Bằng cách xác định, bảo vệ, bảo tồn, giới thiệu và truyền lại cho các thế hệ hiện tại và tương lai những di sản văn hoá và thiên nhiên có Giá trị Nổi bật Toàn cầu không thể thay thế được
Trang 1CHÍNH SÁCH VỀ VIỆC LỒNG GHÉP QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀO CÁC QUY TRÌNH CỦA CÔNG ƯỚC DI SẢN THẾ GIỚI
Được thông qua tại kỳ họp lần thứ 20 Hội đồng các quốc gia thành viên của
Công ước Di sản Thế giới (UNESCO 2015)
Peter Bille Larsen
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nhân khẩu học, bất bình đẳng gia tăng, các nguồn lực ngày càng khan hiếm và các mối đe dọa đối với di sản ngày càng hiện hữu, càng cần thiết phải cân nhắc những mục tiêu bảo tồn, bao gồm cả những mục tiêu của Công ước Di sản Thế giới, trong khuôn khổ lớn hơn của các giá trị và nhu cầu kinh tế,
xã hội và môi trường chứa đựng trong khái niệm phát triển bền vững
Bằng cách xác định, bảo vệ, bảo tồn, giới thiệu và truyền lại cho các thế hệ hiện tại và tương lai những di sản văn hoá và thiên nhiên có Giá trị Nổi bật Toàn cầu không thể thay thế được, Công ước Di sản Thế giới góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững và sự phồn vinh của con người.5 Đồng thời, việc tăng cường ba khía cạnh của phát triển bền vững bao gồm sự bền vững của môi trường, phát triển kinh tế toàn
3 Tài liệu này có thể được truy cập tại [bản tiếng Việt]
4 Trích Tuyên ngôn Budapest, có thể truy cập tại: http://whc.unesco.org/en/documents/1334
5 Chương trình nghị sự 2030 của Liên Hợp Quốc về phát triển bền vững công nhận điều này và đưa việc bảo vệ
và bảo tồn di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới thành một chỉ tiêu cụ thể trong một trong 17 mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt là trong mục tiêu số 11 về các thành phố và khu định cư cho mọi người, an toàn, vững chắc và bền vững
Trang 2diện, phát triển xã hội vì mọi người, cũng như củng cố hoà bình và an ninh6, có thể mang lại lợi ích cho các khu Di sản Thế giới và hỗ trợ Giá trị Nổi bật Toàn cầu của các
di sản này, nếu chúng ta có thể lồng ghép thành công các khía cạnh này vào hệ thống bảo tồn và quản lý di sản
Do đó, bên cạnh việc bảo vệ Giá trị Nổi bật Toàn cầu của các Di sản Thế giới, các quốc gia thành viên cần nhận diện và phát huy các tiềm năng di sản có thể đóng góp cho các khía cạnh của phát triển bền vững và tăng cường lợi ích các di sản có thể mang lại cho xã hội Đồng thời, các quốc gia thành viên cũng cần đảm bảo rằng chiến lược bảo tồn và quản lý của mình phù hợp với những mục tiêu phát triển bền vững rộng lớn hơn Trong quá trình này, cần đảm bảo rằng những Giá trị Nổi bật Toàn cầu không bị ảnh hưởng
Việc lồng ghép quan điểm phát triển bền vững vào Công ước Di sản Thế giới sẽ tạo điều kiện cho các bên thực hiện Công ước Di sản Thế giới tại các quốc gia thành viên hành động với trách nhiệm xã hội Quá trình này sẽ tăng cường vai trò lãnh đạo toàn cầu và thiết lập tiêu chuẩn thực hành tốt nhất của Di sản Thế giới, bằng cách giúp thúc đẩy những mô hình sáng tạo của phát triển bền vững thông qua hơn 1000 di sản
đã được công nhận trên toàn thế giới Hơn nữa, sự ra đời của chính sách là cần thiết vì cuối cùng, nếu lĩnh vực di sản không đi theo hướng phát triển bền vững và khai thác những lợi ích di sản và xã hội có thể mang lại cho nhau thì chính lĩnh vực này sẽ trở thành nạn nhân, chứ không phải là chất xúc tác cho những thay đổi lớn hơn
2 NHỮNG ĐIỀU KHOẢN CHUNG
Các quốc gia thành viên cần công nhận, bằng các cách phù hợp, rằng những chiến lược bảo tồn và quản lý Di sản Thế giới được kết hợp với quan điểm phát triển bền vững không chỉ bảo tồn các Giá trị Nổi bật Toàn cầu mà còn hướng đến sự phồn vinh của các thế hệ hôm nay và mai sau
Những chiến lược này phải dựa trên những nguyên tắc tổng thể dưới đây, phù hợp với Hiến chương của Liên Hợp Quốc và Chương trình nghị sự 2030, đặc biệt là theo đoạn 10-12:7
Trang 3- Quyền Con người8- Các quyền con người được nêu trong Hiến chương Liên Hợp Quốc và một loạt các văn kiện về nhân quyền đã được phê chuẩn một cách rộng rãi phản ánh những giá trị căn bản làm nền tảng cho nhân phẩm, hoà bình và phát triển bền vững Do đó, trong quá trình thực hiện Công ước Di sản Thế giới, cần tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền môi trường, xã hội, kinh tế, và văn hoá
- Công bằng: Giảm bất bình đẳng trong mọi xã hội là vô cùng cần thiết cho một
tầm nhìn về phát triển bền vững toàn diện Do đó, việc bảo tồn và quản lý các Di sản Thế giới cần đóng góp vào việc giảm thiểu bất bình bẳng, cũng như những nguyên nhân về cấu trúc, bao gồm phân biệt đối xử và loại trừ
- Tính bền vững với cách nhìn dài hạn: Tính bền vững, theo nghĩa rộng,chính
là một tinh thần của Công ước Di sản Thế giới Tính bền vững phải được coi là một nguyên tắc căn bản của tất cả các khía cạnh của phát triển và của tất cả các xã hội Trong khuôn khổ Công ước Di sản Thế giới, tính bền vững đồng nghĩa với việc áp dụng một cách nhìn dài hạn trong tất cả các quy trình ra quyết định đối với các Di sản Thế giới, nhằm mục đích tăng cường sự bình đẳng, công bằng và xây dựng một thế giới phù hợp với các thế hệ hiện tại và tương lai
Trong khi áp dụng quan điểm phát triển bền vững vào quá trình thực hiện Công ước Di sản Thế giới, các quốc gia thành viên cũng cần nhận ra những mối liên kết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau giữa đa dạng sinh học và văn hoá địa phương trong các hệ thống sinh thái xã hội của các Di sản Thế giới Những mối liên hệ này thường phát triển qua một thời gian dài thích ứng lẫn nhau giữa con người và môi trường, tương tác với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau theo những cách thức phức tạp, và là những thành phần cơ bản tạo nên độ bền bỉ dẻo dai của các cộng đồng Điều này gợi ý rằng bất kỳ chính sách nào hướng đến mục tiêu phát triển bền vững đều phải cân nhắc mối tương quan giữa đa dạng sinh học và bối cảnh văn hoá địa phương
Các khía cạnh của phát triển bền vững cần được áp dụng cho các di sản thiên nhiên, văn hoá và hỗn hợp trong sự đa dạng của chúng Những khía cạnh này phụ thuộc và củng cố lẫn nhau, không khía cạnh nào chiếm ưu thế hơn nhữngkhía cạnh khácvà các khía cạnh đều cần thiết như nhau Do đó, các quốc gia thành viên phải rà soát và củng cố các khung quản trị trong hệ thống quản lý các Di sản Thế giới để đạt được sự cân bằng phù hợp, tích hợp và hài hoà giữa việc bảo tồn Giá trị Nổi bật Toàn
8 Các quy định cụ thể về Quyền Con người được ghi rõ trong Mục III về phát triển xã hội toàn diện
Trang 4cầu và việc theo đuổi các mục tiêu phát triển bền vững Điều này bao gồm việc tôn trọng và tham gia của tất cả các bên liên quan và bên có quyền, trong đó có các dân tộc bản địa và cộng đồng địa phương, thiết lập các quy định và cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các tổ chức để đánh giá có hệ thống những ảnh hưởng của những đề xuất phát triển đến môi trường, xã hội và kinh tế, cũng như giám sát một cách hiệu quả thông qua việc thu thập dữ liệu liên tục theo các chỉ số được chấp nhận
Các quốc gia thành viên cần tiếp tục nhận thức rằng, đối với nhiều Di sản Thế giới, đạt được phát triển bền vững đòi hỏi phải hoạt động ở một quy mô lớn hơn rất nhiều so với bản thân di sản đó và rằng, trong quá trình này, một số khía cạnh của phát triển bền vững có thể có liên quan nhiều hơn so với những khía cạnh khác Vì vậy, các quốc gia thành viên cần phải tích hợp các phương pháp bảo tồn và quản lý các Di sản Thế giới trong các quy hoạch tại địa phương của mình, đặc biệt cần cân nhắc tới tính toàn vẹn của các hệ thống sinh thái xã hội Trong trường hợp này, tiềm năng của các vùng đệm (và những công cụ tương tự khác) nên được khai thác đầy đủ Chúng cần phải được xem không chỉ như một lớp bảo vệ bổ sung mà còn là công cụ lập kế hoạch
để tăng cường lợi ích chung cho cộng đồng địa phương và các cộng đồng khác có liên quan và cho chính di sản đó Thêm vào đó, chính sách này cũng cần được coi như một hướng dẫn chung vì không phải tất cả các điều khoản đều phải được áp dụng cho tất cả các khu Di sản Thế giới, và cần có một cơ chế để áp dụng những điều khoản này khi phù hợp
Việc tích hợp quan điểm phát triển bền vững vào các quy trình của Công ước Di sản Thế giới đòi hỏi phải xây dựng năng lực phù hợp cho những người thi hành Công ước Di sản Thế giới, các cơ quan tổ chức, cộng đồng và mạng lưới có liên quan thông qua một phạm vi liên ngành và bao quát nhiều lĩnh vực Với mục đích này, các quốc gia thành viên cần thúc đẩy nghiên cứu khoa học, phát triển các công cụ và hướng dẫn,
tổ chức đào tạo và giáo dục chất lượng thông qua các môi trường học tập được thiết kế phù hợp cho từng đối tượng Để đạt được điều này, cần cân nhắc sự tham gia đóng góp của các tổ chức phi chính phủ Việc tập trung vào đa dạng sinh học và văn hoá cũng như những mối liên kết giữa bảo tồn di sản văn hoá và thiên nhiên và các khía cạnh của phát triển bền vững sẽ giúp những bên liên quan gắn kết hơn với các Di sản Thế giới, bảo vệ Giá trị Nổi bật Toàn cầu của Di sản Thế giới và sử dụng triệt để những lợi ích tiềm năng của Di sản Thế giới cho cộng đồng
Trang 5Tuy chính sách này hướng tới Di sản Thế giới, các nguyên tắc đưa ra cũng phù hợp với di sản văn hóa và thiên nhiên nói chung, theo tinh thần Điều 5 của Công ước Thêm vào đó, tuy đối tượng chính của chính sách này là các quốc gia thành viên, việc thực hiện các điều khoản này cũng đòi hỏi sự đóng góp và hỗ trợ của Ban thư ký, các
cơ quan tư vấn và cáccơ quan khác có liên quan
3 NHỮNG KHÍA CẠNH CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Vai trò đảm bảo phát triển bền vững của Di sản Thế giới cần phải được tăng cường Tiềm năng đóng góp vào phát triển bền vững của các Di sản Thế giới cần phải được khai thác triệt để Với mục đích này, trong quá trình thực hiện Công ước Di sản Thế giới, các quốc gia thành viên cần phải cân nhắc ba khía cạnh của phát triển bền vững, bao gồm bền vững của môi trường, phát triển xã hội và phát triển kinh tế cho mọi người, cùng với thúc đẩy hoà bình và an ninh Việc này phản ánh mối quan tâm dành cho “trái đất, con người, sự sung túc và hòa bình”, được xác định là các lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong Chương trình nghị sự 2030 của Liên Hợp Quốc.9
- Sự bền vững của môi trường
Công ước Di sản Thế giới thúc đẩy phát triển bền vững, đặc biệt là sự bền vững của môi trường, bằng cách trân trọng và bảo tồn những nơi có giá trị di sản thiên nhiên nổi bật, đa dạng đặc biệt về sinh học, về địa hình và những đặc điểm tự nhiên, những yếu tố căn bản cho sự phồn vinh của của con người Mối quan tâm đến tính bền vững của môi trường cũng cần được thể hiện ở những di sản văn hoá và hỗn hợp của thế giới, bao gồm cả cảnh quan văn hóa Trong quá trình thực hiện Công ước Di sản Thế giới, các quốc gia thành viên phải củng cố sự bền vững của môi trường ở tất cả các khu Di sản Thế giới để đảm bảo sự nhất quán về chính sách và sự tương hỗ lẫn nhau giữa chính sách với những hiệp định đa phương khác về môi trường Điều này đòi hỏi phải có sự tương tác có trách nhiệm với môi trường ở các di sản thiên nhiên và văn hoá, tránh làm suy giảm hoặc suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo chất lượng môi trường trong dài hạn và tăng cường khả năng thích ứng với thiên tai và biến đổi khí hậu
- Bảo vệ đa dạng sinh học, đa dạng văn hoá, các dịch vụ và lợi ích của hệ sinh thái
9 Xem trang 2 và 3 của tài liệu “Biến đổi thế giới của chúng ta: Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững” Phần thứ 5 được nhắc đến trong tài liệu này, “hợp tác”, có thể được hiểu chính là Công ước Di sản Thế giới, vì đây là một công cụ quốc tế quan trọng nhất cho việc hợp tác trong lĩnh vực bảo tồn di sản
Trang 6Các quốc gia thành viên cần đảm bảo rằng đa dạng sinh học và văn hoá, cũng như những dịch vụ và lợi ích của hệ sinh thái đối với con người góp phần tạo nên sự bền vững của môi trường phải được bảo vệ và tăng cường tại các Di sản Thế giới, các vùng đệm của các di sản và những khu vực xung quanh rộng lớn hơn.10Với mục đích này, các quốc gia thành viên cần phải:
+ Lồng ghép những quan tâm về đa dạng sinh học và văn hoá, cũng như những dịch vụ và lợi ích của hệ sinh thái trong bảo tồn và quản lý các Di sản Thế giới, bao gồm cả di sản văn hoá và hỗn hợp,
+ Tránh, và nếu không thể thì giảm thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường
và đa dạng văn hoá trong quá trình bảo tồn và quản lý các Di sản Thế giới và môi trường xung quanh chúng Có thể đạt được điều này bằng cách thúc đẩy những công
cụ đánh giá tác động đến môi trường, văn hóa và xã hội khi tiến hành quy hoạch trong các lĩnh vực như phát triển đô thị, giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng, khai khoáng và quản lý chất thải, đồng thời áp dụng các mô hình tiêu thụ và sản xuất bền vững và đẩy mạnh việc sử dụng các nguồn nhiên liệu tái tạo
- Tăng cường thích ứng với thiên tai và biến đổi khí hậu
Khi đối mặt với những tác động của biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai ngày càng gia tăng, các quốc gia thành viên cần nhận thấy rằng Di sản Thế giới vừa là một tài sản cần được bảo vệ và đồng thời cũng là một nguồn lực giúp tăng cường khả năng mà cộng đồng và các di sản có thể phòng chống và phục hồi từ những ảnh hưởng của các thiên tai này Theo quy định của các hiệp định đa phương về rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu11, các quốc gia thành viên cần phải:
+ Nhận biết và tăng cường – trong các chiến lược bảo tồn và quản lý – tiềm năng sẵn có của các Di sản Thế giới cho việc giảm thiểu rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, thông qua các dịch vụ sinh thái có liên quan, kiến thức và tập quán truyền thống và củng cố gắn kết xã hội;
10
Một phân tích hoàn chỉnh và có hệ thống về các lợi ích của Di sản thiên nhiên Thế giới, bao gồm cả những đóng góp của chúng vào sự phồn vinh đã được xuất bản tại: Osipova, E., Wilson, L., Blaney, R., Shi, Y.,
Fancourt, M., Strubel, M., Salvaterra, T., Brown, C and Verschuuren, B (2014) The benefits of natural World
Heritage: Identifying and assessing ecosystem services and benefits provided by the world’s most iconic natural places Gland, Switzerland: IUCN vi + 58pp: https://portals.iucn.org/library/efiles/documents/2014-045.pdf
11 Trong khuôn khổ công ước Di sản Thế giới, các hiệp định này bao gồm Chiến lược giảm thiểu rủi ro từ thiên
tai đến các Di sản Thế giới (2007) và Chính sách về tác động của biến đổi khí hậu đến các Di sảnThế giới
(2008) (có thể truy cập tại http://whc.unesco.org/en/news/441/)
Trang 7+ Giảm bớt khả năng tổn thương của các Di sản Thế giới và môi trường xung quanh chúng, cũng như nâng cao khả năng thích ứng về kinh tế và xã hội của các cộng đồng địa phương và những cộng đồng chịu tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu, thông qua các biện pháp công trình và phi công trình, bao gồm nâng cao nhận thức, đào tạo và giáo dục trong quá trình bảo tồn các Giá trị Nổi bật Toàn cầu Các biện pháp công trình không được gây ảnh hưởng tiêu cực đến Giá trị Nổi bật Toàn cầu của
Di sản Thế giới;
+ Tăng cường chuẩn bị để ứng phó hiệu quả và “xây dựng lại tốt hơn” trong các chiến lược khôi phục sau thiên tai trong hệ thống quản lý và thông lệ bảo tồn các Di sản Thế giới
- Phát triển xã hội cho mọi người
Điều 5 trong Công ước Di sản Thế giới đã kêu gọi các quốc gia thành viên
“thông qua một chính sách chung với mục tiêu trao cho di sản văn hoá và thiên nhiên một chức năng trong đời sống cộng đồng” Các quốc gia thành viên phải nhận thức được phát triển xã hội cho mọi người là trung tâm của việc thực hiện điều khoản này của Công ước Các quốc gia thành viên phải nhận thức hơn nữa rằng việc tham gia đầy
đủ, tôn trọng và công bằng của các bên liên quan, trong đó có các cộng đồng địa phương, các cộng đồng có liên quan và các dân tộc bản địa, với cam kết bình đẳng giới, là tiền đề căn bản của phát triển xã hội cho mọi người Nâng cao chất lượng cuộc sống và sự phồn vinh trong và xung quanh khu vực Di sản Thế giới là rất cần thiết và cần phải cân nhắc đến các cộng đồng người dân, cho dù họ không đến thăm quan, không sinh sống trong hoặc gần các di sản Phát triển cho mọi người phải được củng
cố trong các biện pháp quản trị toàn diện và dung hợp
- Đóng góp vào sự dung hợp và công bằng
Các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng việc bảo tồn và quản lý các Di sản Thế giới phải dựa trên sự công nhận về đa dạng văn hóa, sự dung hợp và công bằng Với mục đích này, các quốc gia thành viên phải cam kết thực hiện các chính sách, can thiệp và các biện pháp bảo tồn và quản lý trong và xung quanh các Di sản Thế giới để đạt được những mục tiêu sau cho tất cả những bên liên quan, đặc biệt là cộng đồng địa phương:
Trang 8+ Nâng cao khả năng, cơ hội và phẩm giá của tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, giới tính, khuyết tật, dân tộc, nguồn gốc, tôn giáo, tình trạng kinh tế hoặc những điều kiện khác;
+ Thúc đẩy công bằng, giảm bất bình đẳng xã hội và kinh tế, và giảm phân biệt đối xử đối với tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, giới tính, khuyết tật, dân tộc, nguồn gốc, tôn giáo, điều kiện kinh tế hoặc những điều kiện khác;
+ Công nhận, tôn trọng và tính đến các giá trị và kiến thức về văn hoá và môi trường của cộng đồng địa phương
- Nâng cao chất lượng cuộc sống và sự phồn vinh
Các Di sản Thế giới có tiềm năng nâng cao chất lượng cuộc sống và sự phồn vinh của những người có liên quan, đặc biệt là cộng đồng địa phương Do đó, trong quá trình thực hiện Công ước Di sản Thế giới trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng Giá trị Nổi bật Toàn cầu, các quốc gia thành viên nên:
+ Thông qua các biện pháp phù hợp để đảm bảo cơ sở hạ tầng và dịch vụ cơ bản cho các cộng đồng trong và xung quanh các Di sản Thế giới;
+ Đẩy mạnh và nâng cao sức khoẻ môi trường cho tất cả mọi người (bao gồm cả
hệ thống quản lý nước và vệ sinh bền vững);
+ Công nhận vai trò trực tiếp của các khu Di sản Thế giới trong việc cung cấp thực phẩm, nước sạch, cây thuốc và đảm bảo rằng các biện pháp bảo vệ và sử dụng bền vững được áp dụng một cách công bằng
- Tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người
Nghĩa vụ thúc đẩy và bảo vệ quyền con người và các quyền tự do căn bản được quy định trong Điều 1 của Hiến chương UNESCO UNESCO cũng cam kết lồng ghép vấn đề quyền con người vào trong các hoạt động của mình và thông qua phương pháp lập chương trình dựa trên cơ sở quyền con người12 Để đảm bảo sự nhất quán về chính sách trong bảo tồn và quản lý các Di sản Thế giới, các quốc gia thành viên cần cam kết duy trì, tôn trọng và góp phần vào việc thực hiện toàn bộ các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người như một điều kiện tiên quyết để đạt được phát triển bền vững một cách hiệu quả Với mục đích này, các quốc gia thành viên cần:
12 Truy cập Hiến chương UNESCO tại: http://unesdoc.unesco.org/images/0022/002269/226924e.pdf#page=6 và chiến lược về Quyền Con người của UNESCO tại: http://unesdoc.unesco.org/images/0014/001457/145734e.pdf
Trang 9+ Đảm bảo rằng toàn bộ chu trình của các quy trình di sản từ đề cử tới quản lý phải tương thích và ủng hộ quyền con người;
+ Thông qua phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người, thúc đẩy các
Di sản Thế giới trở thành những hình mẫu của việc áp dụng những tiêu chuẩn cao nhất
về tôn trọng và hiện thực hoá quyền con người;
+ Phát triển, thông qua sự tham gia bình đẳng của những người có liên quan, những tiêu chuẩn và biện pháp bảo vệ phù hợp, các công cụ hướng dẫn và cơ chế hoạt động cho các quy trình khảo sát, đề cử, quản lý, đánh giá và báo cáo tương thích với phương pháp tiếp cận hiệu quả dựa trên cơ sở quyền con người đối với những di sản hiện có và di sản tiềm năng;
+ Tăng cường hợp tác kỹ thuật và xây dựng năng lực để đảm bảo sử dụng hiệu quả các phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người
- Tôn trọng, tham vấn ý kiến và khuyến khích sự tham gia của các dân tộc bản địa và cộng đồng địa phương
Một trong những mục tiêu chiến lược của Công ước Di sản Thế giới là “tăng cường vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện” (Quyết định 31COM 13B) Uỷ ban
Di sản Thế giới đặc biệt khuyến khích sự tham gia của các dân tộc bản địa và cộng đồng địa phương trong việc ra quyết định, giám sát và đánh giá các Di sản Thế giới và
sự tôn trọng quyền của các dân tộc bản địa trong việc đề cử, quản lý và báo cáo về các
Di sản Thế giới trong khu vực họ sinh sống (Quyết định 35COM 12E) Thừa nhận quyền của các dân tộc bản địa và cộng đồng địa phương và khuyến khích sự tham gia toàn diện của họ theo thông lệ của các tiêu chuẩn quốc tế13 là vấn đề trọng tâm của phát triển bền vững
Để thực hiện được mục tiêu chiến lược này của Công ước Di sản Thế giới và đảm bảo sự nhất quán của chính sách vì sự phát triển bền vững, các quốc gia thành viên nên:
+ Xây dựng các tiêu chuẩn, hướng dẫn và cơ chế hoạt động phù hợp để các dân tộc bản địa và cộng đồng địa phương tham gia vào các quy trình Di sản Thế giới; + Đảm bảo có sự tham vấn đầy đủ, sự đồng ý tự nguyện trên cơ sở có thông tin đầy đủ trước tham gia hiệu quả và bình đẳng của các dân tộc bản địa ở những nơi quá
13 Ví dụ: Tuyên ngôn của Liên Hợp Quốc về quyền của người bản địa, được thông qua trong Đại hội đồng Liên
Hợp Quốc năm 2007, có thể truy cập tại: http://www.un.org/esa/socdev/unpfii/documents/DRIPS_en.pdf
Trang 10trình đề cử, quản lý Di sản Thế giới và chính sách Di sản Thế giới có ảnh hưởng đến vùng lãnh thổ, đất đai, các nguồn tài nguyên và lối sống của họ;14
+ Tích cực thúc đẩy các sáng kiến bản địa và địa phương trong việc xây dựng các
cơ chế quản trị công bằng, hệ thống đồng quản lý và, khi cần thiết, cơ chế khắc phục; + Hỗ trợ các hoạt động phù hợp đóng góp vào việc xây dựng trách nhiệm chung đối với di sản trong các dân tộc bản địa và người dân địa phương, bằng cách công nhận cả các giá trị toàn cầu và giá trị địa phương trong phạm vi hệ thống quản lý Di sản Thế giới
+ Đảm bảo tôn trọng bình đẳng giới trong toàn bộ chu kỳ của các quy trình di sản, đặc biệt là trong quá trình chuẩn bị và trong nội dung của hồ sơ đề cử;
+ Đảm bảo các cơ hội về xã hội và kinh tế của cả nữ giới và nam giới trong và xung quanh khu vực Di sản Thế giới;
+ Đảm bảo có sự tham vấn bình đẳng và tôn trọng, có sự tham gia đầy đủ và hiệu quả, có cơ hội công bằng về lãnh đạo và đại diện cho cả nữ giới và nam giới trong các hoạt động bảo tồn và quản lý các Di sản Thế giới;
+ Nếu phù hợp, đảm bảo rằng những thực hành truyền thống tại các Di sản Thế giớicó phân biệt về giới, ví dụ trong lĩnh vực tiếp cận, tham gia hay quản lý, có sự đồng ý hoàn toàn của tất cả các nhóm người trong cộng đồng địa phương, thông qua các quy trình tham vấn minh bạch, có tôn trọng bình đẳng giới
14 Xem thêm đoạn 123 của Hướng dẫn thực hiện Công ước, đặc biệt là liên quan đến quá trình đề cử.
15
“Ưu tiên Châu Phi” là ưu tiên toàn cầu thứ hai của UNESCO
16 Thông tin tham khảo quan trọng liên quan đến di sản được nêu trong Báo cáo “Bình đẳng giới, di sản và sáng tạo” do UNESCO xuất bản năm 2014 và có thể truy cập tại: http://www.uis.unesco.org/Library/Documents/gender-equality-heritage-creativity-culture-2014-en.pdf
Trang 11- Phát triển kinh tế cho mọi người
Các Di sản Thế giới, cũng như di sản văn hoá và thiên nhiên nói chung, có tiềm năng lớn cho việc xoá đói giảm nghèo và cải thiện sinh kế bền vững của cộng đồng địa phương, bao gồm cả những người chịu thiệt thòi17 Nhận thấy rằng xoá đói giảm nghèo
là một trong những thách thức lớn nhất mà ngày nay thế giới đang phải đối mặt và một yêu cầu tất yếu cho sự phát triển bền vững và sự phồn vinh của các thế hệ hôm nay và mai sau, Công ước Di sản Thế giớicần góp phần thúc đẩy bền vững các hình thức phát triển kinh tế công bằng cho tất cả mọi người, tạo việc làm năng suất cao và bền vững,
và tăng các hoạt động tạo ra thu nhập cho mọi người, trong khi vẫn hoàn toàn tôn trọng các Giá trị Nổi bật Toàn cầu của các Di sản Thế giới18
- Đảm bảo sự phát triển, việc làm, thu nhập và sinh kế
Công tác quản lý và bảo tồn các Di sản Thế giới phải góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế toàn diện của địa phương và cải thiện sinh kế, phù hợp với việc bảo vệ Giá trị Nổi bật Toàn cầu của các di sản Với mục đích này và trong điều kiện phù hợp, các quốc gia thành viên phải xây dựng các chính sách và cơ chế bảo tồn và quản lý Di sản Thế giới nhằm:
+ Tạo điều kiện cho phát triển kinh tế bền vững, toàn diện, dung hợp và công bằng, cũng như tạo ra đầy đủ việc làm phù hợp và có năng suất cao cho cộng đồng địa phương, bao gồm cả những người chịu thiệt thòi;
+ Tạo thu nhập khá và sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương, bao gồm cả những người chịu thiệt thòi;
+ Cân bằng cơ chế thị trường hiệu quả và các chính sách công, tạo quan hệ đối tác công-tư, động lực kinh tế và hợp tác liên ngành để đảm bảo chia sẻ lợi ích giữa tất
cả các bên liên quan trong và xung quanh các Di sản Thế giới
17 Điều này đã được ghi nhận trong Nghị quyết Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (A/RES/68/223) về Văn hoá và Phát triển bền vững (2013) cũng như Tuyên ngôn Hàng Châu vào tháng 5/2015 “Đặt văn hoá vào vị trí trung tâm của các chính sách phát triển bền vững” Xem thêm chú thích số 10
18
Không phải mọi hoạt động kinh tế đều tương thích với việc bảo vệ các Giá trị Nổi bật Toàn cầu Ví dụ, những ngành công nghiệp khai thác liên quan đến dầu, khí đốt và khoáng sản đã tạo ra những thách thức đáng kể Theo Quyết định 37COM 7 (§8), Uỷ ban Di sản Thế giới đã kêu gọi tất cả các quốc gia thành viên của công ước Di sản Thế giới và những bên liên quan đến ngành công nghiệp này “tôn trọng cam kết “Không đi” bằng cách không cho phép các hoạt động khai khoáng trong các Di sản Thế giới, và nỗ lực hết sức để đảm bảo rằng các công ty khai khoáng được đặt trong vùng lãnh thổ của các Di sản Thế giới không gây ra bất kỳ thiệt hại nào cho các Di sản Thế giới, theo quy định tại Điều 6 của Công ước”
Trang 12- Thúc đẩy đầu tư kinh tế và du lịch có chất lượng
Di sản thế giới là những điểm đến quan trọng mà nếu quản lý được tốt thì sẽ có tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế cho mọi người tại địa phương, tăng cường tính bền vững và khả năng ứng phó của xã hội Phát triển những hình thức du lịch bền vững, trong đó có du lịch dựa vào cộng đồng, gắn liền với đầu tư kinh tế toàn diện và công bằng để đảm bảo chia sẻ lợi ích trong và xung quanh các Di sản Thế giới19 Vì lý
do này, các quốc gia thành viên nên:
+ Xây dựng và thúc đẩy đầu tư kinh tế công bằng cho mọi người trong và xung quanh các Di sản Thế giới để tận dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và kỹ năng của địa phương, bảo tồn các hệ thống kiến thức và cơ sở hạ tầng địa phương, và đưa cộng đồng và người dân địa phương, bao gồm những người chịu thiệt thòi, thành những người hưởng lợi chính từ những hoạt động đầu tư này;
+ Khuyến khích quản lý du lịch bền vững, có trách nhiệm và do địa phương làm chủ trong và xung quanh các Di sản Thế giới, bổ sung cho các nguồn lực phát triển khác, nhằm tăng cường đa dạng hoá kinh tế giữa các hoạt động du lịch và phi du lịch Điều này sẽ giúp tăng cường khả năng phục hồi kinh tế và xã hội theo hướng bảo vệ Giá trị Nổi bật Toàn cầu của các di sản;
+ Tái đầu tư một phần doanh thu từ hoạt động du lịch vào công tác bảo tồn và quản lý các nguồn tài nguyên di sản trong và xung quanh các Di sản Thế giới;
+ Thông qua việc lập kế hoạch quản lý du khách phù hợp để khuyến khích phát triển du lịch tại địa phương, đồng thời thực hiện đánh giá tác động đến kinh tế và xã hội trước khi phê duyệt các dự án du lịch có liên quan đến các Di sản Thế giới;
+ Phát huy các hoạt động phát triển kinh tế bền vững liên quan đến nghề thủ công truyền thống gắn với bảo tồn di sản
- Tăng cường xây dựng năng lực, đổi mới và tinh thần kinh doanh địa phương
Các quốc gia thành viên cần nhận ra rằng phát triển kinh tế cho tất cả mọi người
là một cam kết dài hạn dựa trên phương pháp tiếp cận tổng thể đến các Di sản Thế giới, những ngành công nghiệp văn hoá và sáng tạo và di sản phi vật thể Với quan điểm này, các quốc gia thành viên nên:
19
Điều này cũng phù hợp với Quy tắc ứng xử toàn cầu về đạo đức trong du lịch, được Đại hội đồng UNWTO thông qua năm 1999 và Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 2001 Điều 4 của Quy tắc này chỉ ra rằng
“du lịch sử dụng di sản văn hoá của loài người và cũng góp phần đề cao những di sản đó” Điều 5 giải thích rằng
du lịch nên là một hoạt động có ích cho cộng đồng địa phương
Trang 13+ Phát triển các chương trình giáo dục và xây dựng năng lực dựa vào đổi mới và tinh thần kinh doanh địa phương, đặc biệt hướng đến các cấp quy mô nhỏ, vừa và siêu nhỏ, để thúc đẩy những lợi ích kinh tế bền vững cho cộng đồng địa phương;
+ Xác định và thúc đẩy các cơ hội đầu tư công và tư vào các dự án phát triển bền vững giúp tăng cường các ngành văn hoá và sáng tạo địa phương và bảo tồn di sản phi vật thể có liên quan đến Di sản Thế giới
- Củng cố hoà bình và an ninh
Chiến tranh, xung đột dân sự và các hình thức bạo lực đang làm suy yếu quá trình phát triển bền vững và bảo tồn di sản thiên nhiên và văn hoá của thế giới Công ước Di sản Thế giới là một phần không thể thiếu trong nhiệm vụ của UNESCO nhằm xây dựng cầu nối hướng tới hoà bình và an ninh Do đó, phận sự của các quốc gia thành viên, phù hợp với các quy định của Công ước La Hay năm 1954 về Bảo vệ tài sản văn hoá trong trường hợp có xung đột vũ trangvà hai Nghị định thư của Công ước (năm 1954 và năm 1999) đối với các quốc gia đã phê chuẩn công ước này, cũng như phù hợp với Tuyên ngôn của UNESCO về việc hủy hoại các di sản văn hóa (2003) và luật tập quán quốc tế bảo vệ tài sản văn hoá trong trường hợp có xung đột vũ trang, là đảm bảo việc thực hiện Công ước Di sản Thế giới nhằm hướng đến việc đạt được và duy trì hoà bình và an ninh giữa và trong các quốc gia thành viên
Nhắc lại Tuyên ngôn toàn cầu của UNESCO về Đa dạng Văn hoá (2001), các quốc gia thành viên phải thừa nhận sự đa dạng văn hoá trong và xung quanh các Di sản Thế giới, và thúc đẩy một phương pháp tiếp cận đa văn hoá trong các chiến lược bảo tồn và quản lý.20 Các quốc gia thành viên cũng cần nhận thấy rằng hoà bình và an ninh, trong đó bao gồm tự do khỏi xung đột, phân biệt đối xử và các hình thức bạo lực, đòi hỏi sự tôn trọng quyền con người, các hệ hống tư pháp hiệu quả, các quy trình chính trị toàn diện và những hệ thống phù hợp để ngăn ngừa xung đột, cũng như giải quyết và phục hồi sau xung đột
- Đảm bảo ngăn ngừa xung đột
Các quốc gia thành viên đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đảm bảo rằng việc thực hiện Công ước Di sản Thế giới, trong đó có việc thiết lập Danh sách Di sản Thế giới và quản lý những di sản đã được công nhận, có thể được sử dụng để ngăn
20 Các chính sách phù hợp với vấn đề này được UNESCO thông qua bao gồm Tuyên ngôn UNESCO về các
nguyên tắc hợp tác quốc tế (1966) và Tuyên ngôn UNESCO về các nguyên tắc về lòng khoan dung(1995)
Trang 14chặn những cuộc xung đột vũ trang giữa và trong các quốc gia thành viên và tăng cường sự tôn trọng đa dạng văn hoá trong và xung quanh các Di sản Thế giới Với mục đích này, các quốc gia thành viên nên:
+ Ủng hộ các nghiên cứu khoa học và phương pháp nghiên cứu, bao gồm những nghiên cứu do cộng đồng địa phương tiến hành nhằm chứng minh sự đóng góp của công tác bảo tồn và quản lý các Di sản Thế giới và môi trường xung quanh trong việc ngăn ngừa và giải quyết xung đột, trong đó có đưa ra cách những phương pháp truyền thống giải quyết các mâu thuẫn trong cộng đồng;
+ Xây dựng phương pháp tiếp cận có sự tham gia của tất cả các bên liên quan trong công tác xác định, bảo tồn và quản lý những Di sản Thế giới để tăng cường sự đồng thuận và tôn vinh đa dạng văn hoá, cũng như tăng cường hiểu biết và tôn trọng những di sản thuộc về các quốc gia khác, đặc biệt là những quốc gia láng giềng;
+ Cân nhắc đưa vào Danh sách đề cử dự kiến và làm hồ sơ đề cử vào Danh sách
Di sản Thế giớinhững di sản có tiềm năng tạo đối thoại giữa các quốc gia thành viên
và các cộng đồng văn hóa khác nhau, ví dụ đối với các khu di sản “cho thấy một sự tương tác quan trọng về các giá trị của con người…” (tiêu chí ii);
+ Thông qua các phương pháp tiếp cận nhạy cảm văn hoá trong việc diễn giải các
Di sản Thế giới có ý nghĩa với các cộng đồng địa phương khác nhau và những bên liên quan, đặc biệt khi đề cử hay quản lý các khu di sản gắn với xung đột;
+ Cân nhắc, và khi phù hợp, xác định, đề cử và quản lý các di sản văn hoá xuyên biên giới/xuyên quốc gia và hỗ trợ tư vấn để thúc đẩy đối thoại giữa các quốc gia thành viên láng giềng và các quốc gia thành viên không có cùng biên giới nhưng chia
sẻ di sản chung
- Bảo vệ di sản trong các cuộc xung đột
Trong xung đột vũ trang, các quốc gia thành viên phải kiềm chế không sử dụng
Di sản Thế giới và môi trường ngay xung quanh các di sản cho những mục đích có khả năng khiến chúng bị phá huỷ hoặc hư hại Các quốc gia thành viên cũng phải tránh các hành động phá hoại hướng tới những di sản này Với mục đích này, các quốc gia thành viên nên:
+ Đảm bảo, nếu phù hợp, sự tuân thủ của các lực lượng vũ trang theo các quy định của Công ước La Hay 1954 và hai Nghị định thư của Công ước này (năm 1954 và năm 1999),hoặc những nguyên tắc của luật tập quán quốc tế bảo vệ tài sản văn hoá
Trang 15trong trường hợp có xung đột vũ trang khi một quốc gia thành viên tham gia vào xung đột vũ trang;
+ Đảm bảo công tác quản lý và bảo tồn Di sản Thế giới được coi trọng trong quá trình lập kế hoạch quân sự và trong các chương trình đào tạo về quân sự
- Tăng cường giải quyết xung đột
Tiềm năng vốn có của các Di sản Thế giới và của công tác bảo tồn Di sản Thế giới trong việc đóng góp tích cực vào giải quyết xung đột và thiết lập lại hoà bình và
an ninh phải được thừa nhận và khai thác Với mục đích này, các quốc gia thành viên nên:
Đảm bảo rằng những cân nhắc đến bảo tồn di sản phải được đưa vào trong nội dung đàm phán nhằm mục đích chấm dứt xung đột vũ trang và tình trạng bất ổn dân
sự
- Góp phần tái thiết sau xung đột
Trong quá trình xung đột và khi kết thúc xung đột, các Di sản Thế giới và môi trường xung quanh có thể đóng góp đáng kể để phục hồi và tái thiết kinh tế - xã hội Với mục đích này, khi phù hợp, các quốc gia thành viên nên:
+ Giúp đảm bảo rằng việc bảo vệ các Di sản Thế giới và môi trường xung quanh
di sản cũng như bảo vệ các di sản văn hoá và thiên nhiên nói chung, là một ưu tiên của Liên Hợp Quốc cũng như các sáng kiến và can thiệp gìn giữ hoà bình và tái thiết sau xung đột;
+ Thông qua những biện pháp pháp lý, kỹ thuật, hành chính và tài chính để hỗ trợ phục hồi các Di sản Thế giới và lồng ghép di sản vào các chương trình và chính sách công, bằng các phương pháp tiếp cận toàn diện thúc đẩy sự tham gia của nhiều bên liên quan;
+ Đảm bảo sự tham gia đầy đủ của các cộng đồng địa phương liên quan khi việc xây dựng lại những phần bị phá hủy của di sản đã được xác định là phù hợp với đoạn
86 của Hướng dẫn thực hiện Công ước Trong điều kiện này, kiến thức truyền thống cần được áp dụng khi phù hợp
+ Phát huy, khi phù hợp, việc phục hồi những truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, nghệ thuật biểu diễn, các thực hành xã hội, nghi lễ hay lễ hội, kiến thức hay thực hành liên quan đến tự nhiên và vũ trụ, nghề thủ công truyền thống gắn với Di sản Thế giới đã bị xung đột làm gián đoạn
Trang 16+ Đảm bảo rằng việc tư liệu hóa được thực hiện trước khi diễn ra tình huống khẩn cấp, và những tư liệu này được lưu giữ ở địa điểm an toàn
Trang 17PHỤ LỤC ĐỊNH NGHĨA CÁC THUẬT NGỮ CHÍNH ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG CHÍNH
SÁCH (theo thứ tự trong bảng chữ cái tiếng Anh)
“Xây dựng lại tốt hơn” (Build Back Better)
Nguyên tắc “Xây dựng lại tốt hơn”nói đến quá trình tái thiết của cộng đồng và tài sản của họ theo một cách thức khiến cho họ bớt bị tổn thương khi có thảm họa và củng
cố khả năng phục hồi của họ bằng cách phòng ngừa những rủi ro thảm họa mới hoặc giảm nhẹ những rủi ro thảm họa hiện có
Biến đổi khí hậu:
Sự thay đổi của khí hậu do hoạt động của con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây
ra làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên được quan sát trong các khoảng thời gian tương đồng (UNFCCC, Điều 1)
Nhạy cảm giao thoa văn hoá:
“Nhạy cảm giao thoa văn hoá” là một sản phẩm phụ tự nhiên của nhận thức, đề cập tới khả năng hiểu được các tình huống, bối cảnh và hành vi bắt nguồn từ đặc điểm văn hoá và có thể phản ứng một cách phù hợp với những tình huống, bối cảnh và hành
vi đó Một phản ứng phù hợp đòi hỏi chủ thể không được phép có những nhận định do các đặc điểm về văn hoá của bản thân quyết định về tình huống hoặc hành vi (ví dụ: tốt/xấu, đúng/sai) mà chỉ có thể được hình thành qua kiến thức và nhận thức về giao thoa văn hoá
Nguồn: Kwintessential Online: services/articles/cross-cultural-understanding.html (truy cập ngày 09/03/2015)
http://www.kwintessential.co.uk/cultural-Thảm họa:
Sự gián đoạn nghiêm trọng các hoạt động của cộng đồng dân cư hoặc xã hội, dẫn đến những tổn thất và mất mát về tính mạng, tài sản, kinh tế và môi trường mà cộng đồng và xã hội đó không có đủ khả năng chống đỡ bằng những nguồn lực của họ (UNISDR, 2009)
Giảm thiểu rủi ro thảm họa:
Khái niệm và biện pháp giảm thiểu các rủi ro thảm họa thông qua những nỗ lực mang tính hệ thống để phân tích và quản lý các nguyên nhân của thảm họa bao gồm việc giảm mức độ phơi nhiễm trước hiểm họa, giảm tình trạng dễ bị tổn thương của
Trang 18con người và tài sản, quản lý hiệu quả đất và môi trường, và cải thiện khả năng phòng ngừa các sự kiện bất lợi (UNISDR, 2009)
Các nguồn lực kinh tế:
Các loại tài sản vật thể và phi vật thể cho quá trình sản xuất tạo ra các kết quả kinh tế Là một nguồn vốn văn hoá, các Di sản Thế giới cũng được xem là những nguồn lực kinh tế Các ngành thủ công và nghệ thuật sử dụng những nguồn lực phi vật thể và kỹ năng trong sản xuất hàng hoá đầu tư và tiêu dùng
Giá trị kinh tế:
Giá trị kinh tế là giá trị văn hoá được thể hiện bằng thuật ngữ kinh tế Thông thường, các giá trị kinh tế đối với các Di sản Thế giới được chia nhỏ thành giá trị sử dụng (thị trường) và giá trị không sử dụng Những giá trị không sử dụng thường được ước tính bằng các kỹ thuật khảo sát dựa trên sự bộc lộ sở thích, giúp ước tính khả năng sẵn sàng chi trả của người dân địa phương hoặc khách tham quan du lịch
Dịch vụ và lợi ích sinh thái:
Đây là những lợi ích con người có được từ các hệ sinh thái, bao gồm các dịch vụ cung cấp như thực phẩm và nước, các dịch vụ điều tiết như kiểm soát lũ lụt và bệnh tật, các dịch vụ về văn hoá như các lợi ích về tinh thần, giải trí, văn hoá; và các dịch vụ
hỗ trợ, như chu kỳ dinh dưỡng, duy trì các điều kiện cho sự sống trên trái đất (UNEP)
Tinh thần kinh doanh:
Tinh thần kinh doanh là năng lực để bắt đầu hoạt động kinh doanh mới với một
cơ cấu có tổ chức, nhấn mạnh tới những sáng kiến cá nhân về sự sáng tạo và đổi mới Các kỹ thuật thủ công mỹ nghệ, các kỹ năng phi vật thể, chuyên môn địa phương được khuyến khích thông qua hoạt động đào tạo cơ bản và hỗ trợ tài chính vi mô nhằm phát triển kinh tế địa phương một cách bền vững
Trang 19và nam giới; đưa ra quy tắc, chuẩn mực, thông lệ và thực tiễn” (Kế hoạch hành động
ưu tiên bình đẳng giới của UNESCO)
Bình đẳng giới:
“Bình đẳng về quyền lợi, trách nhiệm và cơ hội giữa phụ nữ và nam giới, giữa trẻ
em gái và trẻ em trai Điều này có nghĩa là những lợi ích, nhu cầu và ưu tiên của cả phụ nữ và nam giới đều phải được cân nhắc, phải nhận thấy được sự đa dạng của các nhóm phụ nữ và nam giới khác nhau Bình đẳng giới là một nguyên tắc về quyền con người, một điều kiện tiên quyết của phát triển bền vững lấy con người làm trung tâm Bản thân bình đẳng giới cũng là một mục tiêu của chính nó” (Kế hoạch hành động ưu tiên bình đẳng giới của UNESCO)
Phương pháp tiếp cận nhạy cảm giới, có đáp ứng về giới và thay đổi về giới:
“Nhạy cảm giới – nhận biết được sự khác nhau và bất bình đẳng giữa nữ giới và nam giới cần được chú ý
Có đáp ứng về giới – nội dung bên trên + nhấn mạnh chính sách và sáng kiến giải quyết sự khác nhau trong nhu cầu, nguyện vọng, năng lực và đóng góp của nữ giới và nam giới
Thay đổi về giới – chính sách và sáng kiến thách thức những chính sách, thực tiễn và chương trình phân biệt đối xử/thiên vị và các chính sách, thực tiễn và chương trình hiện tại, mang lại những ảnh hưởng dẫn đến những thay đổi vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người” (Kế hoạch hành động ưu tiên bình đẳng giới của UNESCO)
Quyền con người:
Quyền con người là những quyền vốn có của tất cả mọi người, không phân biệt quốc tịch, nơi cư trú, giới tính, nguồn gốc, quốc gia hay dân tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ hay bất cứ trạng thái nào khác Chúng ta đều hưởng các quyền của con người một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào Những quyền này đều liên quan đến nhau, phụ thuộc lẫn nhau và không thể chia cắt được Các quyền con người phổ quát thường được pháp luật thể hiện và bảo đảm, dưới hình thức các hiệp ước, luật tập quán quốc tế, những nguyên tắc chung, và những nguồn luật quốc tế khác Luật nhân quyền quốc tế quy định trách nhiệm của các chính phủ phải hành động theo những cách thức nhất định hoặc tránh những hành động nhất định để tăng
Trang 20cường và bảo vệ quyền con người và quyền tự do cơ bản của các cá nhân hoặc nhóm người” (Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người, 2014)
Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người:
Đối với hệ thống của Liên Hợp Quốc, việc lồng ghép các quyền con người có nghĩa là:
1 Tất cả các chương trình hợp tác phát triển, chính sách và hỗ trợ kỹ thuật phải tiếp tục hiện thực hoá các quyền con người như đã được quy định trong Tuyên ngôn Nhân quyền Phổ quát và những văn kiện quốc tế khác về quyền con người
2 Các tiêu chuẩn về quyền con người quy định trong Tuyên ngôn Nhân quyền Phổ quát và các văn kiện quốc tế khác về quyền con người, và những nguyên tắc bắt nguồn từ những tài liệu này hướng dẫn việc hợp tác và lập chương trình phát triển trong tất cả các lĩnh vực và trong tất cả các giai đoạn của quá trình lập kế hoạch
3 Hợp tác phát triển góp phần phát triển năng lực của “những người có nghĩa vụ” để đáp ứng những nghĩa vụ của họ và/hoặc “những người có quyền” đòi hỏi quyền của họ (Tuyên bố về hiểu biết chung về phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người, được Nhóm Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDG) thông qua)
Phát triển kinh tế cho tất cả mọi người:
“Phát triển bền vững liên quan đến tăng trưởng kinh tế toàn diện, công bằng và
ổn định dựa trên những mô hình sản xuất và tiêu thụ bền vững” (“Hiện thực hóa một tương lai chúng ta mong muốn cho tất cả mọi người”, trang 29) Phát triển kinh tế toàn diện ủng hộ một nền kinh tế lấy con người làm trung tâm Nó giúp tạo ra tăng trưởng kinh tế vĩ mô và sự công bằng phù hợp, được đo lường bằng việc làm, thu nhập và phúc lợi Phát triển kinh tế toàn diện cũng dựa vào việc sử dụng các nguồn lực của địa phương và cạnh tranh công bằng trên thị trường toàn cầu
Giảm nhẹ (biến đổi khí hậu):
Can thiệp của con người làm giảm thiểu những nguồn hoặc tăng cường những bể hấp thụ khí nhà kính (Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu, 2014)
Giảm nhẹ (thảm họa):
Việc giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực của những tai họa vật chất (bao gồm cả những tai họa do con người gây nên) thông qua những hành động giảm thiểu tai họa, phơi nhiễm và tính dễ bị tổn thương (Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu, 2014)
Các biện pháp phi công trình:
Trang 21Bất kỳ biện pháp nào không liên quan đến xây dựng vật chất, sử dụng kiến thức, thực tiễn hoặc thỏa thuận để làm giảm bớt rủi ro và tác động, đặc biệt là thông qua chính sách và luật, nâng cao nhận thức của người dân, đào tạo và giáo dục
Hoà bình:
Không có chiến tranh hoặc xung đột ở một quốc gia, một nhóm các quốc gia, hoặc trên thế giới; một trạng thái của sự hoà hợp lẫn nhau giữa con người và dân tộc, đặc biệt là trong các mối quan hệ cá nhân; không có bất ổn dân sự, bạo lực trong cộng đồng; có trật tự và an ninh công cộng;
Chất lượng cuộc sống:
Chất lượng cuộc sống là khái niệm về phúc lợi (sự phồn vinh) được đo lường bằng các chỉ số xã hội (ví dụ: khả năng bỏ phiếu, biểu tình, hoặc tham gia các đảng chính trị) thay vì các biện pháp “định lượng” như thu nhập và sản xuất (Thuật ngữ thống kê môi trường, Nghiên cứu về phương pháp, Series 7, Số 67, Liên Hợp Quốc, New York, 1997)
Khả năng ứng phó, phục hồi và thích nghi:
Thuật ngữ “khả năng ứng phó, phục hồi và thích nghi” lần đầu được sử dụng trong ngành khoa học vật lý liên quan đến khả năng mang mùa xuân trở lại Thuật ngữ này đã được áp dụng trong những lĩnh vực khác trong những thập kỷ gần đây, nhấn mạnh tới việc tiếp tục và thích ứng với những thay đổi Thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực tâm lý học để miêu tả khả năng các cá nhân và nhóm người thích ứng phù hợp với căng thẳng và nghịch cảnh Trong ngành sinh thái học, thuật ngữ này đã được sử dụng để miêu tả những hệ sinh thái tiếp tục thực hiện chức năng vốn có của mình bất chấp các điều kiện bất lợi Thuật ngữ ngày càng được sử dụng nhiều hơn để miêu tả khả năng các cộng đồng và cá nhân phục hồi từ thất bại do một lần rủi ro hay nhiều khó khăn tích lũy theo thời gian
Trong lĩnh vực giảm nhẹ rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu, thuật ngữ này được
sử dụng để đề cập đến “khả năng của một hệ thống, cộng đồng, xã hội trong vùng hiểm họa có thể chống đỡ, chịu đựng, thích nghi và phục hồi từ các tác động của hiểm họa một cách kịp thời và hiệu quả, bao gồm bảo tồn và khôi phục các công trình và chức năng căn bản, thiết yếu” (UNISDR, 2009)
Trang 22An ninh:
Khái niệm này được sử dụng theo nhiều cách khác nhau ở cấp độ cá nhân và tập thể: ví dụ, trật tự và an ninh công cộng; sự an toàn hoặc không phải chịu nguy hiểm hoặc rủi ro; khuyến cáo để bảo vệ chống lại tội phạm, tấn công, phá hoại hoặc gián điệp, không phải chịu sự chăm sóc, lo lắng, hay nghi ngờ; tự tin có cơ sở, không phải
lo lắng về tài chính hoặc mong muốn
Hoà nhập xã hội:
Hoà nhập xã hội là những quá trình và kết quả cải thiện những điều kiện để con người tham gia vào xã hội Người ta có thể bị loại trừ ra khỏi một loạt các quá trình phát triển, cơ hội và lợi ích do đặc điểm giới, dân tộc, di cư, hay tình trạng tị nạn, tôn giáo của mình…
Hoà nhập xã hội thừa nhận và giải quyết những trường hợp bất lợi này với mục tiêu tăng cường sự phồn vinh và thịnh vượng chung
về các mối liên kết giữa kinh tế, xã hội và môi trường và sự phân phối công bằng về nguồn lực và cơ hội
Thuật ngữ này ít phổ biến hơn khi được dùng để ám chỉ khả năng kéo dài hoặc tiếp tục trong một thời gian dài, với những từ đồng nghĩa như “duy trì” và “đứng vững” Trong trường hợp này, thuật ngữ “bền vững”’ thường được sử dụng trong mối liên hệ với tính lâu dài của các hệ thống và quy trình
Phát triển bền vững:
“Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại
mà không tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” (định nghĩa của Uỷ Ban Brundtland và được các bên đồng thuận tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển – Rio 1992) Trong những năm qua đã có nhiều cách
Trang 23diễn giải ý tưởng chung này thành hành động thực tiễn Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển Bền vững 2002 (Johannesburg, Nam Phi) đã giới thiệu về ba trụ cột “phụ thuộc
và cũng cố lẫn nhau” của phát triển bền vững: môi trường, xã hội và kinh tế Để đảm bảo có sự nhất quán về chính sách với Chương trình nghị sự 2030, chính sách này đã
sử dụng 3 khía cạnh của phát triển bền vững được xây dựng dựa trên khung khái niệm
đã được thông qua ở cấp độ rộng hơn của Liên Hợp Quốc, và bổ sung thêm khía cạnh
về hòa bình và an ninh (đoạn 2 và 35 của Chương trình nghị sự 2030)
Du lịch bền vững:
“Du lịch cân nhắc đầy đủ những tác động hiện tại và tương lai về kinh tế, xã hội
và môi trường, trong khi đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch, ngành du lịch, môi trường và cộng đồng địa phương” (UNWTO)
Di sản xuyên quốc gia:
Hướng dẫn thực hiện (2013) đánh đồng hai thuật ngữ “xuyên quốc gia” và
“xuyên biên giới” nhưng không đưa định nghĩa sâu hơn cho hai thuật ngữ này Thuật ngữ “xuyên biên giới” được áp dụng khi có hai hoặc nhiều hơn hai quốc gia tiếp giáp nhau và di sản vượt qua biên giới quốc gia Thuật ngữ “xuyên quốc gia” được áp dụng với trường hợp các quốc gia tiếp giáp nhau như trên nhưng cũng được sử dụng đối với những trường hợp các quốc gia thành viên không tiếp giáp nhau cùng tham gia đề cử một di sản
Trang 24CÁC TỘC NGƯỜI TRONG NHÓM NGÔN NGỮ VIỆT – MƯỜNG
Ở MIỀN TÂY QUẢNG BÌNH - TỪ QUÁ TRÌNH TỘC NGƯỜI ĐẾN VIỆC
Nguyễn Hữu Thông và Nguyễn Khắc Thái
Nghiên cứu về phương diện địa mạo, chúng ta có thể hình dung lát cắt trắc diện của vùng bắc miền Trung và Quảng Bình nói riêng là một phức hợp núi nhấp nhô, cao
ở cực tây và thấp dần về phía đông trước khi tiếp xúc với vùng cát nội đồng ven biển Lát cắt này biểu thị sự hiện diện của một mặt dốc không đều, trong đó phần làm nên những tiểu vùng sinh thái được ngăn cách bởi tầng tầng lớp lớp phức hệ núi chạy theo hướng tây bắc - đông nam và nhất là những loại núi đá vôi có vách dựng đứng ở phía tây Quảng Bình, đã tạo nên những rào chắn tự nhiên khó vượt qua theo chiều Bắc Nam Con đường giao thông thuận lợi trong buổi đầu khi con người chưa đủ sức tác động vào tự nhiên để phục vụ ý đồ của mình chính là hệ thủy lộ theo hướng đông - tây, tạo nên do sườn dốc phía đông Trường Sơn Ðó cũng chính là những gợi ý của tạo hóa cho con người sống thành từng nhóm biệt lập hay nảy sinh ý tưởng cát cứ và cũng là tiền đề cho sự phân chia thành những tiểu vùng dân cư vừa có mối liện hệ tương đối, lại vừa khu biệt trong điều kiện địa hình karst
1 Quá trình tộc người của nhóm cư dân ngôn ngữ Việt – Mường
Nếu nhìn trên bản đồ phân bố các tộc người ở Việt Nam, chúng ta có thể hình dung một vệt cư trú khá liên tục của những tộc người (trừ người Việt) trong “gia đình” ngôn ngữ Việt - Mường, trải dài từ Hòa Bình cho đến Thanh Hóa với người Mường (xen cư với các nhóm Thái và Mon - Kh’mer): miền Tây Nghệ An với sự hiện diện của các nhóm Ðan Lai - Ly Hà, Tày Poọng, Thổ ở huyện Tương Dương; phía Tây Hà Tĩnh và Quảng Bình là địa bàn cư trú của các nhóm Sách, Mày, Rục, A rem, Mã Liềng
mà trong danh mục thống kê nhà nước, chúng ta thường gọi là Chứt ở Tuyên Hóa, Minh Hóa, Bố Trạch, Hương Khê
21 - Luận dẫn từ công trình của Nguyễn Hữu Thông (chủ biên) – Nguyễn Khắc Thái và nhóm nghiên cứu (2006),
Hoa trên đá núi – Chân dung các dân tộc thiểu số miền Tây Quảng Bình Nxb Thống kê, hà Nội
Trang 25Chúng ta có thể dễ tìm gặp sự đồng thuận của các nhà chuyên môn từ những nét gần gũi về đặc trưng văn hóa, lịch sử tộc người, sự thân thuộc về mặt ngôn ngữ của các nhóm Việt - Mường Vấn đề ở đây là sự phân bố, hướng phân bố và thời điểm cách ly nhau để các cộng đồng này trở thành những tộc người riêng Việc thảo luận chủ yếu xảy ra chung quanh mối quan hệ của các nhóm tộc người được gọi là “Chứt”,
bộ phận dân cư còn bảo lưu nhiều yếu tố văn hóa cổ của khối Việt - Mường Ðó là các nhóm đã tách khỏi khối này trước khi Mường tách khỏi Việt22, trong đó, có cả những
nhận xét khác hẳn nhau “Người Chứt (Sách, Rục, A rem) xưa vốn ở vùng Quảng Trạch
và Bố Trạch Nhưng vì giặc dã và thuế khoán nặng nề, họ đã phải chạy lên nương náu
ở vùng núi phía Tây”
Kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước và dựa trên tài liệu điền dã mới thu thập, chúng tôi không khỏi tự đặt cho mình câu hỏi: phải chăng sự cư trú có tính liên tục thành một vệt rõ nét của các nhóm Việt - Mường trên bản đồ phân bố tộc người (Phụ lục II) hiện nay, chính là sự lan tỏa theo hướng tiếp cận những môi trường
cư trú khác nhau, trong đó, hướng tây nam, nơi những dãy núi đá vôi trùng điệp và những nguồn nước ngầm, cộng đồng Việt - Mường mà cụ thể là các nhóm Sách, Mày, Rục, A rem, Mã Liềng, do sự quy định và an bài của địa hình thiên nhiên (xem phần I), đã trở thành những vùng cư trú khu biệt Hiện tượng giao lưu văn hóa ở đây đã ít nhiều bị ngưng đọng trong những “ốc đảo”, và theo thời gian, chúng trở thành điểm bảo lưu cổ nhất, trong quy luật “hóa thạch” các yếu tố văn hóa ở vùng biên.(23)
22 Nguyễn Văn Tài (1976), “Thử bàn về tiếng Chứt, tiếng Cuối trong nhóm Việt - Mường Hà Nội: tạp chí Dân tộc học, số 2; Nguyễn Văn Tài (1978), “Góp thêm tài liệu cho việc đoán định thời điểm chia tách của hai ngôn ngữ Việt và Mường” Hà Nội: Tạp chí Dân tộc học, số 3; Sôlôlôpxkaia (1978), “Về sự phân loại nội bộ các ngôn ngữ của nhóm Việt - Mường” Hà Nội: Tạp chí Ngôn ngữ, số 2; Phạm Ðức Dương, Hà Văn Tấn (1978), “Về ngôn ngữ tiền Việt Mường” Hà Nội: Tạp chí Dân tộc học, số 1; Phạm Ðức Dương (1979), “Về mối quan hệ nguồn gốc của các ngôn ngữ nhóm Việt Mường” Hà Nội: Tạp chí Dân tộc học, số 1; Nguyễn Văn Mạnh (1982),
“Người Chứt ở Bình Trị Thiên” Huế: Thông tin Dân tộc, số 2; Phan Hữu Dật (1994), “Trở lại tên gọi một số dân tộc nước ta” Hà Nội: Tạp chí Dân tộc học, số 1; Nguyễn Văn Mạnh (1996), “Người Chứt ở Việt Nam” Huế: Nxb Thuận Hóa v.v…
23
- Những trung tâm văn hóa thường có hai đặc điểm khá đặc trưng đó là lực thu hút và sức lan tỏa Chính vì thế, điểm lan tỏa xa nhất, trong điều kiện không có tác nhân giao lưu, thường ngưng đọng và bảo lưu nét truyền thống theo hiện tượng “hóa thạch vùng biên” Trong lúc, ở điểm trung tâm do lực hút của mình, hiện tượng giao lưu văn hóa trở nên phổ biến và các yếu tố truyền thống rất dễ phai nhạt
Trang 26Chúng ta có thể hình dung hiện tượng này theo sơ đồ sau:
Nhóm tách ra từ khối Việt - Mường để tiếp xúc với văn minh Hán ngày càng hiện dần cái riêng để trở thành Việt (Kinh), trong lúc bộ phận còn lại tiếp tục sự tiếp biến văn hóa trong điều kiện sống xen cư với Thái và các tộc người nói ngôn ngữ Mon
- Kh’mer khác, để hình thành nên những đặc trưng văn hóa Mường hiện nay Xa hơn trong sự lan tỏa này chính là các bộ phận phía Nam, trong điều kiện cô lập cư trú, các
“ốc đảo” này đã bảo lưu khá nguyên vẹn các yếu tố ngôn ngữ - văn hóa của khối Việt - Mường cổ, mà theo chúng tôi, đó chính là các nhóm Sách, Mày, Rục, A rem, Mã Liềng ở vùng đất tây Quảng Bình bây giờ.(24)
Trong một bài viết vào năm 1973, nhà ngôn ngữ học Mỹ David Thomas đã phân chia nhóm ngữ hệ Việt - Mường thành Việt, Mường, Mày, A rem và Tày Poọng cùng
1 Pearic 2 Khmer 3 Bahnaric 4 Katuic
5 Khmuic 6 Monic 7 Palaungic 8 Khasi
9 Việt - Mường [David Thomas và R.K.Headley (1970), “More on Mon - Khmer Subgroupings” Lingua
25, No 4, pp 3 98 - 418]
Bắc
Đông Tây
Trang 27nằm trong gốc Nam Á (Austroasiatic) Trong khi Mường, Mày, A rem và Tày Poọng vẫn tồn tại vững vàng trong hệ Mon - Kh’mer thì Việt đã nhẹ nhàng tách dần khỏi Mon - Kh’mer Tác giả kết luận rằng, sự tách ra của tiếng Việt chính từ ảnh hưởng qua quá trình tiếp xúc với văn hóa Hán (25)
2 Đến những thảo luận về định danh và thuộc tính văn hóa
Trở lại với các nhóm tộc người nói ngôn ngữ Việt - Mường ở phía Tây Quảng Bình, chúng ta thấy trong sổ tay thực địa, cũng như các tài liệu thành văn thời thuộc Pháp đã từng nhắc đến nhiều tên gọi khác nhau để chỉ định họ Tuy vậy, phổ biến và bền vững nhất hiện nay vẫn xoay quanh các danh xưng như Sách, Mày, Rục, A rem,
Mã Liềng
Từ cách phiên âm tìm gặp trong những văn bản ở vùng Minh Hóa, trong địa bàn người Nguồn thời phong kiến như sắc phong, văn tế, lệ làng cũng đã phản ánh ít nhiều cách nhìn nhận về ngữ nghĩa của các tên gọi nêu trên
- Từ “Rục” được phiên Nôm là theo nguyên tắc hình thanh từ âm Hán Việt của chữ “Dục” có nghĩa là “rửa sạch, tắm giặt”, kèm với chữ “Thạch” , nghĩa là “đá” mang chức năng hội ý Ðiều này khá trùng khớp với cách giải thích của đồng bào sống
ở đây: Rục có nghĩa là “mội nước từ trong đá núi chảy ra”
- Từ “Mày” trong văn bản phiên Nôm ghi cũng từ nguyên tắc hình thanh từ chữ Hán “My” có nghĩa là “lông mày”, với phần hội ý là chữ “Ðầu” nghĩa là “vị trí
nằm trên cao” Theo cách giải thích của đồng bào thì từ Mày có nghĩa là “đầu nguồn nước các khe suối”; người sống ở đó được gọi là người Mày.(26)
- Từ “Sách” trong cách phiên Nôm là sự kết hợp của từ Hán có âm Hán Việt
là “Sách” , có nghĩa là “bản sách, cuốn sách” theo lối hình thanh với từ “Thôn” trong nghĩa “làng, xóm”, mang chức năng hội ý Ðồng bào ở đây giải thích rằng, người Sách thường sống ở các “hung” đó là những thung lung hẹp dưới chân “lèn” đá ở ven làng cạnh người Nguồn
- Riêng hai từ “A rem” và “Mã Liềng” chưa tìm thấy trong văn bản phiên Nôm, nhưng theo cách giải thích của đồng bào thì A rem có nghĩa là “mái đá, rèm đá” (ví dụ:
Trang 28Tơhung A rem là người sống ở rèm đá, mái đá); Mã Liềng có nghĩa là “người” (ví dụ: Mờliềng Sách = người Sách, Mờliềng Mày = người Mày).(27)
Như vậy, ở đây sự hiện diện của các tên gọi đều có những con đường hình thành khác nhau Các tên Rục, Mày, A rem theo cách luận giải từ văn bản cũng như trên thực
tế, mang ý nghĩa chỉ định, nhằm nêu lên vị trí và đặc điểm nơi cư trú Trong lúc từ Sách, theo chúng tôi chỉ nhằm vào những cộng đồng mà đương thời triều đình phong
kiến Việt Nam có thể quản lý được Ðọc trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Ðôn chúng ta có thể trích dẫn được những đoạn như “Người Sách các nguồn An Ðại, An Náu, Cẩm Lý ở đầu nguồn huyện Khang Lộc đều là dân Man”(28) hoặc “Các Sách ở
đầu nguồn châu Nam Bố Chính, trước cho quan trấn thủ thu tiền thuế hàng năm và tiền hương vị là 60 quan”.(29)
Sự hình thành những tên gọi nêu trên, phần lớn đều nhằm xác định vị trí cư trú đặc trưng của mình là ở vùng núi cao, vùng đầu nguồn nước Ðây không chỉ là hiện
tượng đặc thù chỉ có ở các nhóm tộc người phía tây Quảng Bình, mà là cách định danh khá phổ biến ở các tộc người sống ở Trường Sơn Chúng tôi cho rằng, chính địa hình hẹp ở miền Trung Việt Nam, nguyên ủy, không hề có sự phân biệt mang tính khu trú của miền đầt phía tây; các danh xưng chỉ định phía nguồn nước, phía núi cao như Rục, Mày, A rem, Bru (núi rừng), Pacoh (phía núi), Tà Ôi (nghiêng về phía non), Cơ Tu (đầu ngọn nguồn)… có thể đã hình thành vào thời điểm mà con người ở đây cần xác
định hướng cư trú có tính đối sánh khi xuất hiện lớp cư dân, hay cộng đồng sống thấp
hơn mình
Chính vì tên gọi những nhóm tộc người theo cách hình thành như thế đã không
có điều kiện tồn tại một cách dứt khoát, rõ ràng và bền vững trong chức năng vốn có của việc tự báo tộc danh Ðó chính là lý do hiện hữu cùng lúc nhiều tên gọi chỉ định nhóm tộc người ở miền đất này; đa dạng đến mức các nhà dân tộc học phải gặp sự lúng túng trong việc xác định
27
- Ở đây, chúng ta có thể bắt gặp trên một địa bàn rộng hơn loại từ phiếm xưng để chỉ con người nói chung, chẳng hạn như T’moi = người, mà sau này đã đọc trại thành từ “mọi” mang nghĩa miệt thị; hay người Katu gọi mình là “Mơnui”, cũng có nghĩa là “người” Danh xưng “Tắc Củi” để chỉ nhóm Chứt cũng bắt nguồn từ chữ
“Têkuih” trong ngôn ngữ Bru, Pacoh, Tà Ôi cũng có nghĩa là “người” Mã Liềng có thể cũng được hiểu tương
tự
28 - Lê Quý Ðôn (1964), “Phủ biên tạp lục” Hà Nội: Nxb KHXH, trang 227
29 - Lê Quý Ðôn (1964): Sđd, trang 231
Trang 29Riêng các nhóm nói ngôn ngữ Việt Mường ở Quảng Bình ngoài những tên vừa gọi còn có hàng loạt các danh xưng khác như Tu Vang, Keo, Xơ lang, Tơhung A rem, Chà cũi, Tắc cũi, U mo đã từng hiện diện và không một lời giải thích.(30)
Các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu địa bàn này cũng không đặt vấn đề về sự phân hóa có tính chất trình tự của các nhóm theo trục lịch đại Bởi trong cùng một ngôn ngữ, nếu xét theo tiêu chí về cấu trúc song tiết (âm tiết phụ - chính) thì tiếng Rục,
A rem, Mày có tới 40% từ cơ sở có song tiết, cũng như tồn tại khá nhiều dấu vết của
hệ thống hình thái học cổ qua các tiền tố và trung tố cấu tạo từ Tuy nhiên, nếu xét quá trình biến đổi các âm cuối “l”, “r” thì tiếng A rem lại mang tính hậu kỳ so với các tiếng còn lại Cho nên, công việc của các nhà ngôn ngữ học cũng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu mức độ gần gũi giữa tiếng nói của các nhóm nhiều hơn là xác định chúng trong quá trình phân hóa thành phương ngữ của ngôn ngữ Chứt.(31)
Người Nguồn, gạch nối giữa nhóm Kinh và Chứt đã trở thành đề tài của nhiều cuộc thảo luận(32): họ là người Việt từ đồng bằng, ly hương tiến về phía tây, tạo nên những thích ứng trong điều kiện sống mới hay họ chính là nhóm tộc người thiểu số phía tây chịu ảnh hưởng cũng như có nhiều mối quan hệ giao lưu với người Kinh Chứng cứ của hai luận điểm trên, đều được dẫn với những tài liệu văn bản và điền dã
cụ thể Theo chúng tôi, đây chính là bộ phận biểu hiện sự cộng cư lâu dài trong lịch sử giữa nhóm Chứt thấp và Kinh cao Cho nên, có nơi yếu tố Kinh trội hơn trong sinh hoạt văn hoá, nhưng cũng có vùng gần gũi với văn hoá Sách
Vấn đề thừa nhận người Nguồn là “một dân tộc thiểu số riêng biệt”, hoặc là “một nhóm địa phương của dân tộc Mường, Thổ, Chứt”, hay là “một trong những bộ phận của người Việt ở miền núi” của tỉnh Quảng Bình cần phải được nghiên cứu thấu đáo.(33) Tuy nhiên, dù họ là “dân tộc thiểu số” hay chỉ là một “nhóm địa phương” của dân tộc nào đi chăng nữa, thì sự hiện diện những nét bản sắc văn hoá trong đời sống là
30 - Ở Trị - Thiên, tình hình người Bru - Vân kiều, Pa cô, Tà Ôi và Katu cũng không khác mấy Chẳng hạn người Katu còn được gọi là Cơ Tu, Khatu, Phương, Cao, Mơnui ; người Tà Ôi có các tên gọi Tà Uôi, Tà Uốt, Kantur, Pcoh, Bahy ; người Bru có các tên Sộ, Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong, Tíari, Chàly, Trùi, Ma khong, Mường kong, Càlơ
31 - I V Samarina (1989), “Về mối liên hệ cội nguồn các ngôn ngữ Rục, Arem”, trong “Cái mới trong nghiên cứu tiếng Việt và các ngôn ngữ khác ở Ðông Nam Á” Moskva, trang 219 - 222; Nguyễn Văn Lợi (1993), “Tiếng
Trang 30điều không thể phủ nhận, đã và đang góp phần tạo nên diện mạo văn hoá Quảng Bình nói riêng và sự đa dạng của văn hoá Việt Nam nói chung
Nếu chúng ta thừa nhận sự hình thành các tên gọi của đồng bào thiểu số nói ngôn ngữ Việt - Mường ở phía tây Quảng Bình theo xu hướng xác định tọa độ cư trú trên trục không gian để phân biệt với những người sống thấp hơn mình, thì ở đây đồng bào cũng tự phân biệt thấp cao theo hướng đông tây như sau:
Puôn: là người Việt ở miền xuôi lên buôn bán, trao đổi sản phẩm, một số ít thiết
lập quan hệ hôn nhân với cư dân bản địa Puôn chỉ thị người sống ở miền thấp nhất Trong văn học dân gian, đồng bào còn nhắc đến:
“Ông Puôn phán pán vấm pềnh
Trèo lên kẻ toộng má riêng hầm hầm”
(Ông Puôn bán mắm vỡ bình
Trèo lên cái dốc mà rên ầm ầm)34
Nguồn: là người ở trên những vùng đất thấp hơn tương đối bằng phẳng có nguồn
nước hay khe suối chảy qua (người làng)
Sách: ở trên các hung, thung lũng hẹp dưới chân lèn, ven làng
Mày, Rục, A rem, Mã Liềng: đều là những người sống ở núi đá, rèm đá, đầu nguồn nước
Chúng ta có thể hình dung vị trí ấy trên mặt dốc của trắc diện địa hình miền trung (theo chiều đông - tây) như sau:
Trang 31Trong cách phân chia này, làng chính là địa điểm cư trú của người Nguồn và trở thành điểm mốc định vị trong ý thức của họ:
“Chớ khinh con Cọi35
ở hang Tiếng ăn, tiếng nói ngoài làng thua xa”
Hay:
“Chớ khinh con Cọi ở hung
Tiếng ăn, tiếng nói cùng chung ngoài làng”
Từ “Chứt” theo chúng tôi chỉ mang thuần nghĩa đen là núi đá mà đồng bào thường dùng làm hình tượng so sánh với biển Có thể khẳng định điều này trong hàng
loạt chuyện cổ như “Chứt đi đánh biển”, “Sự tích sinh ra các dân tộc”, “Lèn đi chắn biển” v.v… Trong thuật ngữ của các nhóm người ở đây đều có những từ phân biệt như
“chứt nạy”: núi to; “chứt sàm”: núi vừa; “chứt pen”: núi nhỏ v.v…
Trong ý thức của đồng bào, “Chứt” chưa hề tồn tại như một tộc danh, mà ở đây, chúng ta có thể chia ra hai cấp phân biệt về mặt xác định vùng cư trú:
- Các tên gọi Mày, Rục, A rem là sự phân biệt có tính cụ thể đối với người sống xung quanh mình, kể cả với người miền xuôi
- Chứt được sử dụng khi đối diện với tình huống cần phân biệt cộng đồng tại chỗ với những cộng đồng hay cá nhân từ miền khác đến
Chính vì những đặc điểm nêu trên, con đường hình thành các tên gọi của nhiều nhóm tộc người ở tây Quảng Bình và Trường Sơn nói chung có những nét riêng Bởi thực chất, ở đây không phản ánh sự hội tụ đầy đủ ý thức tự giác, đặc điểm ngôn ngữ hay những nét riêng về sinh hoạt văn hóa, đủ cơ sở để có thể phân định một cách rạch ròi đó là “chi”, “ngành” hay “nhóm địa phương”; cũng như không thể ghi nhận sự hiện diện phần ý thức tự giác về một tộc người lớn hơn nhóm, trùm lên cái tên mà họ đang
sử dụng
Tất nhiên, chúng ta cũng không loại trừ con đường hình thành tộc danh, với một
quá trình mà sự gần gũi từ nhiều yếu tố của các nhóm có thể mở đầu cho một kiểu lựa chọn tương đối hay không chính thức, và việc phổ biến chúng cũng như tạo thành một dạng ý thức tự giác phải cần đến thời gian
35 Cọi/Cõi: ranh giới, địa giới; nhưng người Cọi lại được hiểu là sống ngoài địa giới
Trang 323 Lời kết
Quá trình tộc người và những đặc điểm định danh cho thấy một phức hợp các mói quan hệ hình thành lâu đời trong cộng đồng các dân tộc thiểu số miền Tây Quảng Bình Quá trình này gắn chặt với môi sinh đặc thù của địa bàn miền Tây Quảng Bình
là hệ thống karst Chính phức hợp karst đã tạo cho khu vực này một quần xã động vật
và thực vật phong phú, đi kèm với nó là hệ thống các sống suối, trong đó có các suối ngầm và trũng phun trào đã là điều kiện lý tưởng cho sự lựa chọn làm khu vực sinh sống của các dân tộc
Đây chính là điểm mấu chốt để từ đó nghĩ đến một chính sách bảo tồn văn hóa bản địa của các dân tộc ít người miền Tây Quảng Bình nói chung, khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng nói riêng trên nguyên tắc là không tách rời họ ra khỏi môi sinh của họ Điều này nói ra thật đơn giản nhưng nó không dễ trở thành hiện thực bởi chúng ta đã
đi quá xa trong việc Việt hóa họ bằng chính sách định cư bắt buộc ở bên ngoài không gian môi sinh đặc thù của họ Quyền dân tộc, phải chăng chỉ được xác lập khi trả họ về với môi trường sống đã gắn bó hàng trăm, thậm chí cả nghìn năm, trong những điều kiện càng ngày càng tốt hơn chứ không phải biến họ thành một dân tộc khác
Trang 33KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊA VĂN HÓA MỘT SỐ DÂN TỘC THIỂU SỐ
TẠI KHU VỰC PHONG NHA – KẺ BÀNG
Nhóm nghiên cứu và phát triển cộng đồng bền vững
Trường đại học Quảng Bình
1 Giới thiệu chung
Phong Nha – Kẻ Bàng (PN - KB) không những có giá trị ngoại hạng về địa chất, địa mạo và đa dạng sinh học mà còn đa dạng văn hóa và dân tộc rất có ý nghĩa Đây là địa bàn sinh sống của dân tộc Kinh, Bru-Vân Kiều và Chứt Dân tộc Bru-Vân Kiều với các nhóm tộc Vân Kiều,Trì, Khùa, Ma Coong; dân tộc Chứt với các nhóm tộc (Sách, Mày, Rục, ARem, Mã Liềng) Người Chứt và Bru-Vân Kiều có nhiều sắc thái văn hoá đặc sắc.[1]
Về địa bàn cư trú, các nhóm dân tộc sống rải rác, khá biệt lập trong các thung lũng ven sông suối, nơi có nguồn nước thuận lợi và đất đai khá màu mỡ trong bạt ngàn xanh thẳm rừng thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng Đa phần là họ cư trú ở vùng đệm, riêng một nhóm nhỏ dân tộc Vân Kiều (thuộc bản Đoòng- xã Tân Trạch), nhóm dân tộc Arem cư trú trong vùng lõi Các cộng đồng dân tộc anh em này có sự hiện diện lâu dài, lịch sử di chuyển thôn bản, các phong tục canh tác sản xuất, văn hóa tâm linh, địa bàn sinh kế của họ gắn liền với việc sử dụng và quản lý tài nguyên tại Vườn quốc gia PN - KB Những hiểu biết về văn hóa địa phương, tri thức bản địa của cộng đồng các dân tộc này là sự cần thiết trong công tác bảo tồn di sản, ngược lại việc bảo tồn di sản chỉ mang tính bền vững khi giải quyết hài hòa các mối quan hệ về văn hóa, sinh kế và sử dụng tài nguyên lâu dài trong khu vực Thực tế vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế trong quản lí và khai thác từ nhiều phía, điều này có nguy cơ dẫn đến
sự mai một hoặc biến mất các bản sắc văn hóa có từ lâu đời của cộng đồng các dân tộc sinh sống trong khu vực (trong đó có Arem và Rục là hai trong số các tộc người có dân
số ít nhất ở Việt Nam và trên thế giới) Để có đề xuất giải pháp phù hợp với thách thức
này, hợp tác nghiên cứu của chúng tôi đã xây dựng các bản đồ chuyên đề, là tư liệu quý về toàn cảnh quan địa văn hóa trong khu vực
Trang 342 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu
- Nghiên cứu dựa vào cộng đồng, thực địa cùng cộng đồng có sử dụng phương pháp PRA và phỏng vấn bán cấu trúc:
+ Làm quen và gặp mặt những người có vị trí quan trọng trong cộng đồng
+ Thực địa cùng cộng kết hợp GPS định vị các địa danh, khoanh các khu vực trong không gian quần cư Trao đổi, phỏng vấn sâu về các câu chuyện, sự tích hoặc truyền thuyết, phong tục, tập quán gắn liền với các sự vật, hiện tượng địa lí hoặc văn hóa, ngôn ngữ bản địa tại địa danh được thu thập dữ liệu GPS Trước tiên, chúng tôi cùng thực hiện quy trình nghiên cứu mẫu tại bản Đoòng (xã Tân Trạch), sau đó rút kinh nghiệm và chia thành 03 nhóm nhỏ tiến hành nghiên cứu độc lập tại 03 bản là bản
Cà roòng, bản Arem, bản Ón
+ Họp dân: Sau khi tiến hành thu thập dữ liệu, điều tra, phỏng vấn và cùng người dân xây dựng bản đồ địa văn hóa thôn bản, nhóm nghiên cứu tiến hành họp thôn nhằm khai thác và kiểm chứng thông tin trong cộng đồng bản địa
+ Xây dựng bản đồ địa văn hóa có sự tham gia của cộng đồng
Hình 1: Một số thiết bị phục vụ công tác khảo sát
3 Thời gian và phạm vi nghiên cứu
- Thời gian từ 25/2 đến 30 tháng 5 năm 2015
- Không gian nghiên cứu: Bản Đoòng (xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch) – nghiên cứu thí điểm Bản Arem (xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch), bản Cà Roòng (xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch), bản Ón (xã Thượng Hóa- huyện Minh Hóa)
Trang 354 Kết quả nghiên cứu
Qua quá trình thực hiện kế hoạch nghiên cứu tại các bản, nhóm nghiên cứu tại
trường ĐHQB đã thực hiện được các kết quả như sau:
1 Thu thập cơ sở dữ liệu GPS để xây dựng bản đồ địa văn hóa các bản:
Nhóm nghiên cứu đã thu thập được cơ bản đầy đủ các cơ sở dữ liệu không gian
và thuộc tính của cả 04 bản thuộc phạm vi nghiên cứu Bao gồm:
a Các dữ liệu không gian về điều kiện tự nhiên (địa hình, sông suối, ao hồ, rừng,
…), các điều kiện kinh tế - xã hội – văn hóa (ranh giới thôn bản, ranh giới các khu vực tâm linh, không gian các khu vực quần cư, rừng ma, rừng thiêng, các khu vực sinh kế, phân bố dân cư,…)
b Các dữ liệu không gian về lịch sử di chuyển thôn bản từ trước năm 1945 đến nay.,
Trên cơ sở các dữ liệu thu thập được trong quá trình thực địa, nhóm nghiên cứu tiến hành kiểm chứng và chuẩn hóa dữ liệu không gian theo các lớp riêng biệt thuận tiện cho việc quản lý và sử dụng
c Các dữ liệu thuộc tính gắn liền với dữ liệu không gian bao gồm các truyền thuyết, câu chuyện, sự tích,… gắn liền với địa danh, đất đai, sông suối, núi đồi, hõm
đá, vực nước, cây cổ thụ, rừng thiêng, rừng ma,… được lưu giữ dưới các kênh thông tin hình ảnh (đoạn clip video, ảnh), âm thanh (đoạn clip, đoạn ghi âm), chữ viết (ghi chép lại ) Đây là phần mô tả khá chi tiết về vị trí địa lí thôn bản, lịch sử di chuyển thôn bản, các tác động đến việc di chuyển thôn bản cũng như sự biến động sinh kế trong quá trình di chuyển Các phong tục, tập quán, lễ hội được gắn liền, truyền tích,
sự tích gắn liền tên địa danh theo tiếng bản địa là những câu chuyện hấp dẫn và lý thú
2 Xuất dữ liệu, biên tập bản đồ các bản:
Trên cơ sở dữ liệu đã qua kiểm chứng và được chuẩn hóa, liên kết dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính, nhóm nghiên cứu biên tập 01 bản đồ vị trí các bản khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng Đối với các bản Cà Roòng, bản Đoòng, bản Arem và bản Ón mỗi bản có 01 bản đồ địa lý chung, 01 bản đồ các khu vực sinh kế, các bản đồ này được biên tập 02 phiên bản (bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh)
Trang 36Hình 2: Bản đồ địa lí chung bản Arem
3 Báo cáo toàn văn
Bản báo cáo toàn văn được viết khá cẩn thận, mô tả giới thiệu khái quát về đa dạng văn hóa các dân tộc thuộc khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng Mô tả chi tiết các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội của các bản thuộc khu vực nghiên cứu Sử dụng triệt để các thông tin từ nguồn tư liệu trong quá trình khảo sát, thực địa nên khi đọc báo cáo toàn văn, người đọc sẽ có được một cái nhìn tổng quan về đa dạng văn hóa ở các bản này Mỗi bản thể hiện một nét đặc trưng rất độc đáo, bản sắc riêng biệt đặc trưng của cội nguồn, gốc gác, tinh hoa văn hóa ẩn chứa trong phong tục, tập quán, sinh hoạt và sản xuất Đồng thời, bản toàn văn cũng cho phép người đọc có
Trang 37những hiểu biết khá chi tiết về địa văn hóa, đất và người ở từng bản Từ những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên đến các tài nguyên nhân văn đều mang những sắc thái riêng của mỗi bản làng trong bản sắc văn hóa chung của hai dân tộc Bru – Vân Kiều và dân tộc Chứt, đó chính là điều đặc biệt mà người đọc có thể so sánh để khám phá những ý tưởng mới trong nghiên cứu và phát triển kết quả nghiên cứu này
4 Một số vấn đề rút ra từ kết quả nghiên cứu:
4.1 Với các kết quả nhóm nghiên cứu đã thực hiện, việc liên kết các dữ liệu của các bản cho phép có cách nhìn tổng quan toàn khu vực cũng như thể hiện chi tiết từng bản
4.2 Quá trình di chuyển thôn bản của các bản rất phức tạp nhưng cũng là những câu chuyện lý thú Chỉ có những người già làng, trưởng bản và người cao tuổi trong các bản này mới có được các thông tin về lịch sử di chuyển Còn đa phần thế hệ trẻ ít biết hoặc ít được giáo dục truyền thống về nguồn gốc nói chung và lịch sử, văn hóa thôn bản nói chung Người trẻ ở bản ít biết hoặc biết rất hời hợt về các tập quán, phong tục, lễ hội mà chỉ đơn thuần làm theo người lớn trong bản Đây là điều cần lưu ý khi thực hiện các hoạt động bảo tồn về văn hóa các bản làng này, bởi vấn đề am hiểu tận tường về nguồn gốc, văn hóa,… là tự hào về dân tộc mình, yêu quý và biết giữ gìn những nét đẹp văn hóa của chính thôn bản họ
Lịch sử di chuyển của các cộng đồng cho thấy họ sinh sống từ lâu đời trong khu vực PN – KB Họ có mong muốn chính đáng trở về quê hương, bản quán của họ Các khu vực thuộc di sản cũng là nơi diễn ra các hoạt động truyền thống của cộng đồng đồng thời là lưu lại, ghi dấu và truyền đạt những tri thức bản địa có từ lâu đời
Trang 38Hình 3: Bản đồ lịch sử di chuyển bản Arem
Ví dụ: Lập bản đồ các khu định cư lịch sử Arem, chúng tôi nhận thấy có sự không trùng khớp giữa ranh giới thôn bản ở địa bàn cư trú và ranh giới các khu vực sinh kế, khu vực tâm linh Các khu vực ấy không nằm trong ranh giới bản hiện tại nhưng lại có kết nối sâu sắc và lâu đời như là bản quán của người Arem Tuy nhiên, vùng rừng ấy lại nằm trong vũng lõi của di sản và cộng đồng địa phương hoạt động ở khu vực đó là vi phạm trong quản lý di sản thế giới Trong một số trường hợp như vậy, để bảo tồn di sản các kết nối văn hóa lâu đời và lịch sử vùng định cư của bà con đang trong nguy cơ bị lãng quên
Một số địa danh, hướng di chuyển trong bản đồ di chuyển thôn bản có tính ước lệ
do điều kiện khảo sát trong rừng sâu gặp nhiều khó khăn Một số điểm chưa đi kiểm chứng được Ví dụ: Trước năm 1945, bản Arem cư trú tại Cầu Bùng di chuyển lên Trạ Ang nhưng nhóm nghiên cứu về Cầu Bùng khảo sát thì chưa tìm thấy các di tích của
Trang 39bản này vào thời điểm họ cư trú tại đây Còn trước năm 1945, họ từ đâu đến thì chính già làng, trưởng bản cũng không lý giải được
4.3 Đối với những bản như bản Cà Roòng, bản Đoòng việc lựa chọn vị trí để định cư hiện tại là do tự phát nên khi quan sát trên bản đồ cũng như đi thực địa, người nghiên cứu thấy rõ được những bản sắc, tri thức bản địa của họ áp dụng trong việc lựa chọn vị trí, không gian tâm linh, tên gọi hay bố trí không gian quần cư, không gian nhà
ở thể hiện những nét văn hóa riêng biệt rất lý thú Nhưng người Rục (bản Ón), người Arem (bản Arem) sống trong hang đá được vận động về định cư tại điểm bản bây giờ nên ít nhận thấy các dấu hiệu đấy trong không gian cư trú hiện tại của họ Họ khá là bí
ẩn Phải theo chân họ vào rừng – vào rừng họ mới là chính mình với những bản sắc riêng biệt theo kiểu sống hoang dã, nhóm nghiên cứu chưa làm được điều này vì thời gian hạn chế, sinh viên còn đủ năng lực để thuyết phục, cảm hóa dân bản Các khu vực rừng ấy phải những ai được xem là khách quý đặc biệt của bản mới được mời đi cùng 4.4 Ranh giới thôn bản được xác định dựa vào cộng đồng Tuy nhiên các ranh giới theo hành chính hiện nay, ranh giới tâm linh của cộng đồng và ranh giới khu vực sinh kế không trùng nhau Ví dụ: Người Arem vẫn xem vùng đất của bản Đoòng là vùng đất tâm linh của họ; người Macoong cho rằng họ là chủ đất từ dãy U Bò kéo dài đến biên giới Việt – Lào (chỗ Đồn Biên Phòng Cồn Roàng tại cửa khẩu) Người Macoong sang tận đất Lào để lấy mật,… Vì vậy, trên bản đồ sinh kế và ranh giới bản nhóm nghiên cứu chưa kiểm chứng, hiển thị được các thông tin nói trên
4.5 Những hiểu biết về sự đa dạng văn hóa, các phong tục tập quán và tri thức bản địa của các cộng đồng dân cư trong khu vực di sản giúp Ban quản lý PN – KB quản lí có hiệu quả và hài hòa các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên có tính bền vững hơn Như vậy, sự tham gia của các cộng đồng lâu đời trong khai thác và quản lý của khu vực PN- KB bắt đầu được công nhận, nhưng chúng ta vẫn còn thiếu nguồn dữ liệu, thông tin về họ
Trang 40Hình 4: Bản đồ sinh kế và sử dụng đất bản Caroong
4.6 Một mối quan tâm ngày càng tăng trong vấn đề bảo tồn sự đa dạng văn hóa cũng như quan điểm về sự phát triển bền vững của cộng đồng phải xuất phát từ mong muốn và sự phù hợp với họ, tránh bị áp đặt hoặc thiếu sự lồng ghép trong quy hoạch Nhất là đối với các hoạt động du lịch hết sức thận trọng
4.7 Các cộng đồng dân tộc thiểu số có nhu cầu tiếp cận và tham gia vào việc quản lý của cảnh quan văn hóa, di sản để khai thác và bảo tồn tài nguyên nhưng đồng thời cũng là bảo tồn cảnh quan văn hóa truyền thống của chính họ
5 Kết luận
Cảnh quan văn hóa của một số nhóm các dân tộc thiểu số khu vực Phong Nha –
Kẻ Bàng khá đa dạng, nổi bật, có những nét đặc sắc mang đậm dấu ấn riêng biệt, gắn