1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đổi mới giảng dạy đại học chuyên ngành: thị trường là thước đo đánh giá

11 187 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 77,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới giảng dạy đại học chuyên ngành: thị trường là thước đo đánh giáĐổi mới giảng dạy đại học chuyên ngành: thị trường là thước đo đánh giáĐổi mới giảng dạy đại học chuyên ngành: thị trường là thước đo đánh giáĐổi mới giảng dạy đại học chuyên ngành: thị trường là thước đo đánh giáĐổi mới giảng dạy đại học chuyên ngành: thị trường là thước đo đánh giáĐổi mới giảng dạy đại học chuyên ngành: thị trường là thước đo đánh giá

Trang 1

Đổi mới giảng dạy đại học chuyên ngành: thị trường là thước đo đánh giá

Dẫn nhập

Bài viết thuộc nhóm nội dung thứ nhất: Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong giáo dục đại học Cụ thể, nội dung bài viết phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm đưa thị trường trở thành thước đo đánh giá trong giảng dạy đại học chuyên ngành Quan điểm giáo dục lấy người học làm trung tâm là một bước đi đúng đắn, tuy nhiên, phân tích thực trạng cho thấy chính người học lại không biết mình thực sự cần

gì Vì vậy, thị trường phải là thước đo đánh giá, qua đó, cải thiện chất lượng dạy và học đối với đại học chuyên ngành Từ cơ sở phân tích này, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hiện thực hóa ý tưởng này

1 Tóm tắt

Trang 2

Mục tiêu chính của bài viết thuộc nhóm nội dung thứ nhất: Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong giáo dục đại học chuyên ngành Trong những năm qua, quan điểm giáo dục đại học lấy người học làm trung tâm đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực

và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy, thực

tế phát sinh một vấn đề rất cần được quan tâm xem xét: đa số sinh viên ham học hỏi

nhưng chính họ lại không biết mình thực sự cần gì

Sinh viên muốn học rất nhiều kiến thức, kỹ năng nhưng lại không biết, qua đó, không chú trọng trang bi những kiến thức, kỹ năng cần thiết nhất phục vụ chuyên ngành mà mình đã chọn Thời gian là có giới hạn, vì vậy, sinh viên biết rất nhiều nhưng lại không chuyên về một lĩnh vực Hệ quả là, khi tốt nghiệp và bắt đầu sự nghiệp, họ gặp nhiều khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu thực tiễn Lược khảo lý thuyết chỉ ra, việc người lao động thiếu những kiến thức, kỹ năng phục vụ cho công việc thực tế là một trong những nhân tố chính làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp của lao động có trình độ

Phân tích thực trạng giáo dục đại học hiện nay cho thấy, phương pháp giảng dạy, cách thức tổ chức, đánh giá sinh viên hiện nay còn nhiều hạn chế trong việc trang

bị kiến thức, kỹ năng cần thiết cho sinh viên Vì vậy, nội dung giảng dạy chậm đổi mới, cập nhật, chưa phù hợp với yêu cầu mà môi trường thực tế đặt ra

Trong sự nghiệp của mỗi người, những bước đầu tiên là quan trọng nhất, vì vậy, thị trường phải là thước đo đánh giá trong giảng dạy đại học chuyên ngành Qua đó, người học biết mình cần phải chuẩn bị gì và người thầy cũng hiểu được mình cần phải giảng dạy như thế nào để phù hợp với môi trường thực tế

Chính vì những lý do trên, mục tiêu của bài viết nhằm phân tích thực trạng và

đề xuất một số ý tưởng nhằm đưa thị trường, như một thước đo đánh giá, gắn chặt hơn vào quá trình giảng dạy đại học chuyên ngành Cụ thể, bên cạnh những mục tiêu dài hạn, bài viết đề xuất một số giải pháp trong ngắn hạn như sau:

Đổi mới kì thực tập thực tế tại doanh nghiệp Kì thực tập hiện nay đa số các trường đại học đều thực hiện vào học kì cuối của năm học cuối Theo đó, tác giả đề xuất là nên có hai kì thực tập thực tế tại doanh nghiệp Kì thực tập đầu được thực hiện vào lúc sinh viên mới vào chuyên ngành Kì thực tập này chỉ đánh giá tính chuyên cần của sinh viên Qua đó, sinh viên biết mình cần trang bị những gì, điều chỉnh những gì

để phù hợp với nhu cầu thực tế Kì thực tập thứ hai sẽ là kì đánh giá quan trọng, xem

Trang 3

sinh viên sau quá trình trang bị thích ứng như thế nào đối với công viêc thực tế Vì vậy, đánh giá của doanh nghiệp phải đóng vai trò quan trọng trong kì thực tập này

Các buổi hội thảo, tư vấn nghề ngiệp trở thành một phần bắt buộc, phải được

tổ chức thường xuyên, có chất lượng trong chương trình học Kết hợp cùng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia quá trình đào tạo, việc tổ chức thường xuyên và

có chất lượng hoạt động này là rất khả thi

Tạo ra cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia quá trình đào tạo Trước tiên, cơ sở giáo dục cũng như Đoàn thanh niên cần có những chính sách vinh danh các doanh nghiệp tham gia tích cực; kiến nghị Bộ Tài Chính có chính sách ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp này

Để thực hiện mục tiêu đề ra, ngoài phần tóm tắt, các phần còn lại của bài viết được cấu trúc như sau: Phần 2 là cơ sở lý thuyết, phần 3 nhằm phân tích thực trạng và phần 4 là kết luận và đề xuất giải pháp

2 Cơ sở lý thuyết

Khám phá các nhân tố tác động đến tỷ lệ thất nghiệp của một quốc gia là chủ đề được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu (Branson & Leibbrandt, 2013; Hanapi & Nordin, 2014; Ismail & ctg, 2011; Støren & Aamodt, 2010; Weligamage & Siengthai, 2003) Tuy nhiên, các nghiên cứu lại dựa trên những cơ sở lý thuyết, lập luận khác nhau Nghiên cứu của Hanapi & Nordin (2014) chỉ ra chất lượng sinh viên tốt nghiệp, năng lực giảng viên và chất lượng giáo dục là ba nhân tố chính tác động đến tỷ lệ thất nghiệp Ismail & ctg (2011) kết luận nhân lực có trình độ nhưng không đáp ứng được yêu cầu thực tế là một nguyên nhân chính yếu dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao Weligamage & Siengthai (2003) luận giải, thực trạng các trường đại học chưa cung các kiến thức, kỹ năng lao động cần thiết phục vụ nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao Støren & Aamodt (2010) nhận định rằng cơ hội được tuyển dụng của sinh viên tốt nghiệp phụ thuộc vào mức độ chương trình học của họ có liên quan như thế nào với môi trường lao động thực tiễn

Có thể nhận định, mặc dù các nghiên cứu dựa trên những lập luận khác nhau song đều cho thấy việc sinh viên tốt nghiệp không đáp ứng được yêu cầu thực tế hay chương trình học chưa gắn liền với thực tế là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thất nghiệm cao Tỷ lệ cử nhân đại học thất nghiệp cao là do họ thiếu những kỹ năng mà công việc thực tế yêu cầu (Hanapi & Nordin, 2014) Những nhà tuyển dụng nhận định rằng những cử nhân đại học không đủ kiến thức và kỹ năng cần

Trang 4

thiết cho công việc nên hiệu quả làm việc không cao (Støren & Aamodt, 2010; Weligamage & Siengthai, 2003) Điều này dẫn đến nghịch lý là mặc dù tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học thất nghiệp cao song lại thiếu hụt nhân lực trình độ cao ở hầu hết tất

cả các lĩnh vực (Hanapi & Nordin, 2014)

Như vậy, lý thuyết cho thấy, để sinh viên tốt nghiệp có khả năng được tuyển dụng và thành công trong môi trường làm việc thực tế, đổi mới chương trình đào tạo theo hướng gắn kết hơn với môi trường thực tế là rất quan trọng và cấp bách Ở các phần tiếp theo của bài viết, tác giả phân tích thực trạng và thảo luận một số giải pháp nhằm đưa thị trường, như một thước đo đánh giá, gắn kết hơn với chương trình đào tạo đại học chuyên ngành hiện nay

3 Thực trạng

3.1 Tình hình thất nghiệp của lao động có trình độ chuyên môn

Số lượng sinh viên ra trường không có việc làm hiện nay rất đáng lo ngại Thực trạng này gây ra nhiều lãng phí cho gia đình và xã hội Theo dự báo của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, năm 2017, số lượng người thất nghiệp có bằng cử nhân tiếp tục gia tăng, hơn 200.000 người so với năm 2016 [ CITATION Báo17 \l 1033 ]

Biểu đồ 1: Tỷ lệ lao động thât nghiệp có trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật

Nguồn: Đỗ Văn Dũng (2017)

Một nghịch lý là sinh viên được đào tạo ở trình độ càng cao thì tỷ lệ thất nghiệp càng lớn Đồ thị 1 trên đây cho thấy, nhóm lao động có trình độ từ đại học trở lên

Trang 5

chiếm thị phần lớn nhất, khoảng 44,7% số lao động thất nghiệp có trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật Tính luôn tỷ lệ lao động có trình độ từ cao đẳng trở thì tỷ lệ là hơn 80% số lao động thất nghiệp có trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật

3.2 Nguyên nhân

Phân tích các nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, các học giả đưa ra rất nhiều lập luận khác nhau Ở một góc độ, ông Đào Quang Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, luận giải ba nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng sinh viên tốt nghiệp không việc làm hiện nay

[ CITATION Báo17 \l 1033 ]:

Thứ nhất, sinh viên lựa chọn ngành nghề không xuất phát từ đam mê mà là từ gia đình, bố mẹ định hướng Nhiều phụ huynh vẫn theo quan điểm cho con cái học ngành nghề gì để vào làm nhà nước, sau này được nhàn thân, nhưng thực tế thì không phải như vậy

Thứ hai, tư vấn giới thiệu việc làm và hướng nghiệp cho sinh viên trong nhà trường chưa được tốt; thông tin thị trường lao động, nhất là việc kết nối cung và cầu thị trường lao động còn nhiều hạn chế Nhiều sinh viên không nắm được các doanh nghiệp

họ đang cần loại lao động nào, trình độ nào để hướng sinh viên học ngành nghề đó

Thứ ba, chất lượng đào tạo tại các trường, cơ sở giáo dục đào tạo cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp

Ở một góc độ khác, theo PGS.TS Đỗ Văn Dũng (2017), Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM, những vấn đề chính dẫn đến tình trạng thất nghiệp như hiện nay bao gồm:

Thứ nhất, tỷ lệ nguồn nhân lực cung vượt cầu hoăc cơ cấu cung – cầu không cân đối Hiện nay cơ sở dữ liệu về nguồn đào tạo nhân lực cho từng ngành nghề cụ thể chưa gắn liền với nhu cầu nhân lực của xã hội và chưa được phổ biến; công tác điểu chỉnh quy mô đào tạo, chỉ tiêu tuyển sinh… còn nhiều hạn chế Theo đó, đa số các trường đại học chỉ xác định chỉ tiêu dựa trên năng lực hiện có

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu thực tế Với con số hơn bốn trăm trường đại học và cao đẳng, chất lượng đào tạo ở mỗi trường là khác nhau Do đó, không phải tổ chức đào tạo nào cũng đảm bảo được chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội Không phải trường đại học, cao đẳng nào cũng đủ nhân lực để

Trang 6

có thể xây dựng và triển khai chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội Ngay cả những trường đại học tốt cũng không thể đảm bảo đáp ứng được nhu cầu xã hội 100%

Vì vậy vấn đề này là chất lượng đào tạo còn nhiều bất cập là tất yếu

Thứ ba, sự biến đổi không ngừng của nền kinh tế, dẫn đến nhu cầu nhân lực thay đổi Đây là nguyên nhân khách quan của sự phát triển kinh tế, kỹ thuật Thời gian đào tạo người lao động có trình độ đại học trung bình là bốn năm Sau thời gian đào tạo, sự biến động của nhu cầu nhân lực là việc tất yếu Trong những năm gần đây, khi

kỹ thuật công nghệ phát triển mạnh, nguồn nhân lực đã thay đổi cơ cấu Những dây chuyền sản xuất tự động đã thay thế rất nhiều nhân lực Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng sẽ làm thay đổi lớn cơ cấu nhân lực Vì vậy, không khác hơn là các đơn

vị đào tạo và người lao động phải tự thích nghi với sự thay đổi này

Thư tư, tư vấn hướng nghiệp còn chưa được chú trọng dẫn đến sự hiểu biết hạn chế của học sinh lẫn phụ huynh về cơ cấu ngành nghề và tầm quan trọng của các bậc đào tạo Việc truyền tải nội dung hướng nghiệp chưa được quan tâm đúng mức Ở các trường THPT chỉ có một vài giáo viên hướng nghiệp Các giáo viên hướng nghiệp cũng chỉ được “tập huấn” “cưỡi ngựa xem hoa” cho có như mỗi lần tập huấn “cán bộ coi thi” Việc hướng nghiệp cần được chuyên nghiệp hóa, cần được quan tâm nhiều hơn Tư vấn hướng nghiệp không chỉ tư vấn cho học sinh, mà còn phải tư vấn cho phụ huynh Lâu nay, các trường đại học tự thân vận động, tự tổ chức tư vấn và quảng bá Một số trường thì chỉ lo quảng cáo mà quên mất trách nhiệm của mình là chuyên gia tư vấn, cần mang lại sự hiểu biết đúng đắn, trung thực về ngành nghề và các bậc đào tạo Đây cũng là nguyên nhân khiến cho nhiều em học sinh và phụ huynh lung túng với quyết định chọn ngành, chọn nghề của mình Quan điểm phải học đại học mới thành công cứ dẫn dắt thế hệ này rồi đến thế hệ khác, dẫn đến việc ai cũng muốn vào đại học

Trong khi đó, GS.VS Đào Trọng Thi, nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cho rằng, thực trạng này xuất phát từ có ba nguyên nhân: tỷ lệ thất nghiệp cũng phụ thuộc nhiều vào tốc độ tăng trưởng kinh tế; đào tạo nhân lực không phù hợp với thị trường lao động, chưa gắn đến quy hoạch phát triển nguồn nhân lực và trách nhiệm của ngành GD khi chất lượng đào tạo nhân lực của các cơ sở đào tạo không đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế

[ CITATION Báo171 \l 1033 ]

Nhận xét

Trang 7

Có thể nhận thấy, dựa trên những lập luận khác nhau, các chuyên gia đã luận giải các nguyên nhân khác nhau dẫn đến thực trạng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp thất nghiệp cao tại Việt Nam trong những năm qua Dù vậy, cũng như lược khảo lý thuyết, các nguyên nhân trên có nhiều nét tương đồng, trong đó phần lớn nguyên nhân xuất phát từ hạn chế là người học và cơ sở giáo dục chưa nắm bắt được nhu cầu của thị trường, chưa lấy thị trường làm thước đo đánh giá Chẳng hạn, nguyên nhân tư vấn hướng nghiệp còn hạn chế, chất lượng đào tạo tại các trường, cơ sở giáo dục đào tạo hay chất lượng nguồn nhân lực cung không phù hợp với chất lượng cầu đều xuất phát

từ việc dạy và học chưa gắn với thị trường Nhà trường chưa thật sự gắn kết với doanh nghiệp, chưa xem phản hồi của doanh nghiệp là tiêu chuẩn để đổi mới chương trình Vì vậy, nhu cầu ngày càng cao của môi trường làm việc thực tế chưa được phản ánh trong nội dung giảng dạy

Người học, cũng do không nắm bắt được yêu cầu của công việc thực tế trong tương lai nên cũng không chủ động trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết Năm

2016, tác giả có thực hiện khảo sát các sinh viên thuộc các chuyên ngành kinh tế thuộc khu vực công phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của bài báo phân tích xu hướng lựa chọn khu vực làm việc của sinh viên các chuyên ngành thuộc khu vực công tham dự hội nghị nhà kinh tế trẻ lần III do Đoàn Thanh niên TP.HCM tổ chức Mặc dù không phải trọng tâm là chủ đề của bài viết này song kết quả khảo sát lại phản ánh một thực trạng khác

Kết quả khảo sát chỉ ra, sinh viên các chuyên ngành này thực sự chưa biết họ cần trang bị những gì để đáp ứng yêu cầu công việc thực tế của chuyên ngành mà mình

lựa chọn Khi được hỏi những kiến thức, kỹ năng nào mà bạn thấy cần thiết nhất cho

công việc thực tế, ngoài kiến thức chuyên môn, anh văn và tin học, các kỹ năng khác

gần như không có sự hội tụ Trong khi đó, câu hỏi tương tự với những cựu sinh viên đã tốt nghiệp đang làm việc thực tế lại có tính hội tụ rất cao Trong đó, anh văn và kỹ năng giải quyết vấn đề được đánh giá là quan trọng nhất Chị Trần Thị Mỹ Linh, cựu sinh viên khoa Tài Chính Công khóa 31, cán bộ thuế Chi Cục Thuế Quận Bình Tân và chị Võ Hoàng Anh Thảo, thủ khoa đầu ra Khoa Tài Chính Công khóa 38, hiện đang là chuyên viên tư vấn thuế công ty KPMG Việt Nam, đều nhận định, sinh viên Khoa Tài Chính Công được trang bị rất tốt về kiến thức chuyên môn ở từng loại thuế riêng rẽ Tuy nhiên, các sinh viên của khoa lại lúng túng trong việc kết hợp, vận dụng kiến thức các loại thuế để giải quyết một tình huống cụ thể Vì vậy, khả năng được tuyển dụng

Trang 8

vào cơ quan thuế hay các công ty tư vấn thuế hàng đầu còn chưa tương xứng với tiềm năng

Hơn nữa, thực tế cho thấy, đưa thị trường làm thước đo đánh giá sẽ là tiền đề cho những giải pháp khác Ở đơn vị tác giả đang công tác, một vài nỗ lực thay đổi nhưng không xuất phát từ thị trường đã không mang lại hiệu quả như mong đợi Trong thời gian qua, nhận thấy anh văn là kỹ năng quan trọng mà sinh viên cần được trang bị, Khoa Tài Chính Công, Câu lạc bộ Anh Văn Apple và Trung tâm Anh ngữ JOLO English thực hiện Đề án nâng cao trình độ Anh văn cho sinh viên khoa Tài chính công Bước đầu tiên của đề án này là tổ chức thi thử để đánh giá, phân loại các bạn sinh viên

để có kế hoạch đào tạo phù hợp Tuy nhiên, chỉ có 16 sinh viên tham gia thi thử Rõ ràng, các bạn biết nhưng chưa thấy được tầm quan trọng của ngoại ngữ trong công việc thực tế Tác giả tin rằng, chỉ khi các bạn sinh viên được trải nghiệm công việc thực tiễn hoặc ít nhất là được chia sẻ từ chính các công ty tuyển dụng uy tín mới tạo ra động lực

để các bạn thay đổi

4 Kết luận và đề xuất giải pháp

4.1 Kết luận

Như vậy, những phân tích trên cho thấy, quan điểm giáo dục lấy người học làm trung tâm và thị trường là thước đo đánh giá là cần thiết, phù hợp với bối cảnh giảng dạy đại học chuyên ngành hiện nay Nhà trường cần phối hợp chặt chẽ với khu vực doanh nghiệp Qua đó, những phản hồi của doanh nghiệp sẽ là những thước đo để nhà trường

và người học biết mình cần phải làm gì để đáp ứng nhu cầu thực tế Thực hiện hiệu quả giải pháp này sẽ tiền đề để giải quyết những hạn chế khác

Tác giả nhận định rằng, không có một phương pháp học tập và giảng dạy nào là phù hợp với tất cả chuyên ngành Chỉ khi nhà trường nhận phản hồi từ doanh nghiệp và lấy đó làm tiêu chuẩn để đổi mới phương pháp, nội dung đào tạo mới mang lại hiệu quả cho từng chuyên ngành cụ thể Chẳng hạn, với chuyên ngành thuế, khi nhận được phản hồi từ môi trường làm việc thực tế, bản thân tác giả tin rằng, việc kết hợp giảng dạy truyền thống và giảng dạy tình huống sẽ mang lại kết quả tích cực

4.2 Mục tiêu dài hạn

Như vậy, phân tích thực trạng cho thấy, sự gắn kết giữa nhà trường và môi trường làm việc thực tế hiện nay là rất hạn chế Để khắc phục, các giải pháp cần được thực hiện đồng bộ, lâu dài Trong dài hạn, chúng ta cần hướng đến một số mục tiêu như sau:

Trang 9

Lấy thị trường làm thước đo đánh giá Xây dựng cơ chế đưa đánh giá của doanh nghiệp trở thành một phần đánh giá quan trọng quá trình học tập của sinh viên bên cạnh phương pháp đánh giá truyền thống Qua đó, sinh viên không chỉ được đánh giá về kiến thức chuyên môn mà còn ở khả năng vận dụng kiến thức vào tình huống thực tế

Xây dựng kênh trao đổi thường xuyên giữa nhà trường, doanh nghiệp và người học Qua đó, nhà trường biết được doanh nghiệp cần gì, đánh giá sinh viên của mình ra sao để có những thay đổi thích hợp Người học cũng biết được mình cần trang

bị những gì để chủ động học tập

Tạo ra những cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia quá trình đào tạo Doanh nghiệp hoạt động vì lợi nhuận, vì vậy, chính phủ cần có chính sách khuyến khích, thúc đẩy động cơ doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo

4.3 Giải pháp ngắn hạn

Những mục tiêu trên là những mục tiêu lâu dài, cần thời gian và nhiều nỗ lực để hiện thực hóa Trong bối cảnh thực tế hiện nay, tác giả xin đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:

Đổi mới kì thực tập thực tế tại doanh nghiệp Kì thực tập hiện nay đa số các trường đại học đều thực hiện vào học kì cuối của năm học cuối Điều này dẫn đến một

số vấn đề Người học, sau khi biết được yêu cầu của công việc thực tế, không còn thời gian để trang bị lại kiến thực, kỹ năng mình còn thiếu Theo đó, tác giả đề xuất là nên

có hai kì thực tập thực tế tại doanh nghiệp Kì thực tập đầu tiên được thực hiện vào lúc sinh viên mới vào chuyên ngành Kì thực tập này chỉ đánh giá tính chuyên cần của sinh viên Qua đó, sinh viên biết mình cần trang bị những gì, điều chỉnh những gì để phù hợp với nhu cầu thực tế Kì thực tế thứ hai sẽ là kì đánh giá quan trọng, xem sinh viên sau quá trình trang bị thích ứng như thế nào đối với công viêc thực tế Vì vậy, đánh giá của doanh nghiệp phải đóng vai trò quan trọng trong kì thực tập này

Các buổi hội thảo, tư vấn nghề nghiệp trở thành một phần bắt buộc, phải được tổ chức thường xuyên, có chất lượng trong chương trình học Thực tế cho thấy, các cơ sở giáo dục có tổ chức các buổi hội thảo, tư vấn nghề nghiệp cho sinh viên Tuy nhiên, hoạt động này tổ chức không thường xuyên, chủ yếu dựa vào mối quan hệ của nhà trường và thiện chí của doanh nghiệp Vì vậy, hiệu quả đạt được không như mong đợi Kết hợp cùng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia quá trình đào tạo, việc

tổ chức thường xuyên và có chất lượng hoạt động này là rất khả thi

Trang 10

Tạo ra cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia quá trình đào tạo Trước tiên, cơ sở giáo dục cũng như Đoàn thanh niên cần có những chính sách vinh danh các doanh nghiệp tham gia tích cực vào quá trình đào tạo như vinh danh, khen thưởng các doanh nghiệp vì sự nghiệp giáo dục, ưu tiên tuyển dụng các sinh viên xuất sắc Từ đó,

cơ sở giáo dục cũng như đoàn thành niên tiến tới kiến nghị Bộ Tài Chính có chính sách

ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp này

4.4 Hạn chế

Tuy nhiên, những thảo luận của bài viết này chủ yếu là ở những chuyên ngành tương đối đặc thù như thuế, kế toán, ngân hàng bởi sự tương đồng của các doanh nghiệp trong các chuyên ngành này Theo tác giả, chuyên ngành thuế là chuyên ngành thích hợp để thí điểm các giải pháp này Ở những bước nỗ lực đầu tiên, khoa Tài Chính Công đang từng bước kết hợp cùng các các công ty kiểm toán, tư vấn thuế hàng đầu như PricewaterhouseCoopers, Deloitte tổ chức các buổi hội thảo tư vấn nghề nghiệp thường xuyên cho các sinh viên chuyên ngành thuế Tuy nhiên, như đã trình bày, các

nỗ lực này chủ yếu là từ mối quan hệ của khoa cũng như thiện chí của các doanh nghiệp Muốn thực hiện hiệu quả lâu dài, việc xây dựng cớ chế thúc đẩy, vinh danh doanh nghiệp vì sự nghiệp giáo dục là điều cần thiết

Tài Liệu Tham khảo

Ngày đăng: 16/11/2017, 08:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w