Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật là một trường hợp đặc biệt của quyết định hình phạt, tính đặc biệt của nó thể hiện ở mức độ giảm nhẹ hình
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THANH THỦY
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG
HÌNH PHẠT ĐƯỢC ÁP DỤNG TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THANH THỦY
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được trích dẫn theo nguồn đã công bố Kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Thanh Thủy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT 9
1.1 Khái niệm và ý nghĩa được áp dụng về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam 9
1.2 Điều kiện của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt 11
1.3 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật đến trước khi ban hành BLHS năm 1999 24
1.4 QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của bộ luật của một số nước ngoài 30
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT ĐƯỢC ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN 35
2.1 Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự 35
2.2 Thực tiễn thực hiện quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tại thành phố Đà Nẵng 43
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYẾT ĐỊNH HINH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT 51
3.1 Hoàn thiện các quy định của BLHS về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt 51
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng qui định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt qui định của Bộ luật 53
3.3 Xây dựng án lệ và phổ biến giáo dục pháp luật 67
3.4 Cập nhật BLHS năm 2015 68
KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn cơ bản và quan trọng của quá trình áp dụng pháp luật hình sự vào thực tiễn xét xử các vụ án hình sự do Tòa
án thực hiện sau khi đã làm rõ các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tính chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và nhân thân của người phạm tội Quyết định hình phạt đúng pháp luật, phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, có sự cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân của người phạm tội là
cơ sở để thực hiện các nguyên tắc của luật hình sự, đặc biệt là nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc công bằng và nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự vào thực tiễn xét xử của Tòa án
Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của
Bộ luật là một trường hợp đặc biệt của quyết định hình phạt, tính đặc biệt của nó thể hiện ở mức độ giảm nhẹ hình phạt đặc biệt so với trường hợp giảm nhẹ thông thường khác, thông thường khi quyết định hình phạt thì Tòa án quyết định mức hình phạt trong giới hạn của chế tài, còn khi áp dụng quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn thì mức hình phạt xuống dưới mức tối thiểu của chế tài, phá vỡ chế tài mà Nhà làm luật dự kiến áp dụng đối với người phạm tội Thực tiễn xét xử cho thấy, các Tòa án áp dụng quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất là rất phổ biến, điều đó thể hiện ở tỷ lệ các vụ án được áp dụng hình phạt dưới mức tối thiểu của chế tài là khá cao so với tổng số vụ án đã xét xử, tính phổ biến còn thể hiển ở chỗ là hầu hết các Tòa án đều áp dụng quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt trong hoạt động quyết định hình phạt của mình
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật có vai trò hết sức quan trọng đối với thực tiễn xét xử là phương tiện để đạt đến sự công bằng xã hội và là biểu hiện của chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội Do vậy, khi áp dụng quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đòi hỏi Tòa án phải hết sức thận trọng, hạn chế những sai sót
Trang 8khi áp dụng quy định này, bởi lẽ nếu áp dụng đúng thì sẽ bảo đảm bằng công bằng
xã hội, bảo đảm hình phạt được áp dụng tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đây cũng chính là cơ sở để đạt được mục đích của hình phạt và giảm chi phí cho hoạt động thi hành hình phạt, ngược lại nếu lạm dụng quy định này để QĐHP quá nhẹ, không nghiêm khắc sẽ làm giảm tính uy nghiêm của hình phạt, hình phạt được áp dụng không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội làm cho mục đích của hình phạt không đạt được và gây ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
Như vậy, quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được các Tòa án áp dụng khá phổ biến và có vai trò quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, hiện nay việc áp dụng quy định này vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc và thiếu sót chẳng hạn như: QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt phải tuân thủ điều kiện ít nhất có hai tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 1 Điều 46 BLHS thì vẫn còn nhiều bất cập nên chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử, thực tiễn cho thấy có rất nhiều vụ án người phạm tội có một tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 46 BLHS nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS theo khoản 2 Điều
46 BLHS và xét về trường hợp phạm tội này thì đáng được hưởng mức án dưới mức tối thiểu của chế tài, nhưng do không có đủ hai tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS nên Tòa án không thể QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài được; vẫn còn tình trạng vi phạm giới hạn giảm nhẹ theo quy định nghĩa là xử mức án dưới mức tối thiểu của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn vì nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân từ sự thiếu chỉ dẫn thế nào là khung hình phạt nhẹ hơn liền kề đối với các điều luật có cấu trúc khung hình phạt không theo trật tự thông thường; vướng mắc trong việc áp dụng hình phạt dưới mức tối thiểu của chế tài khi người phạm tội đủ điều kiện luật định nhưng lại có thêm tình tiết tăng nặng TNHS; vướng mắc khi quyết định chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn có phải tuân thủ các quy định chung của loại hình phạt đó hay không; vướng mắc khi QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hoặc đối với người chưa thành niên phạm tội; vướng mắc trong việc xác định các tình giảm nhẹ để làm căn cứ quyết định hình
Trang 9phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt v.v Những bất cập, vướng mắc và thiếu sót khi QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là do nhiều nguyên nhân khác nhau, có những nguyên nhân thuộc về chủ quan của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân do không nghiên cứu toàn diện các quy định của pháp luật hình sự, cũng có những nguyên nhân khách quan là do những bất cập của pháp luật hình sự liên quan đến QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước; xu hướng toàn cầu hóa, nhân đạo hóa thì nhiều vấn đề của luật hình sự trong đó có QĐHP dưới mức thấp nhất hơn quy định của Bộ luật về lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu yêu cầu cấp thiết trong hoạt động xét xử của ngành Tòa án cũng như yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính Trị trong giai đoạn hiện nay
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quyết định hình phạt dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận
văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật là một trong những đề tài có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn được nhiều tác giả có nhiều uy tín trong lĩnh vực hình sự đề cập trong nhiều công trình khoa học khác nhau, chẳng hạn như các Chuyên khảo: “Tìm hiểu về hình phạt và quyết định hình
phạt trong luật hình sự Việt Nam” củaThạc sĩ Đinh Văn Quế và Tiến sĩ Lê Văn Đệ,
“Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam” của Tiến sĩ Dương Tuyết Miên,
“Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam” của Tiến
sĩ Trần Thị Quang Vinh Các Chuyên khảo cũng đề cập đến QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, tuy nhiên chưa có Chuyên khảo nào đi sâu nghiên cứu về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật Dưới cấp độ luận văn cử nhân thì có luận văn: “Quyết định hình phạt dưới mức tối thiểu của chế tài - những vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2002 của tác giả Nguyễn Thị Khánh Ly, trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh Luận văn này cũng đã nêu ra khái niệm QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, đề cập những vấn
Trang 10đề pháp lý của quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, đáng giá thực tiễn áp dụng và đã đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng của quy định này Tuy nhiên, luận văn này cũng chưa làm rõ hết những vấn đề lý luận của quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, chưa đánh giá hết những bất cập vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định này, luận văn cũng chỉ đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng
Về các bài viết chuyên môn thì có: “Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự” của tác giả Lê Đăng Doanh đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân
số 12/2003, “Bàn về việc áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật” của tác giả Trương Thị Hằng đăng trên tạp chí Viện kiểm sát nhân dân số 5/2009, “Một số vấn đề khi áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự” của tác giả Nguyễn Minh Hải đăng trên Tạp chí tòa án nhân dân số 18/2009, “Một
số vấn đề áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt tù đối với người phạm tội” của tác giả Đinh Văn Quế đăng trên Tạp chí toà án nhân dân số 03/2009.v.v.Các bài viết trên đã bàn luận, làm rõ và giải quyết nhiều vấn đề về mặt
lý luận và thực tiễn áp dụng của quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn, giúp cho người tiếp cận nắm rõ được vấn đề mình quan tâm, nhưng các bài viết này cũng chỉ nêu những vướng mắc cụ thể chứ chưa hệ thống những bất cập, vướng mắc khi áp dụng quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt vào thực tiễn xét xử
Tóm lại, QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật tuy đã có nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau thể hiện một phần ở các công trình chuyên khảo, luận văn cử nhân cho đến những bài viết trên các tạp chí chuyên ngành nhưng vẫn chưa làm rõ các vấn đề pháp lý của nó, chưa hệ thống những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và chưa đưa ra những giải pháp toàn diện
để hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt Do vậy, tiếp tục nghiên cứu quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện về mặt lý luận để đáp ứng yêu cầu thực tiễn xét xử của
Trang 11ngành Tòa án trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay
Điều đó cho thấy yêu cầu nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự có liên quan đến việc áp dụng Điều 47 BLHS năm 1999 (Điều 54 BLHS năm 2015) là hoàn toàn có giá trị khoa học và rất thiết thực Làm được điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng hình phạt, qua đó đáp ứng mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác xét xử các vụ án hình sự theo tinh thần của NQ số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách tuyên đối có hệ thống về các vấn đề lý luận và thực tiễn QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, đồng thời đi sâu phân tích đánh giá thực tiễn của BLHS trong giai đoạn 2012-2016, trên cơ sở đó chỉ ra một số vướng mắt, tồn tại trong thực tiễn, từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
+ Làm rõ những vấn đề thuộc về mặt pháp lý cơ bản của quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt;
+ Nghiên cứu thực tiễn áp dụng của quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt của Tòa án trong thời gian qua, so sánh, đối chiếu để làm rõ những bất cập, vướng mắc và nguyên nhân của nó;
+ Trên cơ sở phân tích những thiếu sót, bất cập và vướng mắc trong thực tiễn xét xử, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLHS cũng như hướng dẫn áp dụng và các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực tiễn cho thấy rằng, QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liên quan rất nhiều đến các chế định khác của luật hình sự: Hình phạt, quyết định hình
Trang 12phạt, căn cứ quyết định hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS.v.v, việc
đề cập đến các vấn đề trên cũng chỉ nhằm mục đích giải quyết một cách có hệ thống
và làm rõ hơn vấn đề của quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt Do vậy, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của BLHS và các hướng dẫn áp dụng về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, đồng thời đặt nó trong mối quan hệ với các trường hợp quyết định hình phạt khác chứ không nghiên cứu tất cả các trường hợp quyết định hình phạt quy định trong Bộ luật hình sự Về nghiên cứu thực tiễn, luận văn tập trung nghiên cứu các bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm
4.2 Phạm vi nghiên cứu: là nghiên cứu quy định về QĐHP dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt dưới góc độ luật hình sự Trong quá trình nghiên cứu có
đề cập đến sự hình thành và phát triển của quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng chỉ để làm sáng tỏ vấn đề chứ không đi sâu các quy định
đó, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quy định này từ khi có BLHS năm 1985 và đặc biệt là BLHS năm 1999 Bên cạnh đó tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
+ Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - LêNin; Tư tưởng
Hồ Chí Minh và Nhà nước pháp quyền; Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước về phòng, chống tội phạm, xử lý người phạm tội; Chính sách hình sự, chính sách nhân đạo, các nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam về vấn đề cải cách
tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết của Đại hội Đảng X, XI và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02.01.2001, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26.5.2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năn 2020 của Bộ Chính trị; các quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại BLHS năm 1999 và căn cứ QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS năm 1999
Trang 13+ Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn áp dụng căn cứ QĐHP trong hoạt động QĐHP của TAND hai cấp TP Đà Nẵng từ khi BLHS năm 1999 đến nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu luận văn cũng bám sát việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính của khoa học hình sự để thấy rõ mức độ hiệu quả của quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam,
đó là: phương pháp xã hội học, phương pháp loogic hình thức, phương pháp luật học - lịch sử, phương pháp luật học - so sánh và phương pháp biện chứng
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống
kê, quy nạp để phân tích cụ thể thực trạng áp dụng QĐHP dưới mức thấp nhất của BLHS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, cũng như nhằm làm rõ những nguyên nhân
cơ bản của các bất cập, tồn tại trong thực tiễn áp dụng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Xây dựng khái niệm QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định của BLHS, đảm bảo lý luận khoa học, thống, đồng thời cũng có thể là cơ sở tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật hình sự về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật
Dựa trên những nghiên cứu lý luận về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, tìm hiểu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về áp dụng và kết quả đánh giá thực tiễn áp dụng các căn cứ QĐHP trong hoạt động xét xử vụ án hình sự của TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng nhằm góp phần nhận thức đúng các căn cứ QĐHP dưới mức thấp nhất và tầm quan trọng của nó
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Điểm mới quan trọng nhất của luận văn là đưa ra các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, bao gồm: Yêu cầu thực hiện đúng các nguyên tắc áp dụng; Yêu cầu của cải cách tư pháp; Yêu cầu bảo vệ quyền con người; Yêu cầu phòng và chống tội phạm; Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ QĐHP gồm: Ban hành các văn bản hướng dẫn, tập huấn thi hành BLHS 2015; Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về
Trang 14các căn cứ QĐHP; Tăng cường năng lực người tiến hành tố tụng, Luật sư; Tăng cường giám đốc, kiểm tra và tổng kết công tác xét xử nói chung việc áp dụng các căn cứ QĐHP nói riêng; Xây dựng án lệ và phổ biến giáo dục pháp luật
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đẩu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định pháp luật về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI
Khi QĐHP đối với bị cáo có hiều tình tiết giảm nhẹ, mặc dù Tòa án có thể tuyên cho người phạm tội dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng xét về mức độ tương xứng giữ tội phạm và hình phạt thì hình phạt vẫn chưa nghiêm khắc,
vì vậy luật hình sự cho phép Tòa án QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
Có nhiều quan điểm khoa học khác nhau về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, nhiều quan điểm khoa học chỉ dừng lại ở việc giải thích nội dung của quy phạm pháp luật mà chưa đưa ra được tiêu chí và tiêu chuẩn quan trọng đánh giá khách quan và chính xác quy phạm pháp luật Cụ thể:
Tại Giáo trình luật Hình sự (Phần chung) của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định tức là áp dụng hình phạt đó với mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định đối với tội phạm bị xét xử, còn chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn nghĩa là thay thế loại hình phạt được quy định trong điều luật về tội phạm bị xét xử bằng một loại hình phạt khác nhẹ hơn không được quy định trong
Trang 16- Phải tuân thủ những điều kiện nhất định theo quy định của BLHS
- Việc áp dụng chỉ do duy nhất một cơ quan áp dụng là Tòa án và chỉ được tiến hành sau khi định tội danh đối với người phạm tội
- Phản ánh chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội
- Hình phạt do Tòa án quyết định đối với người bị kết án trong trường hợp QĐHP dưới mức thấp nhất của khung liền kề không nằm trong khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng phải nằm trong khung liền kề nhẹ hơn hoặc loại hình phạt khác nhẹ hơn
- Phải được thể hiện bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Tóm lại: từ những phân tích nêu trên, học viên có thể đưa ra khái niệm như
sau: “QĐHP dưới mức thấp nhất của khung liền kề là hoạt động thực tiễn do HĐXX
áp dụng các quy định của pháp luật hình sự dựa trên những nguyên tắc nhất định
và thực hiện tùy thuộc vào từng trường hợp để quyết định một mức hình phạt dưới mức thấp nhất thuộc một loại hình phạt được quy định trong khung hình phạt tại điều luật cụ thể hoặc chuyển sang một loại hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn khung hình phạt tại điều luật cụ thể của Phần các tội phạm BLHS mà bị cáo đã thực hiện và Tòa án đã đưa ra xét xử”
1.1.2 Ý nghĩa của việc áp dụng về QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật
Ý nghĩa về mặt xã hội
Việc Nhà làm luật quy định QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật trong pháp luật hình sự có ý nghĩa rất quan trọng về phương diện xã hội, nó bảo
Trang 17đảm cho việc thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội trong lĩnh vực hình sự Trong lĩnh vực hình sự khi nói đến công bằng thì chúng ta có thể hiểu:
Công bằng có hai khía cạnh: Công bằng ngang bằng và công bằng phân phối,
ở khía cạnh ngang nhau của công bằng thể hiện ở việc: Quy định cơ sở TNHS thống nhất đối với tất cả mọi người thực hiện tội phạm; quy định hệ thống tội phạm và hình phạt thống nhất đối với tất cả mọi người phạm tội; quy định khung hình phạt thống nhất cho mỗi loại tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội giống nhau; quy định cơ sở thống nhất của việc quyết định hình phạt
- Ý nghĩa về mặt pháp lý
Về mặt pháp lý, QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của
Bộ luật có ý nghĩa rất quan trọng thể hiện ở các khía cạnh sau:
- QĐHP dưới mức thấp nhất là quy định có ý nghĩa là phương tiện cá thể hóa trách nhiệm hình sự sao cho hình phạt được tuyên sát nhất với tính chất, mức độ phạm tội cụ thể
- Thể chế hóa chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội
Tóm lại, QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật trong pháp luật hình
sự Việt Nam có ý nghĩa quan trọng cả về mặt xã hội và pháp lý, quy định này trong pháp luật hình sự Việt Nam tạo cơ sở pháp lý để thực hiện cá thể hóa trách nhiệm hình sự, bảo đảm phán quyết của Tòa án là công bằng và nhân đạo, thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội, tạo tâm lý an tâm cải tạo cho người phạm tội, tránh những tác động tiêu cực của hình phạt đối với người phạm tội và gia đình của họ qua đó thực hiện tối ưu mục đích của hình phạt
Do vậy, cần phải hoàn thiện và nâng cao hiệu quả vận dụng của quy định QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử nhằm bảo đảm nguyên tắc nhận đạo, công bằng trong hoạt động QĐHP của Tòa án
ở giai đoạn hiện nay
1.2 Điều kiện của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là trường hợp đặc biệt của QĐHP, khi áp dụng quy định này thì mức hình phạt được tuyên sẽ xuống dưới mức
Trang 18tối thiểu của chế tài, quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc cá thể hóa TNHS khi QĐHP, bảo đảm hình phạt được tuyên tương xứng với tính nguy hiểm của hành vi Để bảo đảm cho việc áp dụng quy định này trong thực tiễn xét xử được thống nhất và tránh sự lạm quyền của Tòa
án khi vận dụng quy định này để QĐHP quá nhẹ, không bảo đảm tính hiệu quả của hình phạt và ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Do vậy, Điều 47 BLHS quy định điều kiện về số lượng tình tiết giảm nhẹ luật định và giới hạn giảm nhẹ khi QĐHP dưới mức tối thiểu của khung hình phạt, quy định điều kiện về số lượng tình tiết giảm nhẹ luật định khi quyết định chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
Điều 47 BLHS quy định như sau:
Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng phải nằm trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Lý
do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án
Phân tích nội dung của điều luật ta thấy để có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mức tối thiểu của chế tài thì cần phải đáp ứng các điều kiện về tình tiết giảm nhẹ luật định và giới hạn giảm nhẹ hình phạt như sau:
1.2.1 Quy định của BLHS về điều kiện tình tiết giảm nhẹ để áp dụng QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
Theo quy định tại Điều 47 BLHS, để QĐHP nhẹ hơn thì người phạm tội phải
có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết phán ánh mức độ giảm nhẹ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh khả năng cải tạo tốt hoặc hoàn cảnh đặc biệt đáng được khoan hồng của người phạm tội Các tình tiết giảm nhẹ TNHS là điều kiện tiên quyết để Tòa án có thể quyết định mức hình phạt dưới mức tối thiểu của chế tài, chỉ có những tình tiết giảm nhẹ quy định tại
Trang 19khoản 1 Điều 46 BLHS mới được coi là tình tiết giảm nhẹ như là điều kiện và phải đáp ứng là có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ này thì Tòa án mới có thể QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài
Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS thì có các tình tiết giảm nhẹ sau:
a Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm
Là trường hợp trong quá trình thực hiện tội phạm hoặc sau khi thực hiện tội phạm đã có hành vi ngăn chặn không cho tác hại của tội phạm xảy ra hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm, hành vi ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm được xem là tình tiết giảm nhẹ đối với mọi hình thức lỗi không phân biệt là lỗi cố ý hay vô ý Sự kết hợp giữa thái độ tích cực của người phạm tội là mong muốn ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm với mức độ tác hại thực tế xảy là cơ sở giảm nhẹ TNHS và mức độ giảm nhẹ này tùy thuộc từng trường hợp phạm tội cụ thể
b Người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả
Là trường hợp người phạm tội với thái độ tự nguyện, không ai ép buộc bằng nhiều cách khác nhau nhằm sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục những thiệt hại do tội phạm gây ra Tình tiết này được thể hiện rất đa dạng như tự nguyện sửa chữa tài sản bị hư hỏng, tự nguyện trả lại tài sản bị chiếm đoạt, .v.v Thực tiễn cũng cho thấy nếu người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khác phục hậu quả toàn bộ thì mức độ giảm nhẹ hình phạt được Tòa án áp dụng cao hơn những trường hợp chỉ sửa chữa, bồi thường thiệt hại hay chỉ khắc phục một phần hậu quả mà tội phạm gây ra
c Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
Là trường hợp vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại Đây là tình tiết giảm nhẹ đặc biệt về TNHS so với các tình tiết giảm nhẹ khác, bởi vì người phạm tội thực hiện tội phạm trong hoàn cảnh đang có sự tấn công trái pháp luật của người bị hại và vì bảo vệ các lợi ích nói trên mà buộc phải chống trả lại sự tấn công, người phạm tội không có nhiều lựa chọn hành vi để phản ứng phù hợp với mức độ tấn công của người bị hại, có nghĩa là người phạm tội bị hạn chế
Trang 20khả năng lựa chọn hành vi và đây chính là cơ sở giảm nhẹ đặc biệt của tình tiết này
d Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết
Là trường hợp vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà đã gây thiệt hại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết Như vậy, người phạm tội thực hiện tội phạm trong hoàn cảnh đang diễn ra một tình trạng nguy hiểm, buộc phải hy sinh lợi ích nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa nhưng, đây là cơ sở để giảm nhẹ TNHS
và tình tiết này là một tình tiết giảm nhẹ đặc biệt hơn
đ Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra
Đây là trường hợp phạm tội do người phạm tội không hoàn toàn làm chủ được tinh thần, tình cảm của mình do tác động của một hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc do người khác gây ra Trong tình trạng trên, người phạm tội phần nào bị hạn chế khả năng điều kiển hành vi, vì vậy họ lựa chọn cách xử sự không phù hợp với qui định của pháp luật dẫn đến hành vi phạm tội Đây chính là cơ sở giảm nhẹ TNHS, mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào tính chất nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật, mức độ bị kích động về tinh thần và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
e Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra
Là trường hợp phạm tội dưới sự tác động của một hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà không do người phạm tội gây ra, là những hoàn cảnh mà tự mình người đó không thể vượt quanhư: Thiên tai, địch họa, tai nạn, bệnh tật, thất nghiệp lâu ngày túng quẫn về kinh tế nên dẫn đến hành vi phạm tội nhằm đáp ứng nhu cầu tối thiểu
có tính cấp bách Khi người phạm tội rơi vào hoàn cảnh trên họ bị hạn chế về khả năng lựa chọn hành vi, hoàn cảnh chi phối phần nào đến hành vi phạm tội của họ và đây cũng chính là cơ sở để giảm nhẹ TNHS
g Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn
Là trường hợp phạm tội nhưng thiệt hại trên thực tế chưa xảy ra hoặc đã xảy ra nhưng không lớn, trong thực tiễn thì tình tiết này thường được áp dụng cho những trường hợp hành vi phạm tội bị phát hiện kịp thời nên không phát sinh thiệt hại do
có sự ngăn chặn kịp thời của người khác, tài sản bị chiếm đoạt được trả lại ngay cho
Trang 21người bị hại hoặc đã gây thiệt hại nhưng chỉ là những thiệt hại nhỏ về tài sản Sự hạn chế ở mức độ thiệt hại là cơ sở để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng mức độ
giảm nhẹ của tình tiết này thấp hơn so với tình tiết “Người phạm tội đã ngăn chặn,
làm giảm bớt tác hại của tội phạm”, vì mức độ thiệt hại trong trường hợp này mang
tính khách quan nằm ngoài sự mong muốn chủ quan của người phạm tội
h Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng
Là tình tiết giảm nhẹ khi hội đủ hai điều kiện: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.Trong thực tiễn, khi vận dụng tình tiết này vẫn chưa có sự thống nhất về nội dung của nó, về phạm tội lần đầu còn nhiều cách hiểu khác nhau nhưng tựu trung có hai quan điểm đó là: Phạm tội lần đầu là lần đầu tiên bị bị xét xử, bị kết
án và phạm tội lần đầu là lần đầu tiên thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà theo quy định của pháp luật hình sự là tội phạm Về “trường hợp ít nghiệm trọng” thì cũng còn nhiều quan điểm khác nhau có quan điểm dựa vào mức hình phạt cao nhất không quá ba năm thì thuộc trường hợp ít nghiêm trong, ngược lại có quan điểm cho rằng để đánh giá trường hợp nào thì thuộc trường hợp ít nghiêm trọng thì phải dựa vào mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội trên thực tế
i Phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức
Là trường hợp phạm tội do bị chi phối bởi ý chí của người khác thông qua việc
bị đe dọa hoặc bị cưỡng bức Nội dung của sự đe dọa thường được thể hiện ở việc
đe dọa gây thiệt hại cho người khác Cưỡng bức ở đây được hiểu là hành vi dùng vũ lực uy hiếp tinh thần của người khác buộc họ phải thực hiện tội phạm
k Phạm tội do lạc hậu
Là trường hợp phạm tội do bị hạn chế về mặt nhận thức, sự hạn chế này là do điều kiện, hoàn cảnh sống đưa lại nên nó có giá trị giảm nhẹ TNHS như người phạm tội do mê tín, dị đoan của người thiểu số ở miền núi, hoặc ở những vùng sâu, nên điều kiện tiếp nhận kiến thức có phần hạn chế, để được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này không những dựa vào trình độ lạc hậu mà còn phải xem xét đến việc phạm tội đó có gắn liền với trình độ lạc hậu đó hay không
l Người phạm tội là phụ nữ có thai
Đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS được áp dụng trong trường hợp người phạm
Trang 22tội là phụ nữ đang mang thai, cơ sở giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết
“người phạm tội là phụ nữ có thai” xuất phát từ tình trạng đặc biệt về tâm sinh lý của người đang mang thai có ảnh hưởng đến khả năng tự kiểm soát hành vi nên phần nào ảnh hưởng đến mức độ lỗi của người phạm tội Thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội là phụ nữ có thai nhằm khoan hồng cho hành vi phạm tội, tạo cơ hội để họ sửa chữa sai lầm và chăm sóc con khi nó được sinh ra
m Người phạm tội là người già
Là tình tiết giảm nhẹ TNHS là xuất phát từ việc cho rằng người già bị giảm sút
về trí lực và thể lực nên phần nào hạn chế sự kiểm soát hành vi, bên cạnh đó thì tình tiết giảm nhẹ này cũng thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội là người già
n Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình
Đây là trường hợp phạm tội mà tại thời điểm phạm tội người phạm tội đang trong tình trạng bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do
bị mắc bệnh Như vậy, tình trạng bệnh tật đã ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi nên mức độ lỗi trong trường hợp phạm tội này hạn chế hơn so với trường hợp thông thường
o Người phạm tội tự thú
Là trường hợp tội phạm chưa được phát giác mà người phạm tội tự nguyện khai báo hành vi phạm tội của mình với cơ quan có thẩm quyền Về bản chất thì tự thú khác với đầu thú, nếu tự thú là hành vi khai báo trước khi tội phạm bị phát giác còn đầu thú thì ngược lại sau khi tội phạm đã được phát hiện thì người phạm tối mới đến khai báo về hành vi phạm tội của mình Người phạm tội tự thú là tình tiết giảm nhẹ đặc biệt so với các tình tiết giảm nhẹ khác thể hiện sự hối hận về hành vi phạm tội của mình và chấp nhận sự trừng phạt của pháp luật, điều đó phản ánh khả năng cải tạo tốt của người phạm tội
p Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
Là trường hợp tội phạm đã bị phát hiện, nhưng khi điều tra, truy tố hoặc xét xử
Trang 23người phạm tội tự nguyện khai báo hành vi phạm tội của mình, khai báo không phải
là nghĩa vụ của người phạm tội, họ không có trách nhiệm chứng minh hành vi phạm tội hay vô tội của mình, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Do vậy, người phạm tội tự nguyện khai báo hành vi phạm tội của mình giúp cho việc điều tra, truy tố và xét xử vụ án được nhanh chóng, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đây là cơ sở giảm nhẹ TNHS của tình tiết này
Ăn năn hối cải được hiểu là thái độ hối hận về việc đã thực hiện tội phạm và mong muốn được sửa chữa lỗi lầm của mình thông qua quyết tâm cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội, sự ăn năn hối cải đó còn thể hiện ở thái xin lỗi người
bị hại, gia đình bị hại mong muốn họ tha thứ
q Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm
Tình tiết giảm nhẹ này được hiểu người phạm tội đã hành vi cung cấp tin tức, tài liệu, bằng chứng có ý nghĩa thiết thực cho việc phát hiện tội phạm và xử lý đúng đắn
vụ án Thái độ tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm để phát hiện tội phạm đã thể hiện sự nhận thức về tội lỗi mà người phạm tội và đồng bọn thực hiện, chính sự hợp tác này đã giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm điều tra nhanh chóng vụ án, tội phạm mới hoặc người phạm tội khác nhằm bảo đảm trật tự an toàn cho xã hội
r Người phạm tội đã lập công chuộc tội
Người phạm tội đã lập công chuộc tội là: Đã lập công chuộc tội là trường hợp sau khi thực hiện tội phạm cho đến trước khi bị xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm), người phạm tội không những ăn năn hối cải, tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm do họ thực hiện, mà họ còn
có những hành động giúp đỡ các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, ngăn chặn các tội phạm khác, tham gia phát hiện tội phạm, bắt kẻ phạm tội, có hành động thể hiện
sự quên mình vì lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của người khác được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận
Cơ sở giảm nhẹ TNHS của tình tiết này là ở thái độ hối lỗi sâu sắc của người phạm tội, không chỉ dừng lại thái độ hối lỗi, tự sửa chửa hành vi phạm tội mà còn
có hành động giúp cơ quan có thẩm quyền phát hiện tội phạm, đây được coi là sự
Trang 24tiến bộ của người phạm tội nên tình tiết này được xem là tình tiết giảm nhẹ TNHS
s Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác
Đây là tình tiết phản ánh quá trình phấn đấu tốt của người phạm tội trước khi thực tội phạm, sự phấn đấu tốt đó thể hiện ở những thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác được Nhà nước ghi nhận và phong tặng các danh hiệu ở các cấp độ khác nhau Cơ sở giảm nhẹ TNHS của tình tiết này xuất phát
từ đòi hỏi công bằng thông qua việc cân nhắc giữa công và tội, đồng thời cũng tính đến khả năng cải hóa người phạm tội
Các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS là những tình tiết giảm nhẹ có giá trị giảm nhẹ cao hơn so với các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản
2 Điều 46 BLHS, bởi lẽ nó là những tình tiết giảm nhẹ luật định liên quan đến tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội, nhân thân người phạm tội các tình tiết giảm nhẹ này có ý nghĩa làm giảm mức độ nguy hiểm của tội phạm, phản ánh khả năng cải tạo giáo dục hoặc hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng Các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều
46 BLHS cũng phản ánh ý nghĩa giảm nhẹ TNHS nhưng chúng là những tình tiết giảm nhẹ do Tòa án xác định trong quá trình xét xử vụ án đối với trường hợp phạm tội cụ thể, không phải là tình tiết giảm nhẹ luật định nên có giá trị giảm nhẹ thấp hơn
so với các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 46 BLHS
Nhà làm luật qui định điều kiện để Tòa án có thể QĐHP nhẹ hơn khi người phạm tội đáp ứng điều kiện là phải có hai tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1 Điều 46 chứ không phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2 Điều 46 hoặc có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2 Điều 46 BLHS Do vậy, Khi hướng dẫn áp dụng QĐHP nhẹ hơn quy định của Bộ
luật thì Tòa án ND tối cao có hướng dẫn “Cần phải hạn chế và hết sức chặt chẽ khi
áp dụng các quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999, trong trường hợp nếu không có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm
1999, thì bị cáo phải bị xử ở mức cao của khung hình phạt”
Thực tiễn xét xử cho thấy, cùng một loại tội phạm nhưng không phải ai cũng
Trang 25thực hiện giống nhau về phương thức, thủ đoạn phạm tội, tính chất và mức độ thực hiện tội phạm không giống nhau, nhân thân người phạm tội cũng rất khác nhau Mặc dù, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đã được Nhà làm luật cân nhắc trong xây dựng cấu thành tội phạm và khung hình phạt nhưng các Nhà làm luật cũng không thể dự liệu hết các trường hợp phạm tội xảy ra trong thực tế
Trong quá trình xét xử, Tòa án thường đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của người phạm tội khi chưa xem xét các tình tiết giảm nhẹ TNHS mà tương ứng với mức thấp của khung chế tài và họ có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS thì Tòa án áp dụng hình phạt dưới mức tối thiểu của chế tài Việc áp dụng như vậy là phù hợp với thực tiễn xét xử vì
có những trường hợp phạm tội khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội tương ứng với mức thấp của chế tài và họ có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1 Điều 46 BLHS mà Tòa án QĐHP trong giới hạn của chế tài là quá nghiêm khắc, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Do vậy, trong trường hợp nêu trên Tòa
án thường vận dụng quy định về QĐHP nhẹ hơn để quyết định mức hình phạt dưới mức tối thiểu của chế tài đối với người phạm tội
Khi QĐHP nhẹ hơn Tòa án còn phải đáp ứng yêu cầu “…Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án…”
Yêu cầu để Tòa án có thể QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài đó là “…Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án…” được hiểu là trong phần nhận xét thì Tòa án cần nêu lên sự nhận xét đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với người bị hại nói riêng và cho xã hội nói chung, đáng giá mức độ ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ đối với hành vi thực hiện tội phạm của người phạm tội Trên cơ sở đánh giá đó Tòa án kết luận cần áp dụng mức hình phạt nào sao cho tương xứng với hành vi phạm tội của người phạm tội nhằm bảo đảm tính hiệu quả của hình phạt Trong phần quyết định Tòa án viện dẫn những căn cứ
áp dụng khi QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài và quyết định loại, mức hình phạt
cụ thể đối với họ Yêu cầu này nhằm đảm bảo cho Tòa án áp dụng quy định về
Trang 26QĐHP nhẹ hơn có cơ sở, có tính thuyết phục, là cơ sở để kiểm soát việc áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án khi áp dụng quy định giảm nhẹ đặc biệt này vào thực tiễn xét xử
1.2.2 Quy định của Bộ luật hình sự về giới hạn áp dụng QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
Về giới hạn áp dụng quyết định hình phạt nhẹ hơn thì Điều 47 BLHS quy định
như sau: “…Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn…”
Như vậy, QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài có hai trường hợp đó là: QĐHP dưới mức tối thiểu của khung hình phạt hoặc chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giới hạn QĐHP của hai trường hợp này cũng khác nhau
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt về giới hạn áp dụng được chia làm hai mức độ khác nhau:
+ QĐHP dưới mức tối thiểu của khung hình phạt trong trường hợp điều luật có nhiều khung hình phạt và khung hình phạt đó không phải là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật
Khi người phạm tội có nhiều tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS và khung hình phạt mà họ bị truy tố, xét xử không phải là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật thì Tòa án cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội để quyết định mức hình phạt thấp hơn khung hình phạt quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn Ví dụ: Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” qui định tại khoản 4 Điều 138 BLHS có khung hình phạt từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân, khi quyết định hình phạt dưới mức tối thiểu của khung hình phạt đối với người phạm tội, Tòa án có thể áp dụng mức hình phạt dưới mười hai năm tù nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu của khung hình phạt liền
Trang 27kề là khoản 3 Điều 138 mà khoản 3 Điều 138 BLHS có khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm Điều đó có nghĩa là Tòa án quyết định hình phạt dưới mức tối thiểu của khung hình phạt đối với Nguyễn Văn H chỉ có thể là bảy năm tù chứ không thể thấp hơn nữa vì nếu thấp hơn sẽ vi phạm giới hạn cho phép
+ QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt trong trường hợp khung hình phạt duy nhất hoặc nhẹ nhất của điều luật
Khi người phạm tội bị truy tố và xét xử ở khung hình phạt duy nhất hoặc nhẹ nhất của điều luật thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt duy nhất hoặc nhẹ nhất của điều luật mà người phạm tội bị truy
tố và xét xử, trường hợp này có thể coi như không có khung hình phạt liền kề nhẹ hơn Do vậy, Tòa án chỉ có thể quyết định một mức hình phạt thấp hơn mức tối thiểu của khung hình phạt nhưng phải nằm trong giới hạn tối thiểu của từng loại hình phạt chính trong hệ thống hình phạt của BLHS Các hình phạt chính trong BLHS hiện hành gồm có: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù
có thời hạn, tù chung thân và tử hình, khi xây dựng khung hình phạt trong các điều luật thì Nhà làm luật có thể sử dụng một loại hình phạt trong khung hoặc cũng có thể sử dụng nhiều loại hình phạt khác nhau trong một khung hình phạt tùy theo sự đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, khách thể
bị xâm phạt, chính sách hình sự của Nhà nước v.v… Đối với khung hình phạt qui định hình phạt là tù có thời hạn khi QĐHP dưới mức tối thiểu của khung hình phạt trong trường hợp này thì Tòa án có thể quyết định xuống mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng không được thấp hơn ba tháng tù vì theo Điều 33 BLHS thì tù có thời hạn có mức tối thiểu là ba tháng tù mức tối đa là 20 năm tù Ví dụ: Nguyễn Văn B phạm tội “Vô ý làm chết người” qui định tại khoản 1 Điều 98 BLHS có khung hình phạt từ sáu tháng đến năm năm Khi QĐHP dưới mức tối thiểu của khung hình phạt này Tòa án chỉ có thể QĐ mức án từ ba tháng tù trở lên chứ không được phép quyết định dưới ba tháng tù
Đối với khung hình phạt có quy định về nhiều loại hình phạt như: phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ thì khi QĐHP dưới mức tối thấp nhất của khung hình phạt thì cũng phải bảo đảm hình phạt được tuyên không được thấp hơn mức tối thiểu của loại
Trang 28hình phạt đó Cụ thể, với hình phạt cải tạo không giam giữ, thì theo quy định tại Điều
31 Bộ luật hình sự, mức tối thiểu của hình phạt này là 6 tháng; do đó, trong mọi trường hợp khi quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, Tòa án không được QĐHP cải tạo không giam giữ dưới 6 tháng Đối với hình phạt tiền, thì theo quy định tại Điều 30 BLHS năm 1999, mức tối thiểu là 1 triệu đồng; do
đó, trong mọi trường hợp khi quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, không được quyết định mức hình phạt tiền dưới 1 triệu đồng
Chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
Tòa án chỉ có thể chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn khi mà người phạm tội bị truy tố và xét xử ở điều luật có khung duy nhất hoặc khung hình phạt đó
là khung nhẹ nhất của điều luật, Tòa án không thể chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn khi mà người phạm tội bị truy tố và xét xử ở khung hình phạt khác với khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật Vậy quyết định chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn là gì và được áp dụng như thế nào, theo tiến sĩ Dương Tuyết Miên thì:
“Quyết định chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn là việc Tòa án quyết định thay thế loại hình phạt trong chế tài của điều luật qui định về về tội phạm được đưa ra xét xử bằng một loại hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn nhưng không được qui định trong điều luật đó” Như vậy, khi chuyển sang hình phạt khác thuộc loại
nhẹ hơn thì Tòa án có thể thay thế một loại hình phạt nhẹ hơn các loại hình phạt đã được quy định trong khung hình phạt mà người phạm tội bị truy tố và xét xử
Về giới hạn giảm nhẹ khi Tòa án chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn thì pháp luật hình sự hiện hành chưa có hướng dẫn cụ thể, có được áp dụng bất cứ hình phạt nào nhẹ hơn hay không hay chỉ được phép áp dụng hình phạt nhẹ hơn nếu tuân thủ các điều kiện chung của loại hình phạt đó, vấn đề này hiện nay vẫn có hai quan điểm về vấn đề này:
Quan điểm thứ nhất, khi Tòa án quyết định chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn thì không bị hạn chế bởi phạm vi áp dụng của loại hình phạt đó nghĩa
là không bị hạn chế bởi điều luật quy định về phạm vi áp dụng hình phạt, có ý kiến cho rằng:
Quyết định chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn không bị hạn chế
Trang 29bởi phạm vi áp dụng hình phạt đó, bởi lẽ bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định
ở khoản 1 Điều 46 BLHS và được áp dụng qui định chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn là trường hợp giảm nhẹ đặc biệt (trường hợp ngoại lệ) nên sẽ không chịu sự rằng buộc của điều luật quy định về phạm vi áp dụng hình phạt Mặt khác, nếu chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn lại bị hạn chế bởi phạm vi
áp dụng loại hình phạt đó thì không phát huy được tính nhân đạo của Điều 47 BLHS và trong một chừng mực nhất định lại làm vô hiệu hóa Điều 47
Như vậy, quan điểm cho rằng khi quyết định chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn không bị hạn chế bởi phạm vi áp dụng của hình phạt xuất phát từ việc cho rằng quy định tại Điều 47 BLHS cho phép Tòa án chuyển sang loại hình phạt nhẹ hơn là trường hợp biệt lệ nên không cần tuân thủ các quy định chung của loại hình phạt đó, các quy định chung của loại hình phạt đó không bao hàm trường hợp ngoại lệ này mà chỉ có thể là quy định bắt buộc trong những trường hợp quyết định hình phạt thông thường
Quan điểm thứ hai, khi quyết định chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn phải tuân thủ các qui định chung của loại hình phạt đó, Tiến sĩ Trần Thị Quang
Vinh cho rằng:
Áp dụng một hình phạt thuộc loại nhẹ hơn luật định mà không tuân thủ các điều kiện chung của từng loại hình phạt sẽ dẫn đến sự phá vỡ những giới hạn cần thiết của hình phạt, đồng thời làm cho hệ thống hình phạt vì thế mà không còn tính cân đối thống nhất cần thiết của một hệ thống Do vậy, sẽ là hợp lý khi có điều kiện
để áp dụng một hình phạt nhẹ hơn thì cũng phải tuân thủ các điều kiện chung của loại hình phạt được áp dụng
Hệ thống hình phạt chính trong BLHS hiện hành được xếp theo thứ tự từ nhẹ đến nặng, nhẹ nhất là cảnh cáo và nặng nhất là tử hình, đối với mỗi loại hình phạt thì Nhà làm luật quy định những điều kiện nhất định nhằm đảm bảo giá trị pháp lý của từng loại hình phạt, đảm bảo sự thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự trong hoạt động QĐHP của Tòa án đồng thời nó cũng là biểu hiện chính sách hình sự của Nhà nước
Do vậy, trong quá trình áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng quy định về
Trang 30QĐHP dưới mức thấp nhất nói riêng Tòa án phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật hình sự, tuân thủ quy định chung của các loại hình phạt quy định trong phần chung của BLHS Cụ thể, hình phạt cảnh cáo chỉ được áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng, hình phạt tiền chỉ áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định, hình phạt cải tạo không giam giữ chỉ áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội ra ngoài xã hội Những điều kiện chung của từng loại hình phạt nêu trên được quy định tại các Điều 29, Điều 30 và Điều 31 trong phần chung của Bộ luật hình sự, đối với mỗi loại hình phạt thì Nhà làm luật quy định những điều kiện và giới hạn áp dụng khác nhau với mục đích bảo đảm cho hình phạt có tính nội dung nghiêm khắc cần thiết, nhờ đó mà nó mới thực hiện chức năng hình phạt của mình, đồng thời tránh việc lạm dụng áp dụng hình phạt không đúng trong thực tiễn Do vậy, khi quyết định chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn thì phải đáp ứng các điều kiện chung của loại hình phạt đó
1.3 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật đến trước khi ban hành BLHS năm 1999
1.3.1 QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật trước BLHS 1985
Quy định QĐHP dưới mức thấp nhất hiện nay xuất hiện từ những ngày đầu xây dựng pháp luật hình sự Việt Nam, quy định này xuất hiện đầu tiên ở Sắc lệnh số 40-SL ngày 29/3/1946 của Chủ tịch nước về bảo vệ tự do cá nhân và một số sắc
lệnh khác Tại Điều 22 của Sắc lệnh này có quy định: “Nếu có những lý do đáng
khoan hồng, thì những người can vào Điều 18 có thể chỉ bị phạt dưới hai năm tù và những người can vào Điều 19 chỉ bị phạt dưới năm năm tù Trong hai trường hợp này, Toà án có thể cho bị cáo được hưởng án treo” Tại Điều 18 Sắc lệnh quy định
về tội phạm liên quan đến những vi phạm về thủ tục bắt người trong trường hợp phạm pháp quả tang và chế độ giam cứu thì khung chế tài là tù từ 2 năm đến 5 năm
Trang 31và phạt tiền từ 1.000 đồng đến 10.000 đồng Điều 18 có mức hình phạt tù thấp nhất
là 2 năm và cao nhất là 5 năm, nhưng khi xét xử nếu có lý do khoan hồng chính đáng thì Tòa án có thể xử mức án dưới 2 năm tù tức là dưới mức thấp nhất của chế tài Tại Điều 19 Sắc lệnh quy định về tội phạm liên quan việc lạm dụng bắt người, giam cầm, tra tấn để lấy cung của các nhân viên hành chính, viên chức, nhân viên các cơ quan cai trị, tuần phòng hay binh bị thì khung hình phạt được áp dụng làtừ 5 đến 10 năm tội đồ và 3.000 đồng đến 100.000 đồng tiền phạt, trong trường hợp có
lý do đáng được khoan hồng thì Tòa án có thể xử mức án dưới 5 năm tù
Như vậy, Điều 22 của Sắc lệnh số 20 ngày 29/3/1946 đã có quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất qui định của điều luật, đây chính là quy định sơ khai của quy định
về QĐHP dưới mức thấp nhất, chính vì là quy định sơ khai nên điều kiện để giảm dưới mức tối thiểu của chế tài còn đơn giản chưa có quy định cụ thể tình tiết nào thì đáng được hưởng khoản hồng để có thể giảm nhẹ dưới mức tối thiểu của chế tài, giới hạn giảm nhẹ cũng chưa được quy định Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đất nước mới bước quan chiến tranh, kinh tế-xã hội kém phát triển, trình độ lập pháp còn hạn chế
mà Nhà làm luật đã quy định vấn đề này trong Sắc lệnh là một bước tiến trong việc xây dựng pháp luật hình sự thời kỳ đầu, điều đó cũng đã thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội Chúng ta cũng thấy quy định
về giảm nhẹ hình phạt dưới mức tối thiểu của chế tài mang tính đơn giản trong Sắc lệnh số 113-SL ngày 20/01/1953 của Chủ tịch nước về trừng trị các loại Việt gian
phản động Tại điểm c Điều 4 của Sắc lệnh này có quy định: “Những kẻ phạm tội các
tội trên mà tội trạng tương đối nhẹ sẽ bị phạt từ mười năm tù trở xuống”, mức 10
năm tù là mức tối thiểu của chế tài đối với các tội khủng bố, hãm hiếp, bắt, giết và tra tấn cán bộ, nhân dân, tội làm gián điệp, tội phản bội tổ quốc
Thông tư số 2140/TT-VHH-HS ngày 06/12/1955 của Bộ tư pháp về việc áp
dụng luật lệ quy định: “Đối với tội định trong Thông tư 442-TTg, về tội hối lộ định
trong Sắc lệnh 223-SL ngày 27/11/1946, có thể xuống mức tối thiểu hoặc cho hưởng án treo được không? Tùy từng trường hợp, có thể xuống mức tối thiểu hoặc cho hưởng án treo được, nhưng nên áp dụng dè dặt điều khoan hồng này, có thể xuống mức tối thiểu thì cũng không nên xuống dưới 15 ngày tù”.Thông tư đã phát
Trang 32triển một bước các quy định sơ khai trước đó về QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài, mặc dù Thông tư này vẫn chưa quy định về điều kiện để QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài, chỉ khuyên nên áp dụng dè dặt điều khoan hồng này nhưng đã có dấu hiệu cho thấy giới hạn của việc giảm nhẹ hình phạt đó là “có thể xuống mức tối thiểu thì cũng không nên xuống dưới 15 ngày tù” Thông tư số 2140/TT-VHH-HS
là bước phát triển mới so với Sắc lệnh số 40 và Sắc lệnh số 113, thông tư này đã bắt đầu xuất hiện giới hạn giảm nhẹ hình phạt trong QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài tuy chỉ mang tính sơ khai
Bản tổng kết số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án ND tối cao về đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục như là một bước phát triển mới trong việc hình thành chế định QĐHP nhẹ hơn quy định của Bộ luật Bản
tổng kết này quy định: “Khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ hoặc khi có nhiều tình tiết
giảm nhẹ đặc biệt, nếu không có những tình tiết khác thật sự nghiêm trọng có thể xử dưới các mức tối thiểu đã được tổng kết trên đây Trong một số trường hợp cá biệt cũng có thể cho hưởng án treo” đối với tội hiếp dâm Đối với tội cưỡng dâm thì bản
tổng kết cũng có hướng dẫn như sau: “Khi tập trung nhiều tình tiết giảm nhẹ, hoặc
khi có khi có những tình tiết giảm nhẹ đặc biệt, có thể xử dưới mức tối thiểu nói trên đây, có thể cho hưởng án treo hoặc đặc biệt có thể tha miễn hình phạt” Như vậy,
bản tổng kết đã hướng dẫn điều kiện để có thể QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài
là phải có các tình tiết giảm nhẹ, đã có bước phát triển mới trong quá trình hình thành và phát triển của chế định QĐHPnhẹ hơn qui định của Bộ luật
Bản tổng kết số 9-NCPL ngày 08/01/1968 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn đường lối xét xử tội cơ bạc để thay thế Chỉ thị số 1133 ngày 01/7/1960 có quy định về xét xử dưới khung hình phạt như sau:
Để thích ứng với hoàn cảnh xã hội mới, Tòa án nhân dân tối cao đã có chỉ thị
số 1183 ngày 1-7-1960 hướng dẫn vận dụng Sắc lệnh số 168 theo tinh thần Thông
tư 556-TTg ngày 24-12-1958 của Chính phủ về đường lối xử lý đối với các tội phản cách mạng và các tội hình sự thường trong giai đoạn mới Đối với tội cờ bạc được xem là một phạm pháp nhẹ, đường lối xử lý nói chung là lấy giáo dục, cải tạo làm chính và khi cần xử phạt thì cần có sự phân biệt giữa nhiều đối tượng khác nhau,
Trang 33mức xử lý tối đa không cần cao như trước Tòa án được rộng quyền linh hoạt để tuyên những hình phạt thích hợp, có thể xử tù mà cũng có thể cho hưởng án treo, có thể nghiêm khắc mà khi cần khoan hồng cũng có thể xử dưới mức tối thiểu qui định trong Sắc lệnh 168
Trong giai đoạn mới thì tội cơ bạc được xem là phạm pháp nhẹ nên mức xử phạt không cần cao như giai đoạn trước để tạo điều kiện giáo dục, cải tạo người phạm tội thành người có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới của đất nước
Từ năm 1968 trở đi, các văn bản quy định về giảm nhẹ hình phạt dưới mức tối thiểu của chế tài đều yêu cầu phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ Tòa án mới được giảm xuống mức tối thiểu của chế tài đối với người phạm tội Tuy nhiên, các tình tiết giảm nhẹ ngày càng được mở rộng nằm thực hiện chính sách khoan hồng nhân đạo của Nhà nước với người phạm tội, trong bản tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao năm 1971 về việc vận dụng hai Pháp lệnh ngày 21-10-1970 về trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và xâm phạm tài sản riêng của công dân đã trả lời câu hỏi khi không có các tình tiết giảm nhẹ nói trong Điều 23 (Pháp lệnh thứ 1) hoặc trong Điều 19 (Pháp lệnh thứ 2) có thể xử dưới khung hình phạt được không?
Bản tổng kết hướng dẫn: “Theo thực tiễn được chấp nhận, thì ngoài các tình tiết
giảm nhẹ nói ở điều 23 (hoặc điều 19) còn có nhiều tình tiết giảm nhẹ khác nữa Khi có những tình tiết giảm nhẹ đặc biệt hoặc có nhiều tình tiết giảm nhẹ (phải là những tình tiết giảm nhẹ thật sự, ví dụ như: bị cáo là vị thành niên, bị cáo chỉ là một cộng phạm thứ yếu, v.v…vẫn có thể xử dưới các khung hình phạt được qui định nhưng phải nói rõ trong bản án” Như vậy, ngoài các tình tiết giảm nhẹ quy định
trong các pháp lệnh thì Tòa án được phép xác định các tình tiết giảm nhẹ khác tùy theo trường hợp phạm tội cụ thể để có thể xét xử người phạm tội mức án dưới mức tối thiểu của chế tài, nhưng lý do giảm nhẹ phải được nói rõ trong bản án, quy định này đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử đồng thời cũng tránh sự làm quyền của Tòa án, quy định này giống như điều kiện đủ “Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án” của QĐHPnhẹ hơn quy định của Bộ luật qui định tại Điều 47 BLHS năm 1999 Trong bản báo cáo tổng kết này cũng hướng dẫn khi đồng thời
Trang 34cùng có những tình tiết tăng nặng lại có những tình tiết giảm nhẹ, có thể vận dụng
đồng thời cả hai Điều 22 và Điều 23 (hoặc điều 19 và 19) được không?“Có thể vận
dụng cả hai điều nhưng phải đánh giá đúng đắn mức độ tăng nặng và giảm nhẹ của mỗi tình tiết kết hợp với việc xem xét, đánh giá toàn bộ vụ án để có kết luận chính xác về mức độ chung”, cũng có thể giảm nhẹ xuống mức tối thiểu của chế tài nhưng
phải xem xét sự kết hợp của các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và đặt nó trong toàn bộ
vụ án để quyết định Dự thảo Thông tư số 213-NCPL ngày 5-5-1973 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an hướng dẫn thống nhất nhận thức về 2 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm về tài sản đã hình thành giới
hạn giảm nhẹ dưới khung hình phạt “Khi có nhiều trường hợp giảm nhẹ tập trung,
luật pháp cho phép xử nhẹ hơn một khung hình phạt đã được quy định, hoặc có khi miễn cả hình phạt”, giới hạn giảm nhẹ là “một khung hình phạt” nó giống như giới
hạn giảm nhẹ hình phạt dưới khung liền kề quy định tại Điều 47 BLHS
Tóm lại, trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985 thì quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật nằm rải rác ở nhiều văn bản luật khác nhau với quy định sơ khai và ngày càng phát triển, các quy định đó đã thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội trong thời kỳ đầu xây dựng pháp luật hình sự Việt Nam Trong thời kỳ này quy định
về QĐHP dưới mức tối thiểu của khung hình phạt quy định rất tản mạn và ở nhiều Sắc lệnh trừng trị đối với các tội khác nhau, ở những văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật khác nhau, điều đó dẫn đến việc áp dụng quy định này không thống nhất
Về điều kiện và giới hạn của việc giảm nhẹ dưới mức tối thiểu của chế tài thì vẫn còn đơn giản, sơ khai nhưng đã từng bước phát triển, nó là tiền đề cho sự ra đời của quy định về QĐHP dưới mức tối thiểu của khung hình phạt quy định của Bộ luật
1.3.2 QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật từ khi có BLHS
1985 đến nay
Khi pháp điển hóa lần thứ nhất với sự ra đời của BLHS năm 1985, QĐHP
dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật được quy định ở khoản 3 Điều 38 là: “Khi
có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
Trang 35Lý do của việc giảm nhẹ này phải được ghi trong bản án” Như vậy, so với các quy
định trước đó thì QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật ở BLHS năm
1985 có sự hoàn thiện hơn, nó được quy định thành một quy định riêng trong phần chung của Bộ luật, điều kiện áp dụng rõ ràng và hợp lý hơn so với các quy định trước đó Tuy nhiên, QĐHP dưới mức thấp nhất trong lần pháp điển hóa này vẫn bộc lộ nhiều hạn chế nhất định thể hiện ở các khía cạnh sau:
+ QĐHP dưới mức thấp nhất là một trường hợp đặc biệt của QĐHP nhưng lại quy định chung trong điều luật quy định những tình tiết giảm nhẹ, quy định như vậy
là không rõ ràng và đây là sự hạn chế về mặt lập pháp về mặt hình thức
+ Về điều kiện để áp dụng quy định này thì khoản 3 Điều 38 BLHS năm 1985 quy định chưa chặt chẽ, các tình tiết giảm nhẹ có hai loại đó là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và các tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2 Điều 138 mà khoản 2 quy định Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ Vậy “khi
có nhiều tình tiết giảm nhẹ” được hiểu như thế nào, bắt buộc phải có ít nhất bao tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 38 hay không hay chỉ cần có nhiều tính tiết giảm nhẹ
là được bất cứ nó thuộc khoản 1 hay khoản 2 Điều 38 BLHS nên dẫn đến áp dụng điều kiện này thiếu thống nhất và dẫn đến hình phạt được tuyên quá nhẹ
+ Về giới hạn giảm nhẹ hình phạt thì khoản 3 Điều 38 BLHS năm 1985 chưa
đề cập đến giới hạn giảm nhẹ khi áp dụng quy định này, điều đó dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất, thậm chí có trường hợp điều luật có 4 khung hình phạt nhưng Tòa án đã chuyển từ khoản 4 xuống khoản 1 khi áp dụng quy định này
Để khắc phục những hạn chế trên thì trong lần pháp điển hóa lần thứ hai, Nhà làm luật đã quy định QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật thành một điều luật độc lập với tên gọi “QĐHP nhẹ hơn quy định của Bộ luật” tại Điều 47, đồng thời cũng quy định những điều kiện QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của BLHS, những điều kiện đó là:
- Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, Tòa
án có thể QĐ một mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định
- Hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định
Trang 36phải là hình phạt nằm trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật
- Nếu khung hình phạt mà Tòa án áp dụng đối với bị cáo là khung hình phạt nhẹ nhất hoặc khung duy nhất của điều luật thì Tòa án quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
Tuy nhiên, quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật năm
1999 và các văn bản hướng dẫn sau hơn 10 năm áp dụng vào thực tiễn xét xử vẫn bộc lộ những điểm hạn chế, bất cập cần được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử trong giai đoạn hiện nay
1.4 QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của bộ luật của một số nước ngoài
1.4.1 QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật trong BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được Quốc hội Trung Hoa thông qua ngày 01 tháng 7 năm 1989, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm
1980, từ đó đến nay Bộ luật này đã trải qua sáu lần sửa đổi, bổ sung, lần gần đây nhất là vào ngày 28 tháng 12 năm 2005 BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa gồm
452 Điều, đây là một trong những BLHS tiến tiến trên thế giới Nghiên cứu BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho thấy có nhiều điểm tương đồng so với BLHS Việt Nam như Bộ luật chia làm hai phần, phần chung và phần các tội phạm, các chế định ở phần chung, các tội phạm cụ thể ở phần các tội phạm
Quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất được quy định tại Điều 63 của BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa như sau:
“Khi có tình tiết giảm nhẹ mà Bộ luật này quy định được áp dụng một hình
phạt giảm nhẹ thì phải QĐHP theo khung hình phạt nhẹ hơn theo qui định Trong trường hợp không có tình tiết giảm nhẹ theo qui định của Bộ luật này, nhưng căn cứ vào tình tiết đặc thù của vụ án, Tòa án nhân dân tối cao có thể QĐHPnhẹ hơn trong khung hình phạt”
Như vậy, BLHS Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa cũng có quy định QĐHP dưới mức thấp nhất, quy định này thì cho thấy Tòa án chỉ có thể quyết định mức hình phạt nhẹ hơn quy định của chế tài khi có những tình tiết giảm nhẹ đặc biệt được quy
Trang 37án khác thì có thể áp dụng khung hình phạt nhẹ hơn Như vậy, BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chỉ cho phép Tòa án QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài khi
bị cáo có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt là “tự tú” hoặc “lập công”, ngoài hai tình tiết giảm nhẹ đặc biệt này ra các Tòa án địa phương không được dùng tình tiết giảm nhẹ khác để QĐHP nhẹ hơn quy định Tham chiếu với quy định về điều kiện tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 47 của BLHS Việt Nam thì thấy rằng quy định điều kiện về tình tiết giảm nhẹ để QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài của BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa khắc khe hơn nhiều, theo quy định của Bộ luật này chỉ có hai tình tiết giảm nhẹ đặc biệt luật định là “tự thú” và “lập công” thì mới được áp dụng hình phạt dưới mức tối thiểu của chế tài, trong khi đó thì các tình tiết giảm nhẹ dùng làm căn cứ để QĐHP dưới mức thấp nhất quy định tại Điều 46 BLHS Việt Nam thì rất nhiều có tới 18 tình tiết giảm nhẹ So với quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của BLHS Việt Nam thì quy định về QĐHP dưới mức của BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa khắc khe hơn nhiều
Tóm lại, QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật cũng được ghi nhận trong BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội Về điều kiện tình tiết giảm nhẹ thì rất chặt chẽ chỉ có những tình tiết giảm nhẹ đặc biệt mới được giảm nhẹ dưới mức tối thiểu của chế tài, nhưng về giới hạn giảm nhẹ thì không được qui định nên dễ dẫn đến tùy tiện, thiếu thống nhất trong khi áp dụng quy định này vào thực tiễn xét xử
1.4.2 QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật trong BLHS Liên Bang Nga
Quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất cũng xuất hiện trong BLHS nước
Trang 38Cộng hòa Liên bang Nga, tại Điều 65 BLHS này quy định:
Điều 65 của BLHS Cộng hòa Liên bang Nga đã chỉ ra căn cứ để Tòa án có thể QĐHP dưới mức quy định đó là những tình tiết giảm nhẹ hình sự liên quan đến động cơ mục đích phạm tội, vai trò của người phạm tội, xử sự của người phạm tội trong hoạt sau khi thực hiện tội phạm.v v
+ Về điều kiện các tình tiết giảm nhẹ: Điều 65 của Bộ luật Cộng hòa Liên bang Nga quy định về tình tiết giảm nhẹ là điều kiện để áp dụng hình phạt nhẹ hơn mang tính cụ thể cho phép Tòa án linh hoạt trong đánh giá, Tòa án có quyền đánh giá tình tiết nào là tình tiết giảm nhẹ để áp dụng hình phạt nhẹ hơn So với quy định
về điều kiện tình tiết giảm nhẹ luật định dùng làm điều kiện QĐHP dưới mức của BLHS Việt Nam thì quy định của BLHS Nga thoáng hơn rất nhiều, Tòa án tùy nghi đánh giá tình tiết giảm nhẹ, điều luật cũng không quy định có bao nhiêu tình tiết giảm nhẹ Quy định về điều kiện tình tiết giảm nhẹ này dẫn đến khả năng tùy tiện trong QĐHP dưới mức nên tính khả thi không bằng quy định về điều kiện tình tiết giảm nhẹ để QĐHP dưới mứctheo BLHS Việt Nam
+ Về giới hạn giảm nhẹ hình phạt: Điều 65 của BLHS Cộng hòa Liên bang Nga không quy định về giới hạn QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, điều này sẽ dẫn đến sự tùy nghi QĐHP dưới mức của Tòa án khi áp dụng quy định về QĐHP dưới mức trong xét xử, so với quy định về giới hạn giảm nhẹ của BLHS Việt Nam thì quy định của BLHS Nga không có sự tương đồng
Tóm lại, quy định về quyết định hình phạt dưới mức của BLHS Cộng hòa Liên bang Nga về điều kiện tình tiết giảm nhẹ và giới hạn giảm nhẹ hình phạt thoáng hơn quy định của BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và BLHS Việt Nam
1.4.3 QĐHP dưới mức thấp nhất hơn quy định của BLHS Nhật Bản
Điều 68 BLHS Nhật Bản năm 1907, sửa đổi năm 2011 quy định:
Khi có từ một hoặc hai lý do trở lên, phải được giảm nhẹ mức hình phạt theo quy định, thì sẽ áp dụng như trường hợp dưới đây:
1.Giảm nhẹ hình phạt từ tử hình xuống tù chung thân; hoặc tù 10 năm hoặc cầm cố;
Trang 392.Giảm nhẹ tù chung thân hoặc cầm cố xuống còn trên 7 năm hoặc cầm cố; 3.Giảm nhẹ tù có thời hạn hoặc giảm nhẹ cầm cố thì giảm xuống một phần hai của ký dài và kỳ ngắn;
4.Giảm nhẹ hình phạt tiền xuống còn một phần hai mức tiền nhiều và tiền ít; 5.Giảm nhẹ hình phạt giam giữ xuống còn một phần hai mức kỳ dài;
6.Giảm phạt tiền mức nhẹ xuống còn một phần hai mức phạt ấy;
Điều 69 BLHS Nhật Bản quy định “Trong trường hợp giảm hình phạt theo quy định của pháp luật, nếu điều khoản áp dụng có hai hình phạt trở lên, thì quy định điều khoản áp dụng hình phạt đó trước rồi mới giảm nhẹ hình phạt”
Như vậy, so sánh BLHS Việt Nam quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, BLHS Nhật Bản tạo ra sự linh hoạt tối đa cho Tòa án áp dụng lý
do giảm nhẹ tùy thuộc vào từng người phạm tội Đồng thời, BLHS Nhật Bản quy định cụ thể Tòa án quyết định giảm nhẹ đối với từng loại hình phạt trong giới hạn nhất định
Việc nhận định, đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và áp dụng quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của BLHS hoàn toàn phụ thuộc vào Tòa án Nhật Bản Bản án hình sự phải phân tích lý do làm giảm rất đáng kể tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cùng với hậu quả đã được khắc phục rất nhiều để làm nổi bật và rõ ràng trong quyết định hình phạt của Tòa án giảm nhẹ hình phạt đáng kể đối với bị cáo theo từng loại hình phạt được ghi nhận cụ thể trong quy định của pháp luật
Kết luận chương 1
Trong chương 1, học viên đã làm rõ khái niệm và bản chất và đặc điểm của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật, trên cơ sở đó phân tích ý nghĩa xã hội và pháp lý của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt Học viên đã làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý của quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như về điều kiện phải có tình tiết giảm nhẹ luật định, yêu cầu của việc áp dụng quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất, giới hạn giảm nhẹ khi áp dụng quy định này Học viên cũng đã khái quát quá trình hình
Trang 40thành và phát triển của quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhằm tìm hiểu lịch sử hình thành, sự kế thừa và phát triển của quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất, ngoài ra còn đề cập đến quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt của một số nước trên thế giới nhằm so sánh, đối chiếu với quy định của luật hình sự Việt Nam