Đất nước ta với hơn 70% dân số sống bằng nghề nông với trồng trọt và chăn nuôi là chủ yếu. Trong các loại cây tròng mang lại thu nhập khá cao trong đó có cây mía là nguyên liệu chủ yếu sản xuất ra sản phẩm đường. Sản phẩm này thường không ổn định đã làm cho sản xuất đường đứng trong tình trạng “Ngàn cân treo sợi tóc”. Trong khi nền kinh tế nước ta không ngừng phát triển vượt bậc, do sự đóng góp lớn của sản phẩm nông nghiệp. Trong đó đỉnh cao là xuất khẩu gạo và sản phẩm của một số cây công nghiệp. Còn cây mía vẫn đang trong tình trạng trì trệ không được cải thiện thêm. Đến lúc này chúng ta kêu gọi kế hoạch sản xuất đường liệu có phải là quá muộn không? Dù sao chúng ta không thể để tình trạng này kéo dài. Đây là lý do em chọn đề tài này.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Khi nền kinh tế thị trường phát triển đến một trình độ nhất địnhdoanh nghiệp cũng trở thành hàng hoá khi nhu cầu mua và bán và đầu tưrộng rãi trên thị trường thì hoạt động định giá trở nên sôi động và ngày càngđược chú trọng trong cac cuộc cải cách doanh ngiệp nhà nước ,cổ phần hoá
là giải pháp mang tính đột phá giải quyết vấn đề cơ bản là sở hữu doanhngiệp và do đó tạo ra môi trường động lực to lớn giúp cho doanh ngiệp nhànước sau khi chuyển đổi thành công ty cổ phần có tôc độ tăng trương theocấp số nhân toàn diện thì vẫn đề xác định giá trị doanh ngiệp là không thểthiếu để đảm bảo quyền lợi người mua và người bán cung như quyền lợi cácthành viên công ty cổ phần ,trong quấ trinh chuyển đổi đây là một đề tài gây
ra nhiều tranh luận trên các diễn đàn kinh tế cả về lý luận lẫn thưc tiến trongmấy chuc năm qua từ tính chất bức thiết của nó tôi quyết định chọn đề tài((xã định giá trị doanh ngiệp trong quá trình cổ phần hoá dôanh ngiệp nhànước )).trong quá trình cổ phần hoá doanh ngiệp nhà nước chuyển thànhcông ty cổ phần ở Việt nam đã đạt được những kết quả nhất định nhưng bêncạnh đó nó còn có nhiều thiếu sót và hạn chế cần ngiên cứu đưa ra phươngpháp đúng đắn nhàm phát triển hoàn thiện hơn nứa trong những yếu tố đó làviêc xác định giá trị doanh ngiệp trong quá trinh cổ phần hoá đây là nhân tốquan trọng trong quá trinh cổ phần hoá ,đảm bảo quyền lợi nhà nước trongcông ty cổ phần ,vi vầy tôi quyết định chọn đề tài này để nhằm củng cố thêmkiến thức của mình về việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công
ty cổ phần mà cốt lõi là vẫn đề xây dựng giá trị doanh ngiệp trong quá trình
cổ phần hoá
Trang 2PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỔ PHẦN HOÁ DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC I.1 Quan niệm cổ phần hoá.
Xét về mặt hình thức cổ phần hoá là việc nhà nước bán một phần hay
toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong xí ngiệp cho các đối tượng cá nhân,
tổ chức trong và ngoài nước hoặc cho cán bộ quản lý hay công nhân của xínghiệp bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán đểhình thành công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần
Xét về mặt thưc chất cổ phần hoá chính là thực hiện xã hội hoá sở hữuchuyển hình thức kinh doanh một chủ với sở hữu nhà nước trong doanhnghiệp thành công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu để tạo ra mô hinh doanhnghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường đáp ứng nhu cầu kinh doanh hiệnđại
I.2 Vì sao cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hoá hình thức sở hữu tại doanh nghiệp đã chuyển từ sở hữunhà nước sang sở hữu hỗn hợp từ đây dẫn tới những thay đổi quan trọng vềhình thức tổ chức, quản lý cũng như phương hướng hoạt động của công ty.Trong điều kiện cơ chế quản lý thay đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanhtrở thành yếu tố sống còn doanh nghiệp thì các doanh nghiệp thuộc khu vựckinh tế nhà nươc đã bộc lộ những yếu kém, lâm vào tình trạng sa sút khủnghoảng vì vậy chuyển sang hình thức mới là công ty cổ phần
Trong công ty cổ phần quyền lợi của những người chủ gắn chặt với nhữngthành bại hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty vì thế họ rất đoàn kếtgắn bó thống nhất trong công việc tìm kiếm đứa ra phương hướng hoạt độngphù hợp nhất hoạt động của doanh nghiệp nhằm củng cố tăng cường sứccạnh tranh của sản phẩm do họ sản xuất ra quan tâm đến công việc sản xuấtcủa công ty và lao động tích cực với tinh thần trách nhiệm cao , khắc phụcviệc buông lỏng quản lý tài sản của doanh nghiệp , xoá tình trạng vô chủ củadoanh nghiệp mặc dù chủ trương trao quyền tự quản cho các doanh nghiệp
Trang 3nhà nước là giải pháp đạt kết quả nhất định nhưng chỉ mới đẩy lùi được chế
độ bao cấp nhà nước đối doanh nghiệp nhà nước , còn về phần thức thì tàisản doanh nghiệp nhà nước vẫn là tài sản chung cho nên tình trạng vô tráchnhiệm ,láng phí của công vẫn chưa được khắc phục khi doanh nghiệp nhànước trở thành công ty cổ phần thì điều này mằc nhiên sẽ không còn tồn tại
Doanh ngiệp nhà nước là một bộ phận quan trọng ,cấu thành khu vưckinh tế nhà nước ,vì thế vai trò chủ đạo thành phần kinh tế này phụ thuộcnhiều hiệu quả kinh tế xã hội mà doanh nghiệp nhà nước mang lại nước tacũng giống như những nước xã hội chủ nghĩa trước đây ,thực hiện mô hìnhkinh tế kế hoạch hoá tập trung ,lấy việc mở rộng và phát triển cac doanhnghiệp nhà nước làm muc tiêu cho công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa
xã hội nên đã chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế và dựa trên cơ sởnguồn vốn cấp phát ngân sách nhà nước , tất cả các hoạt động đều chịu sựkiểm sóat và chi phối trưc tiếp của nhà nước song cũng giống như nhiềunước trên thế giới ,các doanh nghiệp nhà nước hoạt động hết sưc kém hiệuquả ,ngày càng bộc lộ những điểm yếu ,đặc biệt là cấp địa phương quản lý
Tỷ trọng tiêu hao vật chất :tỷ trọng tiêu hao vật chất trong tổng sảnphẩm xã hội của khu vực nền kinh tế nhà nước cao gấp 1,5 lần và chi phí đểsáng tạo ra một đồng thu nhập quốc dân cao gấp hai lần so nền kinh tế tưnhân
Mức tiêu hao vật chất của các doanh nghiệp nhà nước trong sản xuấtcho một đơn vị tổng sản phẩm xã hội ở nước ta thường cao gấp 1,3 lần somức trung bình trên thế giới VD:chi phí vật chất của sản phẩm hoá chấtbằng 1.88 lần , sản phẩm cơ khí bằng 1,3-1,8 lần , phân đạm bằng 2,35 lần mức tiêu hao nang lượng của cac doanh nghiệp nhà nước ở nước ta cũng caohơn mức trung bình của các nước trên thế giới ,VD; sản xuất giầy gấp 1,26lần ,hoá chất cơ bản bằng 1,44 lần than bằng 1,75 lần ……
Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp nhà nước thấp và không ổn
Trang 4Trung bình trong khu vực kinh tế nhà nước chỉ có khoảng 15% đạttiêu chuẩn xuất khẩu ; 65%số sản phẩm đạt chất lượng dưới trung bình đểtiêu dùng nội địa ; 20%số sản phẩm kém chất lượng Do đó hiện tượnghàng hoá ứ đọng với khối lượng lớn và chiếm hơn 10% số vốn lưu động củatoành xã hội.
Hệ số sinh lời của khu vực kinh tế nhà nước rất thấp
VD: Hệ số sinh lời của vốn lưu động mang tính chất chung chỉ đạt 7%một năm trong đó nghành giao thông vận tải đạt 2% một năm…Hệ số sinhlời của vốn lưu động đạt 11% một năm, trong đó các nghành tương ứng ởtrên đạt 9,4%; 10,6% và 9,5%
Hiệu quả khai thác vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước rất thấp
Cụ thể là mấy năm gần đây hàng năm nhà nước dành hơn 70% vốnđầu tư ngân sách của toàn xã hội cho các doanh nghiệp nhà nước, tuy nhiênchúng chỉ tạo ra được từ 34 đến 35% tổng sản phẩm xã hội Hơn nữa khuvực kinh tế nhà nước lại sử dụng hầu hết các lao động có trình độ ĐH, côngnhân kỹ thuật, phần lớn số vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại quốcdoanh
Số các doanh nghiệp thua lỗ chiếm một tỷ trọng lớn:
Theo số liệu của tổng cục thống kê năm 1990, trong số 12084 cơ sởquốc doanh thì có tới 4504 đơn vị sản xuất kinh doanh thua lỗ, chiếm hơn
4584 đơn vị sản xuất kinh doanh thua lỗ ,chiếm hơn 30% tổng số doanhngiệp nhà nước trong đó , quốc doanh trung ương có 501 cơ sở thua lỗ ,bàng 29,6 cơ số do trung ương quản lý , quốc doanh địa phương có 4083cơ
sở thua lỗ chiếm 39,9% số đơn vị do địa phương qủan lý các đơn vị trênđây có giá trị tài sản bằng 32.9% số đơn vị do đia phương quản lý các đơn
vị trên đây có giá trị tài sản cố định bằng 38% tổng giá trị tài sản của toàn bộkhu vực kinh tế nhà nước và với 787300 lao động trong tổng số 2590000 laođộng , bằng 32,9% lao động của toàn bộ khu vực kinh tế nhà nước các sốliệu đó cho thấy việc làm ăn thua lỗ của các doanh ngiệp nhà nước đã gây
Trang 5tổn thất rất lớn cho ngân sách nhà nước và là một trong những đưa đến việcbội chi ngân sách nhà nước trong nhiều năm qua thêm vào đó nhà nước lại
có hàng loạt chính sách bù giá , bù lương bù chênh lệch ngoại thương vàhàng loạt các khoản bao cấp khác cho các khoản vay nợ nhà nước ngày càngnặng nề và trầm trọng chỉ tính trong giai đoạn 1985-1990 tỷ lệ thâm hụtngân sách thường xuyên ở trên mưc 30%
Từ năm 1989 đến nay ,nền kinh tế đã thực sự bước sang hoạt độngtheo cơ chế thị trường
Các chính sách về kinh tế , tài chính đối doanh ngiệp nhà nước đãđược thay đổi theo hướng tự gio hoá giá cả chi phí ngân sách nhà nước bù
lỗ , bù giá bổ sung vốn lưu động cho khu vực này giảm đáng kể tuy nhiên
tư tưởng bao cấp trong đầu tư vấn còn rất nạng nề tất cả các doanh ngiệpđược thành lập đều được cấp ngân sách từ nhà nước hàng năm trên 85%vốntín dụng với lãi suất ưu đãi được dành cho cac doanh ngiệp nhà nước vay tài sản tiền vốn của nhà nước giao cho doanh ngiệp chủ yếu là không đượcbảo tồn và phát triển theo báo cáo của tổng cục thống kê, hầu hết cac doanhnghiệp nhà nước mới chỉ bảo tồn được vốn lưu động, còn vốn cố định thìmới chỉ bảo tồn ở mức 50% so chỉ số lạm phát hai nghành chiếm giữ vốnlớn nhất là công nghiệp và thương nghiệp (72.52%) lại là hai nghành có tỷ lệthất thoát lớn nhất (16.41%và 14,95% ) vấn đề nợ nần vòng vo mất khảnăng thanh toán còn xảy ra khá ngiêm trọng do vấn đề quản lý tài chính đốivới doanh nghiệp chậm đổi mới , đồng thời nạn tham nhũng lãng phí diễn rakhá nghiêm trọng ,từ những hoạt động yếu kém của doanh ngiệp nhà nướcchúng ta thấy rằng vì sao lại cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, dó là tínhtất yếu của quá trình phát triển các doanh nghiệp nhằm khắc phục nhứngyếu kém do doanh nghiệp nhà nước mắc phải
Trang 6I.3 Mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Là để huy động vốn tạo điều kiện cho người lao động làm chủ thực sựtrong doanh nghiệp tạo động lực bên ngoài thay đổi phương thức quản lýnhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh ngiệp
Về việc huy động vốn thì trong thời gian qua thì ngân sách nhà nước đãđầu tư một tỷ trọng vốn lớn cho các doanh nghiệp nhà nước nhưng hiệu quảthu lại rất thấp trong khi ngân sách nhà nước có hạn và phải dàn trải chonhiều khoản chi tiêu khác Qua số liệu điều tra năm 1995 ( tổng cuc thống
kê ) cho thấy Trong 6544 doanh nghiệp nhà nước (trong tổng số 7060doanh nghiệp) đang hoạt động có 3268 doanh nghiệp thuộc dạng giải thểhoặc chuyển đổi hình thức sở hữu, chiếm 49,95% số doanh nghiệp được nhànước đầu tư Để xử lý tình trạng thiếu vốn và tạo cơ chế quản lý tài chính cóhiệu lực, thực sự rằng buộc trách nhiệm, trong sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp nhà nước thì giải pháp cần làm là thực hiện cổ phầ hoá một sốdoanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hoá cho phép tách quyền sở hữu và quyền quản lý tài sản củadoanh nghiệp nhằm đưa lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp Cổ phần hoá
sẽ huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội một cách nhanh chóng đểphát triển sản xuất kinh doanh Khi doanh nghiệp làm ăn có lãi thì nguồnvốn dồi dào trong dân cư sẽ đổ vào nơi có lợi nhuận cao, làm cho các doanhnghiệp cổ phần hoá, ngày càng có vốn lớn từ đó có điều kiện trang bị kỹthuật hiện đại hơn, mở rộng sản xuất Đồng thời nguồn vốn ngày càng đựoc
sử dụng tốt tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu liêntục.Cổ phiếu có thể chuyển nhượng cho nhau sẽ thúc đẩy lưu thông tiền vốn.Mặt khác doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu để bổ xung thêm vốn khicần thiết Các doanh nghiệp khi đã cổ phần hoá sẽ liên doanh với cácdoanh nghiệp trong và ngoài nước từ đó thu hút được nhiều vốn hơn nữa.góp phần quan trọng nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp , tạo ra loạihình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu trong đó có đông đảo lực lượng lao
Trang 7động mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sử dụnghiệu quả vốn và tài sản của nhà nước và doanh nghiệp đồng thời phát huyvai trò làm chủ thực sự ngưòi lao động , của các cổ đông tăng cường sựgiám sát nhà đầu tư đối doanh nghiệp , đảm bảo hài hoà lợi ích nhà nước ,doanh nghiệp, nhà đầu tư, và người lao động nâng cao hiệu quả hoạt độngdoanh nghiẹp nhà nước gỉảm thâm hụt ngân sách nhà nước là những mụctiêu đầu tiên và trực tiếp tuy nhiên tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, quan điểm, củatừng nước mà mục tiêu khác nhau
Như các nước tư bản phát triển đó là xoá bỏ độc quyền nhà nước quyđịnh cho một số doanh nghiệp nhà nước, buộc doanh nghiệp này năng caokhả năng cạnh tranh So với khu vực kinh tế tư nhân, các ngành các lĩnh vựclâu nay nhà nước độc quyền nhưng xét thấy không cần thiết nữa
Nhà nước có điều kiện tập trung vào các ngành then chốt mũi nhọn, đòihỏi hàm lượng khoa học kỹ thuật cao để năng cao sức cạnh tranh các sảnphẩm quan trọng của đất nước trên thị trường thế giới cũng như tập trungvào chức năng ổn định kinh tế vĩ mô
Thực hiện một số phân phối có lợi cho những người có thu nhập thấp,tạo sự ổn định về mặt xã hội trong giai đoạn nền kinh tế đang bị trì trệ
Ở nhóm các nước đang phát triển, nhìn chung đèu có đề cập đến 5 mục tiêu
cổ phần hoá nêu trên, ngoài ra còn bổ xung thêm một số mục tiêu có tínhchất đặc thù là
Giảm các khoản nợ nước ngoài ngày càng tăng do phải bù đắp cáckhoản thâm hụt ngân sách để trợ cấp cho các doanh nghiệp nhà nước
Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài để đổi mới kỹ thuật và hoạ tập quản lý,tạo ra một nền kinh tế thị trường mở cửa để tăng sức cạnh tranh của doanhnghiệp nhà nước, năng cao chất lượng hàng hoá và dịch vụ trong nước
Tạo dựng và phát triển một thị trường tài chính gồm thị trường tư bản,thị trường chứng khoán, thị trường tiền tệ hoàn chỉnh trong nước
Trang 8Ở các nước SNG và Đông Âu, dưới chính thể mới, việc tiến hành cổphần hoá doanh nghiệp nhà nước, ngoài những mục tiêu đã nêu ở hai nhómnước nói trên, còn có thêm một số mục tiêu đặc thù sau.
Giảm nhanh tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế vàxoá bỏ hệ thống kế hoạch hoá tập trung đang gây ra tình trạng kém hiệu quảtrong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và đang đẩy nền kinh tế đi đến
sự khủng hoảng
Tạo ra hệ thống kinh tế thị trường và tăng nhanh khu vực kinh tế tưnhân để dân chủ hoá hoạt động kinh tế và tạo ra mối tương quan hợp lý củacác khu vực kinh tế trong nền kinh tế thị trường hỗn hợp có sự điều tiết củanhà nước
I.4 Các hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
- Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp , phát hành thêm
cổ phiếu thu hút vốn
- bán một phần nước hiện có tại doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếuthu hút vốn
- bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp
- thực hiện các hình thức thứ hai hoặc thứ ba kết hợp với phát hành cổphiếu thu hút vốn
I 5 Quy trình chung cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Thực tiễn và nhiều công trình nghiên cứu các nước chỉ ra rằng việcthực hiện cổ phần hoá gồm nhiều giai đoạn : chuẩn bị điều kiện về tổ chức ,lựa chọn các mục tiêu , phương hướng thực hiện ,kiểm soát và điều chỉnh tuy nhiên các giai đoạn không có sư phân định rõ rệt nhưng nó có ỹ nghĩachỉ đạo về mặt thực tiến : khuyễn khích tính thận trọng với những giải phápphù hợp dựa trên những điều kiện thực tế tính quá trình tỏ ra thích hợp với
cả chính phủ đang cần có thời gian nắm bắt và kiểm soát , cũng như côngchúng đang cần thời gian để tìm vào sự ổn định , lâu dài về chính sách củachính phủ ở việt nam chúng ta trong hoàn cảnh thiếu điều kiện quan trọng
Trang 9để thực hiện cổ phần hoá thì việc quán triệt quan điểm trong quá trình cổphần hoá doanh nghiệp nhà nước là cần thiết để chống những tư tưởng vàbiểu hiện nóng vội , chủ quan duy ý chí , muốn hoàn thành công việc nàytrong một thời gian ngắn
Như vậy , qua thực tiễn tiến hành công tác cổ phần hoá doanh nghiệp
ở nước ta , và qua kinh nghiệm cơ bản của một số nước xung quanh chúng
ta thấy việc cổ phần hoá đáp ứng yêu cầu bức thiết của công cuộc cải cáchcác doanh nghiệp nhà nước phù hợp theo sự phát triển của nền kinh tế thịtrường hiện đại là một quá trình lâu dài vừa làm vừa rút kinh ngiệm cụ thể ,
là công viêc hết sức phức tạp đòi hỏi thực hiện trong nhiều năm
Trang 10PHẦN II: VẪN ĐỀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG
QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ
2.1 Những khái niệm
2.1.1 Giá trị doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá
Là những giá trị hiện có của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ tài sản hiện
có của doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá , có tính đến khả năng sinhlời của doanh nghiệp mà người mua người bán cổ phần đều chấp nhậnđược Giá trị thực tế của doanh nghiệp là giá trị thực tế của doanh nghiệpsau khi đã trừ các khoản nợ phải trả quỹ khen thưởng quỹ phúc lợi
Giá trị doanh nghiệp bao gồm giái trị quyền sử dụng đất, giá trị vốngóp liên doanh doanh nghiệp khác…
Giá trị thực tế doanh nghiệp cổ phần hoá không bao gồm tài sảndoanh nghiệp thuê mượn, nhần góp vốn liên doanh, liên kết các tài sản kháckhông phải của doanh nghiệp
- Những tài sản không cần dùng chờ thanh lý
- Giá trị các khoản phải thu khó đòi đã được trừ vào giá trị doanhngiệp
- Chi phí xây dựng cơ bản dở dang của những công trình đã bị đìnhhoán trước thời điểm xác định gía trị doanh nghiệp
Trang 11- Các khoản đầu tư dài hạn vào doanh nghiệp khác được cơ quanthẩm quyền quyết định chuyển cho đối tác khác.
- Tài sản thuộc công trình phúc lợi được đầu tư bằng quỹ khenthưởng, từ quỹ phúc lợi của doanh nghiệp và của cán bộ công nhân viêntrong doanh nghiệp
2.1.2 Giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp thành công ty cổ phần thì gía trịphần vốn nhà nước tại doanh nghiệp tùy thuộc vào yếu tố doanh nghiệpkhác nhau mà nhà nước nắm giữ những phần vốn nhất định thông qua tỷ lệ
cổ phần: Thông thường tỷ lệ cổ phần hay giá trị phần vốn nhà nước tạidoanh nghiệp chia làm ba loại
- Nhà nước nắm giữ tỷ lệ cổ phần chi phối
- Nhà nước nắm giữ tỷ lệ cổ phần ở mức thấp
- Nhà nước không nắm giữ cổ phần ở doanh nghiệp
2.1.3 Lợi thế doanh nghiệp trong quá trìng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Được xác định trên cơ sở tỷ suất lợi nhuận sau thuế thu nhậm doanhnghiệp trên phần vốn nhà nước của doanh nghiệp binh quân trong ba nămliền kế trước khi cổ phần hoá so với lãi suất trái phiếu của chinh phủ kỳ hạn
10 năm ở thời điểm gần nhất nhân với giá trị phần vốn nhà nước tại doanhnghiệp ở thời điểm định giá
Nếu doanh nghiệp có giá trị thương hiệu được thị trường chấp nhậnthì xác định căn cứ vào thị trường
2.2 Những phương pháp xây dựng giá trị doanh nghiệp và những điều kiện để xác định chính xác giá trị doanh nghiệp
2.2.1 Những căn cứ xác định giá trị doanh nghiệp trong quá trình
cổ phần hoá
- Số liệu trong sổ sách kế toán doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hoá
Trang 12- Số lượng và chất lượng tài sản theo kiểm kê và phân loại tài sảnthực tế doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hoá
- Giá trị quyền sử dụng đất , lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp về
vị trí địa lý hay uy tín của doanh nghiệp, tính chất độc quyền về thương hiệu,sản phẩm doanh nghiệp
Khả năng sinh lời của doanh nghiệp xác định trên cơ sở tỷ suất lợinhận trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
2.2.2 Phương pháp xá định giá trị của doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Tuỳ theo điều kiện nghành nghề hoạt động sản xuất kinh doanh vàđiều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp cho phép áp dụng các phương phápkhác nhau để xác định giá trị doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá theohưóng dẫn của bộ tài chính sau đây là một vài phương pháp xác định giá trịdoanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Xét về hình thức cổ phần hoá là việc nhà nước bán một phần hay toàn
bộ giá cổ phần của mình trong doanh nghiệp cho các tổ chức trong và ngoàidoanh nghiệp bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán.việc xác định chính xác giá trị doanh nghiệp sẽ tránh thiệt hại cho hai bêntham gia mua và bán khi giá trị doanh nghiệp được định giá thấp hơn giá trịcủa nó thì làm mất vốn của nhà nước , ngược lại định giá cao hơn giá trịdoanh nghiệp thì gây thiệt hại cho người mua và không bán được cổ phầncủa doanh nghiệp
- Phưong pháp tài sản ròng : phương pháp này xác định giá trị củadoanh nghiệp dựa trên giá thị trường của các tài sản của nó , theo phươngpháp này ,giá thị trường của tài sản được tính toán dựa trên bảng cân đối kếtoán và tham khảo giá thị trường của loại tài sản tương tự hay cùng loại giátrị vốn cổ phàn được tính toán như sau
VE=VA-VD
Trong đó : VE ;Giá trị thị trường của vốn cổ phần
Trang 13VA :Giá thị trường của tài sản
VD: Giá thị trường của nợ
- Phương pháp định giá theo khả năng sinh lời
Giá trị của doanh nghiệp có thể được tính bằng giá trị hiện tại của cácdòng lợi nhuận dự tính thu được trong tương lai :
t t n
V )
k (
Trong đó Ft : lợi nhuận dự kiến năm t
Vn :Giá trị thanh lý máy móc thiết bị năm n
K : lái suất chiết khấu
- Giá trị doanh nghiệp cũng có thể được tính thông qua lợi nhuận bìnhquân và tỷ suất lợi nhuận bình quân
Fi: lợi nhuận này dự tính thu được căn cứ vào số liệu thống kê củacác năm gần nhất với thời điểm định giá và phương án kinh doanh dự tínhđối doanh nghiệp
Tf : Tỷ suất lợi nhận dư kiến thu dược của doanh nghiệp kinh doanhtrong nghành nghề
- Phương pháp giá trị hiện tại của các lợi ích ròng kỳ vọng trongtương lai
Vdn = +
Trong đó
Vdn= giá trị của doanh nghiệp
Bt= Lợi ích kỳ vọng của doanh nghiệp tại năm thứ t
Ct= Chi phí kỳ vọng tại năm thứ t mà doanh nghiệp phải ghánh chịu
Vn = giá trị thanh của doanh nghiệp tại năm thứ n
K=tỷ suất chiết khấu ( tỷ suất vốn hoá hay chi phí vốn )
- Phương pháp hiênh tại hoá và định lượng của Goodwill
Về thực chất được xây dựng và phát triển dự trên hai công thức tổng quát
Trang 14V0 =
t +
GW =
n t Trong đó
Vo: Giá trị doanh nghiệp
Rt : Khản thu năm t
Vn: Giá trị bán lại hoặc thanh lý năm n
At :Giá trị tài sản đưa vào kinh doanh
R : Tỷ suất lợi nhuận bình thường của tài sản
I :Tỷ suất hiện tại hoá
N:Số năm nhận được khoản thu
Các công thức trên đã chỉ ra một nguyên lý chung : giá trị doanh nghiệpđược xác định bằng giá trị hiện tại của các khoản thu nhập trong tương lai còn goodwill lại được tính bằng giá trị hiện tại của các khoản siêu lợi nhuận
mà doanh nghiệp tạo ra đươc trong n năm tồn tại Từ các công thức trên ,các nhà kinh tế ,các chuyên gia định giá , các nhà đầu tư ,người mua ngườibán doanh nghiệp có thể tha hồ mà phát triển ý tưởng của mình về xác địnhcác tham số Rt, Vn, i ,r , n, …các tham số dó luôn thay đổi trong cách nhìnnhận và đánh giá của mỗi người ,ssó là lý do dẫn tới sư chênh lệch rất lớn vềgiá trị doanh nghiệp theo những cách đánh giá khác nhau , gây nên trở ngạitrong quá trình giao dịch , thương thuyết và bán doanh nghiệp trong thực tế Như vậy , để xác định giá tri của doanh nghiệp ta cần ước lượng các tham
số trên đây là một vẫn đề không đơn giản ta nhận thấy rằng viec các doanhnghiệp xác định giá trị theo công thức một sẽ là khác nhau vì một số lý dosau
Thứ nhất các nhà hoạt động kinh tế tại các khu vực khác nhau của
nền kinh tế mà đặc biệt là của chính phủ và tư nhân , thường theo đuổi cách