I. KHỐI I.Câu 1.1 (3,0 điểm): Trình bày đối tượng, nhiệm vụ và ý nghĩa của việc nghiên cứu cảnh quan. Đối tượng nghiên cứu của cảnh quan học là các tổng thể địa lý. Nghiên cứu cấu trúc, sự phát triển và sự phân bố của chúng. Nói khác đi, cảnh quan học là 1 phần của địa lý tự nhiên nghiên cứu về sự phân hóa lãnh thổ của vỏ địa lý.Nhiệm vụ nghiên cứu của cảnh quan học là:Cảnh qua có thể lần lượt phân chia ra thành các tổng thể địa lí tổng hợp đơn giản hơn ( địa phương, dạng, diện) chúng được coi là những bộ phận cấu thành nên hình thái cảnh quan, nghiên cứu những cấu tạo hình thái này nhiệm vụ của 1 bộ phận học thuyết của cảnh quan > hình thái học cảnh quan.Các tổng thể địa lí được nghiên cứu cả theo cá biệt và theo kiểu.
Trang 1I KHỐI I.
Câu 1.1 (3,0 điểm): Trình bày đối tượng, nhiệm vụ và ý nghĩa của việc
nghiên cứu cảnh quan
*Đối tượng nghiên cứu của cảnh quan học là các tổng thể địa lý Nghiên cứu cấu trúc, sự phát triển và sự phân bố của chúng Nói khác đi, cảnh quan học
là 1 phần của địa lý tự nhiên nghiên cứu về sự phân hóa lãnh thổ của vỏ địa lý
*Nhiệm vụ nghiên cứu của cảnh quan học là:
-Cảnh qua có thể lần lượt phân chia ra thành các tổng thể địa lí tổng hợp đơn giản hơn ( địa phương, dạng, diện) chúng được coi là những bộ phận cấu thành nên hình thái cảnh quan, nghiên cứu những cấu tạo hình thái này nhiệm vụ của 1 bộ phận học thuyết của cảnh quan -> hình thái học cảnh quan
-Các tổng thể địa lí được nghiên cứu cả theo cá biệt và theo kiểu
-Nghiên cứu về quy luật cơ bản phân hóa địa lí về lãnh thổ là nhiệm vụ
chuyển qua cảh quan học
Giữa địa lí tự nhiên và cảnh quan học là 2 bộ phận ko tách rời nhau , liên quan kế tục nhau của 1 khoa học những kiến thức cơ bản của địa lí đại cương là những điều kiện chin muồi đầu tiên để nghiên cứu cảnh quan học Cảnh quan học là sự tiếp diễn của địa lí đại cương Trong đó những điểm chung nhất của địa lí đại cương có thể giải thích cho những đặc điểm của địa lí địa phương
*Ý nghĩa của việc nghiên cứu cảnh quan học:
-Cảnh quan học có ý nghĩa thực tiễn lớn lao nhiều mặt, có quan hệ trực tiếp tới vấn đề sự dụng tổng hợp, bảo vệ và phục hồi những nguồn lợi thiên
nhiên ở các đới, các khu vực và các vùng khác nhau
+ Biến môn địa lí tự nhiên khu vực, từ lĩnh vực địa lí mô tả, thuyết minh, thành một môn lý luận chỉ có thể dựa vào cơ sở học thuyết cảnh quan
+ Xây dựng đặc trưng địa lí tự nhiên trong khuôn khổ của bất cứ lãnh thổ nào( theo ranh giới tự nhiên hay hành chính) mà viết theo thể tổng hợp địa lí– theo hệ thống phân chia thiên nhiên của lãnh thổ
-Đặc trưng địa lí tự nhiên phải phản ánh toàn diện các quy luật của bản chấtcác tổng thể địa lí , tìm ra được nguồn gốc phát sinh, lịch sử và xu hướng
Trang 2phát triển sau này, những quá trình hiện đại, sự phong phú bên trong,
những quan hệ tương hỗ, sự tương tác của xã hội loài người tới đó
Câu 1.2 (3,0 điểm): Trình bày tính liên tục và tính không liên tục của cảnh
+Tính liên tục thể hiện mối tác động qua lại các thành phần trong các địa tổng thể
+ Tính liên tục có thể có những thành tạo trung gian mà khi phân chia khó xếp vào đâu Ví dụ: vỏ phong hóa giữa đá và đất, vỏ đất giữa thế giới vô cơ
và thế giới hữu cơ
+Tính liên tục thể hiện ngay trong một bậc phân loại của mỗi thành phần làm cho các thang độ phâ loại của một thành phần chỉ mang tính quy ước ví
dụ giữa phạm trug phân loại khác nhau nhưng xếp gần nhau giống nhau hơn so với cùng đơn vị phân loại nhưng nằm ở hai cánh Ví dụ: hai loại đất thì nằm ở hai cánh sát ranh giới giống nhau hơn cùng một loại ở hai cánh xa nhau
-Tính liên tục của địa lý quyển còn bắt nguồn từ lịch sử phát triển của bản thân nó, khiến cho trong một địa tổng thể chúng ta luôn tìm thấy những dấutích của quá khứ Ví dụ: Các cây dương xỉ thân gỗ đại diện cho cổ nhiệt đới
ẩm xuất hiện ở độ cao 1.800m trong đai á nhiệt đới trên dãy Fansipan, hay các cồn cát, bãi bồi ven biển dự báo sự xuất hiện của các đồng bằng ven biển
*Tính không liên tục:
-Tính không liên tục bắt nguồn từ tính chất riêng biệt của từng dạng vật chất, của từng dạng vận động của vật chất, sự đối lập của các mặt mâu thuẩn thống nhất Một dạng vật chất cũng như mỗi một dạng vận động của một vật chất đều có quy luật riêng
-Trên bề mặt Trái đất, tự nhiên thay đổi muôn hình muôn vẻ địa hình nơi cao, nơi thấp, các khoanh đất khó mà giữ được tính đồng nhất trong phạm vinhiều km Nhờ tính không liên tục mà các thành phần đan cắt nhau, chia xẻ nhau khiến cho dễ nhận thấy một sự đứt đoạn nào đó, một ranh giới nào đó
Trang 3dễ chọn làm ranh giới các địa tổng thể Ví dụ như vĩ độ 180B (đèo Ngang) là ranh giới phía Bắc có mùa đông kéo dài từ 3 tháng; còn 160B (đèo Hải Vân)
là ranh giới hoạt động của gió mùa Đông Bắc và các thời tiết lạnh do nó gây ra; vĩ độ 140B (đèo An Khê) là ranh giới trong chế độ ẩm, phía Bắc tương đối
ẩm, mùa khô không sâu sắc, còn phía Nam mùa khô sâu sắc có thể trên 5- 6tháng
-Tính không liên tục cho phép xác định tính nhịp điệu, tính chu kỳ trong tự nhiên đồng thời tạo nên các địa tổng thể tương đối ổn định và cân bằng, chophép ta khảo sát, nghiên cứu để đưa ra việc sử dụng, bảo vệ một cách hợp lý
định và ổn định, phân biệt với các tổng thể khác trong tự nhiên "Một địa
tổng thể nào đó, một lãnh thổ nào đó trong phạm vi của nó, các thành phần
và tính chất của mối quan hệ giữa các thành phần đó coi như không đổi, nghĩa là đồng nhất”
-Tính đồng nhất được xác định dựa vào sự giống nhau về mặt hình thái, qui
luật hoặc biểu thị bằng trị số trung bình của một thành phần, thường là thành phần chủ đạo (thí dụ như tương quan nhiệt ẩm ở cấp đới), hay thành phần chỉ thị (như năng suất của sinh vật), có khi lại là bằng các cực trị, tần suất lặp lại, độ biến thiên hoặc hệ số tương quan Ví dụ như địa tổng thể Đông Bắc phát triển trên miền rìa nền Hoa Nam, các hoạt động kiến tạo trong đại Trung Sinh đã tạo nên các dãy núi hình cánh cung chụm đầu ở TamĐảo nên chịu ảnh hưởng mạnh nhất của gió mùa Đông Bắc, mùa đông luôn lạnh hơn ở các nơi từ 1- 30C Lớp phủ thực vật bị phá hủy mạnh mẽ để lại các khu vực đồi trọc hoặc truông cây, bụi cỏ
-Tính đồng nhất có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, là cơ sở để xây dựng qui hoạch, các định hướng phát triển, bố trí không gian sản xuất nhằm khai thác
và bảo vệ TNTN, môi trường
Trang 4*Tính không đồng nhất:
-Các địa tổng thể rất phức tạp, không đồng nhất Chẳng hạn như, trong khu
vực Đông Bắc có sự khác nhau giữa khu vực duyên hải với khu Việt Bắc, giữa các dãy núi với các vùng trũng giữa núi Ngay cả trên một thửa ruộng cũng có sự khác nhau giữa các phần đất trong ruộng với phần bờ, giữa các luống
-Vì thế sự thống nhất giữa tính đồng nhất và không đồng nhất trong một địa
tổng thể tạo nên tính thống nhất tương đối Trong hệ thống phân vị, các cấp
càng lớn thì càng phức tạp, càng không đồng nhất và ngược lại các cấp càngnhỏ, càng đơn giản, càng đồng nhất Đơn vị nhỏ nhất “không chia sẻ được”, tức là có tính đồng nhất cao là các diện địa lý Vì thế, cần có những phương pháp định lượng để xác định tính đồng nhất của các cấp phân vị
-Chính sự thống nhất biện chứng giữa tính đồng nhất và không đồng nhất của lớp vỏ địa lý và các địa tổng thể đã khẳng định chúng là một hệ thống cấu trúc Hệ thống cấu trúc này bao gồm một hệ thống các cấp phân vị từ lớn đến nhỏ, gồm cấu trúc thẳng đứng (structure verticale) và cấu trúc
ngang (structure horizontale)
-Cấu trúc thẳng đứng bao gồm các thành phần cấu tạo và mối quan hệ tương hỗ giữa chúng Nó được biểu thị qua lát cắt tổng hợp nói lên sự sắp xếp các thành phần theo tầng từ dưới lên trên và ngược lại Nằm dưới cùng
là nham thạch, rồi đến vỏ phong hóa và đất với các tầng nước ngầm, trên đó
là địa hình với màng lưới sông ngòi, tầng trên cùng là thực bì và lớp không khí bao quanh Cấu trúc thẳng đứng cũng rất phức tạp, nó có sự khác nhau
ở mỗi cấp phân vị, ngay cả các cá thể của cấp phân vị đó Do đó, xác định cấu trúc thẳng đứng của một địa tổng thể thuộc cấp phân vị nào cần phải xác định rõ các thành phần thuộc cấp phân vị nào tương đương với cấp phân
vị của địa tổng thể đang xét
-Ví dụ, trong phân chia cấp xứ và các cấp dưới xứ của Việt Nam có các chỉ tiêu cụ thể sau:
Bảng 1 Các chỉ tiêu cơ bản của cấp xứ địa lý
Đại địa hình cấu trúc, có những nét
Đại khí hậu liên quan đến hoàn lưu khí
Trang 5uốn nếp) chung về độ
cao tuyệt đối
và về hệ thống sơn văn, thủy văn (cao nguyên rộnglớn, hệ núi lớn, đồng bằng rộng )
quyển thể hiện trong chế độ nhiệt liên quan đến độ cao tuyệt đối và trong chế độ
ẩm liên quanđến độ lục địa
Phát triển trên khu vực rìa đông nam của nền hoạt động Hoa Nam
Đồi núithấp (độ caotrung bình 600m), thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Cấu trúc sơn văn dạng cánh cung
Chịu tác động trực tiếp củagió mùa Đông Bắc vàTây Nam nên
có một mùa nóng và mộtmùa lạnh
Có mùa đông dài và lạnh nhất cả nước
X
ứ ĐôngDương
Phát triển tại khu vực địa tào Trung Sinh Đông
Dương
Gồm các núi trung bình, thấp, các sơn nguyên, bán bình nguyên Cấutrúc sơn văn
là hướng TâyBắc- Đông Nam
Suy yếu dần của gió mùa Đông Bắc,
về phía Namđèo Hải Vân,khí hậu mang tính chất cận xíc đạo
Còn một miền địa lý tương ứng với một hệ kiến tạo, còn một khu tương ứng với hệ phụ Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ hình thành trên nền địa chất là địamáng Tây Bắc và máng Bắc Trường Sơn trong địa tào Đông Dương Gồm các khu Hoàng Liên Sơn, Tây Bắc, Hòa Bình- Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên
Trang 6-Cấu trúc ngang bao gồm các địa tổng thể đồng cấp hay khác cấp tạo nên một đơn vị địa lý nhất định cùng mối quan hệ phức tạp giữa các địa tổng thể
đó với nhau Ví dụ cảnh quan huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) thuộc phụ hệ cảnh quan nhiệt đới gió mùa với một mùa đông lạnh ẩm có 3 lớp, 3 phụ lớp, bao gồm 74 loại cảnh quan với 217 cá thể loại
=>Như vậy, cấu trúc ngang nói lên tính không đồng nhất của địa tổng thể Địatổng thể càng lớn, càng thuộc cấp phân vị cao càng có cấu trúc ngang phức tạp Nội dung của nghiên cứu cấu trúc ngang:
Tìm hiểu số lượng cấp dưới đang xét, số lượng cá thể mỗi cấp, đặc trưng của từng cá thể hay từng kiểu loại về mặt hình thái, diện tích, cấu trúc, động lực.Tìm hiểu mối quan hệ giữa các cá thể hay các kiểu loại, đánh giá vai trò của chúng trong việc hình thành địa tổng thể
Giữa cấu trúc ngang và cấu trúc thẳng đứng có mối quan hệ phụ thuộc Cấu trúc thẳng đứng càng không đồng nhất thì cấu trúc thẳng ngang càng phức tạp
Tóm lại, việc phát hiện ra cặp phạm trù biện chứng về tính đồng nhất và
không đồng nhất là cơ sở hình thành cấu trúc cảnh quan, nhất là cấu
trúc ngang Việc nắm được cấu trúc các địa tổng thể giúp cho việc dự báocác phản ứng dây chuyền khi tác động đến một thành phần nào đó Hiện nay, các phương pháp địa hóa học và địa vật lý cho phép chúng ta xác định bản chất các mối quan hệ cấu trúc, còn các phương pháp toán học giúp tìm ra các mối quan hệ chặt chẽ, cũng như mô hình hóa các mối quan hệ
Câu 1.4 (3,0 điểm): Trình bày tính bình đẳng và tính trội của cảnh quan
Cho ví dụ
*Tính bình đẳng: đặc trưng của một địa tổng thể là do nhiều thành phần
tạo nên,có quan hệ chặt chẽ với nhau, gây ra lẫn nhau Thay đổi một thành phần dẫn đến thay đổi các thành phần khác Do đó, trong nghiên cứu các địa tổng thể không được xem nhẹ một yếu tố nào
Trang 7*Tính trội: Mặc dù một địa tổng thể được cấu tạo từ nhiều thành phần
nhưng không phải mọi lúc, mọi nơi, các thành phần đều có giá trị ngang nhau mà luôn luôn xảy ra có thành phần trội, có tác động quyết định ranh giới các địa tổng thể ở những khoảng so le không phải dựa vào ranh giới trung bình của các thành phần mà phải căn cứ vào ranh giới của các thành phần trội – là thành phần quyết định đặc trưng của địa tổng thể
-Cách chọn nhân tố trội phải được phát hiện một cách khách quan trong quátrình phần tích mối quan hệ giữa các thành phần khi phân tích mối tác độngtương hỗ giữa các thành phần phải biết sắp xếp thành từng cặp quan hệ với hai yếu tố ( quan hệ nhân quả) Thường có mối quan hệ trong địa tổng thể.-Quan hệ chuỗi: thực chất là quan hệ nhân quả, yếu tố này dẫn đến yếu tố kia và tiếp tục như thế, tạo thành chuỗi, hướng theo một hướng nhất định như địa hình- địa mạo qua khí hậu- thủy văn đến thổ nhưỡng- sinh vật
+ Quan hệ phản nghịch:
+ Quan hệ phức tạp:
Hiện nay chưa có khả năng và cũng không cần thiết phải nghiên cứu tất cả các mối quan hệ, thiết thực nhất là nghiên cứu mối quan hệ chuỗi – mối quan hệ chủ yếu có tính quyết định Với quan điểm đó cần xem xét hai mô hình tồn tại song song:
Mô hình đơn hệ thống (Monosysteme): được giới hạn bao gồm các thành phần cấu tạo
nên địa tổng thể và các thành phần liên quan chặt chẽ với nhau – đó là cấu trúc đứng gồm các thành phần đá, địa hình, khí hậu, thủy văn, đất đai, sinh vật
Mô hình đa hệ thống: nói lên mối quan hệ giữa các cấp địa tổng thể
=>Khi tìm hiều cấu trúc ngang cũng phải tìm ra cấp chủ yếu, địa tổng thể chủ yếu là địa tổng
thể giữ vai trò quan trọng trong bộ mặt của các cấp đang xét trong việc traođổi vật chất trong nội bộ cấp đang xét Đó là địa tổng thể chiếm hối lượng lớn nhất hoặc địa tổng thể đứng ở vị trí đầu của dây chuyền di chuyển vật chất, vị trí cao hay vị trí đầu nguồn, vị trí nút trong lịch sử phát triển
Câu 1.5 (3,0 điểm): Trình bày các nguyên tắc cần được áp dụng khi nghiên
cứu phân vùng cảnh quan
Trang 8hiện Mục đích và nhiệm vụ của phân vùng có thể rất khác nhau nhưng ranhgiới của các vùng địa lý tự nhiên không phải vì thế mà thay đổi vị trí.
-Như vậy, bất cứ một hệ thống đơn vị phân vị nào của phân vùng đều phải dựa trên việc nghiên cứu các quy luật phân hóa lãnh thổ: địa đới, phi địa đới,đai cao… Do đó, các tổng thể tự nhiên tồn tại một cách khách quan có ranh giới “khép kín” Tuân theo quy tắc khách quan sẽ đảm bảo tính khoa học trong việc xây dựng hệ thống phân vị và lựa chọn được các chỉ tiêu phân vùng cho các cấp phân vị, trong việc phát hiện ranh giới các địa tổng thể, tranh được tính chủ quan, tùy tiện trong khi xây dựng bản đồ phân vùng
*Nguyên tắc phát sinh:
-Tác động của các nhân tố địa đới và phi địa đới đã tạo nên sự hình thành trong tự nhiên các thể tổng hợp lãnh thổ các cấp, và sự phân hóa hiện nay của các vùng là kết quả của mối tương quan phức tạp thay đổi trong suốt lịch sử địa chất, giữa hai loại nhân tố đó Mỗi vùng tự nhiên đều có lịch sử địa lý riêng và sự thống nhất của nó được hình thành trong lịch sử phát triểnxảy ra dưới các điều kiện địa đới và phi địa đới khác nhau Và như thể có nghĩa là khi phân vùng địa lý tự nhiên bắt buộc phải áp dụng nguyên tắc phát sinh hay nguyên tắc lịch sử
-Thực chất của nguyên tắc phát sinh là nguyên tắc lịch sử phát triển của cả lãnh thổ nói chung và các đơn vị địa lý tự nhiên riêng biệt khi phân vùng theo nguyên tắc phát sinh, theo Xonxev, cần chú ý đến các điểm sau:
-+ Phát hiện những nguyên nhân thành tạo ban đầu và tính cá thể tiếp theo của mỗi đơn vị
Trang 9Ví dụ: đồng bằng Nga, xứ địa lý tự nhiên riêng biệt, sau khi đã hình thành xong nền móng uốn nếp, nó giữ được một sự thống nhất nhất định về một
sự hoàn chỉnh về mặt lãnh thổ cả trong suốt thời gian của nhiều giai đoạn lịch sử địa chất, mặc dù các vùng địa lý trong phạm vi của đồng bằng đã thay đổi nhiều lần, và có cả trong đường ranh giới cũng không phải không chuyển biến Nhưng do tác động phân hóa
Câu 1.6 (3,0 điểm): Trình bày quan niệm về ranh giới cảnh quan và việc xác
định ranh giới cảnh quan
*Quan niệm ranh giới cảnh quan: Các tổng thể được tách biệt nhau bởi
những ranh giới tự
nhiên, do đó việc xác định ranh giới được tiến hanh đồng thời với việc xác định các địa tổng thể trên cơ sở quán triệt đầy đủ các cặp thuộc tính
-Ranh giới không phải là một đường mà là một dải rộng hẹp nào đó
-Không thể có những đường ranh giới tuyệt đối rõ rệt nên các đường ranh giới vạch ra ít nhiều cũng mang tính quy ước
-Ranh giới cũng là một quan niệm lịch sử có thể biến đổi theo thời gian, do ảnh hưởng của nhiều tác nhân, trong đó có ảnh hưởng hoạt động kinh tế củacon người
-Khu vực ranh giới là nơi gặp gỡ các địa tổng thể kề bên nhau, nên thành phần và tính chất của các địa tổng thể có thể có sự xâm nhập lẫn nhau Vì thế khu vực ranh giới bắt đầu ở chỗ mà mà sự ưu thế của những đặc điểm của một địa tổng thể nào đó lại bị mất đi và đã xuất hiện nhwunxg đặc điểmcủa một địa tổng thể khác, tức là khu vực ranh giới kết thúc ở nơi mà sự phatrộn hầu như chấm dứt để nhường chỗ cho ưu thế khác Trong tự nhiên có những nơi gặp gỡ của hai địa tổng thể nhưng cũng có nơi gặp gỡ đến 3 – 4 địa tổng thể, và do đó tất nhiên nơi gặp gỡ của nhiều địa tổng thể sẽ phức tạp hơn nhiều
-Dải ranh giới có diện tích thay đổi và thường có diện tích nhỏ hơn các địa tổng thể mà chúng phân cách
*Việc xác định ranh giới:
-Vì ranh giới là một dải chuyển tiếp cho nên khi xác định ranh giới giữa 2 địa tổng thể thì việc đầu tiên là phải giới hạn cho được “vùng” ranh giới, còn thói quen thể hiện vùng ranh giới bằng 1 đường trên bản đồ đòi hỏi một sự lựa chọn có phân tích Việc thể hiện ranh giới theo 1 đường cũng cần thiết vìdải chuyển tiếp thường hẹp và thuộc cấp phân vị thấp hơn cấp phân vị hai
Trang 10địa tổng thể kề bên nhau, nếu để riêng dải vô chủ sẽ có nhiều khó khăn Vì vậy tính chất dải ranh giới nên thuyết minh, còn ranh giới cần thể hiện 1 đường.
-Việc xác định đường ranh giới cần căn cứ vào sự phân tích đặc điểm và động lực chủ yếu của các địa tổng thể Việc ghép vùng ranh giới vào địa tổng thể mà nó có quan hệ nhiều nhất, tốt nhất là làm theo phương pháp từ dưới lên
-Tính chất của ranh giới thay đổi tùy theo cấp phân vị của địa tổng thể mà
nó bao quanh Cấp phân vị càng cao thì dải ranh giới càng rộng, sự trùng hợp giữa các thành phần càng khó Do đó phải dựa vào phương pháp nhân
tố chủ đạo để vạch ranh giới vấn đề vạch ranh giới cũng có các quan điểm khác nhau: có tác giả cho một cấp chọn 1 nhân tố; có tác giả lại cho trong 1 cấp có sự thay đổi nhân tố
=>Cần thống nhất là từ cấp miền trở xuống mới có khả năng thay đổi dấu hiệu ranh giới vì lúc này 2 dãy địa đới và phi địa đới mới gặp nhau
-Theo cấu trúc ngang, ranh giới 1 địa tổng thể cần được dựa vào ranh giới các địa tổng thể cấp thấp hơn nằm ở ngoại vi Tuy nhiên do tính liên tục của
vỏ địa lý mà ranh giới nói chung thường ít rõ nét ngay cả khi chúng được vạch ra theo một dấu hiệu trội
-Các đường ranh giới thường đi theo một cấp phân vị của địa hình dù khi xácđịnh ranh giới có dựa vào các hợp phần khác như đá, khí hậu, đất, thực vật,
vì địa hình có tính bền vững và dễ nhận thấy trên thực địa và phản ánh sự thay đổi các dấu hiệu khác do chi phối của địa hình
-Ví dụ: một vùng địa lý có một kiểu địa hình nhưng một kiể địa hình nếu không đồng nhất về khí hậu thì sẽ trở thành 2 vùng địa lý Tuy nhiên do ranhgiới khí hậu mơ hồ mà không thể vạch ranh giới tùy tiện nên phải dựa vào cấp phân vị địa hình thấp hơn cấp kiểu địa hình
Câu 1.7 (3,0 điểm): Phân tích tác động của quy luật địa đới đến sự phân
hóa lãnh thổ Cho ví dụ
*Khái niệm quy luật địa đới: Quy luật địa đới là quy luật phản ánh đặc tính phân dị độc đáo về nét cấu trúc của lớp vỏ địa lý, thể hiện sự thay đổi có quy luật của các thành phần của lớp vỏ địa lý và các tổng thể địa lý tự nhiên(hay cảnh quan địa lý) theo vĩ độ (từ xích đạo đến hai cực)
-Nguyên nhân: Nguyên nhân căn bản là do hình dạng cầu của Trái Đất
(chính xác là hình elip quay) và vị trí tương đối của từng thành phần (không
Trang 11tính đến yếu tố địa hình: lục địa hay đại dương) so với Mặt Trời Ngoài
nguyên nhân chủ yếu trên thì điều kiện cần thiết là sự rọi chiếu của tia sáng Mặt Trời với một góc nhỏ dần từ xích đạo đến 2 cực, khoảng cách giữa Trái Đất và Mặt Trời, kích thước và khối lượng của Trái Đất, độ nghiêng của trục Trái Đất trên mặt phẳng hoàng đạo
*Phạm vi:
-Càng xa bề mặt Trái Đất (lên trên hay xuống dưới) tính địa đới càng yếu dần Khi xuống các khu vực sâu thẳm của đại dương, với nhiệt độ thường rấtthấp (-0,5 đến 40C), không có ánh sáng Mặt Trời, các khối nước hoàn toàn yên lặng Ở đây hoàn toàn không có sự thay đổi của các đới
-Lên các tầng cao khí quyển, tính địa đới cũng giảm đi Nhiệt độ càng lên cao càng giảm do cách xa nguồn năng lượng từ bức xạ nghịch của mặt đất (trung bình 0,60C/100m) Giới hạn ảnh hưởng của tính địa đới đến độ cao 20km
-Tính địa đới cũng mất đi một cách nhanh chóng ở trong vỏ Trái Đất Những dao động về nhiệt độ giữa ngày và đêm, giữa các mùa trong năm không quá
độ sâu 15- 30m Ở bên dưới tầng đẳng nhiệt này, nhiệt độ càng xuống sâu càng tăng do nguồn năng lượng ở trong lòng Trái Đất, có tác dụng duy trì các quá trình phi địa đới
-Như vậy, càng tiến dần đến ranh giới của vỏ cảnh quan tính địa đới càng yếu dần đi
*Tác động tới sự phân hóa lãnh thổ:
-Grigoriev và Buduco thừa nhận có quy luật địa đới và tiếp nhận các chỉ số cán cân bức xạ ( R ) và chỉ số khô hạn (K) để xác định sự phân hóa lãnh thổ:
R = ((Q+q)(1-A))-Eh
K = R/Lr
Trong đó: L là tiềm nhiệt bốc hơi bằng 0.06 kcal để làm bốc hơi 1g nước;
r là tổng lượng mưa trung bình năm
=>Từ đây tác giả rút ra kết luận:
Trang 12*Nếu cán cân bức xạ năm giống nhau thì mức độ phong phú của tự nhiên càng lớn, các quá trình tự nhiên càng phức tạp khi chỉ số khô hạn đạt 0,8 – 1,0.
-Nếu chỉ số khô hạn giống nhau thì mức độ phong phú của tự nhiên càng lớn, các quá trình tự nhiên càng phức tạp khi cán cân bức xạ càng lớn
-Về sau nhiều tác giả cũng thừa nhận có quy luật địa đới:
*F.N Minkov thừa nhận có quy luật địa đới và sử dụng hệ số ẩm (K được tínhbằng chỉ số giữa lượng mưa và khả năng bốc hơi cùng thời gian của N N Ivanov và G N Vuxopxki Theo hệ số này phân ra các đới:
-Đới rừng và đài nguyên K>1
-Đới rừng – thảo nguyên K từ 1 – 0,6
-Đới thảo nguyên K: 0,6 – 0,3
-Đới bán hoang mạc K: 0,3 – O,12
-Đới hoang mạc K<0,12
*Trong các miền gió và núi cao thì nhiều tác giả đề nghị lấy tổng nhiệt độ năm trên 0 độ C và hệ số thủy nhiệt K để phân: K<1 là khô; K 1 – 1,5 là hơi khô; K 1,51 – 2,00 là hơi ẩm; K 2.01 – 3,00 là ẩm; K>3,00 là ẩm ướt
*Kalexnik và Ixatrenco cũng khẳng định tính đới địa lý không chỉ biể hiện trong nhiệt ẩm mà còn biểu hiện trong các dấu hiệu địa hình và trầm tích
*Ví dụ biểu hiện quy luật địa đới ở cảnh quan Việt nam: Nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến Bắc bán cầu thấy rõ:
-Chu kỳ quang ngắn và ít thay đổi trong năm
-Hai lần mặt trời đi qua thiên đỉnh, độ cao mặt trời quanh năm lớn nên cán cân bức xạ lớn
-Dựa vào cán cân bức xạ và hệ số ẩm xác định lãnh thổ việt nam nằm trong vòng nội chí tuyến chia ra hai đới: đới rừng gió mùa chí tuyến và đới rừng gió mùa á xích đạo
Câu 1.8 (3,0 điểm): Phân tích tác động của các quy luật phi địa đới đến sự
phân hóa lãnh thổ Cho ví dụ
*Quy luật địa ô:
Trang 13-Khái niệm: quy luật địa ô là sự phân hóa lãnh thổ theo kinh tuyến, gây ra
do hoàn lưu đại dương, lục địa và ở bờ các lục địa được tăng cường do dòng biển
-Tính lục địa được biểu hiện qua biên độ nhiệt năm và ngày đêm
-Trong vòng nội chí tuyến có gió đông thống trị nên có sự phân hóa địa ô từ đông sang tây
-Ngược lại ở những vĩ độ ôn đới có gió tây thống trị thì phân hóa địa ô từ tây sang đông Sự chi phối đến địa ô là nhiệt ẩm nên đã hình thành các ô đại dương, ô chuyển tiếp và ô lục địa
-Để xác định mức độ địa ô, Gorzinski đã dùng chỉ số tính lục địa: K = –
20,04
( trong đó A là biên độ nhiệt năm; là vĩ độ địa lý; 1,7 là hệ số thực nghiệm; 20,4 là số có điều kiện của Gorzinski chọn)
=>K>50 khí hậu có tính lục địa
-Ví dụ: Lãnh thổ Liên xô cũ được chia thành 4 địa ô theo hướng kinh tuyến:
*Địa ô Tây Âu: gồm các khu vực phía tây đồng bằng Nga, chịu ảnh hưởng mạnh của Đại Tây Dương, tính địa đới vĩ độ mờ đi
*Địa ô chuyển tiếp hoặc địa ô Đông Âu: gồm Trung và đồng bằng Nga, Tây Xibiri, tính địa đới vĩ độ biểu hiện rõ nhất
*Địa ô Xibiri: gồm trung tâm Xibiria, đông trung á Vai trò bình lưu không lớn,tính địa đới biểu hiện yếu
*Địa ô Viễn Đông: ảnh hưởng mạnh của hoàn lưu gió mùa, tính địa đới biể hiện yếu
*Quy luật đai cao:
-Khái niệm: là sự phân hóa tự nhiên theo độ cao tuyệt đối
-Nguyên nhân: sự phân hóa nhiệt theo độ cao trên mực biển
-Phân biệt “đới” theo đai cao và theo vĩ độ: quy luât địa đới có sự giảm nhiệt
từ vĩ độ thấp đến vĩ độ cao còn quy luật đai cao có sự giảm nhiệt theo sự tăng cao của độ cao tuyệt đối
=>Do đó, đai cao không phải đai ngang cùng tên Vị trí đai cao ở từng vị trí đai ngang khác nhau Nhiều đới không có ở đai cao và ngược lại nhiều đai cao không có ở đai ngang
Trang 14-Ví dụ: đới hoang mạc không có trên núi hoặc đồng cỏ Anpo không có ở đai ngang.
-Quy luật đai cao là quy luật riêng nên không dùng thuật ngữ đới mà dùng
“đai” theo độ cao
-Sự phân hóa đai cao phụ thuộc vào:
*Độ cao của núi
*Đai cao nằm trong đai ngang nào
*Hướng sườn phơi nắng và đón gió
-Ví dụ về sự phân hóa đai cao ở Vn
*Quy luật địa chất – địa mạo:
-Nguyên nhân: Do sự phác biệt về cấu trúc địa chất - kiến tạo của lãnh thổ
là các nền bằng và địa tào, giới hạn bởi các đứt gãy sâu, hoạt động mạnh vàlâu dài; sự khác biệt về cấu trúc địa hình, các dạng địa mạo (hướng phơi, s-ườn dốc, thung lũng giữa núi, thung lũng lòng chảo, v.v.)
-Biể hiện:
+Hình thành các đơn vị cảnh quan địa lý phi địa đới
+Sự hình thành các hiện tượng đặc biệt như đoản nghịch nhiệt trong thung lũng lòng chảo, hình thành các vùng khô hạn khuất núi, sự thay đổi mạng lớisông ngòi theo địa hình bề mặt và sườn cao nguyên
Câu 1.9 (3,0 điểm): Phân tích mối quan hệ giữa các quy luật tác động đến
sự phân hóa lãnh thổ Cho ví dụ
Trên bề mặt trái đất không có một địa tổng thể nào chỉ có tác dụng chi phối bởi các quy luật địa đới hoặc phi địa đới tuy nhiên, do có nguyên nhân hình thành khác nhau nên mỗi quy luật đều có tính độc lập nhưng cùng tác động trên một lãnh thổ nên có mối quan hệ tương hỗ nên cần xét mối quan hệ chứa đựng trong từng quy luật
*Địa đới: khi xét xem quy luật địa đới, các tác giả dùng chỉ tiêu cán cân bức
xạ và chỉ số khô hạn Rõ ràng hai chỉ số trên đều có chứa sự chi phối của địahình, đất đá, hoàn lưu…như vậy có quan hệ chặt chẽ với quy luật phi địa đới mặt khác chúng ta cũng biết mặt trời hằng trăm triệu năm không thay đổi, nhưng trên bề mặt trái đất, các đới tự nhiên đã thay đổi rất nhiều lần các đai, các đới không bao quanh toàn bộ bề mặt Trái đất
Trang 15*Quy luật địa chất – địa mạo: cũng mang dấu vết của địa đới như đá trầm tích, các dạng địa hình xâm thực
*Quy luật đai cao mang dấu vết của tất cả các quy luật một cách rõ rệt Vì vậy khi xétđai cao cần phải xem xét:
-Tính địa đới của đai cao
-Tính địa ô của đai cao
-Tính địa chất – địa mạo của đai cao
=>Cụ thể:
-Núi thuộc đai ngang nào thì số đai được phân chia xuất phát từ đai cơ sở chân núi và đặc điểm các đai kế tiếp tùy thuộc vào đặc điểm đai vĩ độ chân núi
-Nếu hai núi cao như nhau nằm trong hai địa ô khác nhau thì tính đai và số đai khác nhau Nếu hai núi có độ cao khác nhau cùng nằm trong một địa ô thì chỉ có số đai khác nhau
-Số đai và tính đai còn phụ thuộc vào đặc điểm các yếu tố địa hình như hướng sườn đón gió và phơi nắng, độ dốc, độ chia cắt…
*Quy luật địa ô cũng chịu sự chi phối của quy luật địa đới và các quy luật khác như: địa ô gió mùa nhiệt đới, địa ô gió mùa ôn đới…
Như vậy trong mối tác động tác động tương hỗ giữa các quy luật để hình thành nên các địa tổng thể nào tác động thuần túy cũng không có quy luật nào bị biến mất mà chỉ có sự biến dạng để phù hợp mối quan hệ giữa các quy luật quan hệ mạnh hay yếu tùy thuộc vào không gian và thời gian Ví dụ: về không gian thì ở miền núi quy luật đai cao có tác động mạnh còn ở đồng bằng thì quy luật địa đới Theo thời gian thì ở kỳ hoạt động tân kiến tạp nâng lên mạnh thì quy luật đị chất địa mạo, đai cao hoạt động mạnh, thời kỳ san bằng thì quy luật địa đới lại chiếm ưu thế
Câu 1.10 (3,0 điểm): Trình bày khái quát về sự phân hóa tự nhiên lãnh thổ
Việt Nam dưới tác động của các quy luật phân hóa lãnh thổ
*Về kiến tạo địa mạo có hai đơn vị lớn:
-Nền cổ Hoa Nam: có nhiều ý kiến Một số tác giả cho rằng nền Hoa Nam không có tác động đến Việt Nam mà toàn VN nằm trong địa máng Một số cho rằng nền Hoa Nam là nền đặc biệt – nên hoạt động nên có nâng, có sụt…như vậy khu Đông Bắc nằm ở phần phía Nam của nền cổ Hoa Nam có ranh giới ngăn cách với địa máng Tây Bắc – bắc Trường Sơn là đứt gãy sông
Trang 16Hồng Từ đó lãnh thổ Việt Nam chia ra hai xứ là xứ Hoa Nam – Bắc Việt Nam
-Trong hai đới chia ra các á đới
-Như vậy quy luật địa ô gió mùa đã chi phối mạnh đến quy luật địa đới nên phân chia các đới và á đới có gọi kèm theo tính địa ô: mùa đông hoặc mùa khô
+ở Đông Bắc lên cao 600 – 700m: đai nhiệt đới ẩm
+Tây Bắc lên cao 700 – 800m: đai nhiệt đới ẩm
+Trường Sơn lên cao 800 – 900m: đai nhiệt đới ẩm
+700 – 800m đến 1700 – 1800, đai á nhiệt đới, trên 1700 – 1800m đai ôn đới
-Nghiên cứu đất Việt Nam, fridland chia ra:
+Miền Bắc dưới 900m: đất feralit, 900 đến 1700 – 1800m: đất feralit núi có mùn, trên 1800m: đất mùn núi cao
+Miền Nam ranh giới đất fe lên đến khoảng 1000m
-Vũ Tự Lập chia miền Bắc ra 3 đai:
+Nhiệt đới ẩm dưới 600m, gồm các á đai: á đai nhiệt đới ẩm điển hình
(<100m); á đai không có mùa đông lạnh và khô rõ (100 – 300m); á đai có mùa đông lạnh và khô rõ (300 – 600m)
Trang 17+Á nhiệt đới từ 600 – 2600m: á đai chuyển tiếp từ nhiệt đới qua á nhiệt đới (600 – 1000m); á đai á nhiệt đới điển hình (100 – 1600m); á đai chuyển tiếp
từ á nhiệt đới qua ôn đới (1600 – 2600m)
+Ôn đới trên 2600m
KHỐI 2
Câu 2.1 (4,0 điểm): Khái niệm về cảnh quan Phân tích cấu trúc của cảnh
quan
*Khái niệm cảnh quan:
-Theo N.A Xonxev: “Cảnh quan là một tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên đồng nhất về mặt phát sinh có một nền địa chất đồng nhất, một kiểu địa hình, khíhậu giống nhau và bao gồm một tập hợp những dạng địa lý chính và phụ đặc trưng cho cảnh quan đó, liên kết với nhau về mặt động lực và lặp đi lặp lại trong không gian một cách có quy luật, có diện tích dao động khoảng vài trăm đến vài ngàn km2”
-Theo Vũ Tự Lập: “Cảnh quan địa lý là một tổng hợp thể được phân hóa ra trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng hoặc một đai cao ở núi có một cấu trúc đứng tương đối đồng nhất về một nền địa chất, một kiểu địa hình, một kiểu khí hậu, một kiểu thủy văn, một đại tổ hợp đất, một đại tổ hợp thực vật và bao gồm một tập hợp có quy luật của các dạng địa lý có diện tích tối thiểu 100 k2 đến hàng ngàn km2”
*Cấu trúc cảnh quan:
-Cấu trúc đứng:
+Khái niệm:cấu trúc đứng thể hiện đặc điểm liên hệ và mối quan hệ tác độngtương hỗ giữa cácthành phần cấu tạo của cảnh quan, phụ thuộc vào hướng thay đổi của các thành phần cấu tạo trong quá trình phát triển cũng như vào tuổi và lịch sử phát triển của thể tổng hợp
+Nền địa chất: nền địa chất cấp cảnh nói lên sự đồng nhất về đá
Trang 18+Mỗi loại đá do cách đối kháng riêng với ngoại lực đều có một kiểu địa hình tương ứng, đồng thời mỗi loại đá cũng ảnh hưởng đến thổ nhưỡng một cách riêng thông qua thành phần địa hóa học độc đáo của mình Chính vì thế, giữa nền địa chất và kiểu địa hình và đại tổ hợp đất có mối quan hệ rất khăng khít.
+Ngoài ra, cùng một loại đá nhưng có tuổi khác nhau cũng khác nhau ít nhiều về đặc tính tuy nhiên ta chỉ có thể gộp nền địa chất cùng đá cùng tuổi chỉ có ở đồng bằng, còn trên thực tế ở địa hình đồi núi do tính chất phứctạp của lịch sử phát triển mà các loại đá thường luân phiên, xen kẽ nhau Do
đó nhiều tác giả cho rằng nền địa chất của cảnh địa lý không nhất thiết phải
có một loại đá Đúng hơn là nền địa chất bao gồm một tổng hợp thể các đá
có quan hệ với nhau về mặt phát sinh lãnh thổ
+Vũ tự lập chia ra 6 nhóm đá: Phù sa (P); Trầm tích (H); Đá vôi và đá hoa (V); Đá biến chất các loại (B); Đá magma trung tính và bazo (Mb); Đá
magma axit các loại (Ma)
+Kiểu địa hình:
+Thành phần quan trọng của cấu trúc đứng cấp cảnh và cấp tạo nên cấu trúc ngang của cảnh là dạng và diện địa lý Cùng với địa chất, kiểu địa hình hình thành “nền tảng rắn” của cảnh địa lý, quyết định tính chất các thành phần khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật trong cảnh
+Một kiểu địa hình được xác định theo 4 chỉ tiêu:
1Tập hợp các dạng trung địa hình âm và dương
2Cấu tạo địa chất cùng hướng và cường độ của các quá trình kiến tạo nhất
là tân kiến tạo
3Tính chất các quá trình nội sinh
4Giai đoạn phát triển (tuổi địa hình)
+Kiểu khí hậu: Vũ tự lập đề nghị khí hậu tương đương cấp cảnh là “kiểu khí hậu” một kiểu khí hậu phải nói lên: cảnh đó thuộc đới ngang hoặc đai cao nào; cảnh đó có chế độ mùa ra sao; cảnh đó có chế độ mùa thế nào Còn các yếu tố khác mang tính thời tiết địa phương chỉ dùng trong mô tả
1Chỉ tiêu nền tảng nhiệt ẩm
+Chỉ tiêu này chỉ cảnh được phân hóa ra trong đới ngang hoặc đai cao nào+Sự liên kết giữa tổng nhiệt độ và hệ số thủy nhiệt (K) xác định tính đai và đới
Trang 192Chỉ tiêu về cường độ mùa lạnh, mùa nóng
+Chỉ tiêu này nói lên mức độ ảnh hưởng của gió mùa
+Về cường độ lạnh, tác giả sử dụng những chỉ số của De Martone (>20 coi như là nhiệt đới), của Copen (<18 coi như là ôn đới ấm) và những chỉ số sinhkhí hậu thông thường như : <15 là nhiệt độ mà cây nhiệt đới ngừng sinh trưởng; <10 là nhiệt độ mà nói chung cây cối ngừng sinh trưởng; <5 là khả năng sương muối và băng giá xuất hiện
3Chỉ tiêu mùa mưa và cường độ khô hạn
+Chỉ tiêu này dựa vào hệ số của Gaussen – Ligrin để xác định tháng mưa, tháng khô hạn:
+ Tháng mưa có lương mưa trong tháng >100mm
+ Tháng khô có lượng mưa trong tháng (P 2T) nhỏ hơn hoặc bằng nhiệt độ trung bình tháng
+ Tháng hạn có mưa tháng (P <= T) bằng hoặc nhỏ hơn nhiệt độ trung bình tháng
-Kiểu thủy văn: chế độ thủy văn phụ thuộc chặt chẽ vào khí hậu trên nền tảng một cảnh địa lý nhất định Vì thế, nếu phân ra các cảnh địa lý đồng nhất về chế độ mưa ẩm thì sẽ có một kiểu thủy văn tương ứng cấp cảnh Các chỉ tiêu đặc trưng:
-Modun (Mo) thể hiện trữ lượng nước có thể tham gia vào các quá trình địa
lý tự nhiên và khả năng cung cấp nước cho từng vùng cụ thể
-Nhịp điệu mùa của lũ (Lo), vì đây là yếu tố có quan hệ chặt chẽ với chế độ mưa và cũng là yếu tố ảnh hưởng đến nhịp điệu sản xuất
-Hệ số chuẩn dòng chảy () năm phản ánh tương quan giữa lượng dòng chảy
ổn định đặc trưng với lượng bốc hoiw và lượng mưa ổn định của khu vực.-Tỷ số giữa lượng dòng chảy ngầm () và tổng lượng dòng chảy, nói lên khả năng cung cấp nước ngầm của địa phương cho dòng chảy sông suối độ lớn của tỷ số này thể hiện khả năng điều tiết dòng chảy của mặt đệm
-Tùy theo số liệu và quan hệ thực té mà phân cấp các chỉ tiêu, sau đó xây dựng bảng để phát hiện các kiểu thủy văn
-Đại tổ hợp đất
-Theo hệ thống phân loại, các loại đất được phân chia trong cảnh địa lý khó
mà có được 1 loại đất vì một loại đất thay đổi rất nhanh trong một lãnh thổ
Trang 20nhỏ phát triển vào sự thay đổi của đá, của các dạng trung địa hình, chế độ
ẩm vì thế trong một cảnh địa lý thường gặp một tập hợp nhiều loại đất gọi
là tổ hợp đất
-Đại tổ hợp đất là sự liên kết các loại đất trong một khu phân bố có liên quanmật thiết với kiểu địa hình và nhóm đá tạo đất Tức là một đại tổ hợp thể hiện một khu phân bố cùng nhóm loại đất trên một nhóm đá:
+ Nhóm loại đất nói lên mối quan hệ chặt chẽ của các nhân tố thành tạo đất mà vai trò chủ đạo là khí hậu và địa hình Nó phản ánh rõ sự tác động của các quy luật thành tạo đất, thể hiện sự chi phối về mặ không gian của nền đá, địa hình Chính vì vậy, nó cũng thể hiện những đặc điểm đặc trưng
về hình thái phẫu diện và các quá trình thành tạo đất chủ yếu
+ Cùng nhóm đá nói lên vai trò của đá trong thành tạp đất Nó chỉ ra đất hình thành trên nhóm đá nào thì phản ánh đượcdđặc điểm đặc trưng về những tính chất hóa, lý học chủ yếu như thành phần tổng số các chất
khoáng, khả năng dự trữ tương đối các chất dinh dưỡng, thành phần cơ giới, khả năng tiềm tàng của đất mà cây trồng có thể huy động, khả năng quyết định phân bố cây trồng lâu năm
-Đại tổ hợp thực vật
+Thảm thực vật là thành phần quan trọng của địa tổng thể Việc hình thành thành phần cấu trúc và sản phẩm sinh học liên quan đến thành phần cấu trúc đó tại một cấp đơn vị thảm thực vật nào đó là tấm gương phản chiếu mối quan hệ tương hỗ giữa các hợp phần tự nhiên theo nguyên lý sinh thái –phát sinh trên một cấp đơn vị lãnh thổ tự nhiên tương ứng
+Cảnh địa lý phù hợp với nhóm quần hợp thảm thực vật yêu cầu của nhóm quần hợp thảm thực vật để phù hợp với cấp cảnh: nhóm các quần hợp cùng
có nhu cầu về mặt sinh thái tương tự nhau, cùng có những điều kiện tự
nhiên trong đơn vị lãnh thổ này thỏa mãn, tức là các quần hợp này có điều kiện sinh thái – phát sinh cơ bản gần giống nhau và cùng nằm trong một loạt sinh thái và loạt diễn thế của canh địa lý 4 tiêu chuẩn:
1Nền nhiệt ẩm là điều kiện tiên quyết hình thành kiểu thảm
2Đất cùng độ phì của nó nói lên mức độ tăng trưởng
3Cấu trúc thảm thể hiện loạt sinh thái phát sinh
4Mức độ tăng trưởng nói lên tính đặc trưng cá thể về mặt không gian
-Cấu trúc ngang – các đơn vị hình thái cảnh quan
Trang 21+Diện địa lý: là đơn vị tổng thể nhỏ nhất, có tính đồng nhất cao nhất mà về phương diện địa lý là không thể chia xẻ được nữa “ diện địa lý là đơn vị địa
lý tự nhiên nhỏ nhất đặc trưng bởi sự đồng nhất về địa thế, về vi khí hậu, về chế độ ẩm, về đá trên mặt, về biến chủng thổ nhưỡng và về sinh địa quần thế” Địa thể là nhân tố chủ yếu nhất, quyết định các điều kiện tự nhiên khác của sinh cảnh Địa thế của diện địa lý được đặc trưng bỏi một yếu tố của dạng trung địa hình, có một độ cáo tương đối nhất định, một độ dốc, một dạng sườn
+Nhóm diện địa lý: nhóm diện địa lý không phát triển độc lập với nhau, trái lại chúng phụ thuộc với nhau rất chặt chẽ để tạo nên các tổng thể lớn hơn Các diện địa lý có liên hệ mật thiết nhất là những diện phát sinh trên cùng một yếu tố của dạng trung địa hình, khi đó nó tạo nên một nhóm diện có quan hệ rất chặt chẽ với nhau về mặt địa hóa Ví dụ: nhóm diện đỉnh dãy đồi, nhóm diện sườn, đáy
+Dạng và á dạng địa lý: dang địa lý là tập hợp các nhóm diện địa lý phát triển trên mỗi dạng trung địa hình âm hoặc dương Theo nhiều tác giả thì một dạng địa lý ứng với một dạng trung địa hình trọn vẹn còn trong trường hợp trung địa hình thường là địa hình ẩm không đồng nhất về trầm tích lắngđọng thì mỗi bộ phận của dạng trung địa hình tương ứng với một đá đó chỉ
là một á dạng
+Nhóm dạng: là những tập hợp của nhiều dạng, nhưng điểm khác nhau ở chỗ nhóm dạng bao gồm những dạng không tác rời nhau mà như là khắc vào nhau Nhóm dạng chỉ là một dạng trung địa hình âm hoặc dương cỡ lớn,
có thêm một số dạng trung địa hình dương hoặc âm cỡ nhỏ phát triển kề bên.ví dụ như nhóm dạng đồi – khe ranh, các khe ranh là dạng trung địa hình âm cỡ nhỏ khắc vào sườn một dạng trung địa hình đồi dương lớn và chưa chia cắt hẳn quả đồi đó rời ra thành các quả đồi nhỏ
+Á đai địa lý: đây là cấp bổ trợ dùng cho nhiều miền núi khi cảnh miền núi còn có sự thay đổi thứ cấp trong điều kiệ nhiệt ẩm của đai cao, thể hiện sự biến dạng của lớp phủ thổ nhưỡng – thực vật ví dụ đai cao là rừng á nhiệt đới ẩm thì căn cứ vào thành phần loài cây ta có thể gặp các á đai rừng Dẻ, áđai rừng sồi, á đai rừng Vân Sam…
Câu 2.2 (4,0 điểm): Trình bày các nguyên tắc phân loại cảnh quan Phân tích các dấu hiệu phân loại cảnh quan ở cấp diện và cấp dạng địa lý
*Nguyên tăc phân loại cảnh quan:
Trang 221Hệ thống phân loại phải bao quát được đầy đủ các cá thể: không thể có tình trạng không biết xếp một cá thể vào bậc phân loại nào, ngược lại cũng không được xếp một cá thể nào đó vào vài bậc đó là quy tắc logic vẫn được phát biểu: “tổng số các lớp được phân chia phải bằng khối lượng của khái niệm về giống loài được phân loại”.
2Mỗi bậc phân loại chỉ được dùng có một chỉ tiêu phân loại
3Số bậc trong hệ thống phân loại phải hợp lý: số bậc tùy tính chất của đối tượng phân loại nhưng không nên quá nhiều
*Dấu hiệu phân loại diện địa lý:
-Địa thế: địa thể quyết định đến sự hình thành các diện thông qua ảnh
hưởng của nó đến vi khí hậu và chế độ ẩm vì thế địa thế được chọn làm dấuhiệu phân loại bậc cao của diện theo lát cắt từ đường phân thủy đến bồn chứa nước có thể gặp các địa thế sau:
1Địa thế nhô cao trên mặt đỉnh ứng với vị trí tàn tích Ở đât dòng nước trên mặt di chuyển mạnh dễ thành xói mòn đất, đất thường khô hơn
2Địa thế yên ngựa là bộ phân của đỉnh bị hạ thấp ở giữa, hai đỉnh nhỏ ứng với vị trí tàn tích – tích tụ
3Địa thế trũng ở trên đỉnh ứng với vị trí tích tự - tàn tích, đã có thể có nước đọng, có độ ẩm hơn các vị trí trên đỉnh khác
4Địa thế mặt bằng trên đỉnh, chỉ xuất hiện khi bề mặt rộng và phẳng – thoải5Địa thể sườn trên ứng với vị trí á tàn tích
6Địa thế giữa sườn (bán phụ thuộc)
7Địa thế sườn dưới ứng với vị trí tàn tích – tích tụ (phụ thuộc)
8– 10 Có thể xem địa thế các bậc thềm hay bãi bồi cao
-Dấu hiệu thứ hai: biến chủng thổ nhưỡng đại diện cho các thành phần đất
và nham Dấu hiệu này bao gồm các tính chất như thành phần cơ giới, độ
ẩm, hàm lượng mùn
-Thứ 3 là quần thể thực vật đại diện cho cả vi khí hậu quần thể thực vật không những chỉ được xác định theo tỷ lệ tổ thành cây mà cần phải được đánh giá theo năng suất hay sinh khối
-Dấu hiệu cuối là phải xét mức độ tác động của con người, vì hoạt động kinh
tế làm thay đổi thực bì, thổ bì cũng như chế độ nước và vi khí hậu tổ hợp tất
Trang 23cả 4 dấu hiệu đi đến đưa ra hệ thống phân loại các diện địa lý theo thang 4 bậc:
dụng, bảo vệ
*Dấu hiệu phân loại cấp dạng địa lý
-Dạng trung địa hình Dang trung địa hình là dấu hiệu trực quan dễ phát hiện ở thực địa
-Đá Các dạng địa hình phát triển trên các đa khác nhau sẽ khác nhau về nhiều đặc điểm (hình dáng đỉnh, sườn, độ dốc) ngoài ra sẽ có vỏ phong hóa
và hàm lượng nguyên tố hóa học khác nhau với điều kiện thủy địa chất khácnhau
-Tiểu tổ hợp đất: là tập hợp các biến chủng đất (biến chủng đất là khoanh đất sơ đẳng) theo các dạng trung địa hình
-Tiểu tổ hợp thực vật: là tập hợp các quần – ưu hợp (sinh quần địa theo
Xukasov) theo các dạng trung địa hình
-Hoạt động kinh tế của con người: khác với cấp diện, cấp dạng đã tương đối
ổn định, vì ít khi hoạt động kinh tế làm thay đổi hẳn một dạng địa hình gốc
do có tác động nhân tác đối với dạng được xác định theo tỷ lệ giữa các diện thứ sinh nhân tác trong dạng hoặc lấy tác động chủ yếu nhất, hoặc trình bày
cả quan hệ tỷ lệ ấy
=>Thang 5 bậc phân loại các dạng địa lý:
Câu 2.3 (4,0 điểm): Trình bày nguyên tắc phân loại cảnh quan ở cấp cảnh
địa lý và hệ thống phân loại cảnh quan của V.A Nhikôlaev (1978)
Trang 24*Nguyên tắc phân loại cảnh quan ở cấp cảnh:
-Nguyên tắc lịch sử - tiến hóa
+Nguyên tắc này cho phép phân loại cảnh quan từ những mối liên quan tương hỗ bên trong cảnh quan và giữa các cảnh quan trong sự hình thành vàphát triển chúng
+Lịch sử và tiến hóa cảnh quan gây ra tính đặc thù cấu trúc bên trong của cảnh quan
-Nguyên tăc cấu trúc
+Nói lên mối tác động tương hỗ giữa các thành phần nói chung và giữa các yếu tố của thành phần ngay cả với các hệ thống tổng quát Do đó cần phải hiểu rằng, cảnh quan là địa hệ nhiều tầng có từ các sự liên kết của các địa
hệ của các bậc phân vị nhỏ hơn
+Cần thiết phải phân tích cấu trúc các cảnh quan theo thành phần và tác động tương hỗ của các hợp phần tự nhiên cũng như các tổng thể tự nhiên sơđẳng (dạng, diện địa lý), tức là thiết lập và nghiên cứu các mô hình đơn và
đa hệ thống của cảnh quan
*Hệ thống phân loại cảnh quan của V.A Nhikôlaev (1978):
Stt Các bậc Các cơ sở chủ yếu của phân
chia(dấu hiệu phân chia)
2 Hệ Nền tảng năng lượng các cảnh
quan – những khác nhau tính đơi, đai của cân bằng nhiệt
ẩm (bức xạ, hoàn lưu)
Các hệ: những cảnh quan cận cực ôn đới lạnh; những cảnh quan ôn đới ấm
3 Phụ hệ Phân biệt khí hậu địa ô, tính
lục địa của khí hậu Các phụ hệ: các cảnh quan cận ôn đới lạnh,
các cảnh quan ôn đới lục địa và các cảnh quan ôn đới lục địa khắc nghiệt
4 Lớp Các cấu trúc địa mạo (các
thành phần của đai địa hình) Các lớp: cảnh quan đồng bằng, các cảnh
quan núi
5 Phụ lớp Sự phân hóa theo tầng của
cấu trúc cảnh quan ở núi và đồng bằng
Những phụ lớp: cá cảnh quan bình nguyên, các cảnh
Trang 25quan núi thấp, núi trung bình, núi cao
6 Nhóm Kiểu chế độ nước – địa hó,
được xác định bởi quan hệ của
sự hóa ẩm, của mưa khí quyển, nước thượng tầng
Các nhóm: các cảnh quan tàn tích, các cảnh quan bán thủy hóa, các cảnh quan thủy hóa
7 Chủng Kiểu phát sinh của địa hình Các chủng: các chủng
của cảnh quan đồng
cỏ, các cảnh quan bình nguyên bằng phẳng, các cảnh quan bồi tích cũ, các cảnh quan hoang thổ cũ
8 Dạng Sự giống nhau của các dạng
thống trị trong cảnh quan Các dạng: các dạng của cảnh quan đồng
cỏ: các dạng cảnh quan đồng bằng phù
sa cũ gợn sóng, cát pha
Các kiểu: các cảnh quan rừng - đồng cỏ; các cảnh quan đồng cỏ; các cảnh quan bánhoang mạc; các CQ đầm lầy
1Hệ cảnh quan: nhiệt đới gió mùa ĐNA
2Phụ hệ CQ: nhiệt đới gió mùa Đông Trường Sơn không có mùa đông lạnh vàkhô
3Lớp CQ: cảnh quan lãnh thổ đồi
4Phụ lớp CQ: đồi thấp, đồi tb, đồi cao
=>Từ phụ lớp phát hiện các loại đất và phân cấp tầng dày theo loại
-Hệ thống các cột ngang
Trang 261Kiểu cảnh quan: rừng kín nhiệt đới thường xanh mưa mùa
2Phụ kiểu cảnh quan: mùa khô ngắn, mùa lạnh ngắn; mùa khô trung bình, mùa lạnh ngắn; mùa khô tb, mùa lạnh tb; mùa khô dài, mùa lạnh trung bình
=>Liên kết hai hệ thống cột dọc, cột ngang phát hiện ra loại cảnh quan làm
cơ sở cho đánh giá
Câu 2.4 (4,0 điểm): Phân tích thực chất của phân vùng địa lý tự nhiên và các nguyên tắc xây dựng hệ thống phân vị của phân vùng địa lý tự nhiên
*Thực chất của phân vùng địa lý tự nhiên:
-Phân vùng là một loại hệ thống hóa khoa học đặc biệt các sự vật và hiện tượng tạo nên các tổng thể có quy luật về mặt lãnh thổ và đặc tính của chúng phục thuộc vào vị trí địa lý Không phải bất cứ một sự phân chia địa lýnào của bề mặt TĐ cũng được gọi là phân vùng và cũng k phải bất cứ một khoanh vi nào chia ra trên bản đồ cũng là một vùng, nghĩa là kết quả của công tác phân vùng “Phân vùng trước hết là một sự phân chia các vùng giữ được tính toàn vẹn lãnh thổ và giữ được sự thống nhất nội tại xuất phát từ tính thống nhất trong lịch sử phát triển trong vị trí địa lý, trong các quá trìnhđịa lý và trong sự gắn bó về lãnh thổ của các bộ phận cấu tạo riêng biệt”.-Khi phân vùng phải tính đến sự giống nhau về chất, giữa các bộ phân riêng biệt của lãnh thổ nhưng điều đó không đóng vai trò như là một tiêu chuẩn quyết định Các bộ phận tạo thành 1 vùng thống nhất có thể khác nhau sâu sắc nhưng điều quan trọng là chúng phải thể hiện 1 tính hoàn chỉnh về mặt phát sinh và liên quan tương hỗ về mặt lãnh thổ Sự thống nhất của mỗi vùng có bản chất phức tạp, có biể hiện cả trong các quá trình khí quyển, cả trong cấu tạo của mạng lưới thủy văn và cả trong di chuyển của các thực vật, động vật, xét cho cùng sự thống nhất đó được quyết định bởi sự tác động của 2 quy luật địa đới và phi địa đới
-Mức độ thống nhất và chặt chẽ của các mqh lãnh thổ không đồng đều, tất nhiên ở các bộ phận gần nhau của lãnh thổ, mức độ đó phải biểu hiện mạnh
mẽ hơn các bộ phận cách xa nhau Từ đó sinh ra tính chất nhiều bậc của phân vùng, nghĩa là có thể lần lượt tách ra các địa tổng thể khu vực thuộc các cấp khác nhau như cái nọ lồng vào cái kia Mỗi một đơn vị phân vùng lớn hoặc nhỏ đều là một lãnh thổ cụ thể tồn tại trong thiên nhiên ở một bản
và 1 đơn vị có tên gọi riêng Các đơn vị phân loại là những phạm trù về loài
và giống, và không có dấu hiệu của tính toàn vẹn lãnh thổ
Trang 27-Cần xem công tác phân vùng đồng thời vừa là sự phân chia, vừa là sự tập hợp một mặt phân vùng đltn là quá trình phân chia liên tiếp bề mặt trái đất thành những tổng hợp thể lãnh thổ ngày càng đồng nhất về phương diện liên hệ nội tại với nhau Mặt khác phân vùng đltn là sự tập hợp liên tiếp các địa tổng thể của bề mặt TĐ thành các đơn vị lãnh thổ ngày càng ở bậc cao hơn Hai mặt đó của công tác phân vùng k những k mâu thuẫn mà còn bổ sung cho nhau tạo thành 2 mặt của 1 vấn đề.
*Nguyên tắc xây dựng hệ thống phân vị
1Hệ thống phân vị phải phản ánh đúng đắn mqh biện chứng, mqh mâu thuẫn thống nhất giữa các quy luật phân hóa không gian phổ biến của địa
lý, nguyên nhân chính hình thành nên các địa tổng thể các cấp
2Hệ thống phân vị phải đầy đủ để có thể phân vùng cho mọi tỷ lệ, mọi lãnh thổ lớn nhỏ, cho cả đồng bằng lẫn miền núi, đồng thời phải có những đơn vị chủ yếu (bắt buộc phải có chỉ tiêu chẩn đoán rõ ràng để làm chỗ dựa vững chắc)
3Hệ thống phân vị phải tương đối đơn giản, dễ hiêu, tránh rườm rà để có thểgiúp cho nhiều chuyên gia các ngành tham khảo, vận dụng
Câu 2.5 (4,0 điểm): Phân tích các chỉ tiêu chuẩn đoán các cấp phân vị trên
cấp vùng của phân vùng địa lý tự nhiên
*Vòng địa lý: vòng là đơn vị có tính hanh tinh Trên bề mặt TĐ chia thành 3 vòng đai nhiệt – chiếu sang:
1Vòng nội chí tuyến
2Vòng ngoại chí tuyến trong vòng cực
3Vòng ngoại chí tuyến ngoài vòng cực
*Á địa ô: á ô được phân ra từ ô địa lý theo tính chất từng loại gió mùa:
Trang 281Á địa ô gió mùa nội chí tuyến (gió mùa nhiệt đới)
2Á địa ô gió mùa ngoại chí tuyến (gió mùa ôn đới)
Việt nam nằm trong á địa ô gió mùa ĐNA
*Á vòng địa lý: được phân ra từ vòng địa lý trên cơ sở nhiệt lượng, tức là cán cân bức xạ hay tổng nhiệt độ năm trên 10 độ C Tuy nhiên, tại một số nơi sự trùng khớp ấy không hoàn toàn Chẳng hạn tại khu vực núi cao và gió mùa chi phối mạnh thì tổng nhiệt độ giảm nhanh hơn cân bằng bức xạ do đó YêuTrẫm Sinh đề nghị lấy tổng nhiệt độ trên 0 ở các nơi đó Trên cơ sở nền nhiệt lượng phân ra các á vòng địa lý
*Xứ địa lý:
-Xứ địa lý là một cấp cao được các nhà địa lý tự nhiên công nhận xứ là một lãnh thổ rộng lớn có một lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp của một cấu trúc (nền, khiên, khu vực uốn nếp địa máng) hoặc cũng có trường hợp có những bộ phận địa cấu trúc khác nhau nhưng phải có sự thống nhất lại, sao cho những bộ phận khác nhau đó có những nét đại địa hình (núi, đồng bằng)-Như vậy, trước hết xứ địa lý là một đơn vị kiến tạo – địa mạo lớn đồng nhất
về cấu trúc địa chất, tân kiến tạo và đại địa hình, sau đó có quan hệ giữa các thành phần mà xứ địa lý còn đồng nhất về các thành phần khác Xứ là nơi các khối khí được hình thành hoặc từ nơi khác đến thì sẽ biến tính rõ rệt
do đó xứ có một đại khia hậu riêng thể hiện trong chế độ nhiệt có liên quan đến độ cao tuyệt đối và trong chế độ ẩm có liên quan đến chế độ lục địa củamột địa ô nào đó Các đới khi chạy qua một xứ thường bị phân phối lại nhiệt
- ẩm do các điều kiện đại địa hình và địa ô, vì thế mỗi xứ phải có một khúc đới riêng trong cấu trúc đai cao
-Ranh giới của xứ địa lý được vạch ra theo đại địa hình có xét tới cấu trúc địachất và đại khí hậu
-Việt Nam chia làm 2 xứ: Xứ Hoa Nam – bắc VN và xứ Đông Dương
*Đới địa lý: Hiểu theo nghĩa rộng có thể chạy qua vài xứ và cùng với xứ dùnglàm đơn vị xuất phát để chia các đơn vị có tính tổng hợp cao hơn,có tính đồng nhất cao hơn cả hai mặt địa đới và phi địa đới chỉ tiêu của một đới là:-Đới là một bộ phận của vòng địa lý
-Đới có một chỉ số tương quan nhiệt ẩm, được xác định theo: