dục môi trường trong các môn học ở Tiểu học” đã chỉ ra được các cơ hội tích hợp, phương pháp, hình thức giáo dục môi trường, trong đó có phần nâng cao các nhận thức về nguyên nhân gây th
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Quá trình hoàn thành khoá luận “Nâng cao nhận thức và kĩ năng ứng phó với thiên tai cho học sinh tiểu học ở huyện Minh Hoá thông qua môn Địa lí (lấy ví dụ ở Truờng Tiểu học Yên Hoá)” tôi đã nhận được nhiều sự
giúp đỡ từ nhà trường, thầy cô, bạn bè và gia đình
Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non, phòng đào tạo, Trường Đại học Quảng Bình đã giúp tôi có nền tảng kiến thức vững chắc để nghiên cứu và hoàn thành khoá luận
Xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên Th.S Cao Thị Thanh Thuỷ Cảm ơn cô đã nhiệt tình hướng dẫn để tôi nghiên cứu và hoàn thành khoá luận một cách tốt nhất
Xin cảm ơn cô giáo chủ nhiệm, các thầy cô giáo, các em học sinh Trường Tiểu học Yên Hoá đã nhiệt tình giúp đỡ và đóng góp ý kiến để tôi nghiên cứu và học tập
Tôi xin cảm ơn gia đình và và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, chia sẻ và
hỗ trợ tôi trong suốt thời gian làm khoá luận
Quảng Bình, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Trương Thị Én
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
3 MỤC TIÊU 4
3.1 Mục tiêu chung 4
3.2 Mục tiêu cụ thể 4
4.ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Giới hạn nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết 5
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 6
6.1 Về mặt lý thuyết 6
6.2 Về mặt thực tiễn 6
7 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1.1 Thiên tai là gì? 7
1.1.2 Phân loại 7
1.1.3.Nguyên nhân 8
Trang 31.1.3.1 Nguyên nhân từ thiên nhiên 8
1.1.3.2.Nguyên nhân từ con người 9
1.1.4 Một số thuật ngữ liên quan 9
1.2 MÔN ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC 10
1.2.1 Khái quát môn ĐL ở Tiểu học 10
1.2.2 Mục tiêu chương trình ĐL lớp 4,5 10
1.2.3 Phương tiện và phương pháp dạy học môn ĐL lớp 4,5 11
1.2.3.1 Phương tiện 11
1.2.3.2 Phương pháp 11
1.2.4 Cách trình bày sách: 11
1.3 GIÁO DỤC THIÊN TAI TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC 12
1.3.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh 12
1.3.2 Thực trạng dạy và học môn Địa lí 12
1.3.2.1 Thực trạng việc dạy 12
1.3.2.2 Thực trạng việc học 13
1.3.3.Kết quả khảo sát 14
1.3.4 Vai trò của việc nâng cao NT & KN ứng phó với thiên tai cho HS Tiểu học 15
CHƯƠNG 2 LỒNG GHÉP NÂNG CAO NHẬN THỨC VÀ KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI THIÊN TAI TRONG MÔN ĐỊA LÍ 16
Ở TIỂU HỌC 16
2.1 KHÁI QUÁT MÔN ĐL Ở TIỂU HỌC 16
2.1.1 Chương trình ĐL lớp 4 16
2.1.2 Chương trình ĐL lớp 5 18
2.2 CƠ HỘI TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC THIÊN TAI TRONG MÔN ĐL Ở TIỂU HỌC 21
2.2.1 Thuận lợi 21
Trang 42.2.2 Khó khăn 22
2.3 TÍCH HỢP TRONG MÔN ĐL 23
2.3.1 Dạy học trên lớp 23
2.3.2 Hoạt động NGLL 31
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY LỒNG GHÉP NÂNG CAO NT & KN ỨNG PHÓ VỚI THIÊN TAI TRONG MÔN ĐỊA LÍ 33
3.1 DẠY HỌC TRÊN LỚP 33
3.1.1 Phương pháp hình thành kĩ năng xác lập mối quan hệ nhân quả 33
3.1.2 Phương pháp sử dụng bản đồ 34
3.1.3 Phương pháp thảo luận 35
3.1.4 Phương pháp sử dụng tranh, ảnh ĐL 36
3.1.5 Phương pháp giải quyết vấn đề 37
3.1.6 Phương pháp đàm thoại 39
3.2 NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 41
CHƯƠNG VI THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VÀ TRƯNG CẦU 44
Ý KIẾN CỦA GIÁO VIÊN GIẢNG DẠY 44
4.1 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 44
4.1.1 Mục đích và đối tượng thực nghiệm 44
4.1.1.1 Mục đích thực nghiệm 44
4.1.1.2 Đối tượng, địa điểm thực nghiệm 44
4.1.2 Phương pháp thực nghiệm 44
4.2 GIÁO ÁN GIẢNG DẠY VÀ THỰC NGIỆM 47
4.2.1 Tích hợp toàn phần 47
4.2.2 Tích hợp bộ nhận 53
4.2.3 Liên hệ 55
4.3.Trưng cầu ý kiến giáo viên giảng dạy 60
Trang 5KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Kiến nghị 62
2.1 Phòng Giáo dục và Đào tạo và nhà trường: 62
2.2 Giáo viên: 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 1
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trái đất đang có những biến đổi phức tạp và thiên tai đang là mối lo sợ
đối với con người Những năm gần đây, nhân loại đang ngày càng đối mặt với
nhiều hiểm nguy hơn từ hệ quả của thiên tai và biến đổi khí hậu Ngoài những
tác động về kinh tế - xã hội, thiệt hại về sinh mạng con người, bệnh tật gia
tăng dưới tác động của sự thay đổi nhiệt độ, môi trường,… Đó chính là những
hậu quả của biến đổi khí hậu, thiên tai mà Việt Nam và các nước trên thế giới
thường xuyên phải đối mặt Nâng cao nhận thức sâu sắc về vấn đề phòng,
chống và ứng phó với thiên tai là hết sức cần thiết với tất cả mọi người, đặc
biệt là HS tiểu học để có những hành động cụ thể góp phần vào việc phòng,
chống và ứng phó với thiên tai Giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kĩ năng
để cho HS ý thức phòng, chống và ứng phó với thiên tai là một nhiệm vụ rất
quan trọng của ngành Giáo dục nước ta hiện nay
Theo báo cáo gần đây của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu
(IPCC) đã chỉ ra những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đang diễn ra
ngày càng tồi tệ hơn.Theo các chuyên gia, tình trạng biến đổi khí hậu tiếp tục
diễn ra với tốc độ nhanh chóng như thế này sẽ mang đến những ảnh hưởng
khốc liệt cho thế giới về các vấn đề như: Phá hoại nền kinh tế toàn cầu; Tình
trạng di cư môi trường; Năng suất nông nghiệp giảm sút và mất an ninh lương
thực; Mất đi sinh kế; Nguy cơ đe dọa sức khỏe; Khủng hoảng năng lượng
và an ninh thảm họa; Cháy rừng; Thế giới lâm vào tình trạng khan hiếm nước; Những cơn bão có
cường độ cao; Nước biển dâng; Các rạn san hô có nguy cơ tuyệt chủng; …
Việt Nam là một trong những nước trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề
nhất của biến đổi khí hậu.Hiện nay, ở Việt Nam đã xuất hiện ngày càng nhiều
những bằng chứng cho thấy biến đổi khí hậu tác động tiêu cực như thế nào
đến sự phát triển kinh tế - xã hội Các hiện tượng như: lượng mưa thất thường
Trang 8và luôn biến đổi; Nhiệt độ tăng cao hơn; Tình hình thời tiết khốc liệt hơn; Tần suất và cường độ của cơn bão, lũ tăng; Các dịch bệnh xuất hiện và lan tràn; …
Ở Quảng Bình nói chung và Minh Hóa nói riêng, biến đổi khí hậu, thiên tai trong thời gian gần có tần suất và cường độ tăng đột biến Theo báo cáo của Ban phòng, chống thiên tai tỉnh Quảng Bình năm 2016 toàn tỉnh thiệt hại
do mưa lũ là: Thiệt hại về người 18 người chết, 7 người mất tích (Minh Hóa 2), 13 người bị thương; Tài sản 16 tàu thuyền bị chìm, 3 tàu mất tích, 4 tàu mắc cạn; Nhà cửa 92489 hộ bị ngập (trong đó Minh Hóa hơn 3110 hộ), 56 hộ
bị tốc mái, 18 nhà sập; Giao thông có 5 khu gia sạt lở (Minh Hóa hơn 6 tuyến đường liên thôn và liên xã bị ngập); Trường học, cơ sở y tế, công tình điện, viễn thông phần lớn đều bị phá hủy (Minh Hóa có 10 trường bị ngập, một số trường bị lốc mái và hang rào bị sập); Hoa màu hoàn toàn bị ngập úng và hư hại [1] Thông qua những con số báo động trên trong những năm gần đây, chúng ta thấy mức độ và quy mô tàn phá của thiên tai ngày càng tăng Người dân tỉnh Quảng Bình, đặc biệt là người dân huyện Minh Hóa đã phải gánh chịu những hậu quả vô cùng nghiêm trọng
Minh Hoá là một huyện miền núi rẻo cao ở phía tây của tỉnh, xung quanh được bao bọc bởi các dãy núi nên được gọi là “rốn lũ”, với vị trí địa lí như vậy nên Minh Hoá hay gặp các thiên tai như: bão, lũ lụt, lũ quét, lốc xoáy Địa hình bị chia cắt bởi nhiều khe suối, đồi núi cao nên hàng năm huyện Minh Hóa thường chịu những trận mưa lũ, sạt lở đất ở các đồi núi và hai bên bờ suối gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản Mặt khác, Minh Hóa là nơi có các tộc người dân tộc thiểu số sinh sống, lại hội tụ rất nhiều cảnh quan đẹp và di tích lịch sử nổi tiếng góp phần để Minh Hóa trở thành điểm du lịch hấp dẫn trong cả nước và trên thế giới Thời gian gần đây, Minh Hóa thường xuyên chịu các trận thiên tai như: lũ lụt, bão, … gây thiệt hại lớn đối với tài sản và ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân Mức độ phá hủy của thiên tai có tần suất và quy mô ngày càng tăng đã làm cho Minh Hóa gặp không ít khó khăn về kinh tế và xã hội Tuy nhiên, những thiệt hại lớn lao do thiên tai còn phụ thuộc rất nhiều vào NT & KN ứng phó của người dân trong điều kiện
Trang 9hiện tại.Nếu như mọi người dân đều ý thức được việc khai thác và sử dụng hợp lí các tài nguyên, bảo vệ môi trường, có những hiểu biết nhất định để phòng chống thiên tai cũng như các kĩ năng thích ứng với thiên tai thì sẽ giúp
họ hạn chế được những nguy hiểm, rủi ro do thiên tai mang lại Nhận thức được điều đó, là một người con của địa phương và là một sinh viên ngành sư phạm tôi muốn thông qua nghiên cứu này để có nhiều hiểu biết và kĩ năng tốt hơn về phòng, chống và ứng phó với thiên tai nhằm để phục vụ công tác giảng dạy sau này tại địa phương, góp phần giảm các rủi ro, tổn thất do thiên tai gây ra Chính vì những lý do này mà em đã chọn đề tài: “Nâng cao nhận thức và kĩ năng ứng phó với thiên tai cho học sinh tiểu học huyện Minh Hóa thông qua môn Địa lí”
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX vấn đề phòng, chống, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu đang là một trong những vấn đề nóng mà toàn nhân loại rất quan tâm và đã trở thành đề tài khiến các nhà khoa học trên thế giới tiêu tốn thời gian và công sức nhằm đưa ra các giải pháp hiệu quả nhất giảm thiểu các rủi ro do thiên tai gây ra Theo đó, vấn đề lồng ghép, tích hợp giáo dục ứng phó thiên tai và biến đổi khí hậu cũng được đưa vào nhà trường nhằm nâng cao NT & KN cho HS Một số nước trên thế giới như Nhật Bản, Nepal
đã đưa các chương trình giáo dục ứng phó thiên tai trong nhà trường có hiệu quả cao trở thành một địa chỉ tin cậy để nhiều quốc gia khác tham quan, học tập và chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực này
Ở Việt Nam, chương trình lồng ghép, tích hợp giáo dục thiên tai và biến đổi khí hậu trong các môn học được triển khai khá nhiều ở một số môn học như: Sinh học, vật lý và đặc biệt là môn ĐL ở bậc Trung học cơ sở khá nhiều Tác giả Đào Ngọc Bích và Phạm Thị Bình, ở trong Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM số 59 (năm 2014) với mong muốn đóng góp vào hệ thống tài liệu phục vụ công tác giáo dục đã thiết kế một số mẫu giáo án ĐL về “Tích hợp nội dung giáo dục thiên tai cho HS thông qua chương trình ĐL ở Trung học
cơ sở” Dự án VIE/2010 về Bảo vệ môi trường có đưa tài liệu “Tích hợp giáo
Trang 10dục môi trường trong các môn học ở Tiểu học” đã chỉ ra được các cơ hội tích hợp, phương pháp, hình thức giáo dục môi trường, trong đó có phần nâng cao các nhận thức về nguyên nhân gây thiên tai, kĩ năng ứng phó Ngoài ra, có khá nhiều tài liệu nói về tích hợp giáo dục môi trường nói chung cho các môn học ở các cấp
Riêng tích hợp giáo dục thiên tai cho HS thông qua môn ĐL ở bậc Tiểu học có ít tài liệu chia sẻ Nhiều tài liệu nói chung về giáo dục dân số thông qua môn Tự nhiên – Xã hội, có một số tài liệu về giáo dục thiên tai nhưng viết chung trong giáo dục môi trường, hệ thống tư liệu còn hạn chế, chưa có mẫu bài giảng chi tiết phong phú như ở bậc Trung học cơ sở
Chính vì tính cấp thiết của đề tài và sự hạn chế của tài liệu về giáo dục thiên tai hiện hành nên đề tài “Nâng cao nhận thức và kĩ năng ứng phó cho học sinh huyện Minh Hóa thông qua môn Địa lí” đã phân tích các cơ hội lồng ghép giáo dục thiên tai ở Tiểu học qua môn ĐL, các bước giảng dạy lồng ghép, xây dựng một số giáo án phù hợp để ít nhất là làm tư liệu cho bản thân trong quá trình dạy học sau khi ra trường Từ đó có cơ hội áp dụng, tích lũy kinh nghiệm và chia sẻ cùng đồng nghiệp tương lai, góp phần giảm thiểu những tác động về môi trường gây nên thiên tai Đồng thời làm giảm, những thiệt hại về tinh thần và tài sản do thiên tai mang lại
3 MỤC TIÊU
3.1 Mục tiêu chung
Đưa ra được phương pháp nâng cao NT & KN ứng phó với thiên tai cho
HS tiểu học thông qua môn ĐL
3.2 Mục tiêu cụ thể
Lựa chọn các nội dung phòng, chống và ứng phó với thiên tai
Lựa chọn phương pháp nâng cao NT &KN ứng phó với thiên tai
Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học nâng cao NT & KN
4.ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 11Các nội dung và phương pháp lồng ghép nâng cao NT & KN ứng phó với thiên tai trong môn ĐL
4.2 Giới hạn nghiên cứu
Đối tượng khảo sát: GV, HS trường Tiểu học Yên Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình
Thời gian: Từ tháng 1/2017 đến tháng 5/2017
Phạm vi: huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt đượccác mục tiêu đã đề ra, tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là các phương pháp sau:
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp thu thập tài liệu được sử dụng để thu thập các dữ liệu sơ
cấp và thứ cấp về phòng, chống thiên tai và biến đổi khí hậu
Các dữ liệu này đã được thu thập chủ yếu từ báo cáo của Ban phòng, chống thiên tai tỉnh Quảng Bình và huyện Minh Hóa, từ thực tế địa phương, các giáo trình chuyên ngành, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học tài liệu và một phần thu thập trên internet nội dung liên quan đến đề tài
- Phương pháp phân tích tài liệu là đọc và khai thác những nội dung
liên quan về giáo dục thiên tai trong trường tiểu học và xác định xem vấn đề phòng, chống và ứng phó với thiên tai đã làm được và chưa làm được, những phương pháp, cách thức đưa vào giáo dục trong nhà trường cho các đối tượng học sinh ở các vùng, miền khác nhau
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp phỏng vấn, điều tra là thu thập thông tin chủ quan từ
việc khảo sát, các cuộc hội thoại, trao đổi với GV, HS nội dung về NT & KN
về phòng, chống, ứng phó với thiên tai
- Phương pháp trò chơi là tổ chức các hoạt động dạy học tích hợp giáo
dục về thiên tai trong môn ĐL bằng phương pháp trò chơi để chuyển tải mục
Trang 12tiêu và nội dung bài học, giúp HS tự tìm hiểu và khám phá và chiếm lĩnh tri
thức dưới sự hướng dẫn của GV
- Phương pháp quan sát sư phạm quan sát GV, HS trường Tiểu học
Yên Hóa về việc dạy và học tích hợp giáo dục thiên tai trong môn ĐL Từ đó
rút ra những nhận xét về ưu điểm, hạn chế để có giải pháp tối ưu
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm áp dụng trực tiếp các giải pháp
nâng cao NT & KN về thiên tai vào quá trình dạy môn ĐL Thử nghiệm
những giải pháp, những ý tưởng dạy học mới lồng ghép trong môn ĐL
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
6.1 Về mặt lý thuyết
Đề tài góp phần làm rõ vấn đề lí luận về việc nâng cao NT & KN ứng phó với thiên tai cho HS tiểu học huyện Minh Hoá Đây chính là cơ sở để đề xuất các giải pháp nâng cao NT & KN ứng phóvới thiên tai trong môn ĐL
6.2 Về mặt thực tiễn
Đề tài đã lựa chọn kiến thức và các kĩ năng phù hợp để lồng ghép vào môn ĐL nhằm nâng cao hiểu biết và tăng cường các kĩ năng ứng phó với thiên tai của HS tiểu học
Nghiên cứu, điều tra, khảo sát thực tế từ đó hệ thống hóa được nguyên nhân và đưa ra các giải pháp cụ thể Là tài liệu cho hành trang vào nghề của bản thân tôi cũng như những người quan tâm đến phương pháp dạy tích hợp vấn đề nâng cao NT & KN ứng phó với thiên tai HS tiểu học trong môn ĐL
7 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung
gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Lồng ghép nâng cao NT & KN ứng phó với thiên tai trong môn ĐL ở Tiểu học
Chương 3: Phương pháp giảng dạy lồng ghép nâng cao NT & KN ứng phó với thiên tai trong môn ĐL
Trang 13Chương 4: Thực nghiệm sư phạm và trưng cầu ý kiến của giáo viên giảng dạy
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ
Mặc dù thiên tai là những thảm họa do thiên nhiên gây ra, nhưng thời gian gần đây những thảm họa đó lại do con người gián tiếp gây ra
VD1: Lũ lụt là thảm họa của tự nhiên: mưa lớn kéo dài chủ yếu do mưa với cường độ lớn, xảy ra trên diện rộng cùng với thuỷ triều dâng cao Tuy nhiên, con người lại là nhân tố gián tiếp gây ra thảm họa đó quá trình đô thị hoá một số nơi đã san lấp các vùng trũng, khu vực ven dòng chảy cửa sông; xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông cao hơn so với trước, tạo thành tuyến ngăn lũ; công tác quy hoạch đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giữa các ngành, địa phương chưa đồng bộ; việc chặt phá rừng khiến rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ bị thu hẹp, thảm thực vật bị suy kiệt làm tăng tốc độ dòng chảy mặt nước;… cũng là nguyên nhân gây lũ lớn
1.1.2 Phân loại
Theo tài liệu “Phòng chống thiên tai” của Thạc sĩ Lê Anh Tuấn: Việc
phân loại thiên tai thường mang tính tương đối, chủ yếu là từ các nguồn xuất phát chính, được thể hiện ở bảng 1
Trang 14Bảng 1: Phân loại thiên tai theo các nguồn xuất phát chính
1 Thiên tai từ Trái Đất Động đất; Núi lửa; Lũ bùn; Đất
1.1.3.1 Nguyên nhân từ thiên nhiên
Thiên tai rất đa dạng và từ nhiều nguồn xuất phát khác nhau: có thể từ vỏ trái đất, từ không trung, từ biển và đại dương Nhiều trường hợp là sự tổng hợp các nguồn gốc khác nhau [7]
Tỉnh Quảng Bình là nơi chịu ảnh hưởng của hầu hết các loại thiên tai thường xảy ra ở Việt Nam nhưng có tần suất, mức độ cao và ác liệt hơn chủ yếu như: bão, lũ lụt, lũ quét, sạt lở, dông sét, cát bay cát lấp, …
VD1: Nguyên nhân hình thành bão là do có sự đối lưu nên không khí ẩm
từ bề mặt của đại dương bay lên cao ngưng tụ lại và tạo thành các đám mây giông và mưa Khi chúng bốc lên cao và chiếm diện tích càng lớn, quá trình bốc hơi và ngưng tụ mỗi lúc một tăng khiến không khí ẩm và nóng từ mặt biển
bị hút lên nhiều và mạnh hơn gây ra luồng gió xoáy [8]
VD2: Nguyên nhân hạn hán là do sự xuất hiện chậm của dòng phóng lưu nhiệt (loại gió thổi mạnh từ trên co xuống dọc theo chí tuyến), làm cho mùa
hạ đến chậm gây hạn hán ở nhiều nơi [12]
Trang 151.1.3.2.Nguyên nhân từ con người
Ngày nay con người đã làm biến đổi, đảo lộn hệ thống Trái đất với quy
mô ngày càng lớn, tốc độ chống mặt gián tiếp hoặc trực tiếp gây nên các thiên tai như:Chặt phá rừng bừa bãi; đốt rừng làm nương, rẫy; khai thác gỗ trái phép; …Người dân vứt rác bừa bãi, không đúng nơi quy định Các nhà máy,
xí nghiệp xả rác thải, nước thải trực tiếp ra môi trường mà không qua xử lí
Sự phát triển công nghiệp và giao thông quá mức đã thải một lượng lớn CO2
vào môi trường
VD1: Nguyên nhân của h iện tượng sạt lở đồi núi, ven sông là do con người khai thác tài nguyên, đào đắp xây dựng cơ sở hạ tầng, phá rừng, nhất
là đối với nước có khí hậu nhiệt đới mưa nhiều như nước ta
VD2: Nguyên nhân của hiện tượng lũ quét, lũ ống là do mưa lớn tập trung trên các lưu vực có độ dốc lớn, mà ở đó hoạt động của con người mạnh
mẽ như phá rừng khai thác gỗ, phá vỡ cân bằng sinh thái, cây cối cùng với đá sỏi, rác rưởi bị cuốn trôi, thay đổi chế độ dòng chảy và khả năng trữ lượng nước của đất, đất dễ xói mòn, sạt lở
1.1.4 Một số thuật ngữ liên quan
Kĩ năng ứng phó với thiên tai là điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con
người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả
năng bị tổn thương do thiên tai và tận dụng các cơ hội do nó mang lại [5]
Thảm họa là sự gián đoạn nghiêm trọng các hoạt động của cộng đồng
dân cư hoặc xã hội; gây ra những tổn thất và mất mát về tính mạng, tài sản, kinh tế và môi trường mà cộng dồng, xã hội đó không có khả năng chống đỡ
[5]
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu diễn ra trong một khoảng
thời gian dài, do nguyên nhân tự nhiên hoặc do hoạt động của con người gây
ra [5]
Rủi ro thiên tai là những tổn thất tiềm ẩn về tính mạng, tình trạng sức
khỏe, các hoạt động sinh kế, tài sản và các dịch vụ do thiên tai gây ra cho một cộng đồng hoặc một xã hội cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định [5]
Trang 16
Giảm nhẹ rủi ro thiên tai là giảm thiểu hoặc hạn chế các tác động có
hại của thiên tai [5]
Hiểm họa tự nhiên là quá trình hay hiện tượng tự nhiên có thể gây chết
người, thương tích hoặc các tác động khác tới sức khỏe, gây thiệt hại về tài sản, sinh kế và các dịch vụ, làm gián đoạn các hoạt động kinh tế - xã hội, hoặc gây thiệt hại về môi trường [5]
1.2 MÔN ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC
1.2.1 Khái quát môn ĐL ở Tiểu học
- Môn ĐL đóng một vai trò rất quan trọng trong chương trình Tiểu học đang hiện hành
- Tích hợp nội dung thiên tai trong môn ĐL, bản đồ và bảng số liệu được
sử dụng như là một nguồn cung cấp kiến thức, giúp HS tự tìm tòi phát hiện ra kiến thức và rèn luyện kĩ năng phòng, chống và ứng phó với thiên tai
- Đặc trưng của môn học ĐL đó là tất cả các bài dạy tìm hiểu về yếu tố
tự nhiên hay xã hội đều có các biểu tượng ĐL gắn liền vơi thực tiễn cuộc sống, tạo cơ hội để lồng ghép nâng cao NT & KN ứng phó với thiên tai cho
- Nhận biết đúng các sự vật, sự kiện, hiện tượng ĐL
- Nhận biết các hiện tượng tự nhiên, biết được các địa danh, biết được đặc điểm tình hình diều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế
- Trình bày lại kết quả học tập bằng lời nói, bài viết, sơ đồ, bảng thống
kê, phiều học tập ,… [8]
Trang 17- Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống
- Góp phần cho học sinh thói quen ham học hỏi, tìm hiểu để biết về ĐL, quê hương, đất nước [8]
- Phương tiện trực quan như: tranh, ảnh minh học cho bài dạy, …
- Các mẫu phiếu học tập phù hợp để HS thảo luận trong từng giờ ĐL
- Các vật thật như: quả địa cầu, các dụng cụ để HS làm thí nghiệm hay hoạt động nhóm, …
1.2.3.2 Phương pháp
Có nhiều phương pháp dạy học được sử dụng cả trong dạy học trên lớp
và NGLL môn ĐL, nhưng chủ yếu là: Phương pháp hình thành kĩ năng xác lập mối quan hệ nhân quả; Phương pháp sử dụng bản đồ, biểu đồ; Phương pháp sử dụng bảng số liệu; Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề; Phương pháp sử dụng tranh, ảnh ĐL; Phương pháp đàm thoại; Phương pháp khảo sát địa lí địa phương – thực địa
1.2.4 Cách trình bày sách:
- Bài học ĐL trong SGK bao gồm: Bài viết, kênh hình, kênh chữ, câu hỏi, yêu cầu các hoạt động học tập và các phương tiện hỗ trợ nhằm tạo điều kiện cho HS tự học
- Sắp xếp xen kẽ giữa kênh chữ và kênh hình một cách hợp lí tạo điều kiện để GV tổ chức cho HS khai thác có hiệu quả kênh hình trong SGK
- Sách trình bày thoáng, rõ Tăng cỡ chữ, tăng số lượng kênh hình và kích thước của bản đồ, lược đồ
- Cách trình bày một bài học:
Mỗi bài học gồm 3 phần [8]:
Phần cung cấp kiến thức ( thông tin ) bằng kênh chữ, kênh hình
Phần câu hỏi hoặc yêu cầu các hoạt động học tập
Trang 18 Phần tóm tắt trọng tâm của bài được đóng khung
Qua cách trình bày trên gợi ý cho GV các hình thức tổ chức và phương pháp dạy học một bài theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
1.3 GIÁO DỤC THIÊN TAI TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.3.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh
- Ở bậc Tiểu học HS phần lớn nằm trong độ tuổi 6 đến 11, với độ tuổi như vậy các em rất hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng [6]
- Tri giác phát triển, tư duy logic
- Trí nhớ trực quan phát triển hơn trí nhớ logic trừu tượng [6]
- Chú ý không chủ định chiếm ưu thế [6]
- Hay tò mò, thích tìm hiểu, thích khám phá do đó việc trang bị hiểu biết,
kĩ năng về phòng, chống và ứng phó với thiên tai giúp HS giảm bớt những rủi
- GV chủ yếu dạy ĐL theo lối truyền thống một chiều thầy giảng, trò nghe, nên ít đọng lại kiến thức, chưa gây hứng thú cho HS trong giờ học ĐL
Trang 19- GV còn lúng túng và gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là việc dạy tích hợp vấn đề thiên tai trong các giờ ĐL
- Đa số GV chưa thực sự xem trọng nội dung giáo dục về thiên tai cho
HS tiểu học trong môn ĐL và các môn học khác nên nội dung này hầu như chưa được triển khai tại các trường tiểu học ở huyện Minh Hóa hoặc có thực hiện nhưng đang còn mang tính hình thức
- GV chưa xác định được đúng đặc trưng của môn ĐL, kiến thức về ĐL chưa nhiều, mỗi tiết lên lớp chỉ cung cấp cho học sinh đủ, đúng kiến thức trong SGK, ít mở rộng, liên hệ những kiến thức về hiện tại
- GV chưa thiết lập được mối quan hệ giữa các yếu tố ĐL với nhau, hệ thống kiến thức không lôgic nên dẫn đến tình trạng HS có thể hiểu ngay nhưng không biết các sự vật hiện tượng đó có liên quan đến nhau
- GV còn hạn chế trong việc sử dụng đồ dùng dạy học (bản đồ, lược đồ, tranh ảnh) trong mỗi giờ lên lớp, nhiều khi còn dạy chay do không có bản đồ, chưa sử dụng hết tác dụng của bản đồ trong bài dạy nên việc khai thác nội dung của bài rất khó khăn
- Một bộ phận GV chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học, còn sử dụng phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp làm cho một số HS nhàm chán không tích cực trong giờ học ĐL
- GV chưa tích cực tìm tòi phương pháp lồng ghép nội dung thiên tai trong việc soạn giáo án và các giờ ĐL trên lớp
- Vấn đề thiên tai không phải là môn học chính, nên đa số GV chú trọng nội dung của bài học và quĩ thời gian dành cho việc tích hợp còn ít nên đôi khi thiếu thời gian GV bỏ qua khâu này
- Đa số GV chưa được tổ chức tập huấn và cũng chưa có chương trình cụ thể giáo dục về thiên tai cho GV
1.3.2.2 Thực trạng việc học
- HS sử dụng bản đồ không thành thạo, đặc biệt nhiều HS chưa biết cách khai thác nội dung trên bản đồ nên không khai thác được nội dung của bài dẫn đến ngại học ĐL
Trang 20- Thực tế hiện nay cho thấy phần lớn các em học môn ĐL và nắm vững kiến thức ĐL còn hạn chế
- Trình độ tiếp thu của HS không đồng đều, một bộ phận không nhỏ HS chưa tự giác trong việc tiếp thu kiến thức dẫn đến chất lượng chưa cao Một
số HS lười học, chán học không tập trung trong giờ học
- Sau khi đi sâu vào tìm hiểu về hoàn cảnh gia đình, môi trường sống và học tập của một số em, tôi thấy: Do các em sinh ra và lớn lên trong gia đình đông con, trình độ và sự hiểu biết của phụ huynh còn thấp nên khó có thể giúp con em mình học tốt Do điều kiện về kinh tế còn thấp, sự hiểu biết về xã hội còn hạn chế, cha mẹ lo làm ăn từ sớm đến tối nên chưa có điều kiện để lo cho
con em học tập nên phần nào cũng ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em
- HS phần lớn ở miền núi nên còn hạn chế trong việc tiếp thu những kiến thức, còn rụt rè và chưa tự tin để giải quyết và trình bày các vấn đề trong các
giờ học có lồng ghép nội dung giáo dục về thiên tai
- Địa hình không thuận lợi, giao thông khó khăn, phương tiện truyền thông còn hạn chế, HS khó tiếp cận với những kiến thức tức thời, những hình ảnh cụ thể nên việc giáo dục và tuyên truyền kiến thức về thiên tai cho tất cả
các em gặp rất nhiều khó khăn
1.3.3.Kết quả khảo sát
Khảo sát về mức độ hiểu biết về kiến thức và kĩ năng ứng phó với thiên tai của HS lớp 5 khi học phân môn ĐL tại trường Tiểu học Yên Hóa Để biết được khả năng NT & KN ứng phó với thiên tai thì tôi tiến hành khảo sát 40
HS của khối lớp 5 bằng cách đưa ra hệ thống 7 câu hỏi về kiến thức và kĩ năng về thiên tai cho HS trả lời
Qua hệ thống bài tập và câu trả lời của HS thông qua phiếu khảo sát - Phụ lục số 1, kết quả chúng tôi thu được là:
Bảng 2: Mức độ nhận thức và kĩ năng ứng phó với thiên tai
của HS lớp 5
Trang 21Trả lời được 4 – 5 câu 15 37,5
Từ kết quả thu được cho thấy các câu hỏi về kiến thức, kĩ năng ứng phó với thiên tai trong phiếu khảo sát đưa ra cho HS trả lời thì chỉ có 12,5 % HS trả lời được hết tất cả các câu hỏi Đa số các em trả lời được từ 4 – 5 câu (37,
5 %), 25 % HS trả lời được 6 câu, số HS trả lời tương đối tốt 3 – 4 câu là 15
%, và một số ít học sinh trả lời 0 – 2 câu là 10 % Qua việc khảo sát trên thì điều đặt ra là cần có một biện pháp thích hợp để tích hợp giúp cho các em nâng cao NT & KN ứng phó với thiên tai thông qua môn ĐL
1.3.4 Vai trò của việc nâng cao NT & KN ứng phó với thiên tai cho
HS Tiểu học
- Biết sơ lược về tình hình thiên tai, các loại thiên tai phổ biến tại địa phương
- Hiểu biết ban đầu về thiên tai, nguyên nhân, hậu quả của thiên tai
- Giúp HS nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức, kỹ năng về phòng chống thiên tai và ứng phó với thiên tai
- Biết được một số việc làm và biện pháp bảo vệ môi trường đẩy lùi thiên tai
- Hình thành và phát triển một số kỷ năng ứng phó với thiên tai trong đời sống hàng ngày
- Bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ và giữ gìn đất nước
***
Hiện tượng thiên tai có sự tác động gián tiếp hoặc trực tiếp từ con người Đặc điểm tâm, sinh lý của HS ở bậc Tiểu học thích khám phá, ham học hỏi, tìm hiểu xung quanh, tạo cơ hội cho GV lựa chọn phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học tích hợp nội dung giáo dục về thiên tai trong các giờ ĐL nhằm tăng hiểu biết và giảm rủi ro thiên tai
Trang 22Thiên tai ở Việt Nam nói chung và huyện Minh Hóa nói riêng là tác nhân gây cản trở trực tiếp tới sự phát triển bền vững kinh tế xã hội, gia tăng đói nghèo Thiên tai được dự báo sẽ xuất hiện và tàn phá ngày càng tồi tệ hơn
do tăng tần suất, biên độ và cường độ các trận bão và lượng mưa, từ đó dẫn đến các vụ sạt lở đất, ngập lụt và lan tràn dịch bệnh
Chính vì vậy, giáo dục về thiên tai cho HS tiểu học đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động giáo dục kĩ năng sống của mỗi trường Tiểu học Thiên tai có thể chia thành nhiều loại khác nhau nhưng loại phổ biến nhất ở huyện Minh Hóa là bão và lũ lụt
CHƯƠNG 2 LỒNG GHÉP NÂNG CAO NHẬN THỨC VÀ KHẢ
NĂNG ỨNG PHÓ VỚI THIÊN TAI TRONG
MÔN ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC
2.1 KHÁI QUÁT MÔN ĐL Ở TIỂU HỌC
2.1.1 Chương trình ĐL lớp 4
- SGK hiện hành và SGK mới (theo cộng nghệ VNEN) có nội dung
chính giống nhau:
Bản đồ và cách sử dụng Bản đồ địa hình Việt Nam
Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền núi và trung du
Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền đồng bằng ( đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ)
Trang 23 Thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người ở miền duyên hải ( dải đồng bằng duyên hải miền Trung )
Biển Đông, các đảo, quần đảo
- Bảng 2 – Phụ lục số 2
- Chương trình SGK hiện hành chung cho cả 2 tập: kì 1 từ tuần 1 đến tuần 18 và gồm có 1 chủ đề chính phân bố trong 13 bài và kì 2 từ tuần 19 đến tuần 35 có 2 chủ đề chính phân bố trong 11 bài ĐL lớp 4 hiện hành gồm 3 chủ đề với 31 bài ứng với 34 tiết Trong đó có 24 bài học kiến thức mới, 7 bài
ôn tập và kiểm tra, được phân bố cụ thể như sau:
Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền núi và trung du gồm các bài sau: Dãy Hoàng Liên Sơn; Một số dân tộc ở Hoàng Liên Sơn; Hoạt động sản xuất của người dân Hoàng Liên Sơn; Tây Nguyên; Một số dân tộc ở Tây Nguyên; Hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên; Hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên (TT); Thành phố Đà Lạt; Đồng bằng Bắc Bộ; Người dân ở đồng bằng Bắc Bộ; Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Bắc Bộ; Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Bắc Bộ (TT); Thủ đô Hà Nội
Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền đồng bằng bao gồm cả dải đồng bằng duyên hải miền Trung gồm các bài sau: Đồng bằng Nam Bộ; Người dân ở đồng bằng Nam Bộ; Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Nam Bộ; Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Nam Bộ (TT); Thành phố Hồ Chí Minh; Thành phố Cần Thơ; Dải đồng bằng duyên hải miền Trung; Người dân và hoạt động sản xuất ở đồng bằng duyên hải miền Trung; Người dân và hoạt động sản xuất ở đồng bằng duyên hải miền Trung (TT); Thành phố Huế; Thành phố Đà Nẵng
Vùng biển Việt Nam: Biển, Đảo và quần đảo; Khai thác khoáng sản và hải sản ở vùng biển Việt Nam
Ôn tập và kiểm tra cuối năm : 2 bài
Trang 24- SGK ĐL lớp 4 mới (TLHDH) được chia thành 2 tập tương ứng 2 kì : tập 1 tương ứng kì 1 từ tuần 1 đến tuần 18 và gồm có 1 nội dung chính phân
bố trong 7 bài và tập 2 tương ứng kì 2 từ tuần 19 đến tuần 35 có 2 nội dung chính phân bố trong 7 bài ĐL lớp 4 hiện hành gồm 3 chủ đề với 24 bài ứng với 34 tiết [2] Trong đó có 13 bài học kiến thức mới, không có bài ôn tập và 3 bài kiểm tra, được phân bố cụ thể như sau:
Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền núi và trung du : 7 bài (kể cả 1 bài kiểm tra) gồm: Dãy Hoàng Liên Sơn; Trung du Bắc Bộ; Tây Nguyên; Hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên; Đồng bằng Bắc Bộ; Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Bắc Bộ; PKT 1: Em đã học được những gì về thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền núi và trung du?
Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền đồng bằng bao gồm cả dải đồng bằng duyên hải miền Trung : 7 bài (kể cả 1 bài kiểm tra PKT 2) gồm các bài như sau: Thủ đô Hà Nội; Đồng bằng Nam Bộ; Hoạt động sản xuất cảu người dân ở đồng bằng Nam Bộ; Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ; Dải đồng bằng duyên hải miền Trung; Thành phố Huế và thành phố Đà Nẵng; PKT 2: Em đã học được những gì về thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền đồng bằng?
Vùng biển Việt Nam : 1 bài: Biển, đảo và quần đảo
Kiểm tra cuối năm: 1 bài PKT 3: Em đã học được những gì qua phần
Trang 25 ĐL thế giới: ĐL các châu lục, một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới Phần nội dung này giúp HS mở rộng tầm nhìn ra thế giới bên ngoài và giúp các em biết được một số phương pháp, kĩ năng tìm hiểu ĐL một châu lục Tuy nhiên còn có thêm bài học về các đại dương trên thế giới để HS có cái nhìn tổng thể về bề mặt Trái đất
- SGK hiện hành không chia thành 2 tập mà chung cả 2 kì : kì 1 từ tuần 1 đến tuần 18 và gồm có 2 nội dung chính phân bố trong 13 bài và kì 2 từ tuần
19 đến tuần 35 có 1 nội dung chính phân bố trong 8 bài ĐL lớp 5 hiện hành gồm 3 chủ đề chính với 21 bài và có thêm 2 bài ĐL địa phương ứng với 34 tiết Trong đó có 21 bài học kiến thức mới, 8 bài ôn tập và kiểm tra, được phân bố cụ thể như sau:
ĐL tự nhiên Việt Nam: Việt Nam – đất nước chúng ta; Địa hình và khoáng sản; Khí hậu; Sông ngòi; Vùng biển nước ta; Đất và rừng; Ôn tập;
ĐL dân cư và kinh tế Việt Nam: Dân số nước ta; Các dân tộc, sự phân
bố dân cư; Nông nghiệp; Lâm nghiệp và thủy sản; Công nghiệp; Công nghiệp (TT); Giao thông vận tải; Thương mại và du lịch; Ôn tập; Ôn tập HKI; Kiểm tra định
ĐL thế giới: Châu Á; Châu Á (TT); Các nước láng giềng của Việt Nam; Châu Âu; Một số nước ở Châu Âu; Ôn tập; Châu Phi; Châu Phi (TT); Châu Mĩ; Châu Mĩ (TT); Châu Đại Dương và châu Nam Cực; Các đại dương trên thế giới;
ĐL địa phương: 2 tiết
- Bảng 3 – Phụ lục số 3
- SGK mới (TLHDH) được chia thành 2 tập tương ứng với 2 kì : tập 1 tương ứng kì 1 từ tuần 1 đến tuần 18 và gồm có 2 nội dung chính phân bố trong 10 bài và tập 2 tương ứng kì 2 từ tuần 19 đến tuần 35 có 1 nội dung chính phân bố trong 7 bài ĐL lớp 5 mới gồm 3 chủ đề với bài ứng với 34 tiết
[3] Trong đó có 14 bài học kiến thức mới, 3 kiểm tra, được phân bố cụ thể như sau:
Trang 26 ĐL tự nhiên Việt Nam 9 bài (kể cả bài kiểm tra), gồm các bài sau: Việt Nam –Đất nước chúng ta; Địa hình và khoáng sản; Khí hậu và sông ngòi; Đất
và rừng; PKT 1: Em đã học được những gì về ĐL tự nhiên Việt Nam?
ĐL dân cư và kinh tế Việt Nam 5 bài ( kể cả bài kiểm tra), gồm các bài: Dân cư nước ta; Nông, lâm nghiệp va thủy sản; Công nghiệp; Giao thông vận tải, thương mại và du lịch; PKT 1: Em đã học được những gì về ĐL dân cư và kinh tế Việt Nam?
ĐL thế giới 7 bài (kể ca bài kiểm tra), gồm các bài: Châu Á; Khu vực Đông Nam Á và các nước láng giềng của Việt Nam; Châu Âu; Châu Phi; Châu Mĩ; Châu Đại Dương, châu Nam Cực và các đại dương khác trên thế giới; PKT 3: Em đã học được những gì về ĐL thế giới?
ĐL địa phương: 2 tiết
Khảo sát nội dung chương trình ĐL lớp 4 và lớp 5 có thể nhận thấy chương có sự giống và khác nhau giữa SGK hiện hành và SGK mới (TLHDH) theo mô hình VNEN):
- SGK hiện hành và SGK mới (theo cộng nghệ VNEN) giống nhau bài
mở đầu của sách: Bản đồ - Sử dụng bản đồ
Khác nhau
- Có điểm khác hơn chính là SGK mới (TLHDH) được thiết kế 3 trong 1
Trang 27- Từ bảng thống kê trên ta cũng dễ nhận thấy khối lượng kiến thức ở SGK hiện hành có phần nặng hơn so với SGK mới (TLHDH) Dù có thay đổi
về hình thức nhưng một số nội dung dạy học vẫn được giữ nguyên, có đâu thay đổi thì có chút ít Tuy nhiên dù có sự thay đổi nào nhưng nội dung kiến thức truyền tải cho HS là không bao giờ sai lệch, vẫn cung cấp đủ các kiến thức, kĩ năng để giúp cho quá trình học tập của các em tốt hơn Giúp cho quá trình nâng cao NT & KN ứng phó với thiên tai của các em đạt hiệu quả cao Ngoài ra còn giúp các em học tốt các môn học trong chương trình học của mình
2.2 CƠ HỘI TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC THIÊN TAI TRONG MÔN ĐL Ở TIỂU HỌC
2.2.1 Thuận lợi
- Trong các môn học của chương trình tiểu học, ĐL là môn học có rất nhiều nội dung phù hợp có thể lựa chọn để giáo dục phòng, chống và ứng phó với thiên tai cho HS thông qua nhiều hình thức dạy học
- Ở bậc Tiểu học, nhất là HS lớp 4,5 có vốn sống khá phong phú, dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai Ham hiểu biết, thích khám phá là điều kiện thuận lợi để các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Minh Hóa và giáo viên Tiểu học tích hợp nội dung giao dục thiên tai trong tất cả các môn học, đặc biệt là môn ĐL
- Nội dung chương trình môn ĐL rất phù hợp để tích hợp nội dung giáo dục thiên tai nhằm nâng cao NT & KN ứng phó với thiên tai, góp phần giảm thiểu rủi thiên tai
- Kiến thức và nội dung môn ĐL được trình bày trong SGK theo dạng thiên nhiên và con người ở các vùng khác nhau được phân chia theo địa hình phù hợp với tâm lí, nhận thức các em, biết ghi nhớ kiến thức dặc trưng của từng vùng nên giáo viên dễ dàng tích hợp nội dung giáo dục về thiên tai trong các bài dạy
Trang 28- Kiến thức được tích hợp ở mức cao từ các chủ đề môn Tự nhiên – Xã hội lớp 1,2,3 tạo điều kiện thuận lợi giúp các em nắm bắt nội dung giáo dục
về thiên một cách nhanh chóng khi tích hợp trong môn ĐL
- Một số trường trên địa bàn huyện Minh Hóa đã lồng ghép nội dung giáo dục thiên tai trong môn ĐL và nhận thấy HS rất thích thú với các bài giảng của GV
- Những năm gần đây nội dung giáo dục thiên tai tích hợp trong các môn học ở bậc Tiểu học ở huyện Minh Hóa, đặc biệt là môn ĐL được Phòng Giáo dục và các trường quan tâm, chú trọng xây dựng kế hoạch cụ thể tập huấn, bồi dưỡng kiến thức kĩ năng về thiên tai cho HS
- HS rất hứng thú với những bài giảng của GV khi lồng ghép các nội dung về phòng chống thiên tai Nhà trường và GV luôn có kế hoạch lồng ghép các nội dung về phòng chống thiên tai trong cả chương trình học từ đầu năm và từng bài giảng cụ thể
2.2.2 Khó khăn
- Việc giáo dục về phòng, chống và ứng phó với thiên tai trong quá trình dạy học môn ĐL vẫn còn nhiều hạn chế, chưa được nhiều giáo viên quan tâm, chưa có được ý thức giáo dục hiệu quả, phù hợp dẫn đến hiệu quả giáo dục chưa cao
- Các khái niệm ĐL, khái niệm liên quan đến thiên tai khá trừu tượng nên các em gặp khó khăn trong việc hiểu các khái niệm
- Đa số các em chưa có hoặc còn yếu kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ, nhất là việc khai thác kiến thức bài học từ bản đồ, lược đồ nên rất khó khăn trong việc giảng dạy và tích hợp nội dung giáo dục về thiên tai
- Phần lớn phụ huynh và các em chỉ chú trọng môn Toán và Tiếng Việt, còn các môn khác, đặc biệt như môn ĐL và vẫn chưa thấy được tầm quan trọng nội dung giáo dục thiên tai trong môn ĐL nên chưa đầu tư nhiều cả về thời gian, kiến thức đúng mức cho môn học và nội dung này
Trang 29- Giáo viên còn lúng túng và chưa có phương pháp hiệu quả việc lồng ghép nội dung giáo dục về thiên tai trong các giờ ĐL, một số giáo viên lồng ghép còn mang tính hình thức
- Vì là vùng núi nên đa số các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Minh Hóa còn khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị do đó việc lồng ghép nội dung về thiên tai trong các giờ ĐL là những kiến thức bị bó hẹp trong các tài liệu được in sẵn mà không có những hình ảnh minh họa sống động được trình chiếu bằng máy, không có các trang thiết bị để xây dựng và xử lí tình huống
Mức độ bộ phận: được thực hiện khi có một phần kiến thức của bài học
về nội dung phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai
Mức độ liên hệ: liên hệ là một hình thức đơn giản nhất, khi chỉ có một
số nội dung của bài học liên quan tới nội dung phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai nhưng lại không nêu rõ trong nội dung bài học Trường hợp này GV phải khai thác kiến thức bài học và liên hệ chúng với các nội dung với các nội dung phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai
- Kiến thức về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai được một số trường Tiểu học chú trọng và được lồng ghép vào nội dung chương trình dạy học, một số GV thấy được tầm quan trọng của nội dung giáo dục về thiên tai trong trường học nên rất tích cực cập nhật kiến thức, kĩ năng về thiên tai, phương pháp tích hợp, lồng ghép có chọn lọc nội dung này vào môn ĐL để phù hợp với chương trình, SGK đang thực hiện
- Nhà trường, gia đình và xã hội phối hợp chặt chẽ giáo dục toàn diện các mặt cho HS như: kiến thức, kĩ năng, thái độ và cả về tâm lí cho các em trong các trường hợp khẩn cấp, nguy hiểm khi có thiên tai
Trang 30- Thống kê các bài trong môn ĐL có khả năng tích hợp nội dung giáo dục về thiên tai:
phần
Bộ phận
Thời tiết diễn biến thất thường, diễn
ra trong những năm gần đây ở Trung
du Bắc Bộ đã gây ảnh hưởng tới đời sống và sản xuất
Ngăn chặn việc phá rừng, khai thác tài nguyên khoáng sản một cách hợp
-Mùa khô thiếu nước nghiêm trọng
Việc chặt phá rừng có ảnh hưởng xấu đến MT và đời sống nhân dân
-Bảo vệ MT tự nhiên, khai thác hợp
lí tài nguyên, đặc biệt là thảm thực vật rừng có ý nghĩa không chỉ đối với Tây Nguyên mà còn có tầm quan trọng đối với các vùng phía nam của đất nước và các nước láng giềng
- Cần có biện pháp phòng chống và ứng phó với thiên tai
X
Trang 31- Là vùng thường bị hạn hán kéo dài;
thiên tai gây thiệt hại lớn trong sản xuất và đời sống, đặc biệt trong mùa mưa bão
- Hiện tượng hoang mạc hoá có nguy
cơ mở rộng ở các tỉnh cực Nam Trung Bộ
- Bảo vệ và phát triển rừng có tầm quan trọng đặc biệt
- Ảnh hưởng của thiên tai và cách phòng, chống thiên tai
- Các loại thiên tai ảnh hưởng đến đời sống và hoạt động sản xuất của vùng
- Ý thức bảo vệ môi trường, phòng, chống và ứng phó với thiên tai nhằm phát triển bền vững
X
Trang 32- Làm tốt công tác dự báo thời tiết biển để kịp thời ứng phó
- Rèn các kĩ năng phòng, chống với các loại thiên tai từ biển, đặc biệt là bão biển
- Biết Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo lớn thuộc chủ quyền Việt Nam
- Giáo dục tình yêu đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm bảo
vệ chủ quyền biển, đảo
- Khai thác khoáng sản không hợp lí
và đúng quy định sẽ dẫn tới việc cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi
trường, dẫn tới thiên tai
- Thiên tai ảnh hương đến hoạt động kinh tế: khai thác dầu, khí, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, giao thông vận tải
- Lựa chọn các cách thức khai thác biển, hải đảo phù hợp để bảo vệ môi trường và phòng, chống và thích ứng với thiên tai
- Ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên biển và phòng, chống thiên tai biển
X
Trang 33Từ phân tích và khảo sát ta thấy trong chương trình ĐL 4 có 2 bài tích hợp bộ phận nội dung giáo dục thiên tai trong môn ĐL, chiếm 22,22 % số bài tích hợp, có 5 bài tích hợp toàn phần chiếm 55, 55% và 2 bài liên hệ chiếm 22,22% Như vậy, trong chương trình ĐL lớp 4 có rất nhiều nội dung kiến thức phù hợp để dạy học tích hợp nội dung giáo dục thiên tai nhằm nâng cao
NT & KN ứng phó với thiên tai
LỚP 5:
Mức độ tích hợp Toàn
- Biết được khí hậu của Việt Nam
để lựa chọn hoạt động sản xuất phù hợp với đặc điểm khí hậu, biết cách phong, chống và thích ứng với thiên tai
-Liên hệ khí hậu địa phương và các loại thiên tai ở địa phương
- Giáo dục về thiên tai và ý thức
- Sơ lược về một số nét về tình hình khai thác dầu mỏ, khí tự nhiên của nước ta hiện nay
- Hậu quả của việc khai thác dầu
X
Trang 34mỏ đối với môi trường sẽ dẫn tới các thiên tai
- Khai thác một cách hợp lí và sử dụng tiết kiệm khoáng sản nói chung, trong đó có dầu mỏ khí đốt
- Vai trò lớn của biển: tài nguyên, dầu mỏ, khí đốt, muối, cá Biển
là đường giao thông quan trọng, ven biển có nhiều phong cảnh đẹp
- Các hoạt động khai thác biển, hải đảo như trên cũng là một trong những nhân tố gây ra các thiên tai
- Ý thức bảo vệ môi trường, bảo
vệ nguồn tài nguyên biển nhằm giảm thiểu rủi ro từ thiên tai
- Giáo dục tình yêu đất nước, lòng
tự hào dân tộc, ý thức phòng, chống thiên tai
- Phát triển lâm nghiệp,nuôi trồng
và chế biến thủy sản cần gắn với giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai,
X
Trang 35sẵn sàng ứng phó với thiên tai
5
Bài 12-13:
Công nghiệp
- Sự hình thành những trung tâm công nghiệp sẽ ảnh hưởng tới môi trường và gây ra các thiên tai
- Những khu công nghiệp này cũng là một tác nhân gây ô nhiễm môi trường
- Cần giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, giáo dục về thiên tai cả và kiến thức về thiên tai và kĩ năng ứng phó với thiên tai nhằm hạn chế các rủi ro
- Qua đó, HS hiểu về việc bảo vệ môi trường nhằm hạn chế thiên tai
là các khu du lịch
- Ảnh hưởng của thiên tai đến việc phát triển thương mại và du lịch
Á
- Biết một số ngành kinh tế ở châu Á phù hợp với điều kiện tự
X
Trang 36nhiên và thích ứng với thiên tai
- Biết được những nguồn lợi và những ngành kinh tế tiêu biểu của vùng này trên cơ sở phù hợp các điều kiện tự nhiên của 2 châu lục
và cách giảm thiểu tối đa rủi ro thiên tai
- Những hiểm họa từ đại dương, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay
- Cách phòng, chống và ứng phó với thiên tai của các đại dương trên thế giới
X
Từ phân tích và khảo sát ta thấy trong chương trình ĐL 5 có 5 bài tích hợp bộ phận nội dung giáo dục thiên tai trong môn ĐL, chiếm 45,45 % số bài tích hợp, có 4 bài tích hợp toàn phần chiếm 36,36% và 2 bài liên hệ chiếm
Trang 3718,18% Như vậy, trong chương trình ĐL lớp 4 có rất nhiều nội dung kiến thức phù hợp để dạy học tích hợp nội dung giáo dục thiên tai nhằm nâng cao
NT & KN ứng phó với thiên tai
Mức độ tích hợp giáo dục thiên tai được xác định căn cứ vào lượng kiến thức thiên tai có trong mỗi bài Chương trình ĐL ở tiểu học có tất cả 20 bài có khả năng tích hợp đề cập rất nhiều loại thiên tai khác nhau, trong đó có 7 bài tích hợp bộ phận chiếm 35%, 9 bài tích hợp toàn phần chiếm 45%, 4 bài liên
Tổ chức thảo luận, xây dựng kế hoạch phù hợp để HS tiểu học điều tra, khảo sát tình hình môi trường trước và sau thiên tai ở địa phương, từ đó đưa
ra cách khắc và ứng phó
Tổ chức các cuộc thi như: Rung chuông vàng, vẽ tranh, tiểu phẩm, tìm hiểu về thiên tai đặc biệt là các thiên tai phổ biến tại địa phương mình sinh sống
Các nội dung giáo dục về thiên tai được lồng ghép, tích hợp trong hoạt động NGLL được tiến hành thông qua phương pháp giảng dạy môn ĐL thì
HS sẽ thấy được mối liên hệ của việc học đi đôi với hành, kiến thức về thiên tai học được trong môn ĐL có thể vận dụng vào các buổi ngooại khóa và giải quyết các tình huống trong thực tiễn hàng ngày
***
Môn ĐL có nhiều cơ hội lồng ghép nội dung giáo dục thiên tai trong chương trình ĐL của bậc Tiểu học nhằm nâng cao NT & KN ứng phó thiên
Trang 38tai cho HS tiểu học huyện Minh Hóa Đặc biệt qua chương trình ĐL lớp 4, 5 giúp trang bị cho các em những kiến thức cơ bản nhất về thiên tai, từ đó các
em có thể vận dụng vào đời sống hàng ngày để phòng, chống, ứng phó với thiên tai nhằm giảm rủi ro thiên tai
Dựa vào chương trình được thiết kế và đặc điểm về tâm, sinh lý của lứa tuổi HS tiểu học ham hiểu biết, thích khám phá là cơ sở để tôi đưa ra các giải pháp phù hợp nhất để các em tiếp thu và vận dụng vào bài học và thực tế cuộc sống của các em Mặt khác, khảo sát thực trạng về kiến thức, kĩ năng phòng, chống và ứng phó với thiên tai, cho thấy phần lớn HS chưa hiểu biết hoặc hiểu sai lệch nguồn gốc của thiên tai, bản chất thiên tai; chưa có kĩ năng phòng, chống và ứng phó với thiên tai Nhận thức của các em còn thấp, do vậy các em chưa hiểu biết được tầm quan trọng của việc phòng, chống và ứng phó với thiên tai nên các em chưa chủ động tìm hiểu và mạnh dạn trao đổi, thảo luận nội dung này
Kết quả tìm hiểu lý luận và thực tiễn trên là cơ sở để chúng tôi đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao NT & KN cho HS tiểu học huyện Minh Hóa thông qua môn ĐL (lấy VD ở trường Tiểu học Yên Hóa)
Trang 39CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY LỒNG GHÉP NÂNG CAO NT & KN ỨNG PHÓ VỚI THIÊN TAI TRONG MÔN ĐỊA LÍ
3.1 DẠY HỌC TRÊN LỚP
Dạy học trên lớp giúp HS nâng cao NT & KN ứng phó với thiên tai thông qua các phương pháp giảng dạy môn ĐL như sau:
3.1.1 Phương pháp hình thành kĩ năng xác lập mối quan hệ nhân quả
Các mối quan hệ nhân quả là những mối quan hệ biểu hiện mối tương quan phụ thuộc một chiều giữa các sự vật, hiện tượng địa lí, trong đó có hai thành phần: một bên là nhân, một bên là quả Chỉ có nhân sinh ra quả, chứ quả không sinh ra nhân [7]
VD 1: Bài Châu Á (ĐL 4) Châu Á trải dài từ gần cực Bắc tới qua Xích
đạo nên có đủ các đới khí hậu chứ các đới khí hậu không thể quy định châu Á
trải gần cực Bắc tới qua Xích đạo;
VD 2: Bài Việt Nam – Đất nước chúng ta (ĐL 5: nhờ có biển mà biển
mà khí hậu nước ta trở nên điều hòa hơn, khí hậu điều hòa không thể sinh thể
ra biển
Các mối quan hệ nhân quả trong địa lí cũng rất phức tạp và có thể phân ra: Các mối quan hệ nhân quả đơn giản và các mối quan hệ nhân quả phức tạp
VD 1: Bài 29 – Biển, đảo và quần đảo (ĐL 4): vùng biển giàu tài nguyên
khoáng sản, thủy sản nên phát triển ngành công nghiệp khai khoáng, chế biến thủy sản
VD 2: Bài 29 – Biển, đảo và quần đảo (ĐL 4): việc phát triển các ngành
công nghiệp dẫn tới ô nhiễm môi trường do khí thải, nước thải từ các nhà máy, xí nghiệp, các khu công nghiệp đổ trực tiếp ra môi trường gây ra các thiên tai gây thiệt hại cho đời sống sinh hoạt, sản xuất, đánh bắt thủy sản của các tàu thuyền và những vùng ven biển, nhất là khu vực miền Bắc và miền Trung
Trang 40Các mối quan hệ nhân quả trực tiếp và các mối quan hệ nhân quả gián tiếp
VD 1 và VD 2 cũng chính là quan hệ nhân quả trực tiếp và gián tiếp
Khi hướng dẫn HS xác lập các mối quan hệ nhân quả, GV cần giúp các
em phân biệt đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả GV cũng nên giúp HS xây dựng các sơ đồ thể hiện các mối quan hệ nhân quả nhằm giúp các em dễ dàng nhận ra và biết cách hệ thống hoá các mối quan hệ này Trong sơ đồ nên dùng mũi tên để thể hiện quan hệ giữa nhân và quả Việc hướng dẫn HS xác lập các mối quan hệ nhân quả và vẽ sơ đồ cũng nên đi từ đơn giản đến phức tạp
3.1.2 Phương pháp sử dụng bản đồ
Budanôp, nhà địa lí Nga đã nói: “Trong giảng dạy địa lí trước hết phải dùng bản đồ Vì bản đồ giống như khung cốt mà tất cả các tri thức ĐL đều được dựa vào đấy Đưa các tri thức địa lí vào đó sẽ nhớ được dễ dàng, đồng thời việc dùng bản đồ địa lí có thể dẫn đến sự liên hệ có hệ thống”
Bản đồ giúp HS biết được sự phân bố và những mối quan hệ của các đối tượng ĐL một cách cụ thể với nhiều ưu điểm riêng mà không một phương tiện nào có thể thay thế được Bản đồ vừa là một phương tiện trực quan, vừa
là nguồn tri thức quan trọng của việc dạy học ĐL và sử dụng bản đồ là một phương pháp đặc trưng trong dạy học địa lí Hệ thống bản đồ trong dạy học địa lí rất đa dạng, phong phú [7]
GV phải biết sử dụng phối hợp các loại bản
đồ với nhau để tận dụng tối đa chức năng, ưu thế của từng loại bản đồ; đồng thời cũng tạo điều kiện cho HS thường xuyên được tiếp xúc với bản đồ, biết cách tìm kiếm thông tin từ các bản đồ, phát triển tư duy và kĩ năng sử dụng bản đồ
VD1: Bài: Dải đồng bằng duyên hải miền Trung (ĐL 4) GV sử dụng
lược đồ để giới thiệu về vị trí dải đồng bằng duyên hải miền Trung
Bản đồ dải đồng bằng ở duyên hải miền Trung – Phụ lục
Yêu cầu HS tìm và đọc tên các đồng bằng duyên hải miền Trung theo thứ
tự từ Bắc vào Nam; GV yêu cầu HS sưu tầm hoặc chụp lại tranh ảnh, quay video, … thiên tai và hậu quả của nó địa phương em đang sinh sống