1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

115 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng trên đòi hỏi cần phải nâng cao chất lượng CBQL giáo dục một cách toàn diện; Chỉ thị số 40- CT/TW ngày 15/6/2004 của BCH Trung ương Đảng khóa IX về việc xây dựng, nâng cao chấ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN TUẤN HẢI

CƠ SỞ KHOA HỌC QUY HOẠCH NGUỒN CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN TUẤN HẢI

CƠ SỞ KHOA HỌC QUY HOẠCH NGUỒN CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Phan Văn Kha

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng trong bất cứ một công trình nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Tuấn Hải

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực hiện luận văn “Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường

tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục”, em xin

trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Khoa Sau đại học, các giảng viên đã tham gia quản lý, giảng dạy, hướng dẫn, quan tâm, giúp đỡ

em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, tạo điều kiện thuận lới để em hoàn thành khóa học

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến GS TS Phan Văn Kha - người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong việc định hướng đề tài cũng như trong suốt quá trình nghiên cứu, viết và hoàn thành luận văn

Nhân dịp này, tôi cũng xin cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Ban Tổ chức Huyện ủy, Phòng Nội vụ, Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Ninh Giang cùng bạn bè, đồng nghiệp, cán bộ quản lý và giáo viên các trường Tiểu học trong huyện Ninh Giang đã động viên giúp đỡ, khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã rất cố gắng, song do thời gian, phạm vi nghiên cứu có hạn, đề tài mới, ít người nghiên cứu, luận văn của em không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý thêm của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn của em hoàn chỉnh hơn

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Tuấn Hải

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT ….iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH, SƠ ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Đóng góp của luận văn 6

8 Cấu trúc luận văn 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUY HOẠCH NGUỒN CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.2 Một số khái niệm 9

1.2.1 Quản lý 9

1.2.2 Cán bộ quản lý 16

1.2.3 Nguồn cán bộ quản lý 17

1.2.4 Nguồn CBQL trường tiểu học 17

1.2.5 Chất lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý 18

1.2.6 Quy hoạch 18

1.3 Một số quan điểm về cán bộ và công tác quy hoạch cán bộ 21

1.4 Vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của trường tiểu học và đội ngũ CBQL các trường Tiểu học 25

1.4.1 Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của trường Tiểu học 25

Trang 6

1.4.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng trường Tiểu học 26

1.4.3 Những yêu cầu cơ bản đối với đội ngũ CBQL trường Tiểu học 27

1.5 Chuẩn nghề nghiệp của Hiệu trưởng trường tiểu học 27

1.6 Quy hoạch nguồn CBQL các trường tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp 32

1.6.1 Nguyên tắc xây dựng quy hoạch 32

1.6.2 Xây dựng quy hoạch 32

1.6.3 Tổ chức thực hiện quy hoạch 37

1.6.4 Kiểm tra, giám sát và đánh giá công tác quy hoạch nguồn CBQL hiện nay 38

1.7 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quy hoạch nguồn CBQL các trường Tiểu học 38

1.7.1 Các yếu tố khách quan 39

1.7.2 Các yếu tố chủ quan 39

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2 THỰC TRẠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ VÀ QUY HOẠCH NGUỒN CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY 41

2.1 Khái quát tình hình kinh tế, văn hoá - xã hội ở huyện Ninh Giang 41

2.1.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiên 41

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 41

2.1.3 Tình hình giáo dục 43

2.2 Giới thiệu tổ chức khảo sát 46

2.2.1 Mục tiêu khảo sát 46

2.2.2 Đối tượng khảo sát 46

2.2.3 Nội dung khảo sát 46

2.3 Thực trạng công tác quy hoạch nguồn CBQL các trường tiểu học huyện Ninh Giang 46 2.3.1 Thực trạng đội ngũ CBQL và GV trường tiểu học huyện Ninh Giang 46

2.3.2 Nhận thức của CBQL và GV về quy hoạch nguồn CBQL trường tiểu học 48

2.3.3 Thực trạng triển khai quy trình quy hoạch nguồn CBQL trường tiểu học huyện Ninh Giang 49

2.3.4 Thực trạng xây dựng quy hoạch nguồn CBQL các trường tiểu học 52

2.3.5 Thực trạng tổ chức thực hiện quy hoạch nguồn CBQL trường tiểu học 60

2.3.6 Thực trạng việc kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác quy hoạch nguồn CBQL 66

Trang 7

2.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới công tác quy hoạch 68

2.4.1 Yếu tố khách quan 69

2.4.2 Yếu tố chủ quan 70

Tiểu kết chương 2 70

Chương 3 BIỆN PHÁP TRIỂN KHAI THỰC HIỆN QUY HOẠCH NGUỒN CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 71

3.1 Định hướng và nguyên tắc đề xuất biện pháp quy hoạch nguồn CBQL các trường Tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 71

3.1.1 Định hướng phát triển giáo dục tiểu học của huyện Ninh Giang 71

3.1.2 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 71

3.2 Đề xuất một số biện pháp thực hiện nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch nguồn CBQL các trường Tiểu học huyện Ninh Giang đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 74

3.2.1 Nâng cao nhận thức về quy hoạch nguồn cán bộ cho lãnh đạo, chuyên viên phòng GD& ĐT, CBQL và GV trường tiểu học 74

3.2.2 Điều chỉnh cụ thể hoá tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể đối với nguồn cán bộ quản lý 75

3.2.3 Đổi mới công tác xây dựng quy hoạch tổng thể về nguồn CBQL các trường Tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 76

3.2.4 Đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ theo chuẩn trước khi đưa vào quy hoạch nguồn 79

3.2.5 Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho nguồn CBQLtrường tiểu học 81

3.2.6 Thực hiện các chế độ chính sách, thi đua khen thưởng cho đội ngũ CBQL và nguồn cán bộ quản lý 84

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 86

3.4 Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp triển khai thực hiện quy hoạch nguồn CBQL trường tiểu học 87

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 87

3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 87

3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 87

Trang 8

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 87

Tiểu kết chương 3 91

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92

1 Kết luận 92

2 Khuyến nghị 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

CB : Cán bộ CBQL : Cán bộ quản lý CNH-HĐH : Công nghiệp hoá-hiện đại hoá CNTT : Công nghệ thông tin

CNXH : Chủ nghĩa xã hội ĐHSP : Đại học sư phạm GD- ĐT : Giáo dục- Đào tạo

GV : Giáo viên

HS : Học sinh

NV : Nhân viên QHCB : Quy hoạch cán bộ

QL : Quản lý QLGD : Quản lý giáo dục THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Quy mô phát triển giáo dục tiểu học huyện Ninh Gianggiai đoạn 2010- 2015 44 Bảng 2.2: Đánh giá của CBQL và GV về tầm quan trọngcủa quy hoạch nguồn CBQL

trường tiểu học 49 Bảng 2.3 Đánh giá về việc triển khai quy trình quy hoạch nguồn CBQL trường tiểu

học huyện Ninh Giang 51 Bảng 2.4 Đánh giá về thực trạng xây dựng kế hoạch quy hoạch nguồn CBQL các

trường tiểu học huyện Ninh Giang 53 Bảng 2.5 Đánh giá về thực trạng thực hiện kế hoạch quy hoạch nguồn CBQL các

trường tiểu học huyện Ninh Giang 55 Bảng 2.6 Đánh giá việc thực hiện lựa chọn nguồn CBQL trường tiểu học huyện

Ninh Giang 57 Bảng 2.7 Đánh giá về công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư

phạm, nghiệp vụ quản lý, trình độ lý luận chính trị cho nguồn CBQL được quy hoạch tại huyện Ninh Giang 61 Bảng 2.8 Đánh giá về thực trạng bố trí, phân công, sử dụng nguồn CBQL sau quy hoạch63 Bảng 2.9 Đánh giá về thực trạng bổ nhiệm lại, luân chuyển và bổ nhiệm CBQL từ

cán bộ nguồn sau khi quy hoạch 65 Bảng 2.10 Đánh giá thực trạng kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác quy hoạch nguồn

CBQL hiện nay tại huyện Ninh Giang 67 Bảng 2.11 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng tới công tác quy hoạch CBQL trường

tiểu học 69 Bảng 2.12 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác quy hoạch CBQL trường

tiểu học 70 Bảng 3.1 Đánh giá của CBQL và GV về tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 88 Bảng 3.2 Đánh giá của CBQL và GV về tính khả thi của các biện pháp đề xuất 89 Bảng 3.3 Sự tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 90

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH, SƠ ĐỒ

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ

đủ đức, đủ tài để chèo lái con thuyền cách mạng đã trở thành mối quan tâm hàng đầu

và là điều kiện sống còn của Đảng và Nhà nước ta Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước sau 30 năm đổi mới, đội ngũ cán bộ không ngừng được nâng cao về mọi mặt, đa số có bản lĩnh, tư tưởng chính trị vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, có trình độ và năng lực, nhất là năng lực trí tuệ và năng lực thực tiễn tốt, luôn phát huy được vai trò người chiến sỹ cách mạng Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì đội ngũ cán bộ cũng bộc lộ những hạn chế, yếu kém mà trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X vừa qua

đã chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân, bệnh thành tích và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ còn diễn ra nghiêm trọng… công tác tổ chức và cán bộ còn bộc lộ nhiều mặt yếu kém” Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng xác định Mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, có ý thức

tổ chức kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý Vì vậy, trong công tác cán bộ, quy hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu được Đảng ta rất quan tâm, coi trọng Quy hoạch cán bộ nhằm tạo ra sự chủ động, có tầm nhìn chiến lược trong công tác cán bộ; khắc phục tình trạng bị động, hẫng hụt trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, bảo đảm tính kế thừa, phát triển và sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán

bộ, giữ vững đoàn kết nội bộ và sự ổn định chính trị

Đối với ngành GD& ĐT thì đội ngũ CBQL là lực lượng nòng cốt, trung tâm để chỉ đạo, điều hành thực hiện các mục tiêu GD& ĐT, là nhân tố quan trọng để lãnh đạo quyết định chất lượng GD& ĐT Luật Giáo dục năm 2005 và Luật Giáo dục sửa đổi

2009 đã khẳng định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục” Tuy nhiên, trong thời kỳ CNH- HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay; trước

Trang 13

những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong các trường phổ thông trong đó có trường Tiểu học, đội ngũ nhà giáo nhất là đội ngũ CBQL giáo dục vẫn còn những hạn chế, bất cập Đó là: Chất lượng, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận và trình độ quản lý còn nhiều hạn chế; Một số CBQL có thâm niên lâu năm ỷ lại mình có kinh nghiệm cá nhân nên ý thức tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, kỹ năng lãnh đạo, quản lý chưa cao, tính chuyên nghiệp thấp; Năng lực điều hành, quản lý còn bất cập trong công tác tham mưu, xây dựng chính sách, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và thực thi công vụ Kiến thức về pháp luật, về

tổ chức bộ máy, về quản lý nhân sự, nhất là về quản lý tài chính còn nhiều hạn chế dẫn đến lúng túng trong thực thi trách nhiệm và thẩm quyền, đặc biệt khi được Nhà nước phân quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm Phần lớn CBQL giáo dục còn

bị hạn chế về trình độ ngoại ngữ, kỹ năng sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin Một bộ phận CBQL giáo dục còn chạy theo thành tích, chưa thực sự chuyên tâm với nghề nghiệp, chưa làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao Một bộ phận nhỏ CBQL giáo dục buông lỏng quản lý, không đấu tranh với tiêu cực, thậm chí còn thoả hiệp, tham gia vào các hiện tượng tiêu cực, tiếp tay cho người học gian dối trong học tập, thi cử; Việc quy hoạch nguồn, đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển,… còn có những bất cập nhất định Thực trạng trên đòi hỏi cần phải nâng cao chất lượng CBQL giáo dục một cách toàn diện; Chỉ thị số

40- CT/TW ngày 15/6/2004 của BCH Trung ương Đảng (khóa IX) về việc xây

dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục đã xác định “Mục

tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [12]

Vấn đề quy hoạch đội ngũ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục được Nghị quyết

số 29/NQ-TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và

đào tạo, đáo ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế” nêu rõ“Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm

an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo

Trang 14

từng cấp học và trình độ đào tạo Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên,

có năng lực sư phạm Giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sỹ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm CBQL giáo dục các cấp phải qua đào tạo

về nghiệp vụ quản lý” [16] Chính vì vậy, chuẩn hóa đội ngũ là một trong những định

hướng cơ bản trong tiến trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục nước ta hiện nay

Thực hiện Nghị quyết số 42- NQ/TW ngày 30/4/2004 của Bộ Chính trị, Kết luận số 24- KL/TW, ngày 05/6/2012 của Bộ Chính trị (khóa XI); Hướng dẫn số 15- HD/BTCTW ngày 05/11/2012 của Ban Tổ chức Trung ương về công tác quy hoạch cán bộ, lãnh đạo quản lý; Hướng dẫn số 03- HD/TU ngày 17/11/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hải Dương về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Kế hoạch số 63- KH/HU ngày 01/12/2012 của Ban Thường vụ Huyện ủy Ninh Giang về rà soát, bổ sung nguồn quy hoạch cán bộ, trong đó có xây dựng nguồn quy hoạch CBQL các trường Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở trong toàn huyện

Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ, đặc biệt là công tác xây dựng, rà soát, bổ sung nguồn quy hoạch cán bộ; Trong những năm qua Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Ninh Giang luôn bám sát đường lối công tác cán

bộ của Đảng, có sự vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn địa phương Mặc dù, công tác xây dựng phát triển đội ngũ nguồn CBQL giáo dục đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, nhưng nhìn chung đội ngũ nguồn CBQL các trường Tiểu học huyện Ninh Giang hiện nay xét về số lượng, chất lượng còn nhiều điểm chưa đáp ứng tốt yêu cầu ngày càng cao của giáo dục và nhiệm vụ đặt ra trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện

đại hoá đất nước

Bên cạnh những thành tích đạt được, công tác quy hoạch CBQL của huyện trong những năm qua còn có những hạn chế sau: Chất lượng QHCB chưa đồng đều, không cao; chưa bám sát vào các tiêu chuẩn cán bộ để quy hoạch; tỉ lệ cán bộ trẻ, cán

bộ nữ chưa đạt yêu cầu, chưa thật mạnh dạn trong cân nhắc và sử dụng giáo viên trẻ vào các chức danh lãnh đạo quản lý QHCB ở một số trường còn chung chung, dàn trải, thiếu tính khả thi, thậm chí mang tính hình thức, chưa coi trọng việc đánh giá năng lực, sở trường, chiều hướng phát triển cán bộ để quy hoạch dài hạn Có trường hợp cán bộ trong quy hoạch chưa được đào tạo bồi dưỡng và luân chuyển để chủ động

bổ nhiệm khi có nhu cầu Trong luân chuyển cán bộ có một số trường hợp không bám

Trang 15

sát quy hoạch, đánh đồng giữa luân chuyển với điều động, bố trí cán bộ Bản thân cán

bộ trong quy hoạch cũng không sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới khi có nhu cầu luân chuyển nếu trường đó xa nhà, hoặc có quy mô nhỏ Một số đồng chí sau khi được quy hoạch dự nguồn, bổ nhiệm chưa chịu khó học tập, nghiên cứu lý luận chuyên môn nghiệp vụ, có tư tưởng bảo thủ, thỏa mãn, ngại va chạm, không dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm nên khi có nhu cầu không sử dụng được Vì vậy, vấn đề xây dựng, phát triển đội ngũ nguồn CBQL các trường Tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương trong giai đoạn hiện nay là rất quan trọng đối với ngành Giáo dục - Đào tạo huyện nhà

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Cơ sở khoa học

quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quy hoạch nguồn CBQL các trường Tiểu học trên địa bàn huyện, trên cơ sở đó đề xuất định hướng quy hoạch và những biện pháp thực hiện nhằm chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn cán bộ quy hoạch CBQL các trường Tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đến năm 2020 đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Phát triển đội ngũ CBQL các trường Tiểu học thuộc huyện Ninh Giang

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quy hoạch nguồn CBQL các trường tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đến năm 2020

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng và triển khai những giải pháp thực hiện quy hoạch theo tiếp cận chuẩn nghề nghiệp Hiệu trưởng trường tiểu học và các văn bản về quy hoạch cán bộ của Trung ương, Tỉnh ủy với quy trình đánh giá phẩm chất và năng lực đội ngũ, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm, bổ nhiệm lại theo chuẩn sẽ góp phần nâng cao chất lượng quy hoạch nguồn CBQL của các trường Tiểu học thuộc huyện Ninh

Giang, tỉnh Hải Dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

Trang 16

5 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quy hoạch nguồn CBQL các trường Tiểu học tiếp

cận theo tiêu chuẩn nghề nghiệp Hiệu trưởng và quy trình quy hoạch cán bộ

- Đánh giá thực trạng việc xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch nguồn

CBQL các trường Tiểu học thuộc huyện Ninh Giang

- Đề xuất một số định hướng quy hoạch và một số biện pháp thực hiện nhằm nâng cao chất lượng nguồn CBQL ở các trường Tiểu học thuộc huyện Ninh Giang

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu thực trạng đội ngũ CBQL và nguồn CBQL các trường Tiểu học; xây dựng định hướng quy hoạch, đề xuất những giải pháp đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, sử dụng để tạo nguồn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đội ngũ Hiệu

trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường Tiểu học thuộc huyện Ninh Giang

- Phạm vi khảo sát (địa bàn nghiên cứu): Khảo sát bằng phiếu hỏi về thực trạng xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch nguồn CBQL các trường tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, thực trạng đội ngũ CBQL và nguồn CBQL về số lượng

và chất lượng giai đoạn từ 2010 đến nay; xin ý kiến về các định hướng quy hoạch và một số giải pháp thực hiện quy hoạch nguồn CBQL các trường tiểu học huyện Ninh

Giang, tỉnh Hải Dương đến năm 2020 đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu các văn bản của Đảng và Nhà nước, của Bộ GD& ĐT, của Tỉnh

ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương, của Huyện ủy Ninh Giang về quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý, trong đó có quy hoạch nguồn CBQL các trường Tiểu học để xác định cơ sở pháp lý của công tác quy hoạch; Nghiên cứu các công trình khoa học về các vấn đề có liên quan; Phân tích, so sánh, hệ thống hoá, khái quát hóa các nội dung

liên quan để tổng quan cơ sở lý luận của đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Quan sát, phỏng vấn, điều tra bằng phiếu hỏi, ý kiến chuyên gia, để đánh giá thực trạng xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch nguồn CBQL ở các trường Tiểu học thuộc huyện Ninh Giang

- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về định hướng quy hoạch;

tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất

Trang 17

6.3 Phương pháp thống kê toán học: Xử lý các số liệu trong quá trình khảo sát,

nghiên cứu

7 Đóng góp của luận văn

- Góp phần làm phong phú thêm lý luận về quy hoạch phát triển nguồn CBQL các trường Tiểu học theo tiêu chuẩn cán bộ

- Làm rõ thực trạng công tác quy hoạch và tiêu chuẩn, số lượng, chất lượng, cơ cấu, vị trí việc làm đội ngũ CBQL và nguồn CBQL các trường Tiểu học của huyện

Ninh Giang, phân tích nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm

- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn CBQL các trường Tiểu học ở huyện Ninh Giang đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục theo chuẩn cán bộ đến năm 2020 và các năm tiếp theo

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ

lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận quy hoạch nguồn CBQL các trường Tiểu học

Chương 2 Thực trạng đội ngũ CBQL và nguồn CBQL các trường Tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

Chương 3 Biện pháp triển khai thực hiện quy hoạch nguồn CBQL các trường Tiểu học huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUY HOẠCH NGUỒN CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Đối với công tác quản lý, lãnh đạo, quy hoạch là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng Trong các Văn kiện, các Nghị quyết của Đảng, các Chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội của Nhà nước, các Chương trình công tác của các ngành, các cấp thường nói đến quy hoạch như quy hoạch ngành, quy hoạch địa phương, quy hoạch đồng ruộng, quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng khu công nghiệp, quy hoạch mạng lưới trường học, quy hoạch cán bộ,…

Trước đây đã có một số luận án đề cập đến vấn đề quy hoạch như: luận án tiến

sĩ của tác giả Vũ Đình Chuẩn (2007), "Phát triển đội ngũ giáo viên tin học trường

THPT theo quan điểm chuẩn hóa xã hội hóa”, Luận án Tiến sĩ, Đại học Quốc gia Hà

Nội; Tác giả Nguyễn Văn Đệ (2010), "Phát triển đội ngũ giảng viên các trường Đại

học ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Đại học”,

Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục, Hà Nội; Tác giả Soulivanh Phommachit (2015),

"Cơ sở khoa học của quy hoạch đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Luông Nậm Thà nước CHDCND Lào, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”

…; Tác giả Trần Đình Hoan (2004), Về QHCB lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh

CNH, HĐH đất nước, Kỷ yếu đề tài cấp nhà nước ĐTĐL - 2002/07, do Ban Tổ chức

Trung ương là cơ quan chủ trì

Các tác giả trên nghiên cứu chủ yếu việc xây dựng quy hoạch đội ngũ giảng viên đại học, giáo viên THCS, giáo viên THPT, về số lượng, chất lượng, cơ cấu bộ môn; quy hoạch mạng lưới trường lớp trường THCS và THPT; quy hoạch cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị dạy học nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển cả về số lượng và chất lượng dạy học ở các trường phổ thông trên địa bàn của một tỉnh, một huyện cụ thể

Các luận án trên không đi sâu vào phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn của cơ sở quy hoạch nguồn CBQL trường học, đặc biệt là CBQL trường tiểu học; chưa đề ra được các quy trình và các biện pháp cụ thể để quy hoạch CBQL trường học, chưa có những khuyến nghị cụ thể về chế độ chính sách cho đội ngũ CBQL trường tiểu học

Trang 19

Quy hoạch nguồn CBQL là quy hoạch đặc biệt Đối tượng của nó không phải

là cơ sở vật chất mà là con người, là cán bộ quản lý, là lãnh đạo; vừa là đối tượng, vừa

là chủ thể của quy hoạch

CBQL trường học là lực lượng rất quan trọng trong nhà trường, cần phải có đề tài nghiên cứu chuyên sâu về công tác quy hoạch nguồn CBQL,…

Mặc dù ít có các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về công tác quy hoạch nguồn CBQL nhưng trong thực tế Đảng và Nhà nước đã và đang rất quan tâm đến công tác này

Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến

lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ghi rõ: “Quy

hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, đảm bảo cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài” [9, tr 3]

Thực tế, trước và sau khi có nghị quyết nêu trên, các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương trong đó có ngành giáo dục đã và đang làm công tác quy hoạch cán bộ Nhưng trong Hội nghị Trung ương lần 6 khóa IX, Bộ Chính trị đã đánh giá:

“Nhiều cấp ủy địa phương, ngành, đơn vị chưa thật sự coi trọng, không chủ động làm

quy hoạch cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, hoặc làm một cách qua loa, hình thức, chất lượng thấp” [10]

Và Bộ Chính trị cũng đã nhấn mạnh trong thời gian sắp tới cần phải: “Đổi mới

nhận thức và cách làm quy hoạch cán bộ khắc phục những khuyết điểm đã nêu trong kiểm điểm” [10, tr 15]

Kết luận Hội nghị Trung ương 6 khóa IX đã nêu cụ thể: “Tăng cường công

tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo và quản lý, đặc biệt quan tâm tạo nguồn cán bộ lãnh đạo trẻ có thành tích xuất sắc, những cán bộ xuất thân từ công nhân, con em nông dân, gia đình có công với cách mạng, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ nữ Trên cơ sở quy hoạch, đẩy mạnh việc đào tạo, đào tạo lại cán bộ theo chức danh

và cán bộ nguồn” [10, tr 18]

Trong những năm qua, Đảng và nhà nước đã có những văn kiện, nghị quyết

về giáo dục như Chỉ thị 40-CT/TW năm 2004, Nghị quyết số 29- NQ/TW năm

2013 cùng các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc khóa XI và XII đều khẳng định vai trò to lớn của việc quy hoạch đội ngũ cán bộ kế cận nói chung và quy hoạch đội ngũ cán bộ QLGD nói riêng

Trang 20

Từ những đánh giá ở trên, chúng ta thấy, mặc dù đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về quy hoạch cán bộ nhưng có rất ít tác giả

đề cập đến công tác quy hoạch CBQL, nên công tác quy hoạch CBQL nói chung và quy hoạch CBQL trường tiểu học nói riêng còn lúng túng, khó khăn,… đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác quy hoạch nguồn CBQL trường tiểu học trên địa bàn huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương

vĩ mô Có tập thể, tổ chức là có quản lý Quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung C Mác đã nói đến sự cần

thiết của quản lý: “Bất kỳ một hoạt động nào có tính xã hội và chung, trực tiếp được

thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần đến sự quản lý….” [dẫn theo 21]

Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau

- FW Taylor (Mỹ) người sáng lập ra trường phái quản lý theo khoa học cho

rằng “Quản lý là nghẹ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm là làm cái đó thế

nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” [dẫn theo 18]

- Harold Koontz: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm Với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học [dẫn theo 18]

- Henri Fayol (1841 - 1925), người Pháp, người đặt nền móng cho lý luận tổ chức

cổ điển, xuất phát từ nghiên cứu các loại hình quản lý và phân biết 5 chức năng quản lý,

cho rằng : "Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra" [dẫn

theo 18] Khái niệm này xuất phát từ sự khái quát về các chức năng của quản lý

- Frederic Winslow Taylor (1856-1915) là nhà thực hành quản lý khoa học

về lao động đã đưa ra khái niệm “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn

người khác làm, sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một các tốt nhất” [dẫn theo 18]

Trang 21

- Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý là tác động có định hướng, có

chủ đích của hoạt động quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [31]

- Trần Kiểm cho rằng “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong

việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [22]

- Bùi Minh Hiền: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ

thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [18]

- Theo tác giả Phan Văn Kha: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh

đạo và kiểm tra các quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kỹ thuật và công nghệ đề chúng phát triển hợp quy luật, các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng) vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các thành viên thuộc hệ thống, các hoạt động để đạt được các mục đích đã định” [21]

tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhiệm vụ nhất định

- Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn hành vi, quá trình xã hội đề chúng phát triển hợp quy luật, đạt được mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý

Trang 22

Nhìn chung, mặc dù đứng từ nhiều phương diện và với những mục đích khác nhau, những những khái niệm nêu trên cho thấy những điểm chung: Quản lý

là hoạt động tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, có chủ đích, hướng đích, khai thác các nguồn lực hiệu quả, để phát triển đối tượng nhằm đạt được mục tiêu đã định

Đối tượng quản lý không thuần túy là con người, tập thể người, tổ chức như một số ý kiến, mà chúng rất đa dạng Đối tượng của quản lý, trước hết bao gồm các hệ thống kinh tế - xã hội và sự vận hành của các hệ thống; Các tổ chức, cơ quan, đơn vị

và hoạt động của chúng; Con người và các hoạt động của con người; các nguồn lực vật chất và phi vật chất; Các quá trình phát triển tự nhiên, xã hội, môi trường, kinh tế, khoa học, kỹ thuật và công nghệ, cả những yếu tố vật chất và phi vật chất Trong phạm vi nhà trường, phạm vi các đối tượng quản lý bao gồm: đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ trong nội bộ nhà trường và dịch vụ xã hội, với các hoạt động cụ thể (như hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục…), quản lý cơ sở vật chất và phương tiện dạy học, quản lý tài chính, ) [21]

Trên cơ sở phân tích các ý kiến của các nhà khoa học về quản lý thì hiện nay các nhà nghiên cứu thống nhất quản lý là một quá trình tác động có chủ định, hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tạo ra các hoạt động hướng tới đạt mục đích chung của tổ chức dưới sự tác động của môi trường

Các khái niệm trên đây, tuy khác nhau về cách diễn đạt, song chúng có chung những nét đặc trưng cơ bản chủ yếu sau đây:

- Hoạt động QL được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội

- Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích

- Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân, tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức

- Có một số điểm khác biệt về các đối tượng quản lý và phân loại, số lượng các chức năng quản lý.Nhìn chung, các chức năng chính của quản lý được xác định, bao gồm: Lập kế hoạch/quy hoạch; Tổ chức; Lãnh đạo và chỉ đạo; Kiểm tra

Trang 23

Tóm lại: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt

tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan

1.2.1.2 Chức năng của quản lý

Hiện nay đang tồn tại một số cách phân loại các chức năng của quản lý Tuỳ theo mục đích và đặc thù về công việc, cấu trúc tổ chức của đơn vị mà các chủ thể quản lý có thể lựa chọn cách phân loại chức năng quản lý cho phù hợp Ví dụ phân loại bảy (7) chức năng quản lý, bao gồm: 1) Dự đoán; 2) Kế hoạch hoá; 3) Tổ chức; 4) Động viên; 5) Điều chỉnh; 6) Kiểm tra; 7) Đánh giá (Trích theo Hồ Văn Vĩnh, Chủ biên Giáo trình khoa học quản lý Giáo trình dùng cho hệ cử nhân chính trị NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2002, tr 55 - 63)

Có tác giả chia các chức năng quản lí ra làm 5 loại (Henry Fayol: Kế hoạch hóa; Tổ chức; Chỉ đạo, ra lệnh; Phối hợp; Kiểm tra) Tại Hội nghị của UNESCO Bangkok năm 1992, một số nhà khoa học đã đưa ra một số chức năng cơ bản của quản

lý, bao gồm: Kế hoạch hóa; tổ chức; bố trí biên chế; chỉ đạo; phối hợp; tổng kết và quyết toán ngân sách Năm 1990, M Higgins công bố công trình Management Challenge, trong đó đề cập một số tác giả đề xuất 4 chức năng cơ bản của quản lý (Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra)

Cách phân loại có ưu điểm là rất cụ thể, giúp cho chủ thể quản lý hình dung khá đầy đủ và cặn kẽ các nhiệm vụ cần phải thực hiện Tuy nhiên, cách phân loại này cho thấy có sự trùng lặp và chồng chéo giữa một số chức năng, như khi đề cập tới chức năng kế hoạch hoá đòi hỏi phải triển khai các nhiệm vụ: đánh giá thực trạng của đối tượng quản lý và bối cảnh, dự báo hoặc dự đoán xu thế phát triển, xác định sứ mệnh và tầm nhìn của tổ chức theo một điểm mốc thời gian cụ thể, mục tiêu của tổ chức, các hoạt động và các điều kiện tổ chức thực hiện Hoặc khi đề cập tới chức năng đánh giá, không thể không đề cập tới các yếu tố như kiểm tra và điều chỉnh một, vài hay một số nội dung trong kế hoạch đã được phê duyệt (mục tiêu, các hoạt động, nhân lực, tài chính, phương tiện, thiết bị, )

Tác giả Phan Văn Kha cho rằng, để thuận lợi trong công tác quản lí và nghiên cứu phục vụ quản lí trong các lĩnh vực có thể sử dụng cách phân loại 4 chức năng quản lí bao gồm: Lập kế hoạch; tổ chức; chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra, đánh giá (Hình 1) [21]

Trang 24

Môi trường bên ngoài

động cụ thể nói riêng Kế hoạch là văn bản, trong đó xác định những mục tiêu, các

hoạt động, các qui định, cách thức và bước đi cụ thể trong một thời hạn nhất định, trách nhiệm của các đơn vị và cá nhân trong tổ chức, phân bổ thời gian thực hiện và các điều kiện để triển khai các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Có

thể hiểu lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu, hệ thống các hoạt động, thời gian thực hiện và các điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó

Để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của kế hoạch trong thực tiễn, kế hoạch phải thể hiện rõ các điều kiện về nguồn lực (tài lực, vật lực nhân lực và nguồn lực thông tin), xác định rõ ràng của các tổ chức có liên quan trong công tác quản lý cũng như triển khai thực hiện kế hoạch Cần đặc biệt lưu ý các công việc có mối quan hệ trực tiếp và chi phối lẫn nhau để thiết kế lộ trình và tiến độ thực hiện các công việc đó cho phù hợp trong quá trình xây dựng kế hoạch

Trang 25

Phân loại kế hoạch: tùy thuộc và mức độ phức tạp, tầm quan trọng và độ dài

thời gian kế hoạch, có thể phân loại: kế hoạch ngắn hạn (kế hoạch tuần, kế hoạch tháng, kế hoạch quý, kế hoạch năm), kế hoạch trung hạn (kế hoạch 2 đến 5 năm) và kế hoạch dài hạn (kế hoạch 10 đến 20 năm); Kế hoạch chiến lược và kế hoạch tác nghiệp,

kế hoạch thực hiện các công việc cụ thể v.v

- Tổ chức

Tổ chức là quá trình xác định cấu trúc tổ chức của hệ thống theo các đơn vị trực thuộc với các chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, cá nhân rõ ràng, cơ chế phối hợp nhằm đảm bảo thực thi các chức năng, nhiệm vụ hướng tới mục tiêu chung của toàn hệ thống, đồng thời tổ chức triển khai các hoạt động cụ thể (phân

bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cần thiết cho các thành viên, tổ chức thực hiện các công việc được phân công) nhằm đạt được các mục tiêu của các hoạt động một cách có hiệu quả

Như vậy, nội hàm của tổ chức bao gồm hai khía cạnh là thiết kế cơ cấu (cấu trúc) tổ chức của hệ thống và tổ chức triển khai các công việc cụ thể

Ứng với những mục tiêu, chức năng và các nhiệm vụ cụ thể khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức của đơn vị cũng khác nhau Trong thiết kế tổ chức, căn cứ mục tiêu

và các chức năng cơ bản của một đơn vị để xác định các nhiệm vụ tương ứng với mỗi chức năng cần được triển khai Người quản lý cần lựa chọn cấu trúc tổ chức hợp lý, phù hợp với những mục tiêu chung của hệ thống, xác định biên chế và sắp xếp đội ngũ và nguồn lực khác, quy định về cơ chế phối hợp giữa các đơn vị với các đơn vị, giữa các cá nhân với các cá nhân trong đơn vị và trong hệ thống Quá trình đó còn được gọi là thiết kế tổ chức Một tổ chức được coi là có hiệu quả khi các mục tiêu của

hệ thống đạt được trong một thời hạn nhanh nhất có thể và hạn chế tới mức tối thiểu

về chi phí bộ máy và chi phí tổ chức triển khai các hoạt động

- Lãnh đạo, chỉ đạo

Lãnh đạo, chỉ đạo là điều hành, điều khiển, tác động, huy động và giúp đỡ những cán bộ dưới quyền thực hiện những nhiệm vụ được phân công nhằm thực hiện được các mục tiêu của hệ thống Trong công tác chỉ đạo cần đặc biệt quan tâm, thường xuyên bám sát kế hoạch tổng thể và kế hoạch cụ thể, chi tiết thực hiện từng nhóm công việc Trong công tác chỉ đạo đòi hỏi các nhà quản lý phải có các quyết định kịp thời, cần tạo mọi điều kiện, huy động các nguồn lực trong điều kiện cho phép, trong khuôn khổ kế hoạch đã được phê duyệt; điều phối các mối quan hệ, hỗ trợ

Trang 26

các thủ tục hành chính và cơ chế giúp đội ngũ dưới quyền thực hiện tốt các nhiệm vụ được phân công, nhằm đạt tới từng mục tiêu cụ thể đã đặt ra

- Kiểm tra

Kiểm tra là xem xét quá trình hoạt động hệ thống, những kết quả đạt được và đánh giá phù hợp so với kế hoạch đã được phê duyệt và mục tiêu đề ra Thông thường kiểm tra được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, là việc tìm lỗi và đưa ra phương án khắc phục

Hệ thống OTK trong các doanh nghiệp được thành lập để thực hiện chức năng này, chỉ thực hiện kiểm tra sản phẩm cuối cùng Ngày nay, kiểm tra được hiểu theo nghĩa

rộng hơn, hướng vào việc phòng ngừa là chính, bao gồm kiểm tra, đánh giá và điều

chỉnh trong suốt quá trình, đảm bảo đạt được kết quả đầu ra của hệ thống theo mục tiêu đã được xác định Mục đích của kiểm tra là giám sát sao cho hệ thống vận hành theo đúng kế hoạch, theo đúng những chuẩn mực quy định, lấy phòng ngừa là chính, phát hiện kịp thời những sai lệch, sai sót nảy sinh trong suốt quá trình vận hành của hệ thống, xác định nguyên nhân và tìm ra những biện pháp điều chỉnh, khắc phục và sửa chữa kịp thời Đảm bảo nguyên tắc không lỗi (Zero defect) trong quá trình vận hành của hệ thống

Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:

1) Xây dựng hệ thống chuẩn thực hiện trên cơ sở các chỉ tiêu được xác định trong kế hoạch Các chuẩn thực hiện bao gồm chuẩn về quy trình, các hoạt động và chuẩn về các sản phẩm của hệ thống thông qua các mục tiêu của hệ thống

2) Kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện và kết quả đạt được trên cơ sở

là rất đa dạng và không phải kết quả nào cũng lượng hoá được Do vậy, tránh tuyệt đối hoá phương pháp định lượng mà cần phối hợp hợp lý với phương pháp định tính trong quá trình kiểm tra, đánh giá

Trang 27

Việc kiểm tra, giám sát và đánh giá cần được tiến hành toàn diện theo kế hoạch

đã được phê duyệt, từ mục tiêu đến các nhóm hoạt động, kế hoạch thời gian, việc sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài chính, phương tiện ) Xem xét tương quan trong mối quan hệ nhân quả để xác định đúng các nguyên nhân của các mặt hạn chế Công tác kiểm tra cần được tiến hành với việc sử dụng đa dạng các hình thức kiểm tra như kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất, kiểm tra toàn diện theo quá trình và kiểm tra theo chủ đề Tuy nhiên, như trên đã nêu để nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra đòi hỏi trước hết cần xác định rõ ràng mục tiêu, nội dung và quy trình kiểm tra, kiểm tra nhằm phòng ngừa là chính những sai lệch có thể xảy ra để tìm phương án khắc phục Tránh tình trạng có sụ cố xảy ra mới tổ chức thanh tra, kiểm tra

và để rồi quy kết trách nhiệm cho những cá nhân và tập thể Đồng thời, công tác kiểm tra không làm ảnh hưởng tới bầu không khí tâm lý của tập thể, không cản trở việc triển khai các hoạt động của hệ thống

Những sai lệch, yếu kém được phát hiện trong quá trình kiểm tra cần được phân tích tỷ mỉ, xem xét để điều chỉnh kịp thời Tuy nhiên, việc điều chỉnh chỉ được thực hiện khi thực sự cần thiết và tránh tuỳ tiện Cần hết sức thận trọng khi ra các quyết định điều chỉnh vì chỉ một sự thay đổi nhỏ trong một mắt xích của hệ thống sẽ

có tác động đến toàn bộ hệ thống Trong thực tế, có những điều chỉnh nhỏ trong công tác quản lý nhưng mang lại hiệu quả cao cho toàn bộ hệ thống Tuỳ thuộc vào kết quả kiểm tra, đánh giá, các nhà lãnh đạo có thể đưa ra quyết định điều chỉnh các hoạt động, hoặc điều chỉnh phân bổ các nguồn lực, hoặc điều chỉnh mục tiêu Trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh cả mục tiêu, các hoạt động và nguồn lực cho phù hợp

1.2.2 Cán bộ quản lý

Theo Từ điển tiếng Việt, CBQL là “người làm công tác có chức vụ trong một

cơ quan, tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ” [37]

CBQL là chủ thể quản lý gồm những người giữ vai trò tác động, ra lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý CBQL là người chỉ huy, lãnh đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức Người quản lý vừa là người lãnh đạo, quản lý cơ quan đó vừa chịu sự lãnh đạo, quản lý của cấp trên

Trang 28

CBQL có thể là trưởng hoặc phó trưởng của một tổ chức được cấp trên bổ nhiệm bằng quyết định hành chính Nhà nước Cấp phó giúp việc cho cấp trưởng, chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về công việc được phân công

CBQL được phân ra nhiều cấp bậc khác nhau: CBQL cấp trung ương, CBQL cấp địa phương, CBQL cấp cơ sở CBQL là lực lượng rất quan trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị

Xuất phát từ tầm quan trọng của người CBQL, nên họ phải có những phẩm chất và năng lực nổi trội hơn những người khác trong đơn vị

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người CBQL phải có những phẩm chất sau [34, tr.78]:

“- Phải độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không thành kiến khiến cho cán bộ khỏi bị bỏ rơi

- Phải có tinh thần rộng rãi mới có thể gần gũi những người mình không ưa

- Phải có tính chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ

- Phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây mà xa cách cán bộ tốt

- Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần mình”

Như vậy, từ những phân tích trên, CBQL là chủ thể quản lý, là người có chức

vụ trong tổ chức được cấp trên ra quyết định bổ nhiệm, người giữ vai trò dẫn dắt, tác đông, ra lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu của đơn vị Người CBQL phải là người có phẩm chất và năng lực nổi trội hơn người khác, là tấm gương cho mọi người trong đơn vị noi theo

1.2.3 Nguồn cán bộ quản lý

Nguồn CBQL là đội ngũ dự nguồn quy hoạch các chức danh CBQL đảm bảo các tiêu chuẩn của người cán bộ như: Tư tưởng chính trị; đạo đức, lối sống; năng lực công tác; trình độ; sức khỏe và tín nhiệm để đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu bố trí, đề bạt, bổ nhiệm khi có nhu cầu

1.2.4 Nguồn CBQL trường tiểu học

Xây dựng đội ngũ dự nguồn quy hoạch các chức danh Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường Tiểu học đảm bảo các tiêu chuẩn của người cán bộ như: Tư tưởng chính trị; đạo đức, lối sống; năng lực công tác; trình độ đào tạo; sức khỏe và tín nhiệm

để đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu bố trí, đề bạt, bổ nhiệm khi có nhu cầu

Trang 29

1.2.5 Chất lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý

1.2.5.1 Chất lượng

Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự việc, sự

vật, hoặc là cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia Theo

TCVNISO 8402: Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó có khả năng thoã mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn

Chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó là cái tốt nhất, chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn, với mục đích sử dụng; Chất lượng với tư cánh là hiệu quả của việc đạt mục đích nhà trường; Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu khách hàng

1.2.5.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý

Chất lượng đội ngũ CBQL là sự đánh giá phù hợp với các tiêu chuẩn của người cán bộ: Việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Phẩm chất chính trị; đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc; Năng lực công tác, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ; Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ; Thái độ phục vụ nhân dân; Năng lực lãnh đạo, quản lý; Năng lực tập hợp, đoàn kết

1.2.6 Quy hoạch

Theo Từ điển tiếng Việt do Viện nghiên cứu ngôn ngữ biên soạn: Quy hoạch là

sự bố trí, sắp xếp toàn bộ theo một quy trình hợp lý theo từng thời gian làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch dài hạn [37, tr 784]

Quan điểm của Hàn Quốc thì cho rằng nhiệm vụ của quy hoạch là xây dựng chính sách phát triển

Các nước phát triển như Pháp thì quy hoạch được hiểu là dự báo phát triển

và tổ chức thực hiện theo lãnh thổ Hoặc nước Anh quan niệm rằng quy hoạch là

sự phân bổ có trật tự, sau đó là sự tiến hóa có kiểm soát các đối tượng trong không gian nhất định

Tóm lại, quy hoạch là sự bố trí, sắp xếp toàn bộ cả nhân lực, vật lực theo một quy trình hợp lý cho từng thời gian làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch dài hạn và

cả ngắn hạn

- Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý:

* Quy hoạch cán bộ được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau Tương ứng với mỗi góc độ sẽ có quan niệm về quy hoạch cán bộ khác nhau Hiện nay có nhiều quan niệm về quy hoạch cán bộ, sau đây là ba quan điểm về quy hoạch cán bộ:

Trang 30

+ Xem xét dưới góc độ tạo nguồn, dự báo cán bộ:

Quy hoạch cán bộ là “quá trình thực hiện đồng bộ các chủ trương, biện pháp

để tạo nguồn, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản

lý các cấp trên cơ sở dự báo nhu cầu cán bộ nhằm đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị trong thời gian nhất định” [7, tr.69]

Việc tạo nguồn cán bộ để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức thể hiện trên các phương diện chủ yếu sau:

Đối với đội ngũ cán bộ, công chức: tạo nguồn, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức từng cấp, từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị

Đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu: tạo nguồn xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của các tổ chức trong hệ thống chính trị, trước hết là người đứng đầu các tổ chức ấy ở các cấp, các ngành

Đối với đội ngũ cán bộ công chức làm công tác tham mưu, tổng hợp: tạo nguồn, xây dựng đội ngũ cán bộ này có phẩm chất, năng lực, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao

Như vậy, theo quan niệm này thì quy hoạch cán bộ gồm quy hoạch tạo nguồn cán bộ, công chức, quy hoạch tạo nguồn cán bộ, lãnh đạo quản lý Quy hoạch tạo nguồn cán bộ, công chức sẽ bổ sung cho quy hoạch tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản

lý Nên phải đồng thời quan tâm đến cả hai loại quy hoạch này

+ Xem xét dưới góc độ lập dự án xây dựng, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ

“Quy hoạch cán bộ là việc lập dự án xây dựng đội ngũ cán bộ; dự kiến bố trí,

sắp xếp tổng thể đội ngũ cán bộ theo một mục tiêu nhất định, trong một thời gian nhất định, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ’ [7, tr.70]

Quan niệm này nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa quy hoạch cán bộ với kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Quy hoạch cán bộ phải gắn liền với kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ; trên cơ sở quy hoạch cán

bộ để lập kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải theo quy hoạch cán bộ và kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ, đây là khâu quan trọng để thực hiện quy hoạch cán bộ

+ Xem xét dưới góc độ sự quán triệt, vận dụng các quan điểm, nguyên tắc của Đảng và nhà nước về tổ chức cán bộ vào địa phương, đơn vị:

Trang 31

“Quy hoạch cán bộ là sự thể hiện tập trung và cụ thể mức độ quán triệt và vận

dụng các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, nhà nước về tổ chức, cán bộ vào công tác cán bộ của một địa phương, đơn vị” [7, tr.70]

Quan niệm này quan tâm và nhân mạnh đến mối quan hệ giữa quy hoạch cán bộ với các khâu khác của công tác cán bộ và việc thực hiện quy hoạch cán

bộ Công tác cán bộ có nhiều khâu như tạo nguồn, quy hoạch cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, quản lý, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ và thực hiện chính sách cán bộ…quán triệt các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, nhà nước về tổ chức, cán bộ vào các khâu của công tác cán bộ ở mỗi địa phương, đơn vị thực hiện tốt các khâu đó có tác dụng rất lớn đến việc thực hiện quy hoạch cán bộ Trong đó, cần quan tâm đến tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý đảm bảo các tiêu chuẩn để trẻ hóa đội ngũ cán bộ; quan tâm hơn đến đào tạo, đào tạo lại theo quy hoạch các chức danh cán bộ và cán bộ dự nguồn; đồng thời tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Tóm lại, quy hoạch cán bộ là hoạt động trên cơ sở quán triệt, vận dụng các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, nhà nước về tổ chức, cán bộ vào công tác cán bộ của từng địa phương, cơ quan, đơn vị để tạo nguồn cán bộ, lập dự án xây dựng, bố trí, sắp xếp tổng thể độ ngũ cán bộ có chất lượng trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ có chất lượng tốt, đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ sở

Trong chiến lược cán bộ thời kỳ CNH, HĐH đất nước đã khẳng định: Quy hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, đảm bảo cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, có tầm nhìn xa đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài

Theo Nghị quyết số 42/NQ- TW của Bộ Chính trị, quy hoạch cán bộ được hiểu

là một hoạt động tổng thể cả ở tầm vĩ mô và vi mô, bao hàm nhiều loại quy hoạch khác nhau [11] Quy hoạch cán bộ là nên tảng của công tác cán bộ Bản chất của quy hoạch cán bộ là chú trọng tới việc phát hiện sớm nguồn cán bộ trẻ có đức, có tài, có triển vọng về khả năng lãnh đạo, quản lý, đưa vào quy hoạch để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý, đáp ứng nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài của từng địa phương, cơ quan, đơn vị và của đất nước

Trang 32

1.3 Một số quan điểm về cán bộ và công tác quy hoạch cán bộ

V I Lênin, người kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác đã đặc biệt coi trọng việc xây dựng một đội ngũ những nhà cách mạng chuyên nghiệp cho phong trào

vô sản Người từng chỉ rõ: “Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được

quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình, những lãnh

tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [30] Và khi đã nắm được chính quyền, tiến hành công cuộc xây dựng CNXH,

Lênin tiếp tục khẳng định “nghiên cứu con người, tìm hiểu những người cán bộ có bản lĩnh Hiện nay đó là then chốt, nếu không thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định

sẽ chỉ là mớ giấy lộn” Đảng phải tập trung xây dựng cho được đội ngũ cán bộ mạnh

cả về số lượng lẫn chất lượng để tham gia quá trình lãnh đạo quản lý mọi lĩnh vực đời sống xã hội Nhưng Người yêu cầu cán bộ phải là những người có “phẩm chất cao quý”, “có lòng trung thành và có năng lực”, trong đó Người yêu cầu cán bộ phải có phẩm chất đạo đức tốt, phải “tính toán tiền nong cho cẩn thận và thành thực, hãy chi tiêu tiết kiệm, đừng lười biếng, đừng tham ô, hãy triệt để tuân theo kỷ luật trong lao động” Đồng thời, Người cũng yêu cầu cao về năng lực trình độ, đặc biệt là trình độ tổ chức, nhất là với cán bộ lãnh đạo quản lý phải “thực sự có tài tổ chức, những người có

bộ óc sáng suốt và có bản lĩnh tháo vát trong thực tiễn, những người vừa trung thành với CNXH vừa có năng lực” Đội ngũ cán bộ giỏi, có phẩm chất, có nhiệt tình là điều

kiện để giai cấp vô sản chiến thắng

Kế thừa và phát triển các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về cán bộ và công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm và chăm lo đến

việc đào tạo, huấn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ Bác nói: “Cán bộ là gốc của mọi

công việc”, “công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém” [34] Nếu

có cán bộ tốt, cán bộ ngang tầm thì việc xây dựng đường lối sẽ đúng đắn và là điều kiện tiên quyết để đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi Không có đội ngũ cán

bộ tốt thì dù có đường lối chính sách đúng đắn cũng khó có thể biến thành hiện thực được Muốn biến đường lối, chính sách thành hiện thực, cần phải có con người sử dụng lực lượng thực tiễn - đó là đội ngũ cán bộ cách mạng, bằng sự mẫn cảm của mình để đưa cách mạng đến thành công

Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng,

chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”[34]

Trang 33

Cán bộ là “cầu nối” giữa Đảng, chính phủ với quần chúng Vì vậy, họ phải là có đủ tư chất, tài năng và đạo đức để làm việc đó Bởi lẽ, để đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành đòi hỏi người cán bộ phải có một trình độ, trí tuệ nhất định Nếu không, người cán bộ sẽ không quán triệt hết, thậm chí sai lệch tinh thần, nội dung của chính sách thì thật là nguy hiểm Đồng thời, cán bộ phải có khả năng tổng kết đúc rút từ thực tiễn cuộc sống của nhân dân báo cáo cho Đảng để kịp thời bổ sung sửa chữa hoàn thiện cho phù hợp

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cán bộ ở vị trí có tính chất quyết định, theo người chính sách đúng đắn có thể không thu được kết quả nếu cán bộ làm sai, cán bộ yếu kém Về vấn đề này, Hồ Chí Minh đã đi xa hơn, sâu hơn, chỉ ra cội rễ của vấn đề một

cách vừa cụ thể vừa có tính chất tổng quát Người nói” “Khi đã có chính sách đúng,

thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do cách thức tổ chức công việc,

do nơi lựa chọn cán bộ, do nơi kiểm tra Nếu ba điểm ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích” [34] Muốn tổ chức thực hiện tốt công việc phải có người cán bộ có

tài, có đức, phải biết chọn người làm việc cho thích hợp nếu không cũng rất có thể hỏng việc mà không hoàn toàn do cán bộ yếu kém

Người coi công tác cán bộ cũng như việc đào tạo nhân tài là trọng yếu và rất

cần thiết Người nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì

phải trồng người”[34] Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, cán bộ luôn gắn với tổ

chức; chất lượng cán bộ là kết quả tổng hợp của tất cả các khâu đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng, đáng giá, sử dụng, đề bạt, cất nhắc, kiểm tra, giám sát, phê bình… và sự

nỗ lực phấn đấu của từng người Cán bộ có vai trò hết sức quan trọng trong cơ quan tổ

chức, quyết định hiệu quả hoạt động của tổ chức Người nói: “Cán bộ là cái dây

truyền của bộ máy Nếu dây truyền không tốt thì động cơ dù tốt, dù chạy thì toàn bộ máy cũng tê liệt”[34]

Đề cập tới việc sử dụng cán bộ, Người nhiều lần nhắc nhở phải dùng cán bộ cho đúng với khả năng của mỗi người Nếu không dùng đúng cái tài của họ cũng là một thất bại Ngược lại, dùng đúng người, đúng việc thì mọi việc đều tốt đẹp Với thái

độ chân thành và tin tưởng, nhất định chúng ta sẽ tìm được cách sử dụng cho thích hợp Người nói về phương châm sử dụng cán bộ như sau:

“Hiểu cán bộ

Khéo dùng cán bộ

Cất nhắc cán bộ

Trang 34

Thương yêu cán bộ

Phê bình cán bộ” [34]

Xuất phát từ vai trò, vị trí của người cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc xây

dựng đội ngũ cán bộ là vấn đề trọng yếu, cần kíp “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc

của Đảng” [34] để tạo ra đội ngũ cán bộ ưu tú, có cả đức lẫn tài, trong đó đức là gốc

“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có

gốc, không gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[34] Bên cạnh những yêu cầu cao về

đạo “đức”, Người cũng đặt ra yêu cầu người cán bộ phải không ngừng nâng cao trình

độ, trí tuệ cũng như năng lực công tác, vì không có tài thì làm việc gì cũng khó Bác

nói; “Mình có quyền dùng người thì phải dùng người có tài năng, làm được việc Chớ vì

bà con, bầu bạn, mà kéo vào chức nọ chức kia Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ

có tài năng hơn mình” [34]., “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách như thế là một việc thất bại cho Đảng” [34]

Theo Hồ Chí Minh, làm cán bộ không phải là làm quan cách mạng, cốt để

“thăng quan, phát tài”, mà phải hiểu rằng các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng xóm đều là “công bộc của dân”, “làm cán bộ tức là suốt đời làm đầy tớ

trung thành của nhân dân” Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì có hại

đất nước” đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng,

gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [9] Trong đó quy hoạch cán bộ là nội dung trọng yếu của

công tác cán bộ, đảm bảo cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, có tầm nhìn

xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài

Công tác quy hoạch cán bộ có liên quan chặt chẽ đến tất cả các khâu của công tác cán bộ như: đánh giá, lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển và chính sách đãi ngộ Làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ sẽ tạo ra nguồn cán bộ dồi dào, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu bố trí, sử

Trang 35

dụng và có cơ sở để thực hiện chính sách cán bộ Ngược lại, đánh giá, sử dụng và thực hiện chính sách đãi ngộ phù hợp mới tạo ra động lực thúc đẩy xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng có chất lượng

Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) đề ra yêu cầu cán bộ chủ trì phải điều hành, thực hiện quy hoạch chung về công tác cán bộ, đồng thời trực tiếp bồi dưỡng người kế cận thay mình Trong một năm phải có ít nhất một lần kiểm điểm việc thực hiện quy hoạch của mình và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch của cấp dưới để kịp thời bổ sung, điều chỉnh [9]

Tổng kết thực hiện 3 nghị quyết của Trung ương về công tác tổ chức và cán bộ

Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khoá IX đã kết luận “Tăng cường công tác quy hoạch

lãnh đạo quản lý Đặc biệt quan tâm tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ có thành tích xuất sắc, những cán bộ xuất thân công nhân, con em công nông, gia đình có công với cách mạng, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ nữ Trên cơ sở quy hoạch, đẩy mạnh việc đào tạo, đào tạo lại cán bộ theo chức danh cán bộ dự nguồn Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, chú ý bồi dưỡng phẩm chất chính trị, trình độ nghề nghiệp, năng lực thực tiễn, xử lý tình huống, khắc phục những biểu hiện tiêu cực trong quá trình đào tạo Có kế hoạch cử cán bộ và thanh niên ưu tú đi đào tạo ở nước ngoài với số lượng và cơ cấu ngành nghề phù hợp; đồng thời khuyến khích phong trào tự học, tự nâng cao trình độ của cán bộ bằng nhiều hình thức”[10, tr45]

Nhận thức rõ vấn đề quy hoạch cán bộ là sự cần thiết Bộ Chính trị khoá IX đã ban hành Nghị quyết số 42- NQ/TW, ngày 30/11/2004 về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước

Tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã

ban hành Nghị Quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 chỉ rõ: “Xây

dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm Giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sỹ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm CBQL giáo dục các cấp phải qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý” [16, tr.23]

Trang 36

1.4 Vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của trường tiểu học và đội ngũ CBQL các

trường Tiểu học

1.4.1 Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của trường Tiểu học

- Về vị trí, theo Điều 2 của Điều lệ trường tiểu học ban hành kèm theo Thông

tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khẳng định vị trí của trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân:

“Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư

cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng” [4]

- Nói về nhiệm vụ và quyền hạn của trường tiểu học, Điều 3 Điều lệ trường Tiểu học 2010 đã xác định trường tiểu học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây [4, tr.18]:

“1 Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng theo mục

tiêu, chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

2 Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ em

đã bỏ học đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng đồng Nhận bảo trợ và giúp các cơ quan có thẩm quyền quản lí các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và trẻ em trong địa bàn trường được phân công phụ trách

3 Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhiệm vụ phát triển giáo dục của địa phương

4 Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục

5 Quản lí cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh

6 Quản lí, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật

7 Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động giáo dục

8 Tổ chức cho cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng

9 Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật”

Trang 37

1.4.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng trường Tiểu học

1.4.2.1 Hiệu trưởng

Hiệu trưởng trường tiểu học là thủ trưởng đơn vị (nhà trường) do Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo bổ nhiệm Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhà nước về chất lượng giáo dục ở trường mình Tuy có các phó hiệu trưởng giúp việc và chịu trách nhiệm liên đới nhưng Hiệu trưởng phải giữ vai trò thủ trưởng, lãnh đạo, thường xuyên nắm thông tin và có những quyết định kịp thời không để những hiện tượng thiếu trách nhiệm, phản sư phạm xảy ra hoặc tiếp diễn làm tổn hại đến chất lượng giáo dục của nhà trường

Chính vì thế, theo Điều 20 Điều lệ trường tiểu học, hiệu trưởng trường tiểu học

có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây [5, tr.11]:

“- Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, giáo dục; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;

- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó;

- Phân công, quản lí, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;

- Quản lí hành chính; quản lí và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường;

- Quản lí học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếp nhận, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỉ luật, phê duyệt kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức kiểm tra, xác nhận việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và các đối tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;

- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lí; tham gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;

- Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;

- Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng”

Trang 38

1.4.2.2 Phó Hiệu trưởng

Phó Hiệu trưởng là người giúp việc cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng, do Trưởng phòng giáo dục và đào tạo bổ nhiệm theo quy trình bổ nhiệm Hiệu trưởng của cấp có thẩm quyền Mỗi trường tiểu học có từ 1 đến 2 Phó Hiệu trưởng, trường hợp đặc biệt có thể được bổ nhiệm hoặc công nhận thêm

Theo Điều 21 Điều lệ trường tiểu học, phó hiệu trưởng trường tiểu học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây ” [5, tr 12].:

“- Chịu trách nhiệm điều hành công việc do Hiệu trưởng phân công;

- Điều hành hoạt động của nhà trường khi được Hiệu trưởng uỷ quyền;

- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lí; tham gia giảng dạy bình quân 4 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định”

1.4.3 Những yêu cầu cơ bản đối với đội ngũ CBQL trường Tiểu học

Đội ngũ CBQLtrường tiểu học là những người thúc đẩy sự thành công của tất

cả CB, GV, NV, HSSV trong nhà trường thông qua:

- Thực hiện sứ mạng, tầm nhìn của nhà trường;

- Ủng hộ, nuôi dưỡng và duy trì văn hoá nhà trường;

- Quản lý, điều hành và phân phối các nguồn lực;

- Kết hợp chặt chẽ với gia đình và cộng đồng;

- Giáo dục hành vi đạo đức mang tính trung thực và công bằng;

- Giúp họ hiểu biết, ứng xử các vấn đề chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hoá và

xã hội

Yêu cầu cơ bản đối với Hiệu trưởng là đáp ứng được chuẩn nghề nghiệp đối

với chuẩn Hiệu trưởng trường tiểu học, cụ thể

1.5 Chuẩn nghề nghiệp của Hiệu trưởng trường tiểu học

Yêu cầu về chuẩn nghề nghiệp của Hiệu trưởng tiểu học cần đáp ứng những tiêu chuẩn sau [5, tr.13-16]:

* Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp

Trang 39

+ Tích cực tham gia các hoạt động chính trị - xã hội, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân;

+ Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí; thực hành tiết kiệm

- Tiêu chí 2: Đạo đức nghề nghiệp

+ Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; trung thực, tận tâm với nghề nghiệp và có trách nhiệm trong quản lý nhà trường;

+ Hoàn thành nhiệm vụ được giao và tạo điều kiện cho cán bộ , giáo viên, nhân viên thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ; chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của nhà trường;

+ Không lợi dụng chứ c quyền vì mu ̣c đích vu ̣ lơ ̣i;

+ Được tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và cộng đồng tín nhiệm;

là tấm gương trong tập thể sư phạm nhà trường

- Tiêu chí 3: Lối sống, tác phong

+ Có lối sống lành mạnh, văn minh, phù hợp với bản sắc văn hoá dân tộc và môi trường giáo dục;

+ Sống trung thực, giản dị, nhân ái, độ lượng, bao dung;

+ Có tác phong làm việc khoa học, sư phạm

- Tiêu chí 4: Giao tiếp và ứng xử

+ Thân thiện, thương yêu, tôn trọng và đối xử công bằng với học sinh;

+ Gần gũi, tôn trọng, đối xử công bằng, bình đẳng và giúp đỡ cán bộ, giáo viên, nhân viên;

+ Hợp tác và tôn trọng cha mẹ học sinh;

+ Hợp tác với chính quyền địa phương và cộng đồng xã hội trong giáo dục học sinh

- Tiêu chí 5: Học tập, bồi dưỡng

+ Học tập, bồi dưỡng và tự rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm; năng lực lãnh đạo và quản lý nhà trường;

+ Tạo điều kiện và giúp đỡ cán bộ, giáo viên, nhân viên học tập, bồi dưỡng

và rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức; năng lực chuyên môn, nghiệp

vụ sư phạm

* Tiêu chuẩn 2: Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sƣ phạm

- Tiêu chí 6: Trình độ chuyên môn

Trang 40

+ Đạt trình độ chuẩn đào tạo của nhà giáo theo quy định của Luật Giáo dục đối với giáo viên tiểu học;

+ Hiểu biết chương trình và kế hoạch giáo dục ở tiểu học;

+ Có năng lực chỉ đạo, tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục có hiệu quả phù hợp đối tượng và điều kiện thực tế của nhà trường, của địa phương;

+ Có kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, y tế, văn hóa, xã hội liên quan đến giáo dục tiểu học

- Tiêu chí 7: Nghiệp vụ sư phạm

+ Có khả năng vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học và giáo dục nhằm phát huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh;

+ Có khả năng hướng dẫn tư vấn, giúp đỡ giáo viên về chuyên môn, nghiệp vụ

sư phạm của giáo dục tiểu học;

+ Có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc nơi công tác phục vụ cho hoạt động quản lý và giáo dục

* Tiêu chuẩn 3: Năng lực quản lý trường tiểu học

- Tiêu chí 8: Hiểu biết nghiệp vụ quản lý

+ Hoàn thành chương trình bồi dưỡng CBQL giáo dục theo quy định;

+ Vận dụng được các kiến thức cơ bản về lý luận và nghiệp vụ quản lý trong lãnh đạo, quản lý nhà trường

- Tiêu chí 9: Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển

+ Xây dựng và tổ chức thực hiện đầy đủ kế hoạch năm học

- Tiêu chí 10: Quản lý tổ chức bộ máy, cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường

+ Thành lập, kiện toàn tổ chức bộ máy, bổ nhiệm các chức vụ quản lý theo quy định; quản lý hoạt động của tổ chức bộ máy nhà trường nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục;

+ Sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, đánh giá xếp loại, khen thưởng kỷ luật, thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ, viên chức theo quy định;

Ngày đăng: 16/11/2017, 10:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học Ban hành kèm theo Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT ngày 04/05/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học Ban hành kèm theo Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT ngày 04/05/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Điều lệ trường tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2010
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Quy định chuẩn Hiệu trưởng trường tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 14/2011/TT-BGDĐT Ngày 08 tháng 4 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định chuẩn Hiệu trưởng trường tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 14/2011/TT-BGDĐT Ngày 08 tháng 4 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2011
6. Vũ Đình Chuẩn (2007), Phát triển đội ngũ giáo viên tin học trường THPT theo quan điểm chuẩn hóa xã hội hóa, Luận án Tiến sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển đội ngũ giáo viên tin học trường THPT theo quan điểm chuẩn hóa xã hội hóa
Tác giả: Vũ Đình Chuẩn
Năm: 2007
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Tổ chức (2004), Nghiệp vụ công tác tổ chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ công tác tổ chức
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Tổ chức
Năm: 2004
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương 2 khóa VIII, tr. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương 2 khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1997
12. Đảng cộng sản Việt Nam (2004), Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục, Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư TW Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dụ
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2004
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
16. Đảng cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáo ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáo ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2013
17. Nguyễn Văn Đệ (2010), Phát triển đội ngũ giảng viên các trường Đại học ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Đại học, Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển đội ngũ giảng viên các trường Đại học ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Đại học
Tác giả: Nguyễn Văn Đệ
Năm: 2010
19. Trần Đình Hoan (2004), Về QHCB lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Kỷ yếu đề tài cấp nhà nước ĐTĐL - 2002/07, do Ban Tổ chức Trung ương là cơ quan chủ trì, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về QHCB lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Tác giả: Trần Đình Hoan
Năm: 2004
24. Lênin V. I. (1975), Toàn tập, tập 6, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Lênin V. I
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1975
25. Lênin V. I. (1975), Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Lênin V. I
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1975
26. Lênin V. I. (1978), Toàn tập, tập 4, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Lênin V. I
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
27. Lênin V. I. (1978), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Lênin V. I
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
28. Lênin V. I. (1978), Toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Lênin V. I
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
29. Lênin V. I. (1979), Toàn tập, tập 8, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Lênin V. I
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1979
30. Lênin V. I. (1997), Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Lênin V. I
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1997
31. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2011), Đại cương khoa học quản lý, NXB ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: NXB ĐHQG HN
Năm: 2011
32. Luật Giáo dục năm 2005 (2006), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 33. Luật Giáo dục bổ sung và sửa đổi 2009 (2010), Nhà xuất bản Chính trị Quốcgia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục năm 2005 "(2006), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 33. "Luật Giáo dục bổ sung và sửa đổi 2009
Tác giả: Luật Giáo dục năm 2005 (2006), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 33. Luật Giáo dục bổ sung và sửa đổi 2009
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Bản chất quá trình quản lý - Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Hình 1.1. Bản chất quá trình quản lý (Trang 24)
Bảng 2.1: Quy mô phát triển giáo dục tiểu học huyện Ninh Giang - Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.1 Quy mô phát triển giáo dục tiểu học huyện Ninh Giang (Trang 55)
Bảng 2.2: Đánh giá của CBQL và GV về tầm quan trọng   của quy hoạch nguồn CBQL trường tiểu học - Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.2 Đánh giá của CBQL và GV về tầm quan trọng của quy hoạch nguồn CBQL trường tiểu học (Trang 60)
Bảng 2.3. Đánh giá về việc triển khai quy trình quy hoạch nguồn CBQL - Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.3. Đánh giá về việc triển khai quy trình quy hoạch nguồn CBQL (Trang 62)
Bảng 2.4. Đánh giá về thực trạng xây dựng kế hoạch quy hoạch nguồn CBQL các trường tiểu học huyện Ninh Giang - Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.4. Đánh giá về thực trạng xây dựng kế hoạch quy hoạch nguồn CBQL các trường tiểu học huyện Ninh Giang (Trang 64)
Bảng 2.5. Đánh giá về thực trạng thực hiện kế hoạch quy hoạch nguồn CBQL các trường tiểu học huyện Ninh Giang - Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.5. Đánh giá về thực trạng thực hiện kế hoạch quy hoạch nguồn CBQL các trường tiểu học huyện Ninh Giang (Trang 66)
Bảng 2.6. Đánh giá việc thực hiện lựa chọn nguồn CBQL trường tiểu học huyện Ninh Giang - Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.6. Đánh giá việc thực hiện lựa chọn nguồn CBQL trường tiểu học huyện Ninh Giang (Trang 68)
Bảng 2.7. Đánh giá về công tác tổ chức đào tạo, bồi dƣỡng chuyên môn, nghiệp vụ sƣ phạm, nghiệp vụ quản lý, - Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.7. Đánh giá về công tác tổ chức đào tạo, bồi dƣỡng chuyên môn, nghiệp vụ sƣ phạm, nghiệp vụ quản lý, (Trang 72)
Bảng 2.8. Đánh giá về thực trạng bố trí, phân công, sử dụng nguồn CBQL sau quy hoạch - Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.8. Đánh giá về thực trạng bố trí, phân công, sử dụng nguồn CBQL sau quy hoạch (Trang 74)
Bảng 2.9. Đánh giá về thực trạng bổ nhiệm lại, luân chuyển và bổ nhiệm CBQL từ cán bộ nguồn sau khi quy hoạch - Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.9. Đánh giá về thực trạng bổ nhiệm lại, luân chuyển và bổ nhiệm CBQL từ cán bộ nguồn sau khi quy hoạch (Trang 76)
Bảng 2.10. Đánh giá thực trạng kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác quy hoạch nguồn CBQL hiện nay tại huyện Ninh Giang - Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.10. Đánh giá thực trạng kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác quy hoạch nguồn CBQL hiện nay tại huyện Ninh Giang (Trang 78)
Bảng 2.11. Các yếu tố khách quan ảnh hưởng tới công tác quy hoạch CBQL - Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.11. Các yếu tố khách quan ảnh hưởng tới công tác quy hoạch CBQL (Trang 80)
Bảng 3.2. Đánh giá của CBQL và GV về tính khả thi của các biện pháp đề xuất - Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 3.2. Đánh giá của CBQL và GV về tính khả thi của các biện pháp đề xuất (Trang 100)
Sơ đồ 3.1: Mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi - Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Sơ đồ 3.1 Mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi (Trang 102)
4  Hình thức đánh giá, lựa chọn cán bộ nguồn - Cơ sở khoa học quy hoạch nguồn cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện ninh giang, tỉnh hải dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
4 Hình thức đánh giá, lựa chọn cán bộ nguồn (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm