng, ví dụ như năng suất trứng Trong chăn nuôi gia cầm, các tínhtrạng số lượng rất được quan tâm, chú ý khi chọn lọc (Nguyễn Thị Mai và
cs, 2009)
Nguyễn Văn Thiện (1995) cho biết các tính trạng số lượng do giá trịkiểu gen và sai lệch môi trường quy định Giá trị kiểu gen do các gen cóhiệu ứng riêng biệt nhỏ, nhưng khi tập hợp nhiều gen thì có ảnh hưởng rõrệt đến tính trạng, chúng gây ra các hiệu ứng cộng gộp, trội và át gen Tínhtrạng số lượng chịu tác động lớn của các tác động ngoại cảnh
Theo Conner và Hartl (2004) để biểu thị các đặc tính của các tínhtrạng số lượng người ta sử dụng khái niệm giá trị, đó là các số đo dùng đểđánh giá các tính trạng số lượng Các giá trị thu được khi đánh giá một tínhtrạng ở con vật gọi là giá trị kiểu hình của cá thể đó
Giá trị kiểu hình của một cá thể được xác định bởi kiểu gen của cáthể đó và môi trường (các hiệu ứng phi di truyền tác động lên kiểu hình):
Trang 16P = G + ETrong đó: P (Phenotype value): Giá trị kiểu hình
G (Genotypic value): Giá trị kiểu gen
E (Environmental deviation): Sai lệch ngoại cảnhTheo Nguyễn Văn Đức và cs (2006) cho biết: các gen cùng alen cótác động trội-D (Dominence); các gen không cùng alen có tác động át chế-I(Epistatique interaction) và sự đóng góp của tất cả các gen gọi là hiệu ứngcộng tính-A (Additive effect) Tác động của D và I gọi là hiệu ứng khôngcộng tính (non-additive effect), hiệu ứng cộng tính A được gọi là giá trịgiống thông thường (General breeding value) có thể xác định được qua giátrị bản thân hoặc họ hàng, nó có tác dụng đối với chọn lọc nâng cao tínhtrạng số lượng ở gia súc thuần chủng, D và I là giá trị giống đặc biệt(Special breeding value) không thể xác định được, chỉ có thể xác định quathực tế, nó có ý nghĩa trong lai giữa các dòng, giống Như vậy kiểu ditruyền G được xác định:
G = A + D + INgười ta cũng phân tích ảnh hưởng của môi trường E thành 2 phần:
E = Ec + EsEc: Môi trường chung (Common environment) tác động tới tất cả các
cá thể trong quần thể
Es: là môi trường đặc biệt (Special environment) tác động tới một số
cá thể trong quần thể
Nếu bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì kiểu hình
P sẽ được thể hiện như sau:
P = A + D + I + Ec + EsNhư vậy, năng suất giống vật nuôi phụ thuộc vào các yếu tố di truyền
và ngoại cảnh Vật nuôi nhận được khả năng di truyền từ bố mẹ, nhưng sựthể hiện khả năng đó ở kiểu hình lại phụ thuộc vào ngoại cảnh môi trường
Trang 17sống (như chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý…) Đây là cơ sở để tạo lậpmột điều kiện ngoại cảnh thích hợp nhằm củng cố phát huy tối đa khả năng
di truyền của các giống vật nuôi, đặc biệt là gia cầm Do đó để đạt đượcnăng suất, chất lượng cao trong chăn nuôi (giá trị kiểu hình như mongmuốn) cần phải có giống tốt và tạo ra môi trường thích hợp để phát huy hếttiềm năng của giống
1.2 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng của gia cầm
Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình sinh tổng hợpprotein nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giáquá trình sinh trưởng Để đánh giá đặc điểm về khả năng sinh trưởng người
ta hay dùng các chỉ tiêu khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối vàtốc độ sinh trưởng tương đối, tốc độ mọc lông
1.2.1 Khối lượng cơ thể
Khối lượng cơ thể là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá quá trình sinhtrưởng của vật nuôi Theo Ogbu (2012) nghiên cứu trên gà bản địaNigeria, cho biết hệ số di truyền về khối lượng cơ thể sẽ tăng cao đến 20tuần tuổi (dao động từ 0,24 - 0,59) và thấp ở 39 tuần tuổi (dao động từ0,13 - 0,25) Theo Marks (1983), chọn lọc nâng cao khối lượng cơ thể ở
gà thịt sẽ có hiệu quả nhất ở 4 - 8 tuần tuổi và từ 4 - 20 tuần tuổi ở gàtrứng (Oluyemi, 1979) bởi vì thời kỳ này hệ số di truyền của các tínhtrạng này cao
Bằng phương pháp giới hạn tương đồng tối đa (REML - RestrictedMaximum Likelihood), Kuhlers và McDaniel (1996) đã cho biết hệ số ditruyền của tính trạng khối lượng cơ thể 7 tuần tuổi trên giống gà thịt là 0,5
Hệ số di truyền tính trạng khối lượng cơ thể 8 tuần tuổi của giống gàCreode (Mexico) đã được Prado-Gonzlez và cs (2002) công bố là 0,21 khi
sử dụng phương pháp REML Theo Chambers (1990) hệ số di truyền vềkhối lượng cơ thể ở 42 ngày tuổi của gà thịt vào loại cao: h2
S = 0,4; h2
D =
Trang 180,6; h2
S+D = 0,5 Theo Niknafs và cs (2012) xác định hệ số di truyền về khốilượng cơ thể của giống gà bản địa ở Mazandaran (Iran) ở các tuần tuổi: 1tuần tuổi, 8 tuần tuổi và 12 tuần tuổi và lúc thành thục sinh dục Kết quả, hệ
số di truyền dao động từ 0,24 - 0,47 Oni và cs (1991) đã xác định hệ số ditruyền về khối lượng cơ thể của gà Rhode Island ở 16 tuần tuổi và 20 tuầntuổi tương ứng là 0,41 và 0,38 Byung Don Sang và cs (2006) đã xác định
hệ số di truyền về khối lượng cơ thể ở 270 ngày tuổi trên 5 giống gà bản địacủa Hàn Quốc dao động 0,3 - 0,67 Bahmanimehr (2012) cho biết hệ số ditruyền của gà ở 1 ngày tuổi, 8 tuần tuổi và 12 tuần tuổi tương ứng là: 0,56;0,44; 0,51
Như vậy, trên cùng một tính trạng, các ước tính về hệ số di truyền có
sự khác nhau không chỉ do các phương pháp khác nhau, mà còn phụ thuộcvào quần thể đó là giống thuần hay giống lai
Ở Việt Nam, Trần Long và cs (1994) đã công bố kết quả nghiên cứu
về hệ số di truyền một vài tính trạng sản xuất của các dòng gà thịt Hybro HV85 bằng phương pháp phân tích ANOVA, cho thấy hệ số di truyền khốilượng 42 ngày tuổi như sau: dòng V1 gà trống h2
-D = 0,312, gà mái h2
D =0,394; dòng V3 gà trống h2
S = 0,154, h2
D = 0,396, h2
S+D = 0,275; dòng V3 gàmái h2
LV qua 4 thế hệ ở 8 tuần tuổi: dòng trống LV4, con trống có khối lượng là1795g/con, con mái là 1196,33g/con; ở dòng mái LV5 khối lượng của gà
Trang 19trống là 1648g/con và khối lượng của gà mái là 1165g/con (Phùng ĐứcTiến và cs, 2010).
Giới tính và tuổi cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng cơ thể Gàtrống có khối lượng cơ thể lớn hơn so với gà mái 24-32% Những sai khácnày cũng được biểu hiện về cường độ sinh trưởng, được qui định không phải
do hormone sinh học mà do các gen liên kết với giới tính Sự sai khác về mặtsinh trưởng còn thể hiện rõ hơn đối với các dòng phát triển nhanh so với cácdòng phát triển chậm (Chambers.J.R, 1988)
Theo North (1990): lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổicàng tăng sự khác nhau càng lớn; ở 2 tuần tuổi là 5%, 3 tuần tuổi >11%, 5tuần tuổi >17%, 6 tuần tuổi > 20%, 7 tuần tuổi > 23%, 8 tuần tuổi > 27%
Bùi Hữu Đoàn và Nguyễn Văn Lưu (2006) gà Hồ có khối lượng cơ thểlúc 12 tuần tuổi ở đạt 1297,21g/con (con trống) và 1124,51g/con (con mái).Kết quả nghiên cứu của Đào Văn Khanh (2002) về khả năng sinh trưởng đến
12 tuần tuổi của gà Lương Phượng và gà Tam Hoàng ở vụ xuân cho thấy: gàLương Phượng, con trống có khối lượng 2662,75g/con, con mái2036,37g/con; gà Tam Hoàng: con trống 2339,31g/con, con mái1766,26g/con
Ngoài ra, chế độ dinh dưỡng, các điều kiện môi trường như nhiệt
độ, ẩm độ, chế độ chiếu sáng, phương thức nuôi, mật độ nuôi cũng ảnhhưởng đến quá trình sinh trưởng từ đó ảnh hưởng đến khối lượng cơ thểcủa vật nuôi
Theo Đào Văn Khanh (2002) đã nghiên cứu khả năng sinh trưởng của
gà Kabir nuôi bán chăn thả ở 4 mùa vụ khác nhau tại Thái Nguyên Kết quảcho thấy: Ở 9 tuần tuổi, gà Kabir nuôi ở vụ hè, vụ thu, vụ đông và vụ xuân,
gà trống và gà mái lần lượt có khối lượng: 1895,09g/con, 1534,64g/con;1943,55g/con, 1533,09 g/con; 1946,50g/con (trống), 1643,83g/con và1953,60g/con (trống), 1631,66g/con
Trang 20Theo Niknafs và cs (2012) giữa khối lượng cơ thể ở 8 và 12 tuần tuổitương quan di truyền nhưng rất thấp với sản lượng trứng Còn theo Hagger(1994) tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể và sản lượng trứng làtương quan nghịch.
Trong di truyền có hiện tượng liên kết gen, sự tương quan giữa haitính trạng do liên kết gen là tương quan di truyền, trong đó có tương quanthuận và tương quan nghịch, đây là cơ sở để áp dụng các mối tương quannày vào công tác chọn lọc
Theo Trần Long và cs (1994) đã nghiên cứu trên các dòng gà Hybro HV85 và cho biết hệ số tương quan di truyền, tương quan ngoại cảnh vàtương quan kiểu hình giữa tính trạng khối lượng cơ thể 42 ngày tuổi và sảnlượng trứng tương ứng là -0,152, -0,189 và -0,184; của cặp tính trạng khốilượng cơ thể 42 ngày tuổi và khối lượng trứng tương ứng là 0,330, - 0,021
-và -0,184
Theo Niknafs và cs (2012) khối lượng cơ thể ở các độ tuổi khác nhaucó tương quan thuận với tính trạng khối lượng trứng ở 1, 12, 28, 30, 32 tuầntuổi và dao động từ 0,30 đến 0,59
Theo Bahmanimehr (2012) cho biết sự tương quan di truyền giữakhối lượng cơ thể và khối lượng trứng là tương quan dương, trong đó tươngquan di truyền giữa khối lượng cơ thể 1 ngày tuổi với khối lượng trứng ở 30tuần tuổi là 0,64 (rG=0,64) Từ đó ông đưa ra kết luận: việc chọn lọc cáctính trạng về khối lượng cơ thể trước tuổi trưởng thành sẽ làm tăng các tínhtrạng khối lượng trứng và nó sẽ hữu ích trong các kế hoạch nhân giống
Như vậy, có thể sử dụng khối lượng cơ thể ở giai đoạn 6 - 8 tuần tuổi
để tiến hành chọn lọc, đồng thời khối lượng cơ thể có tương quan nghịchvới tiêu tốn thức ăn, nên trong chọn giống thường sử dụng chọn lọc tăngkhối lượng cơ thể để làm giảm chỉ tiêu tiêu tốn thức ăn, theo Foomani và cs(2014) tương quan di truyền giữa tiêu tốn thức ăn và khối lượng cơ thể ở 28
ngày tuổi là tương quan nghịch với giá trị r G = -0,49
Trang 211.2.2 Tốc độ sinh trưởng
Sinh trưởng theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992) làcường độ tăng các chiều của cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định.Trong chăn nuôi gia cầm để đánh giá sinh trưởng người ta sử dụng 2 chỉ sốđó là: Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối
- Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước của
cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát, sinh trưởng tuyệt đốithường tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần Đồ thị sinh trưởng tuyệt đốicó dạng parabol Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tếcàng lớn
- Sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng,kích thước trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát Đồ thị sinh trưởngtương đối có dạng hypebol Gà còn non có tốc độ sinh trưởng cao, sau đógiảm dần theo tuổi
Theo Giang Hồng Tuyến (2013) gà Chọi nuôi theo phương thức thảvườn tại Hải Phòng có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối ở 2 tuần tuổi đạt 15,92g/con/ngày, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối cao nhất ở 11 tuần tuổi đạt34,46g/con/ngày, đến 14 tuần tuổi chỉ còn 12,36g/con/ngày
Theo Bùi Hữu Đoàn và Nguyễn Văn Lưu (2006), tốc độ sinh trưởngtuyệt đối của gà Hồ tăng dần từ 1 - 11 tuần tuổi sau đó giảm dần; đạt caonhất ở tuần 11: 23,1g/con/ngày (gà trống), gà mái: 22,18g/con/ngày) vàthấp nhất ở 1 tuần tuổi: 3,08 g/con/ngày (gà trống: 3,27 g/con/ngày; gà mái:2,89 g/con/ngày)
Nguyễn Văn Dũng (2008) tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của gà Ross
308 thấp nhất ở 1 tuần tuổi đạt 11,27g/con/ngày, cao nhất ở 7 tuần tuổi đạt45,89g/con/ngày; tốc độ sinh trưởng tương đối thì giảm dần qua các tuầntuổi (1-8 tuần tuổi): cao nhất ở 1 tuần tuổi (99,44%), thấp nhất ở 9 tuần tuổi(15,01%)
Trang 221.3 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm
Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện thông qua các tínhtrạng số lượng như: Tuổi đẻ, năng suất trứng, tỷ lệ đẻ, tỷ lệ trứng có phôi vàtiêu tốn thức ăn/10 quả trứng
1.3.1 Tuổi đẻ
Ở gia cầm, tuổi thành thục về tính được tính từ khi gia cầm mái đẻquả trứng đầu tiên đối với từng cá thể hoặc trên đàn quần thể là lúc tỷ lệ đẻđạt 5% Tuy nhiên, tính toán tuổi đẻ của gia cầm dựa trên số liệu của từng
cá thể trong đàn là chính xác nhất Phương pháp nghiên cứu này phản ánhđược độ lớn cũng như mức độ biến dị của tính trạng
Tuổi thành thục về tính chịu ảnh hướng của giống và môi trường Cácgiống gia cầm khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Cógiống gia cầm thành thục về tính rất muộn: đến tận 200 ngày hoặc có khilâu hơn nữa, do vậy chu kỳ đẻ trứng cũng ngắn hơn
Tuổi đẻ là một tính trạng có hệ số di truyền thấp Theo Byung DonSang và cs (2006) đã xác định hệ số di truyền trên 5 giống gà địa phươngcủa Hàn Quốc: Gà nâu đỏ, gà nâu vàng, gà xám nâu, gà đen và gà trắng.Kết quả hệ số di truyền về tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của 5 giống gà gà nâu
đỏ, gà nâu vàng, gà xám nâu, gà đen và gà trắng lần lượt là: 0,24; 0,27;0,12, 0,32 và 0,18
Một số kết quả nghiên cứu về tuổi đẻ quả trứng đầu tiên: TheoMunisi và cs (2015) gà đen Australorp có tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là 187ngày; gà White Leghorn là 175,2 ngày, gà Baladi Ả Rập là 167,6 ngày(Theo Khalil và cs, 2004); gà Ri là 137 ngày (Hồ Xuân Tùng, 2009); gàH’mông là 138-141 ngày (Phạm Công Thiếu và cs, 2011) Trong khi đótuổi đẻ quả trứng đầu tiên của gà địa phương Nigeria qua 3 thế hệ chọn lọcsản lượng trứng tương ứng là 159,47 ngày, 168,47 ngày, 164,78 ngày(Vivian Oleforuh-Okoleh, 2011)
Trang 23Trong chăn nuôi, người ta rất chú trọng đến chương trình chiếu sáng.Các nhà chăn nuôi thường áp dụng chương trình chiếu sáng giảm dần tronggiai đoạn nuôi hậu bị Trước thời gian đẻ vài ngày, người ta thường tăngthời gian chiếu sáng để kích thích phát dục và sau đó chiếu sáng theo quytrình chăn nuôi gia cầm đẻ để ánh sáng tăng dần tới 15-16 giờ chiếusáng/ngày.
1.3.2 Năng suất trứng
Năng suất trứng là số lượng trứng đẻ ra của gia cầm trong mộtkhoảng thời gian nhất định, đây là một trong những chỉ tiêu sản xuất quantrọng nhất của gia cầm và là một tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng lớncủa các điều kiện ngoại cảnh, hệ số di truyền của tính trạng này thấp
Bảng 1.1 Hệ số di truyền của tính trạng năng suất trứng
Giống gà h 2 Tác giả và năm công bố
1.3.2.1 Khối lượng cơ thể
Khối lượng cơ thể là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đếnkích cỡ trứng và kích cỡ cơ thể (Robinson và Sheridan, 1982) Sự thay đổi
Trang 24về khối lượng cơ thể trong một quần thể có thể do biến dị di truyền hoặc docác yếu tố môi trường tác động lên cơ thể (Ayorinde và Oke, 1995) DuPlessi và Erasmus (1972) đã chỉ ra rằng gà mái lớn hơn trong một dòng đẻtrứng to hơn những con có khối lượng nhỏ hơn, nhưng năng suất trứng lạithấp hơn Điều đó có nghĩa là khối lượng gà tương quan thuận với khốilượng trứng nhưng lại tương quan nghịch với năng suất trứng.
Một số giống gà nội, khối lượng gà mái tương quan nghịch với năngsuất trứng Theo Nguyễn Chí Thành và cs (2007) cho biết khối lượng cơ thể
gà mái ở 20 tuần tuổi và năng suất trứng (quả/mái/năm) của gà Hồ, gà ĐôngTảo, gà Mía lần lượt là: 1886,4g/con và 51,27 quả, 1860,37g/con và 67,09quả, 1647,33g/con và 96,2 quả
Các dòng trống, có khối lượng lớn hơn dòng mái nên năng suất trứngcũng thấp hơn Theo Nguyễn Thị Hải và cs (2009), gà Sasso bố mẹ đến 20tuần tuổi, khối lượng cơ thể con trống là 2780,75 g; con mái là 2254,18 g;năng suất trứng đến 68 tuần tuổi đạt 177,32 quả/mái (dòng ông), 193,37quả/mái (dòng bà)
Ngoài ra, Telloni và cs (1973) lại chỉ ra rằng gà mái mang gen lùn(dw) lại đẻ trứng ít hơn gà mái mang gen bình thường (dwB) mặc dù khốilượng là như nhau
Như vậy, để nâng cao năng suất trứng của các giống gà, cần thiếtlập bản chất của mối quan hệ giữa khối lượng cơ thể và các thông sốnăng suất trứng
1.3.2.2 Tuổi đẻ
Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của gà có ảnh hưởng đến năng suất trứngtrong vòng đời của nó Việc chọn gà đẻ thường dựa trên từng giai đoạn; cảithiện năng suất phần lớn xảy ra giai đoạn đầu tiên của chu kỳ đẻ Khalil và
cs (2004) phát hiện ra rằng việc chọn gà mái có tuổi đẻ ở quả trứng đầu tiênsớm sẽ cải thiện được năng suất trứng
Trang 25Tuổi đẻ ảnh hưởng đến năng suất trứng, nhất là trong chu kỳ đẻđầu tiên và trong chu kỳ đẻ sau của mỗi chu kỳ đẻ Năng suất trứng tăngdần qua các thời kỳ, rồi lên đến đẻ đỉnh cao và giảm chậm sau đó đến kếtthúc của chu kỳ đẻ (Gowe và Fairfull, 1982) Trong chu kỳ kế tiếp, tỷ lệđẻ đỉnh cao của một đàn thường thấp hơn và năng suất trứng cũng giảm(Fairfull, 1982)
Các nghiên cứu bởi Gavora và cs (1982), McMillian và cs (1986),Yang và cs (1989) đã cho thấy sự suy giảm năng suất trứng hàng tuần quacác chu trình sinh sản Như vậy, năng suất trứng giảm khi gia cầm già đitrong chu kỳ sống
Ngoài ra, năng suất trứng còn phụ thuộc vào chính bản thân mỗi cáthể bao gồm: cường độ đẻ trứng, thời gian kéo dài chu kỳ đẻ, tính nghỉ đẻmùa đông, tính ấp bóng … Bên cạnh đó, năng suất trứng trong ba tháng đẻđầu có tương quan thuận chặt chẽ với năng suất trứng của cả chu kỳ(Pingel, 1990), đây là 2 yếu tố quan trọng giúp cho quá trình chọn lọc đạthiệu quả cao, tiến bộ di truyền nhanh về năng suất trứng
Theo Veronica và cs (2005) giữa năng suất trứng hàng tháng và tổngnăng suất trứng có tương quan thuận, dao động từ rG = 0,21 - 0,95 Vì vậy,nhóm tác giả Phùng Đức Tiến và cs (2010) đã tiến hành chọn lọc năng suấttrứng qua 3 tháng đẻ đầu của các dòng gà lông màu TP3, TP1, TP2 Kếtquả, đến thế hệ 3 năng suất trứng của dòng TP3 đạt 55,5 quả/con/mái (thế
hệ xuất phát 53,13 quả/con/mái), dòng TP1 đạt 56,24 quả/con/mái (thế hệxuất phát 52,06 quả/con/mái), dòng TP2 đạt 51,94 quả/con/mái (thế hệ xuấtphát 50,54 quả/con/mái) Điều này, giúp chúng ta đạt tiến bộ di truyềnnhanh hơn
1.3.3 Khối lượng trứng
Khối lượng trứng của gia cầm thuộc nhóm tính trạng số lượng chịuảnh hưởng của nhiều gen, đặc biệt là gen liên kết với giới tính (theo
Trang 26Wegner, 1980) Khối lượng trứng của gia cầm tăng nhanh qua các giai đoạnđẻ đầu sau đó chậm lại và ổn định khi tuổi gia cầm càng cao.
Bảng 1.2 Khối lượng trứng của gà Sasso qua các thời điểm khảo sát
Khối lượng trứng phụ thuộc vào giống và tuổi thành thục về tính củagia cầm Gia cầm đẻ càng sớm thì trứng càng nhỏ, tuổi gia cầm càng cao thìkhối lượng trứng càng lớn Các giống gà hướng thịt có khối lượng trứng lớnhơn các giống gà kiêm dụng và các giống gà hướng trứng
Bảng 1.3 Khối lượng trứng của một số giống gà
Giống gà KL trứng (g/quả) Tác giả, năm công bố
Hệ số di truyền về khối lượng trứng khá cao h2 = 0,4-0,6 nên việcchọn lọc định hướng để nâng cao khối lượng trứng sẽ dễ có hiệu quả hơn(Pingel, 1989 và Komlósi và cs, 2013) Hệ số di truyền về khối lượng trứngluôn cao hơn hệ số di truyền về sản lượng trứng
Theo Francesch và cs (1997) hệ số di truyền về khối lượng trứng ở 39
Trang 27tuần tuổi của 3 giống gà Penedesenca Negra (PN), Prat Lleonada (PL), andEmpordanesa Roja (ER) lần lượt là: 0,59 (gà PN); 0,48 (gà PL); 0,50 (gàER) Trong khi đó, hệ số di truyền về khối lượng trứng của gà Leghornstrắng là 0,36 (Rath và cs, 2015) Cũng nghiên cứu trên gà Leghorns trắng,Veronica và cs (2005) cho biết hệ số di truyền của 2 dòng A và dòng D là0,39 đến 0,54
Tuy nhiên, ở các thời kỳ khác nhau thì hệ số di truyền cũng khácnhau: Nghiên cứu trên 5 giống gà bản địa Hàn Quốc, nhóm tác giả ByungDon Sang và cs (2006) đã cho thấy hệ số di truyền về khối lượng trứng ởquả trứng đẻ đầu tiên và khối lượng lượng trứng ở 270 ngày tuổi là kháthấp, dao động tương ứng trong khoảng 0,06 - 0,13 và 0,22 - 0,43
Khối lượng trứng còn phụ thuộc vào tuổi của gà, chế độ dinh dưỡng
và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Theo Phùng Đức Tiến và cs (2010),
khối lượng trứng của gà TP2 trong thế hệ 3 của giai đoạn chọn tạo ở tỷ lệ đẻ5% là 48,55g/quả, ở tỷ lệ đẻ 50% là 53,64g/quả Tương tự, nghiên cứu trên
gà Black Australorp (gà quạ - một giống gà chuyên trứng) cho thấy khốilượng trứng của những quả trứng đẻ đầu tiên là 43,4 g/quả, trong khi đó đến
48 tuần tuổi khối lượng trứng trung bình của giống gà này là 50,9g/quả(Munisi và cs, 2015)
Khối lượng trứng cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ ấp nở Theo Witt và cs(2004) nghiên cứu ảnh hưởng của khối lượng trứng đến tỷ lệ ấp nở của gàHampshire và gà Rhode Island Red cho thấy trứng có khối lượng lớn (gàHampshire: 58,3g và 48,7g; gà Rhode Island Red: 57,8g và 47,9g) đều cho
tỷ lệ nở cao hơn so với trứng có khối lượng trung bình (tương ứng tỷ lệ nởcủa trứng lớn và trứng trung bình của 2 giống gà Hampshire: 81,5% và76,15; gà Rhode Island Red: 92,6% và 81,55%)
Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả: Pingel (1986), Lê HồngMận và cs (1996), Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hoài Tao (1985) thì khốilượng trứng có tương quan âm (-) với sản lượng trứng và hệ số tương quan r
Trang 28nằm trong khoảng từ -0,33 đến -0,36 Tương tự, Poggenpoel và cs (1996)nghiên cứu trên dòng gà Leghorn cũng cho thấy hệ số tương quan giữa sảnlượng trứng tới 270 ngày tuổi với khối lượng trung bình của 10 quả trứngđầu tiên là rG = -0.37 ± 0,06.
Trong khi đó giữa khối lượng trứng và tuổi đẻ quả trứng đầu tiên vàkhối lượng cơ thể có tương quan dương thuận và hệ số tương quan rG là0,35 và 0,31 tương ứng (Bùi Quang Tiến, 1985)
1.3.4 Khả năng ấp nở của trứng gà
Khả năng ấp nở của trứng gà được đánh giá thông qua các chỉ tiêu: tỷ
lệ trứng có phôi, tỷ lệ nở/ trứng có phôi, tỷ lệ nở/tổng trứng vào ấp và tỷ lệ
gà con loại 1
1.3.4.1 Tỷ lệ trứng có phôi
Tỷ lệ trứng có phôi có ảnh hưởng trực tiếp tới số con nở ra trong quátrình sinh sản của một gà mái, chỉ tiêu này đánh giá khả năng kết hợp giữatinh trùng của gà trống và bao noãn của gà mái Đây là chỉ tiêu có hệ số ditruyền thấp Theo Boutrous và cs (2016) hệ số di truyền của tỷ lệ trứng cóphôi ở gà Gimmizah là h2 = 0,11
Tỷ lệ trứng có phôi phụ thuộc nhiều vào các yếu tố ngoại cảnh tácđộng, tỷ lệ trứng có phôi phụ thuộc vào tỷ lệ trống mái trong đàn, khả năngcho phôi của từng cá thể gà trống, khoảng thời gian thụ tinh của tinh trùngsau một lần giao phối và thời điểm giao phối Ngoài ra, tỷ lệ trứng có phôiphụ thuộc vào tỷ lệ ghép trống mái trong đàn và phương thức nuôi Tỷ lệghép trống mái trong đàn phụ thuộc dòng, giống gà: thông thường tỷ lệ là 1trống/10 - 12 mái (Gà ri, tàu vàng, ta vàng, Lương Phượng…); gà Đông Tảo
1 trống/5 - 6 mái; gà Mía, gà Hồ 1 trống/7 - 8 mái
Tỷ lệ trứng có phôi khác nhau ở từng dòng, giống khác nhau, kết quảnghiên cứu trên gà TP qua 4 thế hệ cho thấy tỷ lệ trứng có phôi của dòngmái TP3 là 96,21 - 96,75% luôn cao hơn tỷ lệ trứng có phôi của dòng trống
Trang 29TP4 là 95,22 - 95,82% (Phùng Đức Tiến và cs, 2010) Theo Trần CôngXuân và cs (2004), qua 3 thế hệ chọn tạo 2 dòng gà LV cho thấy: tỷ lệ phôicủa dòng trống LV1 đạt 93,51 – 95,45%, còn của dòng mái LV2 đạt 94,59 -96,09%.
1.3.4.2 Chỉ tiêu ấp nở
Chỉ tiêu ấp nở nói chung bao gồm tỷ lệ nở/trứng có phôi, tỷ lệ nở/tổngtrứng vào ấp và tỷ lệ gà con loại 1 Tỷ lệ ấp nở của gia cầm được xác địnhbằng tỉ lệ phần trăm số con con nở ra so với tổng số trứng vào ấp Chỉ tiêu ấp
nở phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố ngoại cảnh như: điều kiện chăm sócnuôi dưỡng, các yếu tố trong quá trình ấp nở (nhiệt độ, ẩm độ, làm mát), thờigian bảo quản trứng, vị trí xếp trứng trong khay và trong máy ấp
Nguyễn Bá Mùi (2016) cho biết tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ nở và tỷ lệ
gà loại I của gà Ri lần lượt là: 91,78%, 81,66%, 76,55% Theo Hồ XuânTùng (2008), tỷ lệ trứng có phôi/tổng trứng ấp, tỷ lệ nở/tổng trứng ấp, tỷ lệ
gà con loại I/tổng trứng ấp của đàn Lương Phượng lần lượt là 96,06%,85,03%, 83,6%
1.4 Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm
Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế quan trọngtrong chăn nuôi gia cầm, theo tính toán chi phí thức ăn thường chiếm 70 -75% giá thành sản phẩm chăn nuôi, cho nên việc giảm chi phí thức ănthường được quan tâm hàng đầu của các nhà di truyền chọn giống Đối với
gà nuôi sinh sản thì hiệu quả sử dụng thức ăn được tính là tiêu tốn thứcăn/10 quả trứng, còn đối với gà nuôi thương phẩm lấy thịt hiệu quả sử dụngthức ăn được tính là tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng
Phạm Công Thiếu và cs (2011) tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng của gàH’mông ở thế hệ xuất phát là 3,66kg, thế hệ I là 3,37kg, và thế hệ II là3,36kg Theo Trần Công Xuân và cs (2004), tiêu tốn thức ăn/kg tăng khốilượng cơ thể của gà lai thương phẩm (LV1 × LV2) ở thế hệ xuất phát là2,68kg, thế hệ I là 2,58kg và ở thế hệ II là 2,61kg
Trang 30Theo Nguyễn Chí Thành và cs (2007) nghiên cứu trên gà Hồ, gà Mía,
gà Đông Tảo cho thấy: Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà Mía làtăng dần, 1 tuần tuổi và 20 tuần tuổi tương ứng là 0,50 và 6,32 kg TĂ/kg tăngtrọng; Từ 1-8 tuần tuổi, gà Mía có mức tiêu tốn thức ăn thấp nhất, tiếp đến là
gà Hồ và cao nhất là gà Đông Tảo; Tuy nhiên, vào giai đoạn cuối, gà Mía lạicó mức tiêu tốn thức ăn cao hơn 2 giống kia Trung bình toàn bộ giai đoạnsinh trưởng từ 1 - 20 tuần tuổi, gà Hồ có mức tiêu tốn thức ăn thấp nhất(3,72kg), tiếp đó là gà Đông Tảo (4,14kg) và cao nhất là gà Mía (6,32kg)
Phương thức nuôi có ảnh hưởng đến tiêu tốn thức ăn Trong cùng mộtphương thức nuôi thì ở vụ Xuân - Hè tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượngcủa gà thí nghiệm thấp hơn trong vụ Thu - Đông Ở cùng một mùa vụ thì gànuôi bán chăn thả có tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cao hơn nuôi nhốt.Theo Hoàng Thị Hồng Nhung (2008) khi kết thúc thí nghiệm ở 9 tuần tuổinuôi gà Sasso, tiêu tốn thức ăn cộng dồn tính chung cho phương thức nuôinhốt là 2,26kg; bán nuôi nhốt là 2,33kg; tiêu tốn thức ăn tính chung cho vụXuân - Hè là 2,25kg, vụ Thu - Đông là 2,32kg
1.5 Cơ sở khoa học của chọn lọc giống gia cầm
1.5.1 Các phương pháp chọn lọc
Sự phát triển của công nghệ cho phép quá trình chọn lọc chính xác vàhiệu quả trong công tác giống vật nuôi Điều này đặc biệt thích hợp cho giacầm, chọn lọc làm khoảng cách thế hệ ngắn lại và đối với quần thể tươngđối lớn cho phép đạt tiến bộ di truyền nhanh chóng (Wolc và cs, 2014)
Một số phương pháp chọn lọc:
+ Chọn lọc cá thể
Theo phương pháp này việc chọn lọc được thông qua kiểu hình củacác cá thể trong trong toàn đàn theo các giá trị của giống Phương pháp nàythu được hiệu quả cao khi sự di truyền trội hoặc lặn được qui định bởi cáccặp gen Ví dụ ở gà Plymouth trắng lặn qui định bởi alen - c, mào đơn bởi
Trang 31alen - r, các cá thể mang các tính trạng này là đồng hợp theo màu lồng vàhình dạng mào nên chọn lọc là rất đơn giản Phương pháp chọn theo cá thể
là rất hiệu quả với các tính trạng có hệ số di truyền cao
+ Chọn lọc theo gia đình, dòng họ
Phương pháp chọn lọc này được thực hiện thông qua giá trị giốngtrung bình của gia đình, dòng họ Giá trị giống trung bình được tính cho cảcác cá thể trong gia đình được chọn lọc Phương pháp này có hiệu quả caokhi các tính trạng chọn lọc có hệ số di truyền thấp
+ Chọn lọc cá thể kết hợp với gia đình
Trong phương pháp này cho phép chọn các cá thể tốt nhất trong cácgia đình tốt nhất, là phương pháp có nhiều triển vọng và được ứng dụngrộng rãi trong chăn nuôi gia cầm
Phụ thuộc vào chương trình công tác giống khác nhau, việc chọn lọcđược thực hiện trên 1 tính trạng hay nhiều tính trạng mà sử dụng các hìnhthức chọn lọc sau:
- Chọn lọc liên tục theo một tính trạng: Được sử dụng chỉ trong cáctrường hợp đặc biệt Chọn lọc chỉ theo giá trị giống của một tính trạng vàkéo dài liên tục qua nhiều thế hệ cho đến khi đạt mục đích giống đặt ra thìdừng lại Sau đó chuyển sang chọn lọc theo tính trạng khác Phương phápnày được tiến bộ di truyền tương đối nhanh nhưng chỉ ở một tính trạng Ởgia cầm các tính trạng luôn có liên quan với nhau nên việc chọn lọc theophương pháp này gặp trở ngại, vì vậy thường chỉ ứng dụng trong công tácgiống với các dòng chuyên dụng
- Chọn lọc độc lập: Theo phương pháp này việc chọn lọc đồng thời ởmột số tính trạng cho đến khi các tính trạng đó đạt giới hạn của giá trị giốngxác định Tức là đánh giá các cá thể thoả mãn đòi hỏi thấp nhất được xácđịnh cho mỗi tính trạng, nếu không thoả mãn một tính trạng thì phải loạithải Chỉ chọn các cá thể theo tất cả các tính trạng trên giới hạn qui định
Trang 32Nhược điểm của phương pháp này là phải loại thải đi các cá thể có giá trịcao chỉ ở một tính trạng mong muốn, các gia cầm có đặc tính quí ở mộthướng sản xuất nào đó Đòi hỏi phải có số lượng lớn để chọn lọc Phươngpháp này ứng dụng nhiều trong chăn nuôi gia cầm.
1.5.2 Nguyên lý của chọn lọc
Mục đích của việc chọn lọc là nâng cao năng suất, chất lượng củavật nuôi Mặc dù khi thay đổi, cải thiện môi trường hoặc đặc tính sinh lý cóđóng góp rất lớn vào việc cải thiện năng suất, chất lượng của vật nuôi tuynhiên vẫn chưa cải thiện được bản chất di truyền của chúng
Nhân giống có mục đích là cải tiến di truyền của quần thể động vật
Vì vậy, các nhà khoa học đã tiến hành phân hạng động vật, loại ra nhữngcon được đánh giá là kém chất lượng và thay thế bằng các con tốt hơn Từcác kết quả nghiên cứu cho thấy: với việc chọn lọc thành công, thế hệ conbình quân được chọn sẽ tốt hơn mức trung bình của bố mẹ chúng Do đó,chọn lọc là một phương pháp không thể thiếu trong ngành chăn nuôi - là cơ
sở của chương trình cải biến gen (Cameron, 1997)
Chọn lọc đã tạo ra sự khác biệt về tỷ lệ sinh sản trong quần thể, nhờđó sẽ tạo ra các thế hệ sau có khả năng sinh sản cao hơn thế hệ trước Nóiđúng hơn, việc chọn lọc chủ yếu liên quan đến việc thay thế một quần thểhiện có bằng một trong những yếu tố có tính di truyền cao hơn Nó có thểđược định nghĩa là chọn lọc động vật có giá trị di truyền cao hơn mức trungbình, làm bố mẹ của thế hệ tiếp theo Vì vậy, các gen của các động vật đượcchọn có xu hướng trở nên phong phú hơn trong quần thể và giảm mật độcủa những quần thể ít được ưa chuộng hơn (Lerner, 1950) Do đó, cải biến
di truyền có thể được đo bằng sự thay đổi trung bình quần thể hoặc tần sốgen từ thế hệ này sang thế hệ khác (Leymaster và cs., 1979) Việc chọn lọccó thể lúc nào cũng được thực hiện giữa các cá thể và trong các quần thể (ví
dụ như nhân giống) Để kiểm tra quần thể động vật và sau đó sử dụng chúng
Trang 33với các đặc tính phù hợp với mục đích gây giống có thể là một cách để đạtđược kết quả nhanh chóng Như vậy, để có các kết quả liên tục và lâu dài,cần phải tiến hành chọn lọc trong quần thể (Strandberg và Malmfors, 2006).
Tiến bộ, cải biến, hoặc thay đổi di truyền có thể đạt được trong một
số tính trạng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau: hệ số di truyền, ly sai chọnlọc, khoảng cách giữa các thế hệ, mối liên quan giữa di truyền- kiểu hình vàmôi trường Các phương pháp được sử dụng phổ biến nhất để ước tính hệ số
di truyền của các tính trạng khác nhau ở gà là: sự tương quan nửa đồnghuyết của bố mẹ, tương quan nửa đồng huyết của mẹ, mối tương quan đồnghuyết, sự hồi quy của bố mẹ - con và khả năng di truyền thực tế (Kinney,1969) Ước tính hệ số di truyền từ mối tương quan đồng huyết có thể bịthiên về ảnh hưởng từ cá thể mẹ; Hiệu suất môi trường chung và hiệu suấttính trạng trội được đưa vào thành phần phương sai của mẹ (Falconer,1989) Ước tính hệ số di truyền của mẹ cao hơn so của bố ở các tính trạngcho thấy sự tồn tại của độ lệch do các tính trạng trội hoặc các ảnh hưởng từ
cá thể mẹ (Oni và cs, 2000)
Ly sai chọn lọc là sự gia tăng giữa giá trị của một tính trạng củanhóm được chọn lọc và quần thể được chọn lọc (Nordskog, 1981) Tầmquan trọng của ly sai chọn lọc phụ thuộc vào hai yếu tố: kích thước quần thểtrong nhóm được chọn lọc và độ lệch chuẩn kiểu hình của tính trạng Khi tỷ
lệ các con vật được chọn lọc làm cha mẹ giảm, giá trị di truyền ước tính củađộng vật đã được chọn lọc tăng (Al-Murrani, 1974) Vì mục đích của nhàtạo giống là làm tăng đặc tính di truyền tới mức tối đa, điều quan trọng nhất
là làm cho ly sai chọn lọc càng lớn càng tốt Ly sai chọn lọc tích lũy thườngđược sử dụng để định lượng tổng số áp lực chọn lọc được áp dụng (Frahm
và cs., 1985) Ly sai chọn lọc tích lũy có thể được so sánh với toàn bộ kếtquả để đánh giá hiệu quả của việc chọn lọc đối với đặc tính ban đầu TheoLush (1965) mức độ chọn lọc thể hiện như tỷ lệ phần trăm quần thể có khả
Trang 34năng tự sinh sản và được sử dụng để thể hiện số lượng chọn lọc áp dụngtrong quần thể giống Giảm cường độ chọn lọc sẽ làm giảm hiệu quả chọnlọc giảm trên mỗi thế hệ (Eisen và cs, 1973) Hiệu quả chọn lọc còn đượcgọi là tăng tính di truyền và được đánh giá là cải tiến cơ bản/năm, là khíacạnh quan trọng nhất, hiệu quả của một kế hoạch nhân giống (Falconer vàMackay, 1989) Sự gia tăng kiểu gen mong muốn, ΔG hoặc hiệu quả chọnG hoặc hiệu quả chọnlọc, R là sự khác biệt giữa các kiểu hình trung bình của con cái và các thế
hệ cha mẹ, R có thể dự đoán được ly sai chọn lọc, ΔG hoặc hiệu quả chọnS và hệ số hồi quy liênquan đến kiểu gen đối với kiểu hình (Gjedrem và Thodesen, 2005)
Khoảng cách giữa các thế hệ được định nghĩa là tuổi trung bình củacha mẹ khi con của chúng được sinh ra, trong đó con cái là cha mẹ của thế
hệ kế tiếp (Ibe, 1998) Khoảng cách giữa các thế hệ phải được xem xét khiđánh giá các chiến lược chọn lọc thay thế (Cameron, 1997) Barria vàBradford (1981) chỉ ra rằng mục đích của nhà lai tạo giống là giảm khoảngcách thế hệ đồng thời tăng hiệu quả chọn lọc Theo Chambers (1990) sựthành thục về giới tính có ảnh hưởng đến năng suất trứng, theo đó các conthành thục sớm có khả năng đẻ nhiều hơn những con thành thục muộn Dođó, hầu hết các nhà lai giống đều chọn lọc trên cơ sở theo dõi năng suấttrứng Lerner (1958) đã khẳng định rằng chọn lọc bố mẹ ở khoảng 40 tuầntuổi sẽ cải thiện năng suất trứng trong năm đầu tiên và sẽ làm giảm khoảngcách giữa các thế hệ Hill và cs (1996) cho rằng hiệu quả chọn lọc có thể bịgiảm xuống nếu việc nhân giống diễn ra sau năm đầu tiên hoặc ở độ tuổimuộn hơn
1.5.3 Chọn lọc tính trạng khối lượng cơ thể và năng suất trứng
Chọn lọc sử dụng để thay đổi mô hình sinh trưởng của động vật dẫnđến những ảnh hưởng ngắn hạn và dài hạn đối với những tính trạng khácnhau như: mô tăng trưởng, sự thành thục về giới tính và khả năng sinh sản.Chọn lọc ở các loại gia cầm khác nhau dẫn đến khối lượng cơ thể tăng ở
Trang 35các mức khác nhau Chọn lọc khối lượng cơ thể gia cầm có ảnh hưởng đếntính trạng năng suất trứng (Dunnington và Siegel, 1983, Marks, 1987,Siegel và Dunnington, 1987) Năm 1984, Soller và cs đã nghiên cứu khốilượng cơ thể ở gà khi bắt đầu thành thục về giới tính và cho biết hệ số ditruyền của tính trạng này ở thời điểm đó là 0,34
Năm 1990, Chambers cho biết hệ số di truyền là 0,4 đối với các tínhtrạng sinh trưởng ở gà Năm 1992, Besbes và cs sử dụng phương pháp REML(Restricted Maximum Likelihood) đã ước tính hệ số di truyền khối lượng 40tuần của gà đẻ trứng là 0,5 Kết quả này gần với nghiên cứu mà Wei và Vander Werf công bố năm 1992 Năm 2009, Momoh và Nwosu đã nghiên cứutrên gà bản địa ở Nigeria và cho biết hệ số di truyền của khối lượng cơ thể gàlà: 0,18 (4 tuần); 0,43 (8 tuần); 0,16 (16 tuần tuổi); 0,30 (20 tuần tuổi) Họ kếtluận rằng, nhìn chung khối lượng cơ thể có hệ số di truyền thấp đến trung bình
và cho thấy loài gà này có tiềm năng phát triển theo hướng kiêm dụng
Ước tính các tham số di truyền đối với các tính trạng năng suất trứng
đã có nhiều nghiên cứu trên các giống gà trứng Theo Kinney (1969), hệ số
di truyền trung bình về khối lượng trứng ở giai đoạn đẻ đầu ở các giống gàLeghorn trắng, và gà Rhode Island Red là khá cao, tương ứng là 0,45, 0,53.Năm 1981, Nordskog cho biết hệ số di truyền của một số tính trạng sản xuấttrứng: khối lượng trứng ở đầu giai đọan đẻ trứng là 0,45 (giống gà lông màusáng); khối lượng trứng ở đầu giai đoạn đẻ trứng là 0,57 (giống gà lông màuđậm), khối lượng trứng ở gà trưởng thành là 0,46 (giống gà mông màu sáng);khối lượng trứng ở gà trưởng thành là 0,58 (giống gà lông màu đậm) và tỷ lệ
nở là 0,19 Trong khi đó, hệ số di truyền về năng suất trứng dao động từ 0,11đến 0,53 (Francesch, 1997; Nurgiartiningsih và cs, 2002; Szwaczkowski,2003) Kết quả tương tự khi nghiên cứu trên gà thịt, hệ số di truyền về năngsuất trứng từ 0,16 đến 0,54 (Luo và cs 2007)
Theo Soltan (1997) cho biết hiệu quả chọn lọc đối với năng suất trứng (3
Trang 36tháng đẻ đầu) ở gà Baladi là 7,1 trứng qua ba thế hệ chọn lọc Năm 1986,Venkatramaiah và cs nghiên cứu trên chọn lọc nâng cao năng suất trứng gà WhiteLeghorn, kết quả đã tăng trung bình 2,16 quả trứng qua mỗi thế hệ Ngoài ra, một
số nghiên cứu đã chứng minh rằng năng suất trứng của gà mái giảm khi gà nặng
và béo hơn (Applely, 1994 và Chen và cs 2006)
Các tính trạng về khả năng sinh sản có tương quan âm với các tínhtrạng được chọn lọc (theo Lerner, 1950; Nestor, 1977; Falconer, 1989;Dunnington và Siegel, 1984; Marks, 1987) Sự tương quan âm này thể hiệnđúng giữa tốc độ sinh trưởng và các đặc điểm như: khả năng sinh sản của gàmái và chất lượng trứng (Goodman and Shealey, 1977) Với gà mái đẻtrứng, có một số mối tương quan dương giữa sinh trưởng và sinh sản nhưng
đa số là tương quan âm Theo Siegel (1963), giữa khối lượng cơ thể vàtrứng có sự tương quan dương, tuy nhiên giữa khối lượng cơ thể cao vànăng suất trứng lại có tương quan nghịch Có những yếu tố như giống, quản
lý và dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự thành thục về giới tính Việc chọn lọclâu dài cho sự phát triển của gà cũng đã làm giảm các tính trạng sinh sản(Siegel và Dunnington 1985) Tài liệu nghiên cứu về chim cút của Nhật Bảncho thấy, khi chọn lọc khối lượng cơ thể cao trong các môi trường dinhdưỡng khác nhau đã làm sự giảm khả năng sinh sản, năng suất trứng, vàtăng chất béo và lượng mỡ trong cơ thể (Marks, 1991)
Tương quan di truyền giữa các nghiên cứu khác nhau về năng suấttrứng là một tham số quan trọng để đánh giá khả năng sinh sản của gia cầm.Theo Besbes và cs (1992) tương quan di truyền giữa năng suất trứng trong
26 đến 38 tuần đầu và 26 đến 54 tuần là 0,66 Năm 2007, Luo và cs đãnghiên cứu trên gà thịt và cho biết tương quan di truyền giữa năng suấttrứng đến 19 tuần đẻ và tổng số trứng đến 40 tuần đẻ là 0,81 Từ đó, các tácgiả kết luận rằng việc chọn lọc sớm dựa trên năng suất trứng trong 19 tuầnđẻ đầu có thể nâng cao năng suất trứng hàng năm Năm 1982, Harms và cs
Trang 37cho biết sự tương quan âm giữa khối lượng cơ thể và năng suất trứng, khốilượng trứng tăng tuyến tính cùng với khối lượng cơ thể Theo Ricklefs(1983) kích thước cơ thể gà lớn dẫn đến chiều dài, chiều rộng và khối lượngtrứng lớn.
Akbas và cs (2002) cho rằng giữa tuổi đẻ quả trứng đầu tiên và năngsuất trứng có tương quan thấp đến trung bình (trong 12 tuần đẻ đầu) và chorằng chi phí sản xuất có thể được hạ xuống bằng cách hạ thấp tính trạng này
và tăng sản lượng trứng mà không ảnh hưởng đáng kể đến khối lượng cơthể và khối lượng trứng Theo Adedeji (2006) giữa năng suất trứng và khốilượng trứng có sự tương quan âm Kết quả tương tự được đưa ra bởi Sabri
1.5.4 Sử dụng chỉ số chọn lọc ở gà
Lý thuyết và phương pháp lấy chỉ số chọn lọc đã được phát triển đầy
đủ trong các tài liệu (Hazel, 1943; Robinson và cs, 1951) Năm 1942, Hazeland Lush đã thiết lập việc sử dụng một chức năng tuyến tính của các tínhtrạng làm cơ sở cho việc chọn lọc nhiều tính trạng Họ đã mô tả các nguyêntắc cơ bản của xây dựng chỉ số Hai nhà khoa học đã chứng minh làm thếnào chỉ số lựa chọn có thể dẫn đến việc sử dụng mối liên hệ của các đặcđiểm (với đặc tính tương quan với nhau) Vì vậy, lý thuyết chỉ số chọn lọccung cấp một phương pháp khách quan để lựa chọn một chức năng tuyếntính của một số tính trạng bằng cách tối ưu hoá sự kết hợp của tất cả các
Trang 38thông tin liên quan (bao gồm các giá trị kiểu hình gia đình và cá nhân, biến
dị di truyền và kiểu hình và hiệp phương sai với khối lượng kinh tế tươngđối thành một giá trị) được xếp hạng để chọn lọc (Nwagu và cs, 2007)
Việc sử dụng một chỉ số chọn lọc có thể làm tăng hiệu quả nâng caotức thời tức thời năng suất trứng khi chọn lọc một tính trạng Theo Johari và
cs (1999) việc chọn lọc chỉ số là một phương pháp rất hiệu quả để nâng caonăng suất đẻ trứng ở gà Năm 1983, Sharma và cs cho biết chọn lọc trên cơ
sở một chỉ số (khối lượng cơ thể ở 8 tuần tuổi, năng suất trứng đến 300ngày tuổi và tỷ lệ nở) tương đối hiệu quả hơn so với chọn lọc song songhoặc chọn lọc độc lập cho tất cả các tính trạng ngoại trừ tính trạng nở Sự sosánh giữa chọn lọc chỉ số và chọn lọc hàng loạt cho các đặc điểm khác nhaunhư trọng lượng cơ thể lúc 8 và 20 tuần tuổi, khối lượng trứng 35 tuần tuổi,tuổi trưởng thành và năng suất trứng đến 260 ngày tuổi ở các giống gà trắng
đã được thực hiện bởi Verma và cs năm 1984 Đối với toàn bộ di truyềntổng hợp, chọn lọc chỉ số đã được tìm thấy là 2,76, 3,33, 13,66, 1,32 và 1,53lần hiệu quả hơn so với chọn lọc trực tiếp cho năng suất trứng, khối lượngtrứng ở 35 tuần tuổi, khối lượng trứng ban đầu, khối lượng cơ thể 20 tuần
và 8 tuần tuổi tương ứng Theo Singh và cs (1984) đã so sánh các chỉ sốchọn lọc khác nhau để cải thiện năng suất trứng trong các đàn gà trắng khi10% số gà trống được chọn lọc trong mỗi quần thể, chọn lọc 40% số gà máidựa trên chọn lọc chỉ số cho thấy kết quả di truyền tốt hơn so với chọn lọckhác thực hiện trên các tính trạng cá thể Ayyagari và cs (1985) vàMakarechian và cs (1983) cho kết quả tương tự khi nghiên cứu trên gà trắng
và một giống gà bản địa ở miền nam Iran
1.5.5 Cở sở của nguyên lý chọn lọc ngắn hạn trứng gia cầm
Chọn lọc ở giai đoạn sớm, thông thường đến 40 tuần tuổi, là phươngpháp để nâng cao năng suất trứng ở gà đẻ trứng và gà lấy thịt (Fairfull and
Trang 39Gowe, 1990) Nghiên cứu đầu tiên về việc sử dụng dữ liệu liên quan đếnnăng suất trứng như là một tiêu chí chọn lọc được đưa ra bởi Dickerson vàHazel (1944) Trong nghiên cứu này, họ đã cho rằng việc nâng cao năngsuất trứng ở gà được tối đa hóa khi khoảng cách giữa các thế hệ được giữ ởmức tối thiểu.
Năm 1969, Kinney cho biết nghiên cứu trong thời gian ngắn về năngsuất trứng có tương quan thuận với toàn thời gian đẻ trứng Năm 1970,Bohren đã chứng minh rằng năng suất trứng hàng năm được ước lượng với
độ chính xác cao từ năng suất trứng ở giai đoạn trước Theo Nestor và cs(1996) và John và cs (2000) cho rằng sự tương quan di truyền trung bình vềnăng suất trứng của quần thể gà Sussex và gà nâu là 0,45
Như vậy, việc chọn lọc đã tạo ra nhiều ưu điểm: rút ngắn khoảngcách thế hệ; Đạt được tỷ lệ sinh sản cao hơn; Đạt được hiệu quả chọn lọcnhanh (Nwosu, 1990) Tuy nhiên, việc chọn lọc ở một số tính trạng quantrọng, bao gồm tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của gà, sự duy trì việc đẻ trứngsau thời kì đỉnh đẻ trứng đỉnh cao thì độ chính xác của chọn lọc sẽ kém(Luo và cs, 2007)
1.6 Cơ sở khoa học của công tác lai tạo và ưu thế lai
Trong công tác lai tạo giống gia cầm, thì lai kinh tế là phương phápphổ biến nhất Lai kinh tế là phương pháp lai giữa 2, 3 và 4 dòng hoặcgiống hoặc loài khác nhau để tạo ra con lai thương phẩm, không sử dụnglàm giống, vì vậy có thể sử dụng phương pháp lai kinh tế để sản xuất hàngloạt và chỉ cần thời gian ngắn đã cho nhiều sản phẩm với chất lượng tốt.Hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng phương pháp lai kinh tế để tạocon lai có năng suất và chất lượng đem lại hiệu quả cao Có nước tới 80%sản phẩm thịt có được là do sử dụng lai kinh tế để tạo ra (Trần Đình Miên,Nguyễn Kim Đường, 1992)
Trong quá trình lai giữa các loài, giống, dòng khác nhau người ta lợi
Trang 40dụng được một hiện tượng sinh vật học quan trọng đó là ưu thế lai(Heterosis), thuật ngữ ưu thế lai được Shull - nhà di truyền học người Mỹ
đề cập tới từ năm 1914 Sau đó ưu thế lai được nghiên cứu và ứng dụng khárộng ở cả thực vật và động vật (ở tất cả các gia súc từ lớn nhất đến bé nhất)
và ưu thế lai được biểu hiện qua tốc độ sinh trưởng, phát triển, sức sản xuất,khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh
Ưu thế lai nói chung của các tính trạng sinh sản có ảnh hưởng caohơn so với tính trạng về sinh trưởng (Fairfull và Gowe, 1990) và là ảnhhưởng của phía mẹ và dinh dưỡng (Liu và cs, 1993)
Theo Amin (2008) các tổ hợp lai thường cho năng suất vật nuôi caohơn trung bình các giống thuần chủng tạo nên chúng, bao gồm giá trị của ditruyền cộng gộp của từng tính trạng và các thành phần của ưu thế lai chomỗi tổ hợp lai
Các thành phần di truyền cộng gộp: Giá trị di truyền cộng gộp của
các giống thuần tham gia tạo nên các tổ hợp lai của bất kỳ tính trạng nào cũngbao gồm: giá trị di truyền cộng gộp trực tiếp của từng giống (Ad), giá trị ditruyền cộng gộp của bố (Ab) và giá trị di truyền cộng gộp của mẹ (Am)
Di truyền cộng gộp trực tiếp (Ad): Là tỷ lệ gen của mỗi giống thuần
tham gia đóng góp trực tiếp cho mỗi cá thể tổ hợp lai Tổng tỷ lệ nguồn gencủa tất cả các giống thuần trong mỗi thành phần di truyền cộng gộp của bất
kỳ hệ thống lai nào cũng luôn bằng 100%
Di truyền cộng gộp của cá thể bố (Ab): Là tỷ lệ nguồn gen của các
giống ở vị trí làm bố đóng góp cho mỗi cá thể của tổ hợp lai do chính bố đótạo nên, Tổng tỷ lệ nguồn gen của tất cả các giống đóng vai trò làm bố trongmỗi hệ thống lai tạo các tổ hợp lai luôn bằng 100%
Di truyền cộng gộp của cá thể mẹ (Am): Là tỷ lệ nguồn gen của mỗi
cá thể giống ở vị trí làm mẹ đóng góp cho tổ hợp lai do chính cá thể mẹ đóđẻ ra, tổng tỷ lệ nguồn gen của các cá thể giống đóng vai trò làm mẹ cũng